Hiển thị các bài đăng có nhãn đường lối. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đường lối. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 1 tháng 8, 2023

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ CỦA VIỆT NAM LÀ LỖI THỜI, LÀ “TRUNG DUNG” TRONG QUAN HỆ VỚI CÁC NƯỚC LỚN

Lợi dụng một số hoạt động đối ngoại của Việt Nam trong thời gian qua, nhất là khi Việt Nam đẩy mạnh quan hệ với Mỹ. Các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá. Họ xuyên tạc rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam trên thực tế đã từ bỏ chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và đang ngấm ngầm “theo chân” nước này để chống nước kia; thâm độc hơn, chúng còn cho rằng đó là “đường lối trung dung”, là “đi dây” trong quan hệ với các nước lớn, như thế là “tự cô lập” mình, “tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Sự thật không phải như vậy, như chúng ta đã biết, hiện nay, Hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn của thời đại, dù đang gặp những trở ngại, thách thức. Mỗi nước trên thế giới đều có quan hệ với các nước khác, nhất là chú trọng quan hệ với các nước lớn với những nội dung, hình thức và mức độ khác nhau. Đó vừa là xu thế, vừa là phương thức cơ bản bảo đảm an ninh và phát triển của mỗi nước. Phù hợp với xu thế đó, gần 35 năm qua, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Việt Nam luôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực.

Do vậy, cần khẳng định rằng, chỉ có nhất quán và thực hiện tốt đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, không phụ thuộc vào bất cứ nước lớn hay nhóm nước nào thì chúng ta mới có thể tận dụng tốt nhất các cơ hội, điều kiện thuận lợi phục vụ cho sự phát triển đất nước. Điều đó tuyệt đối không thể gọi là “lạc hậu, lỗi thời”, là “trung dung”, “đi dây” trong quan hệ với các nước lớn.

Trên thực tế, chúng ta đã và đang thúc đẩy quan hệ với các nước lớn cũng như với các nhóm nước, tổ chức trên thế giới. Chúng ta chủ động tham gia các cơ chế, các diễn đàn khu vực và toàn cầu để vừa thích ứng với các trào lưu, xu thế chung của thế giới, vừa phục vụ một cách tốt nhất các lợi ích quốc gia - dân tộc.

Hiện nay, chúng ta vừa tăng cường quan hệ với Trung Quốc, vừa làm sâu sắc hơn quan hệ với Mỹ trên cơ sở mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các nước này ngày càng trở nên tốt đẹp, thực chất và hiệu quả hơn. Đó là quan điểm, lập trường và chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam, tuyệt nhiên không phải là chúng ta đang “nghiêng về bên này để chống bên kia” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch.


Thứ Năm, 1 tháng 12, 2022

PHẢI CHĂNG VIỆT NAM CẦN LIÊN MINH QUÂN SỰ ĐỂ GIỮ VỮNG ĐỘC LẬP, CHỦ QUYỀN VÀ TOÀN VẸN LÃNH THỔ”

Quan điểm “Việt Nam cần liên minh quân sự để giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ” là rất sai lầm, thiếu cơ sở, “lợi bất cập hại”, đi ngược lại đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng. Vì vậy, cần phải được phê phán, bác bỏ.

Những năm gần đây, đặc biệt từ khi Sách trắng quốc phòng Việt Nam công khai với giới truyền thông trong nước và quốc tế rằng sẽ không tiến hành liên minh quân sự với bất cứ một quốc gia nào thì các thế lực thù địch tuyên truyền đó là một chính sách “bảo thủ”, “lạc hậu”, đi ngược lại xu thế tăng cường hợp tác và toàn cầu hoá (?!).

Lợi dụng những diễn biến phức tạp về tranh chấp chủ quyền ở khu vực Biển Đông, đặc biệt là những hành vi ngày càng mạnh bạo của Trung Quốc, các thế lực thù địch lập luận rằng: Một quốc gia nhỏ yếu như Việt Nam sẽ không thể đứng vững nếu không tiến hành liên minh quân sự với một cường quốc bên ngoài, nhất là với Mỹ, một quốc gia có lợi ích đối lập với Trung Quốc, đang xem Trung Quốc là đối thủ số một, thậm chí như kẻ thù (?!).

Khi cuộc xung đột quân sự Nga - Ukraine nổ ra, chúng càng cổ xuý cho quan điểm trên. Chúng lập luận rằng vì Ukraine không phải là thành viên của liên minh quân sự Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) nên NATO không có nghĩa vụ cùng Ukraine chống lại Nga. Bên cạnh đó, chúng còn tuyên truyền Phần Lan và Thuỵ Điển sớm “thức tỉnh” nên đã từ bỏ đường lối trung lập, chủ động viết đơn xin gia nhập khối quân sự này, và được NATO chính thức khởi động tiến trình kết nạp từ ngày 5/7/2022.

Các phần tử đóng vai người “tư vấn”, “kiến nghị”, “hiến kế”, thúc giục Việt Nam tiến hành liên minh quân sự nhằm mục đích làm giảm niềm tin của nhân dân vào đường lối đối ngoại đúng đắn, sáng suốt của Đảng, tạo ra sự chia rẽ nội bộ, đồng thời gây chia rẽ Việt Nam - Trung Quốc, tạo cơ sở cho những kẻ cơ hội can thiệp vào nội bộ của Việt Nam.

Đối với Việt Nam thì việc tiến hành liên minh quân sự để giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là hết sức sai lầm, thiếu cơ sở, “lợi bất cập hại”, đi ngược lại đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng.

Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2022

THỰC HIỆN NHẤT QUÁN ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, TỰ CƯỜNG

Việt Nam chủ trương xây dựng sức mạnh quốc phòng tổng hợp bằng chính nguồn lực của đất nước và trí tuệ con người Việt Nam, không lệ thuộc vào bên ngoài. Việc củng cố, tăng cường quốc phòng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Đại hội XIII đã khẳng định: Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nưốc, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”.Với đường lối quốc phòng toàn dân, công tác quốc phòng đều hướng đến lợi ích của quốc gia, dân tộc và quyền lợi của nhân dân, được đông đảo nhân dân tham gia, tạo sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ bạo loạn lật đổ, xung đột vũ trang và chiến tranh xâm lược. Đồng thời, chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, sẵn sàng chuyển tiềm lực quốc phòng thành thực lực quốc phòng, xử lý thắng lợi các tình huống quốc phòng và đánh thắng mọi hình thái chiến tranh xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngán ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình” Thực tiễn cho thấy với những cuộc xung đột, nội chiến đẫm máu xảy ra gần đây ở một số nước trên thế giới, như: nội chiến ở Syria, Ucraina, leo thang quân sự ở Iraq,… đã chỉ ra một trong những nguyên nhân, ngòi nổ chính là do sự thiếu nhất quán trong chính sách đối nội, đối ngoại và không tôn trọng nguyên tắc độc lập, tự chủ, trông chờ sự giúp đỡ từ bên ngoài. Và đằng sau sự giúp đỡ đó, bao giờ cũng có những mưu đồ, toan tính về lợi ích chiến lược của các cường quốc. Vì thế, hòa bình đâu chưa thấy, nhưng sự chia cắt, tàn phá, nội chiến, làm nghèo đất nước đã hiện hữu. Điều này càng củng cố, khẳng định quan điểm của Việt Nam khi không đứng về bên nào, chỉ đứng về hòa bình, lẽ phải, tôn trọng luật pháp quốc tế là hoàn toàn phù hợp, đúng đắn.

Thứ Năm, 13 tháng 10, 2022

LÝ TƯỞNG CỦA CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN MÃI SOI ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM!

