Hiển thị các bài đăng có nhãn mục tiêu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn mục tiêu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 18 tháng 10, 2023

CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN LUÔN LÀ MỤC TIÊU CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Kể từ khi ra đời và trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong phong trào công nhân, chủ nghĩa Mác - Lênin luôn phải đấu tranh quyết liệt với hệ tư tưởng tự sản, với chủ nghĩa chống cộng và các trào lưu cơ hội, xét lại trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Lôgíc của cuộc đấu tranh sinh tử ấy đã chỉ ra rằng: khi cách mạng đang ở cao trào, đang thắng lợi thì các thế lực thù địch tìm mọi cách để chống đỡ, phòng ngự, nhưng khi cách mạng gặp khó khăn, tạm thoái trào thì chúng chuyển mạnh sang phản công và tấn công, tập trung công kích chủ nghĩa Mác - Lênin, nền tảng tư tưởng của chúng ta. Chúng đã và đang triệt để lợi dụng những sai lầm, hạn chế, khuyết điểm của đảng cộng sản và phong trào xã hội chủ nghĩa để chống phá, thậm chí chúng còn bịa đặt một cách thô thiển để thoá mạ, cố tình chứng minh cho điều mà chúng muốn là “chủ nghĩa Mác – Lênin đã lỗi thời”, không thể giữ vai trò nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của các đảng cộng sản.

Chúng còn lợi dụng sự kiện sự sụp đỗ chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xôviết ở Liên Xô và các nước Đông Âu để chống phá. Chúng rằng chủ nghĩa xã hội là bước đi sai lầm của lịch, là một “ảo tưởng bốc đồng” của một bộ phận nhân loại,….

Một số khác cho rằng chỉ nên coi chủ nghĩa Mác - Lênin là một phần của nhận thức, không thể coi là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động được. Nếu như những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các thế lực chống cộng phải giả danh chủ nghĩa Mác để xét lại điểm này, điểm khác, thì hiện nay, chúng công khai tuyên bố bác bỏ hoàn toàn chủ nghĩa Mác - Lênin; coi đó là lý luận “lỗi thời”, “quái gở”, là “không thích hợp với phương Đông, mà cũng chẳng thích hợp với phương Tây”; rằng “chủ nghĩa Mác - Lênin không còn chỗ đứng nữa”, bây giờ chỉ còn phải lựa chọn giữa chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa không tự do trong kinh tế, giữa bảo thủ và xã hội dân chủ hay là con đường thứ ba giữa hai cánh của con đường chính trị tư sản mà thôi...

Các thế lực thù địch, chống cộng, những kẻ cơ hội, xét lại rất táo bạo, trắng trợn, thô bỉ trong việc nói và làm, bất chấp thực tế lịch sử và hiện thực khách quan. Chúng cố tình quên rằng, chính từ quá trình nghiên cứu một cách khoa học sự hình thành, vận động và phát triển của chủ nghĩa tư bản mà C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát hiện ra quy luật phát triển tất yếu của lịch sử: chủ nghĩa tư bản nhất định sẽ bị diệt vong và thắng lợi của chủ nghĩa xã hội là tất yếu; đã chỉ ra cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động mục tiêu cần phải đến và con đường dẫn tới mục tiêu đó.


Thứ Năm, 1 tháng 12, 2022

MỤC TIÊU ĐẾN 2030, GDP BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI VIỆT NAM ĐẠT KHOẢNG 7.500 USD

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành nghị quyết 29 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Nghị quyết nêu rõ mục tiêu tổng quát đến năm 2030 Việt Nam cơ bản đạt được các tiêu chí của nước công nghiệp, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đời sống của nhân dân được nâng cao.

Xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh với năng lực sản xuất mới, tự chủ, khả năng thích ứng, chống chịu cao, từng bước làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền của các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn...

Về các chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030, nghị quyết nêu rõ mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân khoảng 7%/năm; GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt khoảng 7.500 USD; GNI bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt trên 7.000 USD.

Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế ở mức trên 50%; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu thế giới.

Tỉ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội dưới 20%; tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35 - 40%; tỉ lệ người dân trong độ tuổi lao động được đào tạo kỹ năng số cơ bản đạt trên 80%; đạt khoảng 260 sinh viên trên một vạn dân.

Thuộc nhóm ba nước dẫn đầu ASEAN về năng lực cạnh tranh công nghiệp; tỉ trọng công nghiệp đạt trên 40% GDP; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 30% GDP; tỉ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong các ngành chế biến, chế tạo đạt trên 45%.

Giá trị gia tăng công nghiệp chế tạo, chế biến bình quân đầu người đạt trên 2.000 USD. Tỉ trọng của khu vực dịch vụ đạt trên 50% GDP, trong đó du lịch đạt 14 - 15% GDP.

Hình thành được một số tập đoàn, doanh nghiệp công nghiệp trong nước có quy mô lớn, đa quốc gia, có năng lực cạnh tranh quốc tế trong các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn.

Xây dựng và phát triển được một số cụm liên kết ngành công nghiệp trong nước có quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh quốc tế; làm chủ một số chuỗi giá trị công nghiệp, nông nghiệp.

Xây dựng được ngành công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại.

Tỉ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP. Hoàn thành xây dựng chính phủ số, thuộc nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới và xếp thứ ba trong khu vực ASEAN về chính phủ điện tử, kinh tế số.

Tỉ lệ đô thị hóa đạt trên 50%. Phấn đấu đạt được các chỉ tiêu về sử dụng hiệu quả tài nguyên (đất, nước, khoáng sản), tái sử dụng, tái chế chất thải tương đương với các nước dẫn đầu ASEAN; chỉ số hiệu quả môi trường (EPI) đạt trên 55. Chỉ số phát triển con người (HDI) duy trì trên 0,7.

Về tầm nhìn đến năm 2045, nghị quyết nêu rõ mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, thuộc nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu khu vực châu Á.

* Về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, nghị quyết nêu rõ việc đổi mới tư duy, nhận thức và hành động quyết liệt, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trong đó các nội dung cốt lõi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giai đoạn 2021 - 2030 là thúc đẩy ứng dụng mạnh mẽ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo ra bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của các ngành, lĩnh vực và cả nền kinh tế.

Đồng thời thực hiện chuyển đổi số toàn diện, thực chất, hiệu quả, bền vững; nâng cao năng lực tự chủ về sản xuất, công nghệ và thị trường, bảo vệ và phát huy tốt thị trường trong nước.

Nghị quyết cũng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh, tự lực, tự cường; nâng cao năng lực ngành xây dựng...

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2022

CHỈ CÓ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI MỚI ĐEM LẠI ĐỘC LẬP, TỰ DO THỰC SỰ!

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930, đã có không ít quan điểm sai trái, thù địch chống phá Đảng, xuyên tạc, phủ nhận con đường cách mạng mà Đảng và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn trong hơn 90 năm qua. Họ cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đẩy nhân dân Việt Nam vào những cuộc chiến tranh vô ích (?!); đưa dân tộc Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội không khác gì đẩy dân tộc vào “thiên đường mù”, vào “bến bờ ảo vọng”(?!).

Trong bài Diễn văn kỷ niệm 90 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 - 2020), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam trong 90 năm qua đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng một lần nữa khẳng định: “Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”.

Thực tế cho thấy, từ khi thành lập đến nay, với đường lối đúng đắn và bản lĩnh của một Đảng cách mạng chân chính, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo Nhân dân ta thực hiện thành công cách mạng giải phóng dân tộc và tiến hành công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng đạt được những kết quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Mặc dù vậy, cho đến nay, vẫn có những con người được sinh ra, được hưởng thành quả của sự nghiệp cách mạng ấy đã phủ nhận, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng và phủ nhận thành quả cách mạng của Nhân dân ta. Họ cho rằng, nếu không đi theo con đường xã hội chủ nghĩa thì dân tộc Việt Nam đã không chậm phát triển, không có tham nhũng…; rằng, nếu đi theo con đường tư bản chủ nghĩa đất nước sẽ phát triển nhanh, xã hội sẽ tiến bộ và công bằng…(?!). Thực chất, những luận điệu ấy, hoặc là quan điểm sai trái, thù địch, phản động; hoặc là không đủ khả năng nhận thức được xu thế tất yếu của lịch sử nhân loại.

Có thể khẳng định, từ khi lịch sử loài người xuất hiện giai cấp, áp bức, bóc lột bất công, thì tình trạng chiến tranh, thủ đoạn cướp đoạt bằng bạo lực, nô dịch cũng xuất hiện. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, tình trạng ấy ngày càng trở nên gay gắt. Từ đó, những khát vọng, mong muốn được giải phóng của những giai cấp bị áp bức, bóc lột cũng xuất hiện.

Nhiều thế hệ các nhà tư tưởng, các nhà cách mạng ưu tú đã cống hiến, hy sinh cả cuộc đời cho lý tưởng tốt đẹp, nhân đạo, cho sự tiến bộ của nhân loại. Từ những tư tưởng sơ khai của Aghit, Clêômen thế kỷ III trước Công nguyên đến những mô hình, hệ thống quan điểm ngày càng hoàn chỉnh, tiến bộ hơn như T.Moro, G.Babớp, Xanhximông. Ph.Phurie, R.Owen, N.Đôbzôliubốp. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa được khái quát thành hệ thống lý luận khoa học trong chủ nghĩa Mác. Và đến V.I.Lênin, lý luận đó là tiền đề cho sự ra đời chủ nghĩa xã hội hiện thực.

Chủ nghĩa xã hội được hiểu với 3 tư cách: đó là một học thuyết, một phong trào cách mạng và một chế độ xã hội. Học thuyết, phong trào, chế độ ấy hướng đến sự giải phóng triệt để con người, chấm dứt bạo lực, cường quyền, chiến tranh; để phát triển toàn diện con người, để sự tự do của mỗi người là tiền đề cho sự tự do của tất cả mọi người.

Xuất phát từ nhận thức rằng, áp bức giai cấp là nguyên nhân căn bản, sâu xa của áp bức dân tộc, thì các chế độ người áp bức, bóc lột người trong lịch sử đều dẫn đến tình trạng dân tộc này đi áp bức, bóc lột dân tộc khác. Tình trạng này xuất hiện là do giai cấp thống trị về kinh tế trong một dân tộc luôn muốn củng cố địa vị kinh tế của mình thông qua bóc lột, đồng thời mở rộng sự ảnh hưởng của mình thông qua áp bức, nô dịch các dân tộc khác. Sự đô hộ của các nước đế quốc đối với các nước thuộc địa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, về thực chất là sự bành trướng, áp bức bóc lột của giai cấp tư sản khi nó đã trở thành giai cấp lỗi thời về mặt lịch sử.

Mặt khác, ở mỗi dân tộc nhất định, tính chất tiến bộ cách mạng hay bảo thủ, phản động của giai cấp giữ địa vị thống trị trong phương thức sản xuất sẽ quyết định tính chất của dân tộc. Giai cấp cách mạng, tiến bộ sẽ thúc đẩy sự phát triển của dân tộc theo hướng tiến bộ, cách mạng. Giai cấp lỗi thời, bảo thủ, lạc hậu, phản động sẽ kìm hãm sự phát triển của chính dân tộc ấy. Chẳng hạn, sự thống trị, áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản nói lên tính chất tư bản chủ nghĩa của dân tộc đó. Trong xã hội ấy không thể có tự do thực sự cho tất cả mọi người. Khi giai cấp công nhân trở thành giai cấp lãnh đạo, xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công thì dân tộc tư sản chuyển hóa thành dân tộc có tính chất xã hội chủ nghĩa. Dân tộc ấy thực hiện “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” cho tất cả mọi người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” và “cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”.

Hơn nữa, chế độ xã hội chủ nghĩa ra đời sẽ tạo cơ sở kinh tế để nhân dân được ăn no, mặc ấm. Theo Hồ Chí Minh, “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”. Chế độ chính trị của chủ nghĩa xã hội sẽ đảm bảo quyền lực thực sự thuộc về nhân dân. Chế độ xã hội trong chủ nghĩa xã hội sẽ đảm bảo cho quyền tự do, dân chủ, bình đẳng và tiến bộ. Khi nhân dân được thụ hưởng những lợi ích thực sự mà cách mạng đem lại, nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa sẽ ra sức bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ, qua đó góp phần củng cố độc lập dân tộc bền lâu.

Thực tế là, từ năm 1945 đến nay, không chỉ có Việt Nam giành được độc lập từ sự đô hộ của chủ nghĩa thực dân, mà có nhiều nước từ Á, Phi đến Mỹ La tinh cũng giành được độc lập. Nhưng khi đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, nhiều nước vẫn chìm trong bạo lực, chiến tranh, mâu thuẫn sắc tộc, nghèo đói. Các nước ấy bị chi phối, thao túng, và thực sự không có độc lập, tự do.

Đến nay, Việt Nam chưa phải là quốc gia phát triển, nhưng nếu tính từ năm 1945 thì nền độc lập của dân tộc Việt Nam mới được 77 năm và nếu tính từ năm 1975 thì dân tộc Việt Nam mới chấm dứt chiến tranh được 47 năm. Với từng ấy thời gian cho việc xây dựng và kiến thiết đất nước thì còn quá ngắn so với chế độ tư bản đã có hơn 500 năm kiến tạo. Tuy nhiên, điều căn bản là, ngày nay, chế độ tư bản chủ nghĩa không phải là chế độ mà ở đó con người được giải phóng và phát triển thực sự; chế độ mà ở đó “Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội”, do đó “Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất”.

Trong khi đó, với thành tựu của hơn 35 năm đổi mới đất nước, dân tộc Việt Nam đã thực sự được hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. “Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỷ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới”.

Cách mạng là sự nghiệp khó khăn, lâu dài, gian khổ, vì cách mạng là thay chế độ xã hội cũ bằng xã hội mới. Lịch sử cho thấy, chiếm hữu nô lệ chỉ tan rã sau 400 năm từ khi xuất hiện mầm mống của chế độ phong kiến trong lòng nó. Giai cấp tư sản lật đổ lật đổ chế độ phong kiến để xác lập địa vị thống trị của mình phải mất gần 300 năm, bắt đầu từ cách mạng tư sản Hà Lan năm 1560, đến tận khi vua Louis thứ XVI lên đoạn đầu đài ở Pháp vào thế kỷ thứ XVIII thì chủ nghĩa phong kiến ở châu Âu về đại thể mới chấm dứt sự thống trị. Thậm chí, tàn dư của chế độ phong kiến còn tồn tại cho đến ngày nay ở nhiều quốcgia. Tuy nhiên, “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”. Với ý nghĩa đó, “Chủ nghĩa cộng sản là hình thức tất yếu và là nguyên tắc kiên quyết của tương lai sắp tới”.

Do vậy, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cơ bản và lâu dài của cách mạng Việt Nam, bảo đảm cho dân tộc ta đi đến tương lai phồn vinh, hạnh phúc.

Quang Đặng - VNTV

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2022

MỤC TIÊU CAO CẢ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

Thời gian qua, nhất là từ khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng được tổ chức thành công, vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một trong những nội dung mà các đối tượng phản động, bất đồng chính kiến đưa ra những luận điệu xuyên tạc, công kích. Chúng cho rằng, chủ nghĩa xã hội đã sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu từ cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ trước. Hiện nay, hầu hết các nước đang đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, do vậy Việt Nam không nên giữ mãi mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội. Chính vì vậy, cần phải nhận thức cho đầy đủ vì sao chúng ta kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng ta luôn khẳng định nhất quán mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) khẳng định: “nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc”. Đại hội XIII của Đảng cũng xác định: “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Nhìn lại lịch sử nước ta thế kỷ XX và hai thập niên đầu thế kỷ XXI, chúng ta càng nhận thấy sự lựa chọn của Đảng và nhân dân ta là hoàn toàn chính xác. Chính vì vậy, chúng ta càng có đầy đủ cơ sở để khẳng định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cao đẹp, bất di bất dịch của dân tộc Việt Nam.

Trải qua gần 80 năm giành và giữ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, nhất là qua 36 năm thực hiện công cuộc đổi mới với mục tiêu cao cả đó, Đảng ta đã lãnh đạo đất nước khẳng định bản lĩnh Việt Nam trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, tỏ rõ tính độc lập, tự chủ trong thực hiện chính sách đối nội, đối ngoại, đưa nước ta từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế. Vì vậy, dù thời cuộc biến đổi xoay vần ra sao, dù phải đối mặt với rất nhiều thách thức phía trước, dù cho ai có ảo tưởng vào thiên đường tư bản chủ nghĩa thì hệ giá trị độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội vẫn là mục tiêu, là lý tưởng, là ngọn cờ tiếp tục dẫn dắt nhân dân ta đi tới tương lai tươi sáng.