          Gần đây, trên các trang mạng xã hội, một số phần tử chống đối, phản động, đã đưa ra luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xã hội, bới móc lịch sự phủ nhận những hy sinh xương máu của quân và dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Chúng cho rằng: Cộng sản Việt Nam chưa bao giờ có chính nghĩa và lý tưởng, chính nghĩa của chúng ta dùng bạo lực cướp chính quyền làm cho nửa miền Bắc lâm vào cảnh khốn cùng chết chóc trong cải cách ruộng đất. Đây là luận điệu xuyên tạc, bóp méo lịch sử một cách trắng trợn, vô căn cứ, thể hiện rõ sự thâm thủ, hằn học với chế độ, con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam do Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

          Thực tiễn lịch sử Việt Nam đã chứng minh, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các phong trào yêu nước Việt Nam phát triển rất mạnh mẽ, sôi sục nhưng do bế tắc về đường lối nên cuối cùng đều thất bại, nhiều nhà yêu nước muốn tìm đường cứu nước, cứu dân tộc khỏi ách nô lệ, lầm than của thực dân Pháp xâm lược nhưng đều không thành. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối của cách mạng Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất Tổ quốc, đưa nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã  hội, khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới. Trong công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, quan trọng, nhưng cũng không tránh khỏi những sai lầm, khuyết điểm. Tuy nhiên, hạn chế, khuyết đã được Đảng ta nhanh chóng phát hiện và kiên quyết khắc phục, từng bước đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng, tiếp tục phát triển theo con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, các thế lực thù địch, phản động có tuyên truyền, xuyên tạc thế nào, cố tình gieo rắc hoài nghi về tính đúng đắn và khả năng dẫn tới thành công của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ra sao cũng không thể làm thay đổi mục tiêu, lý tưởng mà Đảng; Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn. Vì thế, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng cần xây dựng cho mình bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, vào sự lãnh đạo của Đảng, không để “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.


Thứ Tư, 12 tháng 10, 2022

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM

Lợi dụng một số hoạt động đối ngoại của Việt Nam trong thời gian qua, nhất là khi Việt Nam đẩy mạnh quan hệ với Mỹ. Các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá. Họ xuyên tạc rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam trên thực tế đã từ bỏ chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và đang ngấm ngầm “theo chân” nước này để chống nước kia; thâm độc hơn, chúng còn cho rằng đó là “đường lối trung dung”, là “đi dây” trong quan hệ với các nước lớn, như thế là “tự cô lập” mình, “tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Sự thật không phải như vậy, như chúng ta đã biết, hiện nay, Hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn của thời đại, dù đang gặp những trở ngại, thách thức. Mỗi nước trên thế giới đều có quan hệ với các nước khác, nhất là chú trọng quan hệ với các nước lớn với những nội dung, hình thức và mức độ khác nhau. Đó vừa là xu thế, vừa là phương thức cơ bản bảo đảm an ninh và phát triển của mỗi nước. Phù hợp với xu thế đó, gần 35 năm qua, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Việt Nam luôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực. Do vậy, cần khẳng định rằng, chỉ có nhất quán và thực hiện tốt đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, không phụ thuộc vào bất cứ nước lớn hay nhóm nước nào thì chúng ta mới có thể tận dụng tốt nhất các cơ hội, điều kiện thuận lợi phục vụ cho sự phát triển đất nước. Điều đó tuyệt đối không thể gọi là “lạc hậu, lỗi thời”, là “trung dung”, “đi dây” trong quan hệ với các nước lớn.

Trên thực tế, chúng ta đã và đang thúc đẩy quan hệ với các nước lớn cũng như với các nhóm nước, tổ chức trên thế giới. Chúng ta chủ động tham gia các cơ chế, các diễn đàn khu vực và toàn cầu để vừa thích ứng với các trào lưu, xu thế chung của thế giới, vừa phục vụ một cách tốt nhất các lợi ích quốc gia - dân tộc.

Hiện nay, chúng ta vừa tăng cường quan hệ với Trung Quốc, vừa làm sâu sắc hơn quan hệ với Mỹ trên cơ sở mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các nước này ngày càng trở nên tốt đẹp, thực chất và hiệu quả hơn. Đó là quan điểm, lập trường và chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam, tuyệt nhiên không phải là chúng ta đang “nghiêng về bên này để chống bên kia” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2022

KIÊN ĐỊNH CHỦ TRƯƠNG, ĐƯỜNG LỐI VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA

Ai đó cho rằng Việt Nam phải tham gia liên minh quân sự vì sức mạnh quốc phòng của ta yếu, lạc hậu là không chính xác, hãy xem lại thực lực của Việt Nam như thế nào mà chúng ta đã dám đánh, quyết đánh và đánh thắng hai đế quốc đầu sỏ là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Mặt khác, những người này nên xem lại lịch sử dân tộc Việt Nam và xem bảng xếp hạng Chỉ số sức mạnh quân sự toàn cầu của trang web Global Firepower đánh giá xếp loại thì Việt Nam nằm trong tốp 25 nước có sức mạnh quân sự lớn nhất thế giới. Năm 2020, Việt Nam ở vị trí 20/137 nước; năm 2021, ở vị trí 24/139 nước. Việt Nam luôn luôn đứng ở vị trí thứ hai (sau Inđônêsia) trong khu vực Đông Nam Á. Điều này đúng với sự khẳng định của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Ai đó cho rằng sức mạnh quân sự Việt Nam hiện nay là “quá yếu”, “lạc hậu” chỉ là cái cớ yêu cầu Đảng, Nhà nước ta tham gia liên minh quân sự với cường quốc, Đó là điều phi lý, không thể chấp nhận.

Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần chăm lo cho sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Trong đó, sức mạnh bên trong, sức mạnh nội sinh của đất nước, của chế độ và của nền kinh tế và tiềm lực quốc gia là nhân tố quyết định. Vì vậy, chủ trương không tham gia liên minh quân sự của Đảng ta là đúng đắn, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam.

Hiện nay, Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược với 17 nước cùng với 13 nước đối tác toàn diện. Việt Nam đã chính thức thiết lập quan hệ đối ngoại quốc phòng với hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ; đặt văn phòng tùy viên quân sự tại Liên hợp quốc và 37 quốc gia khác. Có 49 quốc gia đặt văn phòng tùy viên quân sự tại Việt Nam[1]. Sự thật ấy bác bỏ quan điểm sai trái cho rằng Việt Nam “bị cô lập”, “tự trói buộc chân tay mình”.

Thực tế khẳng định rằng Việt Nam luôn thể hiện là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực; có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, hợp tác và phát triển, thực hiện tiến bộ xã hội. Đây là thái độ, quan điểm và việc làm thiết thực để bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, giữ nước từ khi nước chưa nguy. Ai đó còn yêu cầu phải cắt bỏ “bốn không” thì nên thực hiện “một điều không” là đừng nói nữa. Các người đã sai rồi; không ai tin các người đâu./.

Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022

ĐẨY MẠNH TUYÊN TRUYỀN, GIÁO DỤC, VẬN ĐỘNG NHÂN DÂN HIỂU RÕ ĐƯỜNG LỐI, CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA VỀ DÂN CHỦ

Đây là giải pháp cơ bản nhằm đưa các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân chủ vào cuộc sống. Đồng thời, làm cho Nhân dân thấy rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động trong việc lợi dụng vấn đề dân chủ hòng phủ nhận đường lối đổi mới của Đảng. Truyên truyền sâu rộng các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chúng ta khẳng định: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng”. Chính quyền các cấp phải công khai rộng rãi cho nhân dân biết các đề án quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch đô thị, kết cấu hạ tầng, quy hoạch sử dụng đất đai... Công khai để nhân dân biết, góp ý và giám sát việc tổ chức thực hiện khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Các cấp ủy đảng, chính quyền phát huy vai trò của báo chí, các phương tiện truyền thông đại chúng để phát động nhân dân đấu tranh mạnh mẽ chống tham nhũng, tiêu cực. Từ đó, đấu tranh thực hiện dân chủ, kịp thời phê phán những biểu hiện cực đoan, lợi dụng dân chủ để xuyên tạc, kích động, lôi kéo quần chúng phục vụ cho “lợi ích nhóm”, lợi ích cá nhân vị kỷ...; đồng thời, phải khắc phục, chấm dứt những việc làm mang tính dân chủ hình thức trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Chủ động phát hiện và có biện pháp ngăn chặn kịp thời, hiệu quả tình trạng truyền phản động trái pháp luật, lợi dụng dân chủ làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị trên từng địa bàn.

Nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò công tác bảo vệ và đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn hoạt động lợi dụng dân chủ chống phá ta, coi đó là trách nhiệm của tất cả các cấp, các ngành và nhân dân để huy động sự tham gia của cả xã hội trong công tác này. Từng cán bộ, đảng viên phải nâng cao lập trường tư tưởng, chính trị vững vàng để nhận diện và kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm, sai trái thù địch, xuyên tạc, vu khống, phủ nhận dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Để mỗi cán bộ, đảng viên là chiến sĩ trên mặt trận bảo vệ nền tảng tư tưởng, thực hành phát huy dân chủ, nhân quyền ở nước ta.