MỤC TIÊU, LỰC LƯỢNG, NỘI DUNG, NGUYÊN TẮC ĐẤU TRANH PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ QUYỀN QUỐC GIA TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Thứ nhất, về mục tiêu đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch về chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Việt Nam phản đối mọi hành động xâm phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia trên không gian mạng, sử dụng không gian mạng để tuyên truyền, xuyên tạc, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; sẵn sàng sử dụng mọi biện pháp phù hợp với luật pháp quốc tế để ngăn chặn các hành động chống phá, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên không gian mạng.  Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định: “Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng” và “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, giữ vững chủ quyền số quốc gia trên không gian mạng trong mọi tình huống.

Thứ hai, về lực lượng đấu tranh bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Đó  là toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; trong đó, Nhà nước áp dụng các biện pháp để bảo vệ không gian mạng quốc gia; phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng. Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được bố trí tại Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Lực lượng bảo vệ an ninh mạng được bố trí tại Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia. Các tổ chức, cá nhân được huy động tham gia bảo vệ an ninh mạng.

Thứ ba, về nội dung đấu tranh bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Đó là bảo vệ chế độ chính trị và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam trên không gian mạng; bảo vệ an ninh về tư tưởng và văn hóa, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng; bảo vệ an ninh trong các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, đối ngoại và các lợi ích khác của quốc gia trên không gian mạng; bảo vệ bí mật nhà nước và các mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia trên không gian mạng; phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại và loại trừ các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia trên không gian mạng. vệ an ninh, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng

Thứ ba, về đối tượng bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Đó  là tất cả các thế lực thù địch trong và ngoài nước, lực lượng cơ hội, suy thoái chính trị, đạo đức, lối sống, bất mãn, cực đoan có âm mưu, hành động sử dụng không gian mạng can thiệp, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, tiến hành các hình thái chiến tranh, thực hiện tham vọng xâm phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc; cấu kết với các thế lực bên ngoài chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thực hiện các hoạt động xâm nhập, phá hoại về kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại, gieo giắc lối sống ích kỷ, đề cao cá nhân chủ nghĩa, coi trọng vật chất; xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân; thực hiện “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyến hóa”, kích động bạo loạn, và thực hiện các tình huống an ninh phi truyền thống khác.

Thứ tư, về  nguyên tắc bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.

Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn dân tộc; phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng. Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ an ninh mạng, bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tạo điều kiện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trên không gian mạng. Chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh, làm thất bại mọi hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; sẵn sàng ngăn chặn các nguy cơ đe dọa an ninh mạng. Triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng đối với cơ sở hạ tầng không gian mạng quốc gia; áp dụng các biện pháp bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.

Thứ Tư, 15 tháng 6, 2022

TỰ CHO MÌNH LÀ TỐT, LÀ HAY?

Chủ nghĩa cá nhân (CNCN) có nguồn gốc từ mỗi con người cụ thể. Với cán bộ, đảng viên cũng vậy. CNCN manh nha, hình thành, trỗi dậy từ chính lòng tham, sự vị kỷ, cùng với lối nghĩ cực đoan mang xu hướng “tự tôn”, tự sùng bái bản thân; thể hiện thông qua tâm trạng, thái độ, hành vi thường nhật, mà dấu hiệu dễ nhận biết là sự ham muốn quyền bính, lợi ích cá nhân (cá thể). Những người rơi vào CNCN thường quan niệm và tuân theo những “triết lý” tự đúc rút; thể hiện sự bảo thủ cao độ, không hạn chế mục đích và ham muốn bản thân. Họ “phản đối” và bất chấp sự can thiệp từ bên ngoài lên sự lựa chọn cá nhân, dù sự can thiệp đó là của xã hội, nhà nước, hoặc bất kỳ một cộng đồng, một tập thể hay một thể chế nào khác. Họ là nhất-hơn tất cả và chỉ lao động hoặc sáng tạo vì lợi ích của riêng họ mà bất chấp bỏ qua những mối liên hệ, mối quan hệ xung quanh trong đời sống xã hội. Những dấu hiệu này đã sớm được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc rút, chỉ rõ: CNCN là “miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”; là việc gì cũng chỉ nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết; chỉ biết “mọi người vì mình” mà không lo “mình vì mọi người”. CNCN hoàn toàn khác với sự cá tính. Dễ nhận thấy, cá tính là phẩm chất có nhiều mặt tích cực, trong khi CNCN là hoàn toàn tiêu cực. Cá tính là cái cần thiết, có thể gọi là “cái tôi” theo nghĩa nào đó để khẳng định “tôi là tôi”-điều đó tạo ra bản sắc và giá trị riêng của mỗi con người. Điều đó khác hoàn toàn với triết lý “tôi là nhất” của CNCN.

Khác nhau là vậy, nhưng ranh giới giữa cá tính và CNCN rất mong manh. Nếu quá đề cao cá tính một cách thái quá, hoặc đến độ bảo thủ, cực đoan vì lợi ích của bản thân thì bấy giờ cá tính đã trở thành CNCN. Ví như cán bộ có sự quyết đoán là tốt (đó là cá tính đáng quý), nhưng nếu anh quyết đoán thái quá, bất chấp nguyên tắc, vi phạm dân chủ thì vô hình trung đã rơi vào độc đoán-đấy cũng là lúc cán bộ trượt chân ngã vào CNCN. Hay như khi cán bộ nêu cao tinh thần thực hành phê bình là tốt, nhưng nếu lạm dụng việc phê bình để bôi nhọ, hạ bệ đồng đội, anh em để tự suy tôn, ngợi ca mình... thì đó là biểu hiện của CNCN. Hay giản đơn hơn là việc phê bình không đúng nơi, đúng chỗ, biến nội dung phê bình thành “câu chuyện làm quà” thì khi ấy mầm mống ban đầu của CNCN cũng đã trỗi dậy...

 Ngược lại, CNCN thường được “ngụy trang” trong dáng dấp của cá tính. Nhiều người vẫn nhầm tưởng, thậm chí là bày tỏ sự tôn trọng bởi một số cán bộ, đảng viên dám sống đúng với cá tính của mình; thế nhưng, nếu không biết phân tường đúng đắn thì phía sau cá tính đáng quý ấy của một ai đó rất có thể là một bức tranh đen đặc CNCN.

Điều đáng lo ngại hiện nay là không ít cán bộ, đảng viên có tâm lý tự ngợi ca mình, hài lòng với chính mình, không tự nhận ra những khuyết thiếu, tồn tại của bản thân để xác định mục tiêu, trách nhiệm, thái độ, động lực, động cơ và phương hướng để không ngừng rèn luyện, hoàn thiện nhân cách, nhân phẩm làm người và hướng đến các giá trị đạo đức cách mạng của người đảng viên, người chiến sĩ cộng sản trung kiên, mực thước. Thế nhưng, đáng buồn là nhiều cán bộ tự phong cho mình sự hoàn hảo, rồi bỏ ngoài tai tất cả những góp ý chân tình, đúng đắn của tập thể, đồng đội và quần chúng.

Cùng với đó, hiện nay tâm lý tập thể, tâm lý cộng đồng ở nhiều nơi, kể cả trong nội bộ tổ chức đảng, vẫn còn nặng biểu hiện “dĩ hòa vi quý”. Cả trong cuộc sống, công tác, cả ở hội nghị, hay những dịp đánh giá cán bộ theo định kỳ hoặc đột xuất, mọi người vẫn thường xem nhẹ việc chỉ trích và phê bình, hầu như chỉ bày tỏ sự cảm thông, chia sẻ, bỏ qua cho nhau những sai lệch, yếu khuyết từ nhỏ, thậm chí không nhỏ. Thành thử, đến cuối năm, cán bộ nào cũng tốt, đảng viên nào cũng hoàn thành nhiệm vụ và những yếu kém dần bị xem nhẹ, được “bỏ qua” một cách hiển nhiên theo kiểu: “Biến to thành nhỏ, biến nhỏ thành không”. Đó là một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc tích tụ các khuyết điểm nhỏ thành sai lầm lớn rồi hình thành, kết nên CNCN ở cán bộ, đảng viên.