Thứ Ba, 7 tháng 6, 2022

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG CỦA VIỆT NAM LÀ KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC

Bóp méo, xuyên tạc, làm sai lệch bản chất các vấn đề, các sự kiện nhằm mục tiêu chống phá Việt Nam là một trong những chiêu trò mà các thế lực thù địch, phản động thường tiến hành. Đặc biệt, gần đây các thế lực thù địch tập trung khoét vào một số chủ trương, chính sách, phản ứng của Việt Nam trước các sự kiện quốc tế nhằm xuyên tạc đường lối đối ngoại nói chung, đường lối đối ngoại quốc phòng của Việt Nam nói riêng, chia rẽ Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới.

Một số hoạt động đối ngoại, trong đó có sự kiện khai mạc triển lãm “Dấu ấn vượt thời gian” được Việt Nam và Liên bang Nga phối hợp tổ chức mới đây cũng không là ngoại lệ. Nhân sự kiện này, trên không gian mạng xuất hiện luận điệu cho rằng, Việt Nam gián tiếp đứng bên này để chống bên kia, “cổ suý chiến tranh”… Đây là luận điệu hết sức sai trái, bịa đặt và cực kỳ nguy hiểm.

Quan điểm, chủ trương, chính sách của Việt Nam về công tác đối ngoại nói chung và đối ngoại quốc phòng nói riêng là hết sức rõ ràng. Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Trong đối ngoại quốc phòng, Việt Nam giữ vững nguyên tắc: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Có thể khẳng định đó là hệ thống các quan điểm chiến lược của Việt Nam về đối ngoại nói chung và chính sách đối ngoại quốc phòng nói riêng nhằm tạo lập và gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định, góp phần huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong giải quyết vấn đề giữa Nga và Ukraine, quan điểm nhất quán của Việt Nam là không đứng về bên nào, không cổ vũ chiến tranh… Việt Nam bảo vệ lẽ phải, bảo vệ hòa bình, bảo vệ Hiến chương Liên hợp quốc và những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Các hoạt động hợp tác quốc phòng của Việt Nam với các nước, bao gồm giao lưu, luyện tập chung, hội thao, hội thi, triển lãm… là nhằm tăng cường hợp tác hữu nghị đoàn kết tin cậy và hiểu biết lẫn nhau vì hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực cũng như trên thế giới.

Một số hoạt động đối ngoại gần đây, trong đó có triển lãm “Dấu ấn vượt thời gian” là hoạt động bình thường, nằm trong chương trình, kế hoạch tổ chức các hoạt động nhân kỷ niệm 47 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2022), 68 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2022) và 77 năm Ngày Chiến thắng của nhân dân Liên Xô (trong đó có cả nhân dân Liên bang Nga và nhân dân Ukraine) trong cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại (9/5/1945 - 9/5/2022). Triển lãm là dịp để tiếp tục khẳng định giá trị và ý nghĩa lịch sử, tầm vóc thời đại về chiến thắng của Việt Nam và Liên bang Nga trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ nền hòa bình, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; tinh thần đoàn kết, hữu nghị, hợp tác toàn diện giữa Liên Xô trước đây và Liên bang Nga ngày nay với Việt Nam trong hơn 70 năm qua, chứ hoàn toàn không liên quan gì đến cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine.

Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam vừa qua tiếp tục xác định mục tiêu, nhiệm vụ của công tác đối ngoại là: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”. Trước các vấn đề quốc tế, Việt Nam luôn nhất quán quan điểm và đứng vững trên nguyên tắc đó. Mọi luận điệu bóp méo, xuyên tạc đường lối đối ngoại nói chung và chính sách đối ngoại quốc phòng của Việt Nam nói riêng không nhằm động cơ nào khác là chia rẽ Việt Nam trong quan hệ quốc tế. Việt Nam kiên quyết phản đối và lên án mọi luận điệu, chiêu trò sai trái và đen tối đó./.

Thứ Tư, 20 tháng 4, 2022

NHỮNG “KHÚC CUA” LỊCH SỬ VÀ ĐẢNG KHÔNG GIẤU KHUYẾT ĐIỂM

Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam trong 92 năm qua đã chứng minh sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi, lập nên nhiều kỳ tích trong các thời kỳ cách mạng.

Thế nhưng, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, trước những “khúc cua” lịch sử ở từng giai đoạn, hoàn cảnh cụ thể, Đảng ta cũng từng mắc phải những sai lầm, khuyết điểm, thậm chí là nghiêm trọng. Trong cuộc cải cách ruộng đất và chỉnh đốn Đảng ở miền Bắc (1953-1956), khi nhận ra những sai lầm, Trung ương Đảng đã họp tự kiểm điểm suốt một tháng (từ ngày 25-8 đến 24-9-1956). Trung ương Đảng thẳng thắn thừa nhận: “Đó là những sai lầm nghiêm trọng, phổ biến, kéo dài về nhiều mặt, những sai lầm về những vấn đề nguyên tắc, trái với chính sách của Đảng, trái với nguyên tắc và điều lệ của một đảng theo Chủ nghĩa Mác-Lênin, trái với chế độ pháp luật của nhà nước dân chủ nhân dân”(*). Các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị phụ trách công tác này đều tự phê bình một cách sâu sắc và tự nhận hình thức kỷ luật rất nghiêm khắc. Tổng Bí thư Trường Chinh xin từ chức. Các đồng chí Lê Văn Lương, Hoàng Quốc Việt xin rút khỏi Bộ Chính trị. Sau khi hội nghị kết thúc, Đảng tổ chức cuộc mít tinh lớn tại Nhà hát Lớn Hà Nội, công khai thừa nhận sai lầm trước nhân dân.

Sau hơn 10 năm đất nước thống nhất, cả nước đi lên xây dựng CNXH nhưng rơi vào khủng hoảng kinh tế-xã hội, Đảng ta một lần nữa tiến hành đợt tự phê bình và phê bình nghiêm túc và sâu sắc. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội VI của Đảng (năm 1986) dũng cảm nhận thấy “những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện”. Đảng tự thấy mình mắc “bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan, là khuynh hướng buông lỏng trong quản lý kinh tế-xã hội, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng”.  Những năm đầu của thời kỳ đổi mới, một số cán bộ, đảng viên muốn rập khuôn kinh nghiệm cải tổ, cải cách của nước ngoài, nhất là trong đổi mới chính trị, đổi mới kinh tế và hoạt động báo chí, văn hóa, văn nghệ. Đã chớm nở khuynh hướng đòi “dân chủ, công khai" một cách cực đoan; khuynh hướng phủ nhận quá khứ, bôi đen hiện thực; khuynh hướng muốn chuyển nhanh nhất loạt sang cơ chế thị trường tự do, muốn tư nhân hóa hoàn toàn, "thương mại hóa" báo chí, xuất bản... Những khuynh hướng này đã được ngăn chặn, uốn nắn kịp thời. Các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã định hướng tư tưởng trong toàn Đảng và xã hội. Thực sự có cuộc đấu tranh tư tưởng sâu rộng để đổi mới và giữ vững định hướng XHCN.

Thực tế Đảng ta cũng đã phạm những khuyết điểm, sai lầm. Điều quan trọng là Đảng ta không che giấu khuyết điểm, sai lầm, mà công khai thừa nhận, thành tâm lắng nghe ý kiến nhân dân. Và một khi phát hiện và nhận ra sai lầm thì quyết tâm sửa chữa để phấn đấu đi lên, từ đó Đảng ngày càng trưởng thành, lớn mạnh.

Có thể khẳng định, có được đường lối chính trị đúng trong hoàn cảnh phát triển bình thường đã là việc khó; ở những bước ngoặt của lịch sử, trong bối cảnh đất nước và quốc tế có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, thì việc Đảng ta xác định được một đường lối chính trị đúng và bảo đảm cho đường lối đó thành hiện thực càng khó khăn hơn. Nó là kết quả của trí tuệ, tài năng, phẩm chất, khí phách. Nó trải qua một quá trình suy tư gian khổ, tìm tòi, đổi mới tư duy lý luận, tổng kết thực tiễn, có khi phải làm đi làm lại nhiều lần, thậm chí có lúc đã không tránh khỏi sai lầm và tạm thời thất bại.

Thứ Hai, 28 tháng 3, 2022

ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC – CỘI NGUỒN SỨC MẠNH CỦA MỌI THÀNH CÔNG

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam, là cội nguồn sức mạnh của mọi thành công, chiến thắng. Quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã đem lại những thành tựu to lớn.

Vượt qua những khó khăn, thách thức nặng nề những năm sau khi đất nước thống nhất bởi hậu quả tàn phá nặng nề của chiến tranh kéo dài chưa kịp được khắc phục, đất nước bị bao vây, cấm vận, mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu bộc lộ nhiều khiếm khuyết… Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng công tác xây dựng mặt trận dân tộc, tăng cường đoàn kết toàn dân tộc và phát huy mạnh mẽ vai trò của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để đưa đất nước tiến lên.

Chỉ thị số 17-CT/TW của Đảng có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển của Mặt trận, đề cao vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc, có ý nghĩa thiết thực đối với việc tạo ra sức mạnh nội sinh để đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa và thành quả cách mạng; tạo điều kiện, tiền đề để phá bỏ bao vây, cấm vận, tiến tới bình thường hóa quan hệ với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Đặc biệt, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ năm 1986 đến nay, Đảng đã có nhiều chủ trương, quyết sách và biện pháp quan trọng để tiếp tục củng cố, mở rộng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội, chăm lo đời sống Nhân dân; động viên Nhân dân phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền.

Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội kịp thời có chính sách, pháp luật đúng đắn, phù hợp với mọi lực lượng nhân dân tham gia vào khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần động viên Nhân dân phát huy tinh thần sáng tạo, năng động, hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp mở rộng quan hệ hữu nghị giữa dân tộc Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới.

Trong bối cảnh tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, Đảng và cả hệ thống chính trị cùng toàn thể đồng bào ở trong nước và ngoài nước đã đoàn kết, chung sức đồng lòng, quyết tâm “chống dịch như chống giặc” để từng bước đẩy lùi và vượt qua đại dịch Covid-19. Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, phát huy vai trò nòng cốt trong việc xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng đã không ngừng đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo; vận động các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo phát huy quyền làm chủ của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân; vận động Nhân dân tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước và các chương trình an sinh xã hội...

Những kết quả đạt được trong việc tập hợp, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, góp phần nâng tầm cao uy tín, vị thể của Việt Nam trên trường quốc tế, thắt chặt mối quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân Việt Nam - Trung Quốc trong giai đoạn phát triển mới, cao hơn, sâu sắc hơn.

Đánh giá những thành tựu đạt được, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước”.

Những thành tựu này đã tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam; Cương lĩnh của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, ngọn cờ chiến đấu, ngọn cờ quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Thứ Năm, 3 tháng 3, 2022

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG

Thời gian qua trên mạng xã hội xuất hiện những bài viết mang quan điểm sai trái của các đối tượng thù địch, cơ hội chính trị xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, chúng tìm mọi cách phủ nhận những thành tựu của công tác đối ngoại, xuyên tạc quan điểm, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và quan hệ của Việt Nam với các nước đối tác; xuyên tạc đường lối, phương châm đối ngoại, hòng gây nghi kỵ trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới, hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, thành tựu 35 năm đổi mới đã khẳng định đường lối đối ngoại của đảng ta là hoàn toàn đúng đắn và khoa học

Phát biểu tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh khẳng định: Trong tổng thể các thành tựu của đất nước có sự đóng góp không nhỏ của đối ngoại và hội nhập quốc tế. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế được Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị đặc biệt quan tâm, chủ động triển khai và đạt nhiều kết quả quan trọng, tích cực, toàn diện nổi bật trên các mặt công tác là: Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ, nâng tầm quan hệ với các đối tác; đồng thời đưa các mối quan hệ này ngày càng phát triển đi vào chiều sâu trên cơ sở tăng cường tin cậy chính trị, nâng cao hiệu quả các cơ chế hợp tác.

“Nhìn tổng thể, đối ngoại đã phối hợp chặt chẽ với các ngành, lĩnh vực dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện của Đảng và quản lý thống nhất của Nhà nước, phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và hệ thống chính trị, đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ phát huy vai trò tiên phong trong giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa. Chủ động, tích cực đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng. Huy động nguồn lực to lớn từ bên ngoài phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên thế giới.

  Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng, mọi luận xuyên tạc quan điểm, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước trên các trang mạng xã hội là hoàn toàn không có cơ sở, đó chỉ là những thông tin bịa đặt, sai lệch, nhằm phủ nhận những thành tựu của công tác đốiÂY ngoại và chống phá đảng và nhà nước ta. Vì thế, cần cảnh gián trước những luận điệu xuyên tạc đó.

PHẢN BÁC NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã tổ chức thành công nhiều sự kiện đối ngoại song phương và đa phương quan trọng. Việc hoàn thành xuất sắc vai trò chủ nhà của các sự kiện đối ngoại tổ chức tại Việt Nam có ý nghĩa to lớn trong việc cụ thể hóa và thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, không chỉ góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, mà còn là những bằng chứng sinh động, thuyết phục, phản bác đanh thép những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch về đường lối đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta.

Do vị trí, tầm quan trọng và những thành tựu to lớn của đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta, thời gian gần đây, trước những diễn biến phức tạp của tình hình khu vực và thế giới, các thế lực thù địch gia tăng mũi nhọn tấn công xuyên tạc, chống phá đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam. Thủ đoạn của các thế lực là gia tăng cường độ, tần suất và diện bao phủ của các thông tin xuyên tạc về đối ngoại, tập trung vào những nội dung:

Thứ nhất, thông tin sai lệch việc triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng của Đảng, Nhà nước ta. Thứ hai, Các thế lực thù địch tìm cách cản trở Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế, mặt khác, tác động, lôi kéo, mua chuộc các đối tác từ bên ngoài để gây sức ép, tác động vào bên trong đất nước; quốc tế hóa những vấn đề nội bộ của Việt Nam. Thứ ba, lợi dụng các vấn đề đối ngoại để xuyên tạc các lĩnh vực có liên quan, âm mưu “một mũi tên trúng nhiều đích”, nhất là xuyên tạc các vấn đề nhạy cảm về chủ quyền, kinh tế, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo. Thứ tư, chống phá trước, trong và sau các hội nghị ngoại giao lớn do Việt Nam tổ chức. Trước khi các hội nghị ngoại giao lớn diễn ra, các thế lực thù địch tung các thông tin sai lệch về tình hình đất nước, về công tác chuẩn bị, về đường lối ngoại giao của ta… gây nhiễu, rối thông tin, làm bất lợi việc tổ chức, kêu gọi “tẩy chay” sự kiện; trong hội nghị tiếp tục gửi các “thư ngỏ”, “kiến nghị” đến các đoàn, cơ quan ngoại giao nước ngoài yêu cầu can thiệp các vấn đề nhân quyền, dân tộc, tôn giáo…; sau hội nghị đưa ra các đánh giá hạ thấp, bôi đen, phủ định thành công của sự kiện, hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Trước những sự chống phá trên, công tác đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch về đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế là yêu cầu cấp thiết, thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó có việc đăng cai và tổ chức thành công những sự kiện, diễn đàn, hội nghị ngoại giao lớn. Thực tiễn cho thấy, thời gian qua, việc tổ chức thành công những sự kiện ngoại giao lớn đã góp phần quan trọng nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế; nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài để củng cố, bồi đắp, gia tăng sức mạnh nội lực, tiềm lực đất nước…, qua đó tự nó là minh chứng sinh động, bằng chứng thuyết phục để bẻ gãy những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch về đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta.

ĐỒNG LÒNG, CHUNG TAY, ĐẬP TAN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Trong thời gian tới, tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, sẽ có những diễn biến phức tạp, khó lường với những khó khăn, thách thức mới đối với nước ta. Đặc biệt là, khi chúng ta đang tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII. Trong bối cảnh ấy, các thế lực thù địch sẽ triệt để lợi dụng không gian mạng, nhất là các phương tiện thông tin, truyền thông như mạng Internet để đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta, đòi “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Tình hình đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải đẩy mạnh đấu tranh chống các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thu địch, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam. Vì vậy, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân cần quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc chủ trương, đường lối và các giải pháp mà Đại hội XIII của Đảng đã xác định. Đồng thời, phải chung sức, đồng lòng, chung tay đập tan âm mư, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội phản động.


Thứ Hai, 14 tháng 2, 2022

RA MẮT CUỐN SÁCH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

Cuốn sách gồm 29 bài viết, bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kể từ khi chuẩn bị xây dựng Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đến nay.