Thực tế cho thấy, trong hàng loạt cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật buộc phải xử lý, trong số rất nhiều vụ đại án tham nhũng, tiêu cực, thì nguyên nhân sơ khai ban đầu đều xuất phát từ căn bệnh CNCN ở một bộ phận cán bộ, đảng viên. Thậm chí, hiện nay căn bệnh này đang diễn tiến phức tạp, quy mô ngày càng lớn, mức độ nguy hiểm ngày càng nghiêm trọng. Ấy thế nhưng, công bằng mà nói, ở nhiều nơi, việc chống CNCN chỉ dừng lại ở khẩu hiệu hô hào, nặng hình thức, kết quả thiếu thực chất và chưa đạt như mong muốn.

Cần nhớ rằng, CNCN là đặc biệt nguy hại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng sớm chỉ rõ CNCN là một thứ gian xảo, xảo quyệt, nó khéo dỗ người ta đi xuống dốc, nó là một thứ vi trùng rất độc đẻ ra hàng trăm thứ bệnh nguy hiểm... Nó phá từ trong phá ra, là bạn đồng minh của chủ nghĩa đế quốc và thói quen truyền thống lạc hậu, nguy hiểm hơn kẻ thù bên ngoài. Đảng ta qua các giai đoạn cách mạng cũng nhất quán cho rằng, CNCN là một trở ngại lớn trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ CNCN.

Tiếp cận như vậy để thấy, CNCN-một căn bệnh hết sức nguy hại, đang diễn ra phổ biến, hậu quả và hệ lụy khó lường, nhưng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở một số nơi lại hồn nhiên xem nhẹ, chưa thật sự đề cao trách nhiệm và quyết tâm chính trị trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi. Biểu hiện rõ nét nhất là sức chiến đấu của tổ chức đảng còn nhiều vấn đề đáng bàn; việc thực hành nguyên tắc tự phê bình và phê bình bị xem nhẹ, thiếu thực chất.


Thứ Ba, 26 tháng 4, 2022

MỤC TIÊU CỦA BẢO ĐẢM AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Bảo đảm an sinh xã hội là hoạt động của Nhà nước và toàn xã hội bằng các biện pháp về kinh tế - xã hội nhằm nâng cao đời sống vất chất, tinh thần cho người dân, để thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong phát triển kinh tế, thông qua phân phối lại thu nhập quốc dân.

Mục tiêu của bảo đảm an sinh xã hội là góp phần thực hiện công bằng xã hội trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bởi vì, quá trình phát triển kinh tế thị trường đã và đang đặt ra những thách thức cho nước ta trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng, phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, hạn chế những tác động của mặt trái cơ chế kinh tế thị trường, đặc biệt là sự phân hóa giàu nghèo ngày càng gia tăng. Trước thách thức đó, Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm đến vấn đề bảo đảm an sinh xã hội để thực hiện công bằng xã hội.

Thứ Hai, 21 tháng 2, 2022

CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN LUÔN LÀ MỤC TIÊU CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Kể từ khi ra đời và trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong phong trào công nhân, chủ nghĩa Mác - Lênin luôn phải đấu tranh quyết liệt với hệ tư tưởng tự sản, với chủ nghĩa chống cộng và các trào lưu cơ hội, xét lại trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Lôgíc của cuộc đấu tranh sinh tử ấy đã chỉ ra rằng: khi cách mạng đang ở cao trào, đang thắng lợi thì các thế lực thù địch tìm mọi cách để chống đỡ, phòng ngự, nhưng khi cách mạng gặp khó khăn, tạm thoái trào thì chúng chuyển mạnh sang phản công và tấn công, tập trung công kích chủ nghĩa Mác - Lênin, nền tảng tư tưởng của chúng ta. Chúng đã và đang triệt để lợi dụng những sai lầm, hạn chế, khuyết điểm của đảng cộng sản và phong trào xã hội chủ nghĩa để chống phá, thậm chí chúng còn bịa đặt một cách thô thiển để thoá mạ, cố tình chứng minh cho điều mà chúng muốn là “chủ nghĩa Mác – Lênin đã lỗi thời”, không thể giữ vai trò nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của các đảng cộng sản.

Chúng còn lợi dụng sự kiện sự sụp đỗ chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xôviết ở Liên Xô và các nước Đông Âu để chống phá. Chúng rằng chủ nghĩa xã hội là bước đi sai lầm của lịch, là một “ảo tưởng bốc đồng” của một bộ phận nhân loại,….

Một số khác cho rằng chỉ nên coi chủ nghĩa Mác - Lênin là một phần của nhận thức, không thể coi là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động được. Nếu như những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các thế lực chống cộng phải giả danh chủ nghĩa Mác để xét lại điểm này, điểm khác, thì hiện nay, chúng công khai tuyên bố bác bỏ hoàn toàn chủ nghĩa Mác - Lênin; coi đó là lý luận “lỗi thời”, “quái gở”, là “không thích hợp với phương Đông, mà cũng chẳng thích hợp với phương Tây”; rằng “chủ nghĩa Mác - Lênin không còn chỗ đứng nữa”, bây giờ chỉ còn phải lựa chọn giữa chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa không tự do trong kinh tế, giữa bảo thủ và xã hội dân chủ hay là con đường thứ ba giữa hai cánh của con đường chính trị tư sản mà thôi...

Các thế lực thù địch, chống cộng, những kẻ cơ hội, xét lại rất táo bạo, trắng trợn, thô bỉ trong việc nói và làm, bất chấp thực tế lịch sử và hiện thực khách quan. Chúng cố tình quên rằng, chính từ quá trình nghiên cứu một cách khoa học sự hình thành, vận động và phát triển của chủ nghĩa tư bản mà C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát hiện ra quy luật phát triển tất yếu của lịch sử: chủ nghĩa tư bản nhất định sẽ bị diệt vong và thắng lợi của chủ nghĩa xã hội là tất yếu; đã chỉ ra cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động mục tiêu cần phải đến và con đường dẫn tới mục tiêu đó.

Thứ Hai, 14 tháng 2, 2022

“KHÔNG ĐỂ THÁNG GIÊNG LÀ THÁNG ĂN CHƠI”

Một năm đầy khó khăn thử thách đi qua. Đất nước đang thích nghi với dịch bệnh và chuyển sang trạng thái bình thường mới, kinh tế tăng trưởng mạnh trong tháng 1/2022. Đây là cơ hội vàng để nước ta phục hồi kinh tế, bắt nhịp lại đà tăng trưởng bằng cách tập trung lại làm việc ngay sau kỳ nghỉ Tết.

“Vui xuân” là thói quen của mỗi người dân Việt Nam mỗi dịp tết đến xuân về. Tết là điều kiện thuận lợi để “ăn chơi” bởi thời gian nghỉ dài ngày, mỗi người đều có tâm lý xả hơi sau một năm lao động vất vả. Đây cũng là thời gian người người, nhà nhà xum vầy, vui chơi, du xuân, đi lễ chùa, gặp gỡ, thăm viếng nhau, kết nối lại tình cảm. Nhiều người còn mong muốn có thêm thời gian rảnh rỗi để bù đắp những tháng ngày bận rộn công việc, đặc biệt với những người xa nhà…

Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận một thực tế, tâm lý “tháng Giêng là tháng ăn chơi” vẫn còn trong suy nghĩ của không ít người dân, kể cả cán bộ, công chức. Chính vì đó, có những làng nghề nghỉ hết tháng Giêng vui chơi hội hè; có những công nhân trì hoãn chưa quay trở lại công ty làm việc để nghỉ ngơi, thăm thú bạn bè; có những nhân viên công sở chểnh mảng công việc, đi chúc tết, đi chùa trong giờ làm việc những ngày đầu năm… Tâm lý ấy tạo thành “sức ỳ" đối với mỗi người, và hệ quả của nó là “sức ỳ” của cả xã hội và nền kinh tế.