Sáng nay (9/2), Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp Hội đồng Lý luận Trung ương và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tổ chức lễ ra mắt cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Dự lễ ra mắt sách có Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng; Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Nguyễn Xuân Thắng; Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa…

Cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” do Hội đồng Lý luận Trung ương và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp tổ chức bản thảo và xuất bản, gồm 29 bài viết, bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kể từ khi chuẩn bị xây dựng Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đến nay.

Nội dung xuyên suốt 29 bài viết là sự phân tích biện chứng, lý giải thấu đáo những câu hỏi lớn về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Tổng Bí thư.

Các bài viết đã thể hiện rõ và làm sâu sắc thêm bản chất, giá trị cốt lõi của chủ nghĩa xã hội trên các bình diện chính trị, kinh tế, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh, cách diễn đạt hết sức dung dị, gần gũi, dễ hiểu đối với mọi tầng lớp nhân dân, được chắt lọc từ đời sống thực tiễn sinh động của đất nước.

Theo GS.TS Tạ Ngọc Tấn - Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương, cuốn sách là tài liệu quý, một công trình có tầm khái quát lý luận cao, tổng kết thực tiễn sâu sắc về những phát triển, sáng tạo riêng có của Đảng ta về mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trên nền tảng tư duy lý luận sâu sắc, cuốn sách đã trình bày, phân tích, lý giải các vấn đề lý luận và thực tiễn về mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam một cách khúc triết, rành mạch, rõ ràng, dung dị và dễ hiểu.

Cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ là cơ sở quan trọng cho việc tiếp tục tổng kết lý luận về đường lối đổi mới của Đảng ta, là tài liệu quý để giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, tạo nên sự đồng thuận để khơi dậy, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ Hai, 6 tháng 12, 2021

NGUY CƠ PHAI NHẠT BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC

“Văn hóa còn thì dân tộc còn” là khẳng định hết sức đúng đắn về vị trí và vai trò của văn hóa trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc, đồng thời là một trong những yếu tố mà từ khi ra đời, tổ chức, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến nay, Đảng ta luôn luôn cùng toàn dân nỗ lực bảo đảm, phát triển. Tuy nhiên, thời gian gần đây đã và đang xuất hiện một số hiện tượng có thể đẩy tới nguy cơ phai nhạt bản sắc văn hóa dân tộc đòi hỏi cần được kịp thời chấn chỉnh.

Qua những chặng đường lịch sử của dân tộc, từ quá trình dựng nước, giữ nước đến xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, dù trải qua nhiều biến động, thăng trầm nhưng chúng ta luôn hướng đến một nền văn hóa lấy con người làm trung tâm, và xây dựng nền văn hóa của dân, do dân, vì dân. Khi lãnh đạo dân tộc tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập và xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ nhận thức, nắm bắt các vấn đề mới của thực tiễn mà Đảng Cộng sản Việt Nam luôn bổ sung nội dung mới cho khái niệm văn hóa, để văn hóa luôn “soi đường cho quốc dân đi” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định.

Từ năm 1943, “Đề cương văn hóa” của Đảng đã nêu lên ba yếu tố then chốt, là mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam là dân tộc - đại chúng - khoa học. Vì thế, từ quá trình vận động, tuyên truyền, giác ngộ quần chúng làm nên Cách mạng tháng Tám năm 1945, thành lập Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đến trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, chúng ta đã xây dựng được vị trí tiên phong của nền văn hóa văn nghệ chống đế quốc, phong kiến trên phạm vi toàn thế giới trong thời đại ngày nay như Đảng ta tổng kết. Đó chính là di sản lớn lao thấm đẫm mồ hôi và máu của bao lớp đồng chí, đồng bào đi trước mà thế hệ hôm nay và mai sau phải giữ gìn, phát huy; cũng là kế tục xứng đáng các giá trị cốt lõi của truyền thống anh hùng, đầy tính nhân văn đã được cha ông xây dựng từ hàng nghìn năm trước, và trao lại cho chúng ta.

Có thể thấy, khi đề ra đường lối phát triển văn hóa Việt Nam, dù trong giai đoạn nào, hoàn cảnh nào, chiến tranh hay hòa bình, Đảng ta cũng luôn đề cao tính dân tộc. Và nổi lên là bản sắc văn hóa dân tộc với những giá trị văn hóa tốt đẹp của tổ tiên, ông cha phải được giữ gìn, phát huy. Có thể coi đây chính là “tấm căn cước” để mỗi người Việt Nam hội nhập với thế giới. Văn hóa còn thì dân tộc còn là ở đó. Hòa nhập song không hòa tan cũng ở đó. Truyền thống tốt đẹp khi biết giữ gìn và phát huy không hề mâu thuẫn, đối lập với đổi mới, tiến bộ, hiện đại. Bởi, trong tổng hòa nguồn lực để xây dựng văn hóa hôm nay, có các giá trị được cha ông tạo dựng từ quá khứ.

Tuy vậy nhìn vào bối cảnh hiện tại, dù chúng ta đã làm được rất nhiều điều tốt đẹp cho xã hội - con người, thì vẫn phải thẳng thắn nói rằng vẫn còn có không ít biểu hiện “lệch chuẩn” văn hóa đáng băn khoăn, trăn trở. Đó là những biểu hiện lệch lạc, nông cạn trong nhận thức về văn hóa của một bộ phận xã hội, thậm chí có người còn quan niệm văn hóa chỉ là “cờ đèn kèn trống, đóng đinh leo thang”, múa may, hát xướng… Ngay trong đội ngũ người làm công tác văn hóa không hẳn ai cũng hoàn toàn thấm nhuần trong cả nhận thức và hành động để đáp ứng phát triển văn hóa là phải phát triển toàn diện, thống nhất trong sự đa dạng, thấm đậm tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, nội lực quan trọng để phát triển đất nước.

Vì thế vẫn xảy ra tình trạng còn coi nhẹ văn hóa, đặt văn hóa thấp hơn kinh tế. Hệ quả là trong khi đạt nhiều mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đời sống vật chất vượt trội so với trước đây, nhưng ở một số nơi, trong một số trường hợp, đạo đức, văn hóa xã hội lại bị xuống cấp nghiêm trọng, chủ nghĩa cá nhân bành trướng, không ít cán bộ, đảng viên suy thoái, biến chất, phai nhạt lý tưởng, coi thường kỷ luật, tham ô, lãng phí…

Hiện thực xã hội hiện nay đang đan xen các mảng sáng - tối, tốt - xấu hết sức phức tạp. Bên cạnh rất nhiều tấm gương tốt đẹp, giàu lòng vị tha, thiện tâm, khi có thiên tai, dịch bệnh sẵn sàng chia sẻ với đồng bào theo tinh thần “lá lành đùm lá rách”, “một miếng khi đói bằng một gói khi no”, “thương người như thể thương thân”, chung tay cùng đất nước, chính quyền để vượt qua mọi khó khăn… lại có một số người ích kỷ, tham lam, lợi dụng dịch bệnh để trục lợi. Lối sống thực dụng cực đoan như một thứ dịch bệnh đang nguy cơ lan rộng trong xã hội, nhất là lớp trẻ.

Trong khi đó nghệ thuật dường như lại quá coi trọng chức năng giải trí. Có thời điểm trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng phải gióng lên hồi chuông báo động về một số cuốn sách chạy theo thị hiếu thấp kém, phản văn hóa. Ở đó, nhân danh cách tân, đổi mới, một số người ca tụng lối viết bí hiểm, rắc rối, tù mù, đánh đố… Thái độ sùng ngoại biểu hiện song song với việc chê bai, bỉ bôi, hạ thấp văn học truyền thống. Nguy hại hơn là coi thường, công kích các giá trị tiêu biểu của nghệ thuật kháng chiến, hoặc mượn chữ nghĩa văn chương để bôi lem, làm xấu hình ảnh một số anh hùng, danh nhân của đất nước.