Nghỉ ngơi, hưởng thụ là nhu cầu chính đáng của mỗi người. Tuy nhiên, rõ ràng đây là thói quen xấu khi cả thế giới đang bước vào thời kỳ công nghiệp 4.0, cạnh tranh quốc tế gay gắt. Trong kỷ nguyên số với những thay đổi chóng mặt, tác phong công nghiệp tới từng phút từng giờ, thì việc lãng phí thời gian làm việc cho các nhu cầu cá nhân sẽ gây ra lãng phí rất lớn về nguồn lực xã hội, làm chậm tiến trình phát triển của đất nước, của từng doanh nghiệp và mỗi cá nhân. Như vậy, bối cảnh xã hội này đòi hỏi chúng ta phải thay đổi những thói quen không phù hợp.

Hơn nữa, suốt 2 năm vừa qua chúng ta phải đối đầu với dịch bệnh, kinh tế đình trệ, ngân quỹ quốc gia phải dồn sức cho công tác phòng chống dịch. Chỉ mấy tháng cuối năm, khi đã bảo phủ vắc xin và áp dụng trạng thái bình thường mới thì kinh tế nước ta mới có sự tăng trưởng đáng kể… Do đó, hơn lúc nào hết, chúng ta phải tranh thủ thời gian vàng này tạo thành cơ hội đẩy nhanh sự phát triển đất nước.

Trước đây từng có đề xuất gộp Tết tây vào Tết ta để khắc phục tình trạng “tháng Giêng là tháng ăn chơi”. Tuy nhiên, với mỗi người Việt Nam, Tết có ý nghĩa rất thiêng liêng. Vui xuân đón Tết vừa là dịp nghỉ ngơi, đoàn tụ sum vầy vui vẻ bên người thân, nhưng cũng là điểm khởi đầu cho một tinh thần mới, nguồn động lực mới, khí thế mới cho chặng đường phía trước. Tết không phải là nguyên nhân chính gây ra suy giảm năng suất lao động mà chính là tâm lý ăn chơi, chểnh mảng sau tết. Rõ ràng, đây là mặt chưa được, cần thay đổi để phù hợp với lối sống công nghiệp, văn minh, hiện đại.

Tại phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 1 ngày 28/1 vừa qua, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh "Không để tháng Giêng là tháng ăn chơi" và yêu cầu “các cấp, các ngành đã tích cực triển khai các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm ngay từ đầu năm, quyết tâm cao nhất đạt được các mục tiêu đã đề ra trong năm 2022 và cả giai đoạn 2021-2025”. Đây là yêu cầu vừa cấp bách vừa cần thiết nhằm quyết liệt thực hiện và phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội năm 2022 mà Chính phủ đã đề ra./.

Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ LỰC LƯỢNG DUY NHẤT LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG VIỆT NAM!

Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được thực tiễn lịch sử ghi nhận và quy định trong Hiến pháp năm 2013. Thế nhưng, các thế lực thù địc vẫn cố tình phủ nhận, xuyên tạc nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.

  Thực tiễn hơn 90 năm lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy, mục tiêu, lý tưởng và lợi ích của Đảng luôn thống nhất với mục tiêu, lý tưởng và lợi ích của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác là phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Từ khi ra đời trở thành lực lượng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền ở Việt Nam, lịch sử của dân tộc Việt Nam đã có thêm nhiều trang vàng, chói lọi. Mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với vai trò lãnh đạo, và cầm quyền của Đảng, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội một cách chính đáng, hợp lòng dân, được lịch sử chấp nhận, Hiến pháp quy định và giao phó sứ mệnh mà không một lực lượng nào có thể thay thế được. Thực tế là vậy, song các thế lực thù địch, lực lượng đối lập, những kẻ cơ hội chính trị không thừa nhận hoặc cố tình lờ đi điều đó, vẫn chĩa mũi nhọn công kích, bôi nhọ, nói xấu Đảng bằng những lời lẽ quy chụp, bịa đặt, thậm chí thổi phồng khuyết điểm, sai lầm để từ đó quy kết Đảng Cộng sản Việt Nam không đủ năng lực lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

  Không thể vin vào những yếu kém của một bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng mà phu nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, càng không nên đồng nhất Đảng với một bộ phận cán bộ, đảng viên tham nhũng, thái hóa, biến chất, quy chụp mọi sai lầm, tiêu cực trong xã hội là do Đảng lãnh đạo sẽ phủ nhận lịch sử, phủ nhận lòng tin của nhân dân, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc Việt Nam. Vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội như thế nào, chỉ có nhân dân Việt Nam mới có quyền trả lời điều đó. Chính nhân dân ta chứ không phải ai khác mới là người đánh giá chính xác nhất vai trò, uy tín của Đảng, là người có tiếng nói quyết định trong việc lựa chọn sự lãnh đạo đối với cách mạng Việt Nam, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Còn những kẻ bán nước cầu vinh, vụ lợi chính trị, tuyên truyền, bịa đặt, giả dối, không đủ tư cách, nhân phẩm để có tiếng nói trong vấn đề này. Dù thời cuộc thay đổi, nhân dân Việt Nam vẫn một lòng theo Đảng; bởi vì, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội đã được thực tiễn khẳng định và sẽ được khẳng định trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay.

Thứ Hai, 30 tháng 8, 2021

THỦ ĐOẠN TINH VI NHƯNG MỤC TIÊU CHỐNG PHÁ KHÔNG THAY ĐỔI

Nhận thấy không xóa được chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta, nếu không xóa được vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Họ cho rằng, “quân đội do nhà nước nuôi dưỡng nên chỉ phục tùng nhà nước, không phục tùng đảng phái nào”. Họ viện dẫn thực tiễn ở các thể chế chính trị tư sản với chế độ đa đảng, quân đội không do đảng nào lãnh đạo. Dựa vào đó, họ phủ nhận nguyên tắc “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam”; đòi bỏ quy định “Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Đảng” ở Điều 65, Hiến pháp 2013...

Mục tiêu nhất quán của những thủ đoạn trên là thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm cho quân đội xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng và sự lãnh đạo của Đảng; biến chất về chính trị, tiến tới vô hiệu hóa vai trò Quân đội ta là chỗ dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.


Thứ Sáu, 6 tháng 8, 2021

ĐỒNG CHÍ LÊ QUANG ĐẠO - NHÀ LÃNH ĐẠO CÓ UY TÍN LỚN CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ NHÂN DÂN TA

Hơn 60 năm hoạt động cách mạng, đồng chí Lê Quang Đạo đã có những công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Ghi nhận công lao to lớn của Đồng chí với dân tộc, Đảng, Nhà nước tặng Đồng chí Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Đại đoàn kết dân tộc và nhiều Huân, Huy chương cao quý khác.

Đồng chí Lê Quang Đạo được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước tin tưởng trao cho nhiều trọng trách quan trọng, ở địa bàn quan trọng và ở những thời điểm lịch sử. Dù ở bất cứ cương vị công tác nào, Đồng chí đều hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó.

Đồng chí Lê Quang Đạo, nhà lãnh đạo có uy tín lớn của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta, là tấm gương tiêu biểu của người chiến sĩ cộng sản mẫu mực, một nhà yêu nước chân chính, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là tấm gương tiêu biểu cho các thế hệ hôm nay và mai sau học tập, noi theo.

Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Lê Quang Đạo là dịp để chúng ta ôn lại cuộc đời, sự nghiệp và tôn vinh công lao, cống hiến to lớn của Đồng chí đối với Đảng, cách mạng Việt Nam; qua đó giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc; cổ vũ, động viên các tầng lớp Nhân dân tích cực thi đua học tập, lao động, công tác và chiến đấu góp phần thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng phát triển và bảo vệ đất nước./.                                                                          


KHÁT VỌNG CỦA QUỐC GIA TẠO NÊN SỨC MẠNH TINH THẦN TO LỚN

Để trở thành một quốc gia - dân tộc phát triển, cần rất nhiều yêu cầu, điều kiện, trong đó tầm nhìn, khát vọng vươn lên của bản thân quốc gia - dân tộc đó là một sức mạnh tinh thần to lớn. Mọi quốc gia - dân tộc muốn trở nên cường thịnh đều cần khát vọng mãnh liệt để tập hợp, đoàn kết toàn dân, tạo nên sức mạnh tinh thần vượt qua mọi khó khăn, thử thách nhằm hiện thực hóa mục tiêu, con đường phát triển của mình. “Giấc mơ Đại Hàn”, khát vọng “đưa Singapore lên thế giới thứ nhất” hay khát vọng “thoát Á” đã đưa các quốc gia Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản đứng vào hàng ngũ các nước phát triển chỉ trong một thời gian ngắn dù xuất phát từ một nền tảng rất khiêm tốn. Còn “giấc mơ Mỹ” - giấc mơ quốc gia Mỹ là tổng hòa giấc mơ của các cá nhân hợp lại, đã dẫn dắt nước Mỹ phát triển hơn 200 năm liên tục kể từ khi giành được độc lập năm 1776 đến nay.

Với Việt Nam, trong suốt hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, khát vọng xuyên suốt, nhất quán của dân tộc ta là độc lập, tự chủ, tự cường. Nhờ đó, Việt Nam đã chiến đấu và chiến thắng các kẻ thù xâm lược để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng và phát triển đất nước. Truyền thống, khát vọng đó cần được nâng tầm, phát huy có hiệu quả trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đặc biệt là trải qua các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ đã hun đúc lên khát vọng  phát triển, tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường mãnh liệt của dân tộc Việt Nam. Đây là điểm quy tụ, chất kết dính, tạo nên sự đoàn kết, sức mạnh to lớn giúp dân tộc ta chiến đấu và chiến thắng các kẻ thù xâm lược thường lớn mạnh hơn gấp nhiều lần. Khát vọng độc lập, tự chủ, tự cường, giàu mạnh của Việt Nam là nhất quán và xuyên suốt, nhưng trong những bối cảnh, hoàn cảnh lịch sử khác khau, khát vọng đó có nội hàm và nội dung trọng tâm khác nhau. Ở những thời khắc đối mặt với họa mất nước, khát vọng độc lập, tự chủ đã tạo nên một sức mạnh tinh thần to lớn giúp dân tộc ta đánh bại các kẻ thù xâm lược. Trong bối cảnh hiện nay, khát vọng độc lập, tự chủ chính là tự cường để xây dựng một nước Việt Nam thịnh vượng, phát triển; đồng thời, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Ngày nay, độc lập và tự chủ chỉ thực sự có được và duy trì một cách bền vững trên cơ sở tự cường, do vậy, tự cường chính là nội dung trọng tâm của khát vọng dân tộc Việt Nam trong giai đoạn mới. Dân tộc Việt Nam tự cường có nghĩa là một dân tộc độc lập, tự chủ trước hết về kinh tế, ở mức độ cao hơn là đạt đến giàu có và thịnh vượng. Để đạt được điều đó, sự phát triển của đất nước phải dựa trên một thể chế được thiết kế phù hợp, bền vững, có khả năng giải phóng sức lao động và năng lực sáng tạo của mỗi cá nhân, huy động được mọi nguồn lực, phát huy tối đa tiềm năng, sức mạnh chung của cả dân tộc. Bên cạnh đó, phải xây dựng được một cấu trúc xã hội bền vững, đoàn kết và đồng thuận tự nguyện trên cơ sở kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Trong một thế giới biến đổi với gia tốc lớn, diễn biến phức tạp, khó lường như hiện nay, tự cường còn thể hiện ở chỗ: trong bất cứ hoàn cảnh nào Việt Nam cũng phải kiên định, vững vàng với con đường đã chọn, ra sức nỗ lực nhằm hiện thực hóa mục tiêu, khát vọng xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Thứ Hai, 14 tháng 6, 2021

MỤC TIÊU NHẤT QUÁN CỦA ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN TA LÀ ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP, TỰ DO, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC, TIẾN LÊN XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt của cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua. Trong gần một thế kỷ đấu tranh, lao động, sáng tạo, Đảng và nhân dân ta đã từng bước nhận thức đầy đủ hơn, hình dung rõ ràng hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Chúng ta thực hiện mục tiêu, lý tưởng đó trong bối cảnh gặp nhiều khó khăn, thách thức. Song dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng đã đưa đất nước ta vượt qua khó khăn, đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và khởi xướng đường lối đổi mới, mở cửa hội nhập với thế giới.

30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 (bổ sung phát triển năm 2011) và 35 năm đổi mới: “đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, là nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững đất nước”1. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hình thành, phát triển; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được đẩy mạnh; kinh tế vĩ mô ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức cao, chất lượng tăng trưởng được cải thiện, quy mô và tiềm lực kinh tế đất nước tăng lên. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, phát triển con người, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu được coi trọng và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Các chính sách, bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, chính sách dân tộc, tôn giáo được thực hiện có kết quả. Chính trị xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đạt nhiều thành tựu nổi bật. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, dân chủ xã hội chủ nghĩa được tăng cường. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có nhiều tiến bộ, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn; tổ chức bộ máy lập pháp, hành pháp và tư pháp ngày càng được hoàn thiện. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả rõ rệt. Nhìn một cách tổng thể, mọi lĩnh vực trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước được thực hiện một cách đồng bộ, mạnh mẽ, hiệu quả, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng lòng ủng hộ, tin tưởng, bạn bè quốc tế tín nhiệm.

ĐẤU TRANH ĐẨY LÙI NHỮNG NHẬN THỨC LỆCH LẠC, SAI TRÁI

Đối với Việt Nam, dân chủ là bản chất của chế độ; dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển đất nước. Dân chủ không phải là thứ bất biến mà nó vận động phát triển không ngừng theo quá trình đi lên của lịch sử xã hội. Bằng nhiều chủ trương, giải pháp chúng ta phấn đấu đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; bảo đảm an toàn, an ninh, trật tự; hoàn thiện hệ thống pháp luật... Thực chất đó là quá trình chúng ta hoàn thiện nền dân chủ, bảo đảm mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thực tế cho thấy việc thực hành dân chủ trong Đảng, trong bộ máy Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội; cũng như trên mọi mặt, mọi lĩnh vực của đời sống ở Việt Nam đang ngày càng tốt hơn.

Sẽ là sai lầm nghiêm trọng khi cho rằng chỉ có đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có “dân chủ thực sự”. Một điều mà chúng ta phải khẳng định với nhau rằng, dân chủ không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng mà nó hoàn toàn phụ thuộc vào bản chất của đảng cầm quyền và bản chất của chế độ xã hội. Do đó thể chế nhất nguyên một đảng lãnh đạo hoàn toàn không đồng nghĩa với mất dân chủ hay kém dân chủ. Thực tiễn tại nhiều quốc gia cho thấy đa đảng nhưng vẫn mất dân chủ, vẫn là nước nghèo, kém phát triển. Trong khi nhiều quốc gia chỉ có một đảng lãnh đạo nhưng dân chủ được bảo đảm; kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển; đời sống của nhân dân ngày càng nâng cao. Đó là bằng chứng hùng hồn khẳng định đa nguyên, đa đảng không phải cứu cánh cho dân chủ.

Sự xuất hiện những luận điệu sai trái về nền dân chủ XHCN ở Việt Nam do nhiều nguyên nhân, nhưng có thể khu biệt lại ở hai nguyên nhân chính là: do nhận thức hạn chế, thiếu hiểu biết mà vô tình nói sai và nhận thức rõ, có hiểu biết nhưng cố tình phát ngôn lệch chuẩn. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề này rất rõ ràng. Với những người do nhận thức hạn chế mà vô tình phát ngôn lệch chuẩn thì phải tuyên truyền để giúp họ nâng cao nhận thức, hiểu biết về dân chủ. Còn với những người hiểu biết rõ về dân chủ nhưng cố tình xuyên tạc, phụ họa, hùa theo các thế lực thù địch nhằm lợi dụng dân chủ để chống phá đất nước thì phải nghiêm trị theo pháp luật.

Đảng và Nhà nước ta luôn phấn đấu để bảo đảm và phát huy dân chủ của nhân dân, đi liền với đó là tăng cường pháp chế XHCN, giữ gìn kỷ luật, kỷ cương, theo tinh thần “Thượng tôn pháp luật” chứ không phải là thứ dân chủ tự do vô hạn độ như những phần tử bất mãn chính trị tung hô.

Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 hoành hành nhưng cuộc bầu cử ĐBQH khóa XV và ĐBHĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đã thành công tốt đẹp. Cuộc bầu cử thành công mang ý nghĩa rất lớn trong việc đưa Nghị quyết Đại hội lần XIII của Đảng vào cuộc sống, đặc biệt là chủ trương tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN - Nhà nước của dân, do dân, vì dân.