Với một số người, nghệ thuật không chỉ là phương tiện, mà còn là “vũ khí” tấn công quá khứ. Không phải không có hiện tượng “hai mặt” trong văn nghệ sĩ hiện nay. Đã xuất hiện hiện tượng, nghệ thuật, thu mình vào “cái tôi” đơn độc, riêng biệt, duy nhất, và phai nhạt sự gắn bó sâu sắc với công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc có tầm vóc rộng lớn, phong phú; dẫn đến tình trạng xa rời dân tộc và đời sống của nhân dân... Đương nhiên, hội nhập là vươn tỏa ra nhân loại, nhưng lan tỏa thế nào vẫn phải đặt trên mẫu số chung là dân tộc - nơi nghệ sĩ là thành viên, là nguồn cội - nơi nghệ sĩ sinh ra, trưởng thành. Đồng bào, chiến sĩ yêu quý văn nghệ sĩ bởi khi soi vào tác phẩm, họ thấy có bóng dáng, tâm hồn mình, niềm vui được nhân lên, nỗi buồn được chia sẻ…

Do đó, cùng với việc khuyến khích, cổ vũ, nâng đỡ các sáng tác nghệ thuật có tính thể nghiệm, cũng nên chú ý tới nguy cơ đoạn tuyệt với nguồn mạch văn hóa dân tộc để rồi cóp nhặt, bắt chước, lai căng vô lối, nhố nhăng. Cũng phải nhắc đến tình trạng đó đây, thuần phong mỹ tục của dân tộc bị lãng quên, bị coi thường, thậm chí bị xâm hại. Đến cả một số di sản văn hóa quý báu của dân tộc cũng chưa được bảo tồn gìn giữ cẩn trọng dẫn tới bị xuống cấp, hay hủy hoại. Có công trình đưa vào trùng tu, phục chế sau khi làm xong người ta không còn nhận ra được đường nét, màu sắc xưa cũ bởi sự đắp điếm, tô vẽ tùy tiện, cẩu thả…

Nghệ thuật không thể tồn tại nếu mất gốc rễ văn hóa dân tộc. Không thể có một nền nghệ thuật đứng ngoài văn hóa dân tộc. Đáng lo ngại là trong khi nghệ thuật Việt Nam đang vắng bóng, thiếu hụt các tác phẩm có giá trị tư tưởng - nghệ thuật sâu sắc, hấp dẫn, xứng đáng với chiều kích, tầm vóc công cuộc đổi mới của đất nước; thì lại xuất hiện nhiều tác phẩm làng nhàng, nhợt nhạt; những chương trình truyền hình ồn ào, vô bổ; những bộ phim dễ dãi, lê thê cùng sự khen chê, định giá tù mù, cánh hẩu, bè phái, cơ hội. Ngay cả sách giáo khoa cũng phơi bày không ít sỏi sạn, một số ngữ liệu, dữ liệu đưa vào chương trình dạy cho học sinh còn thiếu chọn lọc kỹ càng, buộc dư luận phải lên tiếng mạnh mẽ, nhưng nơi có trách nhiệm lại chậm sửa chữa, thay đổi.

Trên mạng xã hội, trong đời sống cộng đồng đang tồn tại không ít “nọc độc” hoặc xu hướng, nguy cơ có thể gây nguy hại cho văn hóa dân tộc. Một ca sĩ nước ngoài bỗng nhiên được không ít bạn trẻ coi là “thần tượng”, mê muội tung hô thái quá, thậm chí hôn cả ghế “thần tượng” đã ngồi! Còn có cả “thánh chửi” trên mạng xã hội được một bộ phận thanh niên tán dương rầm rộ. Tại sao lại có các hiện tượng đó? Phải chăng đời sống văn hóa tinh thần đang tồn tại lỗ hổng ở nhiều nơi, từ truyền thông, báo chí, chương trình biểu diễn,… đến gia đình, nhà trường, xã hội?...

Khó có thể liệt kê, kiểm đếm hết những biểu hiện “lệch chuẩn” văn hóa nhưng vẫn có thể nói rằng sự “lệch chuẩn” ấy là mối nguy hại không hề nhỏ của đất nước, của dân tộc. Đó là một thứ vi-rút gây hại cho đời sống văn hóa tinh thần của xã hội, cần phải ngăn chặn, bài trừ. Văn hóa Việt Nam cần phải tỏa sáng bởi những giá trị tốt đẹp của kết hợp sự tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại.

Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ, sự giao lưu, kết nối giữa con người với con người, giữa dân tộc với nhân loại có thể diễn ra dễ dàng, cái hay cũng dễ thấy nhưng điều dở cũng dễ lây. Bởi vậy văn hóa cần được trang bị bộ lọc tinh diệu để “gạn đục khơi trong” như lời dạy cổ nhân. Chưa lúc nào văn hóa cần phải nâng cao sức đề kháng như bây giờ. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, văn hóa là của mọi người, vì vậy công tác văn hóa không chỉ là nhiệm vụ của những người công tác trong lĩnh vực văn hóa.

Ở đâu có hoạt động của con người ở đó có văn hóa. Vì thế điều trước tiên trong nhận thức của mọi cấp, mọi ngành, của mọi người cần phải hiểu đúng, hiểu sâu về vai trò, vị trí của văn hóa trong đời sống xã hội. Văn hóa cũng là môi trường sống cho nên không thể và không bao giờ được phép đánh đổi văn hóa để lấy kinh tế. Nhận thức đúng, tư duy đúng sẽ hành động đúng. Xây dựng văn hóa là xây dựng đất nước, xây dựng tương lai, xây dựng hạnh phúc cho nhân dân.

Văn hóa là chân - thiện - mỹ, là cái đẹp ngàn xưa, cái đẹp hôm nay, cái đẹp mai sau của dân tộc Việt Nam. Xã hội càng trong sạch thì cơ hội phát triển vững mạnh càng lớn. Một xã hội vừa tuân thủ nghiêm kỷ cương, luật lệ vừa coi trọng văn hóa, đạo đức là một xã hội tốt đẹp. Đấy là thước đo trình độ phát triển văn minh của một đất nước, một xã hội.

Đó cũng là điều kiện tiên quyết tạo nên hạnh phúc cho nhân dân. Đường lối phát triển văn hóa của Đảng luôn lấy con người làm trung tâm. Điều này hoàn toàn phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân mà toàn Đảng, toàn dân đang nỗ lực phấn đấu, thực hiện. Bất luận trong hoàn cảnh nào, chúng ta vẫn cần phải xác định xây dựng xã hội phát triển lành mạnh, xây dựng con người tiến bộ, phát triển hài hòa, sống nhân nghĩa,… là mục tiêu, động lực của văn hóa .

Nhà thơ NGUYỄN HỮU QUÝ

Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021

UY TÍN VÀ VỊ THẾ CỦA VIỆT NAM

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Tô Anh Dũng chia sẻ với báo chí nhiều kết quả ấn tượng từ chuyến công tác tại Anh và Pháp của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính.

Mở ra nhiều cơ hội tăng cường hợp tác với các nước

* Hội nghị COP 26 là một trong những nội dung quan trọng trong chuyến công du lần này của Thủ tướng. Vậy Thứ trưởng có thể khái quát lại kết quả cũng như ý nghĩa dự Hội nghị COP 26 của đoàn Việt Nam do Thủ tướng Phạm Minh Chính dẫn đầu?

- Hội nghị đã thu hút sự tham gia của gần 200 quốc gia thành viên trong đó có 120 Nguyên thủ và Thủ tướng các nước cùng khoảng 36 ngàn đại biểu. Chính vì vậy, việc Thủ tướng Phạm Minh Chính và đoàn Việt Nam tham gia hội nghị mang nhiều ý nghĩa quan trọng và đạt được nhiều kết quả thiết thực.

Đây là bước triển khai cụ thể ở cấp cao chủ trương, đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng lần thứ XIII về “tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế” và Chỉ thị 25 của Ban Bí thư về “đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030”.

Với việc tham gia đóng góp tại hội nghị, chúng ta đã tái khẳng định thông điệp mạnh mẽ tới tất cả bạn bè quốc tế về một Việt Nam trách nhiệm, chủ động, tích cực trong tham gia xử lý một trong những thách thức chung toàn cầu lớn nhất và được quan tâm cao nhất hiện nay là biến đổi khí hậu. Qua đó thể hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Thông qua sự tham gia chủ động, tích cực với những thông điệp sâu sắc thể hiện trong các phát biểu của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại hội nghị, đặc biệt là cam kết liên quan đến việc đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, tham gia cam kết giảm phát thải metan toàn cầu và Tuyên bố Glasgow các nhà lãnh đạo về rừng và sử dụng đất, cộng đồng quốc tế thấy rõ hơn chủ trương, quyết tâm, nỗ lực và cam kết chính trị của Việt Nam trong ứng phó với biến đổi khí hậu.