Nhưng các thế lực thù địch không bao giờ từ bỏ âm mưu chống phá Việt Nam. Một trong những chiêu trò quen thuộc của chúng là lợi dụng dân chủ để xuyên tạc, gây phân tâm trong xã hội, chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào chế độ. Nguy hại hơn các thế lực thù địch luôn tìm cách móc lối với các phần tử thoái hóa, biến chất ở trong nước hòng kích động, lôi kéo những người dân nhẹ dạ cả tin, thiếu hiểu biết về dân chủ phụ họa theo những luận điệu, chiêu trò của chúng.

Thực tế đòi hỏi một mặt chúng ta phải đẩy mạnh tuyên truyền giúp người dân nâng cao nhận thức về dân chủ; tổ chức để nhân dân phát huy quyền làm chủ trong đời sống xã hội. Mặt khác phải coi trọng công tác đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng dân chủ để chống phá Việt Nam mà các thế lực thù địch đang mưu toan móc nối với những phần tử “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở trong nước để tiến hành.

Thứ Ba, 8 tháng 6, 2021

BÀI HỌC VỀ TINH THẦN QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG KHI ĐÃ XÁC ĐỊNH ĐƯỢC MỤC TIÊU ĐÚNG ĐẮN CỦA THANH NIÊN HIỆN NAY TỪ SỰ KIỆN NGUYỄN TẤT THÀNH RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

Ra nước ngoài để tìm hiểu thực tiễn của chính đất nước Pháp và một số nước khác, qua đó tìm con đường giúp nước mình; suy nghĩ tưởng chừng như đơn giản ấy trong người thanh niên lại chứa đựng một lòng quyết tâm mạnh mẽ, dám nghĩ, dám làm, dám dấn thân đã nung nấu từ rất lâu trong trái tim yêu nước nóng bỏng. Chính từ quyết tâm ấy, Nguyễn Tất Thành đã dành tuổi trẻ, tuổi thanh xuân đẹp nhất của đời người, vượt qua khó khăn cực khổ để hướng tới một mục tiêu duy nhất dù biết rằng quá trình hoàn thành mục tiêu ấy rất lâu dài và còn nhiều khó khăn đang chờ đón ở phía trước. Đó là mục tiêu đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho đồng bào ở đất nước của anh.

Thế hệ trẻ chúng ta học được ở đây bài học có giá trị to lớn về sự kiên định theo đuổi mục tiêu và con đường đã lựa chọn. Mục tiêu ấy, con đường ấy trước đây là sự dấn thân vào cuộc cách mạng toàn dân nhằm giải phóng dân tộc và đấu tranh thống nhất đất nước bằng tất cả sức trẻ, thì ngày nay mục tiêu của tuổi trẻ phải là không ngừng học tập, làm chủ tri thức, sẵn sàng cống hiến sức trẻ, sự nhiệt huyết, như lời dạy của Bác: Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt thành công.

Thứ Hai, 7 tháng 6, 2021

BÀI HỌC VỀ TINH THẦN QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG KHI ĐÃ XÁC ĐỊNH ĐƯỢC MỤC TIÊU ĐÚNG ĐẮN CỦA THANH NIÊN HIỆN NAY TỪ SỰ KIỆN NGUYỄN TẤT THÀNH RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

Ra nước ngoài để tìm hiểu thực tiễn của chính đất nước Pháp và một số nước khác, qua đó tìm con đường giúp nước mình; suy nghĩ tưởng chừng như đơn giản ấy trong người thanh niên lại chứa đựng một lòng quyết tâm mạnh mẽ, dám nghĩ, dám làm, dám dấn thân đã nung nấu từ rất lâu trong trái tim yêu nước nóng bỏng. Chính từ quyết tâm ấy, Nguyễn Tất Thành đã dành tuổi trẻ, tuổi thanh xuân đẹp nhất của đời người, vượt qua khó khăn cực khổ để hướng tới một mục tiêu duy nhất dù biết rằng quá trình hoàn thành mục tiêu ấy rất lâu dài và còn nhiều khó khăn đang chờ đón ở phía trước. Đó là mục tiêu đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho đồng bào ở đất nước của anh.

Thế hệ trẻ chúng ta học được ở đây bài học có giá trị to lớn về sự kiên định theo đuổi mục tiêu và con đường đã lựa chọn. Mục tiêu ấy, con đường ấy trước đây là sự dấn thân vào cuộc cách mạng toàn dân nhằm giải phóng dân tộc và đấu tranh thống nhất đất nước bằng tất cả sức trẻ, thì ngày nay mục tiêu của tuổi trẻ phải là không ngừng học tập, làm chủ tri thức, sẵn sàng cống hiến sức trẻ, sự nhiệt huyết, như lời dạy của Bác: Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt thành công.

Thứ Sáu, 4 tháng 6, 2021

VỮNG NIỀM TIN, KIÊN ĐỊNH VỚI MỤC TIÊU

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thời gian qua và đã có những tranh luận, những hoài nghi, phản bác. Bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tập trung trả lời những câu hỏi căn cốt của vấn đề này ở cả góc độ lý luận và thực tiễn. Nội dung bài viết của Tổng Bí thư đã nêu cụ thể hơn con đường lý tưởng và chân giá trị mà Bác Hồ và Đảng ta, Nhân dân ta đã lựa chọn, đã xác quyết và kiên trì phấn đấu.

Tổng Bí thư cũng nêu rõ, chúng ta xây dựng một xã hội đi theo lý luận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhân dân Việt Nam. Đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan và con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Đảng ta, Nhân dân ta phải luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phấn đấu cho mục tiêu, cho lý tưởng xây dựng bằng được chủ nghĩa xã hội.

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội không dễ dàng, không phải tự nhiên đến đích ngay được mà đòi hỏi phải vượt qua rất nhiều khó khăn, gian khổ. Những khó khăn, gian khổ ấy không chỉ đến từ bên ngoài, không chỉ do các thế lực thù địch chống phá mà còn nảy sinh từ trong chính chúng ta. Trên con đường đó, chắc chắn sẽ xuất hiện một bộ phận cán bộ, đảng viên bị thoái hóa, biến chất, những kẻ không “kìm được lòng” trước sự cám dỗ của của cải, vật chất, quyền lực nên tham nhũng và tha hóa. Thực tiễn hơn 30 năm đổi mới đã có không ít cán bộ, đảng viên quên đi lý tưởng của Đảng ta là vì Nhân dân, giải phóng Nhân dân, đem lại cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc cho mọi người dân; đã có những cán bộ, đảng viên chỉ chăm lo cho lợi ích cá nhân, làm giàu cho mình, vơ vét của chung làm của riêng khiến Nhân dân mất lòng tin.

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội có thể dẫn đến những bước ngoặt, có thể có những bước lùi. Cũng có những giai đoạn lịch sử, sự thoái hóa, tha hóa của một bộ phận cán bộ, đảng viên làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Đó là một thực tế khách quan. Vấn đề là chúng ta vượt qua những bước ngoặt, những bước lùi đó như thế nào? Những kết quả từ công tác xây dựng, chỉnh đốn đội ngũ nói chung và phòng, chống tham nhũng, phòng, chống sự suy thoái, tha hóa trong đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng của Đảng ta, dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng 10 năm qua, tuy chưa mỹ mãn như kỳ vọng, còn phải tiếp tục làm mạnh hơn nữa, nhưng đã củng cố niềm tin mà Nhân dân dành cho Đảng, dành cho Nhà nước.

Nói như vậy để thấy rằng, đi lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình nhiều khó khăn, thử thách. Chúng ta phải vừa đi, vừa nghiên cứu, vừa vận hành, vừa hoàn thiện bởi hiện tại, chưa ở đâu có chủ nghĩa xã hội và chưa ai thực sự hình dung được một cách đầy đủ, trọn vẹn về chủ nghĩa xã hội. Chúng ta vừa nghiên cứu lý luận, lại vừa vận hành trong thực tiễn, quá trình này có thể có những sai lầm trong lý luận, có thể có sai lầm trong thực tiễn gây khó khăn, làm cản trở bước tiến của chúng ta. Nhưng tất thảy điều đó chúng ta đều sẽ vượt qua được nếu Đảng ta, Nhân dân ta đoàn kết một lòng, vững niềm tin, kiên định chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bài viết của Tổng Bí thư cũng cho thấy rõ: trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa nhưng không phải là phủ định sạch trơn chủ nghĩa tư bản như cách hiểu của một số người trước đây. Quan điểm đúng đắn là chúng ta xây dựng xã hội không đi vào những khiếm khuyết, những tồn tại, những thói hư tật xấu của chủ nghĩa tư bản mà tiếp nhận, phát huy những thành tựu về khoa học, công nghệ, về kinh tế, xã hội, tận dụng các thành tựu đó để xây dựng đất nước ngày càng phát triển hơn.