Trong tiếp xúc song phương nhân dịp hội nghị, lãnh đạo các nước chia sẻ những tác động nghiêm trọng của biến đổi khí hậu cũng như những khó khăn, thách thức chúng ta đang gặp phải. Lãnh đạo các nước cũng coi Việt Nam là hình mẫu về một nước đang phát triển còn nhiều khó khăn nhưng đã có những đóng góp đi đầu về ứng phó biến đổi khí hậu.

Các đề xuất của Thủ tướng được các nước hoan nghênh, ủng hộ. Điều này mở ra nhiều cơ hội để chúng ta tăng cường hợp tác với các nước, các đối tác về tài chính, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực để hỗ trợ các nỗ lực của ta nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu.

Nhân dịp tham dự COP26, Thủ tướng và đoàn Việt Nam đã có hơn 20 cuộc gặp, tiếp xúc song phương với lãnh đạo cấp cao các nước ở tất cả các châu lục, trong đó có các đối tác chiến lược, đối tác lớn và lãnh đạo các tổ chức tài chính quốc tế, năng lượng mới, môi trường...

Qua đó thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam với các đối tác, đưa quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu, hiệu quả, góp phần tích cực củng cố cục diện đối ngoại vững chắc và thuận lợi để giữ vững hòa bình, ổn định và phát triển đất nước.

Đây cũng là dịp chúng ta triển khai ngoại giao vắc xin, ngoại giao y tế, vận động thu hút nguồn lực bao gồm cả tài chính, công nghệ, góp phần tích cực phục vụ phòng chống dịch Covid-19 và phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội.

* Vậy kết quả ngoại giao vắc xin và hợp tác y tế qua chuyến đi lần này đạt được là gì, thưa ông?

- Các nước chia sẻ khó khăn của Việt Nam và đáp ứng tích cực đề nghị của ta. Cụ thể, Pháp công bố viện trợ thêm gần 1,4 triệu liều vắc xin chống Covid-19 qua kênh song phương và cơ chế COVAX, nâng tổng số liều vắc xin Pháp hỗ trợ cho Việt Nam lên hơn 2 triệu liều.

Anh khẳng định sẽ giúp Việt Nam nâng cao năng lực y tế, chuyển giao công nghệ sản xuất vắc xin Covid-19.

Công ty trong nước và Công ty AstraZeneca ký hợp đồng mua 25 triệu liều, nâng tổng số thoả thuận lên hơn 55 triệu liều và cam kết trong tháng 11 và tháng 12/2021 toàn bộ số vắc xin sẽ được đưa về Việt Nam, kịp thời thực hiện nhanh chóng mục tiêu tiêm vắc xin toàn dân của Chính phủ.

Các nước coi trọng vai trò, vị thế của Việt Nam

* Còn hoạt động song phương tại Anh và chuyến thăm chính thức tại Pháp của Thủ tướng đạt những kết quả nổi bật nào, thưa Thứ trưởng?

- Anh và Pháp đều là hai nước lớn trên thế giới, là Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, thành viên Nhóm G-7 và là đối tác chiến lược của Việt Nam. Pháp sẽ đảm nhiệm vai trò Chủ tịch luân phiên EU trong nửa đầu năm 2022. Cả hai nước đang điều chỉnh chính sách hướng đến khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó coi trọng ASEAN và Việt Nam. Trong bối cảnh đó, chuyến thăm làm việc tại Anh và thăm chính thức Pháp đạt được nhiều mục tiêu quan trọng, kết quả thực chất và có ý nghĩa chiến lược.

Cả hai nước dành cho Thủ tướng và đoàn sự đón tiếp hết sức trọng thị và nồng hậu. Mặc dù phải tập trung cao cho Hội nghị COP26, tiếp đón hàng trăm nguyên thủ nhưng cả Hoàng gia và Chính phủ Anh đều coi trọng sự tham dự của Việt Nam.

Thủ tướng Boris Johnson, Thái tử Charles, Thủ hiến ba vùng Scotland, Wales và Bắc Ireland" đều dành thời gian, kể cả ngày nghỉ để hội kiến và tiếp xúc riêng với Thủ tướng. Pháp dành cho Thủ tướng Phạm Minh Chính và đoàn Việt Nam các nghi lễ hơn cả thông lệ, trọng thị và rất thân tình: cả Tổng thống, Thủ tướng hội đàm và chiêu đãi trọng thể, Chủ tịch Quốc hội và Chủ tịch Thượng viện đều hội kiến với Thủ tướng Việt Nam.

Trong các cuộc hội đàm, hội kiến, lãnh đạo các nước bày tỏ coi trọng vai trò, vị thế của Việt Nam, thống nhất những định hướng lớn, giao cho các Bộ, ngành triển khai các biện pháp hợp tác cụ thể nhằm tăng cường lòng tin chiến lược, quyết tâm đưa các khuôn khổ hợp tác với Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực tiếp tục đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn nữa.

Bàn về các vấn đề đa phương, Lãnh đạo Anh, Pháp chia sẻ và ủng hộ Việt Nam trong các vấn đề quốc tế như ứng phó biến đổi khí hậu, an ninh an toàn, tự do hàng hải, hàng không trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS).

* Ông có thể nêu một vài con số cụ thể đạt được từ chuyến công tác của Thủ tướng?

- Kết quả ấn tượng của các hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư trong chuyến đi là với sự chứng kiến của Thủ tướng, gần 60 bản ghi nhớ hợp tác đã được doanh nghiệp Việt Nam và các nước thỏa thuận, tổng giá trị đầu tư cam kết lên đến hơn 30 tỷ USD, tập trung trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, kinh tế số, chuyển đổi số, môi trường, phát triển cơ sở hạ tầng, quy hoạch, công nghiệp hàng không vũ trụ, y tế và phòng chống dịch, giáo dục, nông nghiệp, du lịch… là những định hướng ưu tiên thu hút đầu tư của Việt Nam.

Gần 450 doanh nghiệp hàng đầu của Anh, Pháp và châu Âu tham dự trực tiếp và trực tuyến 2 diễn đàn doanh nghiệp ở Anh và Pháp bày tỏ được khích lệ bởi thông điệp của Thủ tướng là Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh, đồng hành và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp yên tâm đầu tư, kinh doanh dài hạn ở Việt Nam.

Ngoài ra, Thủ tướng đã có gần 40 cuộc tiếp xúc, trao đổi với hơn 60 lãnh đạo các tập đoàn, ngân hàng, trường đại học hàng đầu của Anh, Pháp và Châu Âu. Lãnh đạo các Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thông tin và Truyền thông, Tài nguyên và Môi trường, Y tế cũng đã làm việc riêng với khoảng gần 50 tập đoàn, doanh nghiệp lớn để trao đổi về các dự án đầu tư cụ thể và phương hướng hợp tác trong thời gian tới.

Thứ Tư, 20 tháng 10, 2021

CUỘC KHỦNG HOẢNG VỀ ĐƯỜNG LỐI CỨU NƯỚC CỦA VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX

Ngày 1 tháng 9 năm 1858, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Sau khi cơ bản kết thúc giai đoạn vũ trang xâm lược, chúng đã thi hành chính sách thống trị và bóc lột rất tàn bạo đối với dân tộc Việt Nam: độc quyền về kinh tế, chuyên chế về chính trị và ngu dân về văn hóa. Những chính sách đó của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam thay đổi từ xã hội phong kiến độc lập thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Cơ cấu giai cấp xã hội bị biến đổi: Bên cạnh giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp nông dân đã tồn tại từ lâu, xuất hiện giai cấp công nhân, giai cấp tiểu tư sản và giai cấp tư sản. Xã hội Việt Nam có hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến.

Trước sự thống trị tàn bạo của bọn thực dân đế quốc, các phong trào chống Pháp, giành độc lập dân tộc của nhân dân ta đã liên tiếp nổ ra. Tiếp nối các phong trào Văn Thân và Cần Vương, phong trào yêu nước ba mươi năm đầu thế kỷ XX diễn ra vô cùng anh dũng, từ khởi nghĩa Yên Thế và các phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa thục, Duy Tân đến khởi nghĩa Yên Bái... nhưng đều không thành công vì thiếu một đường lối đúng. Yêu cầu khách quan, cấp thiết của lịch sử Việt Nam khi đó là phải làm sao để khắc phục cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước.