Tổng Bí thư đã viết: chúng ta đang đi xây dựng một mô hình xã hội chủ nghĩa trong thực tiễn chứ không phải một mô hình lý thuyết, sách vở. Vì thế, trong quá trình này, không thể cứng nhắc, càng không thể giáo điều mà phải vừa nghiên cứu, vừa kế thừa, vừa kiên định với mục tiêu, lý tưởng nhưng đồng thời cũng phải sáng tạo, phải vận dụng và phát huy tối đa những thành tựu của nhân loại vào phát triển đất nước giàu mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Chủ nghĩa xã hội gắn liền với sự văn minh, sự tiến bộ, thể hiện ở lực lượng sản xuất hiện đại. Vì thế, chúng ta phải tranh thủ những thành tựu khoa học, công nghệ để xây dựng đất nước giàu mạnh hơn.

Tổng Bí thư cũng đã chỉ rõ: mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang thực hiện hiện nay là mô hình chưa có tiền lệ, không giống với mô hình kinh tế thị trường của các nước đang có và cũng không phải là mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa trong tương lai. Vì thế, trong giai đoạn quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải uyển chuyển nghiên cứu và tận dụng tất cả những lợi thế của kinh tế thị trường để phát triển đất nước ngày càng giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Cái chúng ta “bỏ qua” không phải là những thành tựu tiến bộ về khoa học, công nghệ, về trình độ phát triển của chủ nghĩa tư bản mà chính là những mâu thuẫn cơ bản, những “khuyết tật vốn có” của chủ nghĩa tư bản. 

Thứ Ba, 9 tháng 3, 2021

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN VÀ TẦM NHÌN CỦA ĐẢNG TRONG CÁC VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII

Mục tiêu phát triển và tầm nhìn dài hạn là một điểm nhấn mới, nổi bật trong các Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, được xác định một cách có cơ sở khoa học và thực tiễn; được đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân quan tâm, đồng tình. Đó là điều không ai có thể xuyên tạc.

Nhằm phá hoại, làm giảm ý nghĩa thành công của các đại hội Đảng; gây mất niềm tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào mục tiêu và định hướng phát triển đất nước mà Đảng ta xác định, các thế lực thù địch thường xuyên xuyên tạc nội dung các văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc, mỗi khi Đảng ta tiến hành đại hội thường kỳ.

Đối với Đại hội XIII của Đảng, một điểm nhấn mới, nổi bật thể hiện trong các Văn kiện được Đảng ta xác định là, tiếp tục phấn đấu theo con đường xã hội chủ nghĩa; đồng thời, đặt ra các mục tiêu cụ thể đến năm 2025, 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 gắn với các dấu mốc lịch sử 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập Nước. Theo đó, Đại hội xác định đến năm 2025: phấn đấu đưa nước ta trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030: là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045: phấn đấu trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Những mục tiêu đó thể hiện khát vọng hướng tới tương lai của cả dân tộc nhằm thực hiện thành công ý nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh là xây dựng nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”; đồng thời, thể hiện ý chí phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong các nhiệm kỳ tới.

Tuy nhiên, những kẻ cơ hội chính trị, phản động và thù địch lại coi đó là “ảo tưởng”, “hão huyền” (!). Họ cho rằng: chủ nghĩa xã hội trên thế giới đã sụp đổ mà chúng ta vẫn hướng tới mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội là “bảo thủ” (!); và rằng: việc đề ra mục tiêu đến 2030, 2045 là “ngẫu hứng” (!).

Cần thấy rằng: mục tiêu hướng tới một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh là mục tiêu chiến lược, đã được Đảng ta xác định ngay từ Cương lĩnh năm 1930. Mục tiêu đó được khẳng định và cụ thể hóa ở các cương lĩnh và đại hội Đảng tiếp theo trong suốt hơn 90 năm qua. Từ đó đến nay, phấn đấu thực hiện mục tiêu chiến lược đó, chúng ta đã giành được độc lập dân tộc và đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội với tiêu chí “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Mặc dù hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới không còn, nhưng không vì thế mà phủ định con đường tiến tới chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta, cũng như của cả nhân loại. Bởi lẽ, sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu chỉ là sự sụp đổ của một mô hình cụ thể - mô hình kiểu “Xô Viết”. Sự sụp đổ đó có nguyên nhân chủ quan, mang tính quyết định là những sai lầm từ sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền đã xa rời những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin trong xây dựng xã hội mới và sự phản bội lý tưởng xã hội chủ nghĩa của những người lãnh đạo ở những nước này. Do đó, đây không phải là sự sụp đổ lý tưởng và khát vọng đi tới chủ nghĩa xã hội của nhân loại. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta đã khẳng định: “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội” và “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”1. Chính những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới đất nước 35 năm qua có nguyên nhân rất quan trọng là chúng ta luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Do vậy, Đại hội XIII tiếp tục khẳng định mục tiêu chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn đúng đắn; phản ánh sự nhất quán trong đường lối cách mạng của Đảng ta, không phải là “ảo tưởng”, “bảo thủ”.

TẦM NHÌN XA

Đại hội XIII là lần đầu tiên trong lịch sử, Đảng ta đưa mục “Tầm nhìn và định hướng phát triển” vào văn kiện. Trước đây, văn kiện Đại hội Đảng thường chỉ đề cập đến mục tiêu cho nhiệm kỳ, giai đoạn. Lần này, Đảng ta đề cập đến vấn đề “tầm nhìn” và trong “tầm nhìn” thì có mục tiêu.

Tầm nhìn theo nghĩa đen là khả năng nhìn, là khoảng cách mà con người có thể nhìn thấy. Theo nghĩa bóng, đó là sự hình dung của một người hay một tổ chức về mục tiêu cần đạt được, về điểm cần đến trong một khoảng thời gian nào đó. Dân gian vẫn nói, “lãnh đạo hơn nhau bởi cái đầu”, thực chất là nói đến sự khác biệt bởi tầm nhìn. Jonathan Swift, nhà văn, nhà tư tưởng lớn (gốc Anh) cho rằng: “Tầm nhìn là nghệ thuật nhìn thấy được những gì mà người khác không nhìn thấy”. Bà Jody Williams, người nhận giải Nobel Hòa bình năm 1997, nhấn mạnh: “Sự khác biệt giữa một người bình thường và một người xuất chúng nằm ở cách nhìn đối với bản thân trong mối tương quan với cuộc đời. Có niềm tin vào chính mình, bạn có thể vượt qua bất cứ trở ngại nào trong cuộc sống. Tầm nhìn hạn chế luôn dẫn dắt con người đến câu trả lời “không thể”.

J.Maxwell, tác giả của nhiều cuốn sách gối đầu cho các CEO lừng danh trên thế giới, đã chia “tầm nhìn” thành 3 cấp độ: (1) Sự nhận thức, nhìn thấy những điều đang tồn tại nhưng bị che khuất bằng con mắt thực tế; (2) Sự nhìn thấy những điều có khả năng sẽ diễn ra bằng con mắt phán đoán; (3) Sự nhìn thấy những điều nhiều khả năng xảy ra bằng óc tư duy, phán đoán, dự báo.

“Phấn đấu để đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN” là tầm nhìn về mục tiêu tổng quát, sau khi Đảng ta đã phân tích, dự báo tình hình thế giới, đất nước những năm sắp tới. Hầu hết các nhà khoa học chính trị quốc tế quan tâm đến Việt Nam đều cho rằng, tầm nhìn đó đã đạt tới “cấp độ 3”.

Tầm nhìn đến “giữa thế kỷ XXI” là tầm nhìn xa, nhưng chúng ta ai cũng thấy đó không phải là mục tiêu xa vời. Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã trao chúng ta niềm tin, truyền cho chúng ta cảm hứng và sự khát khao mãnh liệt để hiện thực hóa mục tiêu đó trong tương lai không xa.