Thứ Tư, 13 tháng 10, 2021

ÂM MƯU THÂM ĐỘC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH NHẰM BÁC BỎ CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ QUAN ĐIỂM, ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động thường tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm bác bỏ, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng. Thủ đoạn mới của chúng là chuyển từ bôi nhọ bằng luận điệu “du nhập ngoại lai”, “nhập khẩu lý luận” sang đánh tráo, thay thế các khái niệm, thổi phồng cái gọi là “chủ thuyết phát triển mới”, đối lập chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa Lênin, kêu gọi dùng “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin mà cố tình lờ đi một sự thật hiển nhiên, rõ ràng rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cụ thể của Việt Nam. Chúng trích dẫn một cách cắt xén, nửa vời những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đan cài gài bẫy bằng những quan điểm giả danh mác-xít, làm cho người đọc mất phương hướng, lẫn lộn, không phân biệt được đúng - sai. Chúng rêu rao rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam, giới lý luận và các nhà khoa học của ta đã dịch sai, hiểu sai quan điểm của C. Mác, Ph. Ăngghen; đồng thời, chúng diễn giải lại theo cách hiểu xuyên tạc, méo mó, hòng làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Cùng với việc công kích trực tiếp vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng còn đẩy mạnh tuyên truyền, cổ xúy du nhập các trào lưu tư tưởng cực đoan, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân tộc cực đoan từ bên ngoài, kết hợp với kích động chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa bè phái, chủ nghĩa hưởng lạc từ bên trong, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong hệ thống chính trị và xã hội.

Thứ Tư, 6 tháng 10, 2021

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ CỦA VIỆT NAM LÀ TRUNG DUNG, ĐI DÂY TRONG QUAN HỆ VỚI CÁC NƯỚC LỚN

Lợi dụng một số hoạt động đối ngoại của Việt Nam trong thời gian qua, nhất là khi Việt Nam đẩy mạnh quan hệ với Mỹ. Các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá. Họ xuyên tạc rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam trên thực tế đã từ bỏ chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và đang ngấm ngầm “theo chân” nước này để chống nước kia; thâm độc hơn, chúng còn cho rằng đó là “đường lối trung dung”, là “đi dây” trong quan hệ với các nước lớn, như thế là “tự cô lập” mình, “tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Sự thật không phải như vậy, như chúng ta đã biết, hiện nay, Hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn của thời đại, dù đang gặp những trở ngại, thách thức. Mỗi nước trên thế giới đều có quan hệ với các nước khác, nhất là chú trọng quan hệ với các nước lớn với những nội dung, hình thức và mức độ khác nhau. Đó vừa là xu thế, vừa là phương thức cơ bản bảo đảm an ninh và phát triển của mỗi nước. Phù hợp với xu thế đó, gần 35 năm qua, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Việt Nam luôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực. Do vậy, cần khẳng định rằng, chỉ có nhất quán và thực hiện tốt đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, không phụ thuộc vào bất cứ nước lớn hay nhóm nước nào thì chúng ta mới có thể tận dụng tốt nhất các cơ hội, điều kiện thuận lợi phục vụ cho sự phát triển đất nước. Điều đó tuyệt đối không thể gọi là “lạc hậu, lỗi thời”, là “trung dung”, “đi dây” trong quan hệ với các nước lớn.

Trên thực tế, chúng ta đã và đang thúc đẩy quan hệ với các nước lớn cũng như với các nhóm nước, tổ chức trên thế giới. Chúng ta chủ động tham gia các cơ chế, các diễn đàn khu vực và toàn cầu để vừa thích ứng với các trào lưu, xu thế chung của thế giới, vừa phục vụ một cách tốt nhất các lợi ích quốc gia - dân tộc.

Hiện nay, chúng ta vừa tăng cường quan hệ với Trung Quốc, vừa làm sâu sắc hơn quan hệ với Mỹ trên cơ sở mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các nước này ngày càng trở nên tốt đẹp, thực chất và hiệu quả hơn. Đó là quan điểm, lập trường và chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam, tuyệt nhiên không phải là chúng ta đang “nghiêng về bên này để chống bên kia” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Chủ Nhật, 3 tháng 10, 2021

ĐẬP TAN NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHUYẾN THĂM CUBA VÀ THAM DỰ PHIÊN THẢO LUẬN CHUNG CẤP CAO ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN HỢP QUỐC KHÓA 76 CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC NGUYỄN XUÂN PHÚC

Từ ngày 18-20/9 Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc thăm chính thức Cuba và ngay sau đó, từ ngày 21-24/9, Chủ tịch nước đã tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc Khóa 76 và thực hiện một số hoạt động song phương tại Hoa Kỳ. Ngày 19/9/2021, trên trang blog Tiếng Dân, đối tượng Trần Đông A đã tán phát bài "Ngoại giao Việt Nam liệu có mất đà", yêu cầu Việt Nam "nâng cấp quan hệ" với Mỹ và cho đó là "cách thoát Trung"; kích động người dân xuống đường đấu tranh xóa bỏ Đảng, xóa bỏ chế độ... Thực chất đây là những luận điệu xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta, hạ thấp vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Những luận điệu đó hoàn toàn không có cơ sở, bởi trên thực tế, các hoạt động trong chuyến công tác của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã góp phần tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa nước ta với các đối tác, nâng cao vị thế, uy tín của ngoại giao Việt Nam trên trường quốc tế. Thực tế là, các hoạt động của Chủ tịch nước và Đoàn cấp cao của Việt Nam trong chuyến thăm Cuba đã khẳng định tình đoàn kết, sự ủng hộ mạnh mẽ đối với Cuba trong giai đoạn nhiều thách thức; thể hiện rõ bản sắc ngoại giao chân tình, thủy chung của Việt Nam với các nước bạn bè, anh em. Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tham gia phiên thảo luận chung cấp cao của Đại hội đồng Liên hợp quốc Khóa 76 và trao đổi với các lãnh đạo cao nhất của Liên hợp quốc, đã gửi đi thông điệp mạnh mẽ với cộng đồng quốc tế về nước Việt Nam tự cường, có khát vọng và tầm nhìn phát triển, có đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và rộng mở, đã, đang và tiếp tục đóng góp tích cực, có trách nhiệm vào công việc chung của cộng đồng quốc tế.

Trong hơn ba ngày ở New York, Chủ tịch nước đã gặp hơn 30 nguyên thủ, lãnh đạo các nước và tổ chức quốc tế lớn như Liên Hợp Quốc, Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cùng khoảng 20 cuộc gặp, thảo luận với gần 50 tập đoàn hàng đầu thế giới nhằm đưa các mối quan hệ này đi vào chiều sâu, hiệu quả. Trong đó, Chủ tịch nước đã trao đổi với đại diện của đoàn Trung Quốc, nhấn mạnh việc tăng cường quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày càng ổn định, lành mạnh là nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của mỗi nước, cũng như đóng góp vào hòa bình, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới. Đồng thời, Chủ tịch nước đã tiến hành các hoạt động song phương tại Hoa Kỳ, góp phần thúc đẩy quan hệ Đối tác toàn diện đang phát triển tốt đẹp; phù hợp với mục tiêu, lợi ích chung của hai nước.

Chuyến công tác cũng đã tranh thủ được ủng hộ từ cộng đồng quốc tế dành cho Việt Nam, đặc biệt là trong nỗ lực phòng chống dịch Covid-19 và phục hồi, phát triển sau dịch.Bên cạnh một triệu liều vaccine Abdala Cuba chuyển về theo chuyên cơ của Chủ tịch nước, nhiều đối tác đã cam kết viện trợ và bán vaccine cho Việt Nam như Hàn Quốc, Hungary. Ngoài vaccine, đoàn Việt Nam đã thúc đẩy nhiều đối tác hỗ trợ vật phẩm y tế như tập đoàn Northwestern Medicine cung cấp thiết bị y tế trị giá 3,8 triệu USD, công ty Thermo Fisher cung cấp 270.000 bộ test trị giá hai triệu USD, ông David Duong là Việt kiều tại Mỹ hỗ trợ 1.000 máy trợ thở.

Rõ ràng, những hoạt động của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và Đoàn cấp cao Việt Nam trong chuyến công tác này đã trực tiếp góp phần nâng cao vị thế ngoại giao của Việt Nam chứ không làm "Ngoại giao Việt Nam mất đà". Đồng thời, đây cũng là chuyến công tác có những thành công đặc biệt về ngoại giao vaccine, kịp thời phục vụ cho công tác phòng, chống Covid-19. Những thành công đó là thực tiễn sinh động đập tan luận điệu xuyên tạc của đối tượng Trần Đông A, đồng thời, tiếp tục khẳng định đường lối đối ngoại đúng đắn, nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam.