Hiển thị các bài đăng có nhãn hòa hợp dân tộc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hòa hợp dân tộc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2022

CHIÊU TRÒ TUNG HỎA MÙ DỊP NGÀY HỘI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

Điều 11, Luật Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam quy định: “Ngày 18 tháng 11 hằng năm là Ngày truyền thống của MTTQ Việt Nam và là Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc”. Từ đó đến nay, hằng năm, việc tổ chức “Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc” ở khu dân cư đã trở thành sinh hoạt xã hội rộng rãi ở từng cộng đồng dân cư trong cả nước.

Năm nay, ngày hội được tổ chức rộng khắp trên toàn quốc, tại các địa bàn, khu dân cư thôn, bản, ấp, làng, tổ dân phố, khu dân cư… với đa dạng hình thức, tạo khí thế sôi nổi, đoàn kết. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương dành thời gian về dự chung vui ngày hội với bà con, đồng thời thăm hỏi, tặng quà những cá nhân, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn…

Vậy nhưng, khi đồng bào ta phấn khởi, chung vui Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc thì cũng là lúc các tổ chức, cá nhân phản động lưu vong ở nước ngoài, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị giở trò xuyên tạc, chống phá.

Mượn chuyện hòa hợp để chia rẽ đoàn kết, kích động hận thù

Trên trang mạng xã hội của một số hội, nhóm phản động đưa ra những luận điệu xuyên tạc về chính sách hòa hợp dân tộc của Đảng, Nhà nước ta. Mới đây, trang mạng xã hội của Đài Á châu tự do (RFA) dựng lên câu chuyện sai trái, kệch cỡm khi cố tình đánh tráo bản chất, chính sách hòa hợp dân tộc của Đảng, Nhà nước ta là “chiêu nạp” lại cộng đồng người Việt ở nước ngoài; bôi lem, phủ nhận chính sách hòa hợp dân tộc khi xem đó là những mục tiêu chính trị nhất thời; phớt lờ những cố gắng, thành tựu trong thực hiện chiến lược đại đoàn kết dân tộc; vu cáo “cộng sản Việt Nam muốn nhận của kiều bào nhưng vẫn chưa muốn cho”… Họ cố tình kích động, chia rẽ đoàn kết bằng việc đưa ra trò so sánh lố bịch rằng người Việt Nam ở trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài “mang bản sắc riêng”, như nước với dầu không thể “trộn” vào nhau, không thể dung hòa, không thể đại đoàn kết!

Một số cá nhân còn đưa ra “yêu sách” bằng cách quy chụp công cuộc giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước là cuộc “nội chiến”!. Tổ chức Việt Tân đăng bài viết bôi nhọ sự thật, đánh đồng người có công với cách mạng giống như những người thương phế binh từng làm việc cho chính quyền Sài Gòn trước đây. Từ đó, đòi xóa bỏ chính sách xã hội đối với người có công với cách mạng.

Chiêu trò chống phá chính sách đại đoàn kết, hòa hợp dân tộc được xáo đi xáo lại nhiều lần, xét về bản chất là không mới nhưng qua mỗi năm lại được biến tấu, nhào nặn theo các hình thức khác nhau. Tựu trung thủ đoạn, mưu mô rất nguy hiểm, biểu hiện ở chỗ số đối tượng phản động, cơ hội chính trị thường lựa chọn thời điểm nước ta tổ chức các sự kiện trọng đại, kỷ niệm các ngày lễ lớn như kỷ niệm Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4) hay ngày Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc (18/11)… Các đối tượng đánh tráo bản chất sự việc theo kiểu “lập lờ đánh lận con đen”, nói không thành có, nói có thành không…

Họ bẻ cong lịch sử, đảo ngược chân lý nhằm làm cho người dân Việt Nam, nhất là kiều bào ta ở xa Tổ quốc hiểu sai, dẫn tới thiếu niềm tin, hoài nghi về chủ trương, chính sách đại đoàn kết, hòa hợp dân tộc; gợi lại vết thương trong quá khứ; gây chia rẽ, nghị kỵ lẫn nhau, cố tình tạo ra sự phân biệt, ngăn cách, kỳ thị trong nhân dân. Họ cố tình làm cho thế giới hiểu sai về một Việt Nam nhân văn, hòa hiếu, trọng tình, trọng nghĩa; làm giảm sự chung tay, đồng lòng trong tiến trình hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; cản trở, tiến tới xóa bỏ con đường đi lên CNXH của Việt Nam.

Hãy tôn trọng lịch sử, đừng phủ mờ chân lý

Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta cũng có những trường hợp người ăn ở hai lòng, khi gặp khó khăn, gian nan thì làm tay sai cho giặc. Nhưng với sự nhân văn “đánh người chạy đi, không ai đánh người chạy lại”, dân tộc ta luôn thể hiện hành xử độ lượng, bao dung với số này khi họ nhận ra lỗi lầm của mình. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu bật quan điểm nhân văn: “Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài, nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng, đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc, cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc”. Sau này Người khẳng định chân lý: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.

Kế thừa truyền thống nhân văn hòa hiếu của dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết, từ trong quá khứ cho đến hiện tại, chính sách hòa giải, hòa hợp dân tộc luôn là chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta. Theo đó, năm 2003, Hội nghị Trung ương 7 (khóa IX) của Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng như: Nghị quyết số 23-NQ/TW “Về phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; Nghị quyết số 24-NQ/TW “Về công tác dân tộc”; Nghị quyết số 36-NQ/TW (2004) của Bộ Chính trị (khóa IX) “Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”; Chỉ thị 45-CT/TW về tăng cường công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài của Bộ Chính trị (2015).

Trong Chỉ thị 45 đã khẳng định “Đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung...; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai; xoá bỏ mặc cảm, định kiến; chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc” và “Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam… Mọi người Việt Nam ở nước ngoài đều được khuyến khích, tạo điều kiện trở về thăm quê hương, đầu tư sản xuất kinh doanh, góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam”. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh mục tiêu: Xây dựng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục phát triển ổn định, đoàn kết, có địa vị pháp lý vững chắc, phát triển kinh tế và đời sống, hòa nhập xã hội nước sở tại, tạo điều kiện để đồng bào giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc...

Hòa hợp dân tộc là chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta. Ở trong nước hiện nay, đồng bào thuộc mọi thành phần xã hội, kể cả những người từng làm việc trong chế độ cũ đều không bị phân biệt đối xử, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ như những công dân khác. Với đồng bào ở nước ngoài, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách tạo điều kiện ngày càng thuận lợi hơn cho kiều bào trên nhiều lĩnh vực như: Xuất nhập cảnh, cư trú, hồi hương, quốc tịch, hộ tịch, về đầu tư kinh doanh; về quyền được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam…

Đối với kiều bào Việt Nam ở Mỹ, tại Hội nghị cấp cao đặc biệt ASEAN - Mỹ từ ngày 11/5 đến 17/5/2022, trong đẩy mạnh hợp tác song phương và đa phương, Việt Nam đã đề nghị Chính phủ Mỹ công nhận cộng đồng người Việt tại Mỹ là một dân tộc thiểu số. Nếu đề nghị này được Chính phủ Mỹ chấp thuận sẽ là một bước tiến quan trọng trong mối quan hệ Việt – Mỹ, là cơ sở để mang lại nhiều quyền lợi và giá trị to lớn đối với kiều bào ta.

Trong năm 2021, với tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”, Nhà nước ta đã tích cực hỗ trợ đồng bào có hoàn cảnh khó khăn ở nước ngoài, huy động các doanh nghiệp và địa phương hỗ trợ vật tư y tế cho hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ. Từ năm 2015 đến năm 2020, tổng lượng kiều hối đạt hơn 71 tỷ USD. Năm 2021, dù chịu tác động bất lợi của đại dịch COVID-19, lượng kiều hối về Việt Nam vẫn đạt 12,5 tỷ USD, tăng khoảng 10% so với năm 2020. Tính đến cuối năm 2020, kiều bào từ 27 quốc gia và vùng lãnh thổ đã có 362 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam, với tổng số vốn đăng ký 1,6 tỷ USD. Trên phương diện nghĩa đồng bào những đóng góp xây dựng quê hương, đất nước của kiều bào là rất quý giá và trân trọng; xét về mặt kinh tế, việc đầu tư sản xuất kinh doanh dịch vụ trong nước mang lại lợi ích cho chính kiều bào và lợi ích quốc gia dân tộc. Điều này khẳng định Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, khuyến khích, hỗ trợ kiều bào và chính kiều bào luôn hướng về Tổ quốc. Đây là những con số biết nói cho thấy những chủ trương, chính sách hòa hợp dân tộc của Đảng, Nhà nước là vô cùng đúng đắn, hợp lòng dân; đồng thời, thể hiện rõ nét nghĩa tình đồng bào, góp phần đập tan những mưu mô chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, ly gián đồng bào trong và ngoài nước.

Để có được thành quả cách mạng như ngày hôm nay, đất nước ta đã kinh qua bao gian khổ, hy sinh, mất mát. Hậu quả của chiến tranh để lại là hết sức nặng nề, cả nước có 1.146.250 liệt sỹ, trong đó 191.605 liệt sỹ trong kháng chiến chống Pháp, 849.018 liệt sỹ trong kháng chiến chống Mỹ và hơn 4 triệu dân thường đã thiệt mạng hoặc bị thương tật suốt đời. Chúng ta không gợi lại quá khứ để sự hận thù che mờ hiện tại và tương lai nhưng chúng ta không được lãng quên lịch sử mà phải luôn ghi nhớ sự mất mát trong chiến tranh để trân trọng hòa bình, độc lập, tự do và thực hiện cho bằng được hòa hợp dân tộc. Chúng ta ghi nhận thái độ chân thành hòa giải, thiện chí hòa hợp, đóng góp xây dựng đất nước từ phía những người từng lầm đường, lạc bước.

Hòa hợp không phải là cái cớ để những người định kiến, những kẻ thù địch gieo rắc sự hận thù; đưa ra những đòi hỏi vô lý đối với đất nước, đối với dân tộc; bóp méo lịch sử, đảo ngược chân lý, phủ nhận những nỗ lực, thành tựu trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhân chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ vào tháng 6/2007, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong cuộc gặp gỡ với kiều bào tại quận Cam đã bày tỏ cảm xúc: “Chúng ta nghĩ Tổ quốc là cái gì xa xôi, nhưng Quốc văn giáo khoa thư nói rằng, đó là những gì gần gũi nhất... Tôi mong bà con của mình, hãy vì quê hương đất nước, gác bỏ những khác biệt của mình, hãy đoàn kết lại, cùng nhau xây dựng Mẹ hiền Việt Nam, đất nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường”.

Thứ Ba, 26 tháng 4, 2022

LẬT TẨY CHIÊU TRÒ BÔI NHỌ, KÍCH ĐỘNG

Cứ đến dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4), những kẻ "lật sử" lại tìm mọi cách để chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, bôi nhọ lịch sử Việt Nam và công cuộc thống nhất đất nước của toàn dân ta.

Lợi dụng tính đại chúng của mạng xã hội, thành phần bất mãn mượn cớ khoa học hay tự xưng là “người cầm bút chân chính” đăng đàn các nội dung cho rằng, có những sự thật lịch sử, nhân vật lịch sử trong dịp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước cần phải xem xét lại (!). Một số kẻ giở trò “nước mắt cá sấu” để kêu thay, vái đỡ cho nhóm người bất mãn, “bên kia chiến tuyến” với luận điệu "thống nhất đất nước là sai lầm" (!); nhiều người đang tha hương, lưu lạc, vì sợ mà không dám trở về quê hương... Dù xảo quyệt đến đâu, ngôn từ có hùng hồn hay tỏ ra bi lụy thì tựu trung lại, chúng đều tỏ rõ bộ mặt thật của những kẻ có mưu đồ bất chính, hòng phủ nhận các giá trị lịch sử dân tộc, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết, thống nhất Bắc-Nam một nhà.

Thực tế là, bao thế hệ cha anh đã đoàn kết một lòng, không tiếc máu xương để đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, đập tan ngụy quân, ngụy quyền, thống nhất đất nước, non sông thu về một mối. Những chiến sĩ cách mạng bước ra từ cuộc chiến ấy mỗi người một công việc, tiếp tục cống hiến, chung tay xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chứ không phải như luận điệu của các thế lực thù địch, bất mãn đang rêu rao rằng có nhiều người đang “tranh công, đổ lỗi...”.

Bên cạnh đó, với chính sách hòa hợp dân tộc, Đảng, Nhà nước, nhân dân ta luôn sẵn sàng chào đón tất cả kiều bào trở về đóng góp cho quê hương, đất nước... Nhiều năm qua, các hoạt động chăm lo cho kiều bào ta ở nước ngoài đã được tổ chức thiết thực. Nhà nước luôn khuyến khích và tạo mọi điều kiện để kiều bào trở về quê hương, tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Dĩ nhiên, chẳng ai lại chào đón những thành phần bất mãn, thù địch, có âm mưu chống phá.

Và sự thật không ai có thể phủ nhận là, cứ mỗi dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tất cả người dân đất Việt đều tự hào với hai tiếng Việt Nam, đều xúc động rưng rưng khi giai điệu hùng hồn của bản Quốc ca vang lên dưới cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới, bởi đất nước thống nhất giúp toàn dân tộc không phải chịu cảnh ly tán, khổ đau do cùng dòng tộc, thân thiết với nhau mà phải chia ly, cách biệt. Chắc chắn cũng chẳng luận điệu nào có thể làm lu mờ chân lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi".

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2022

HIỂU ĐÚNG LỊCH SỬ ĐỂ CÀNG THÊM YÊU TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là bẻ cong sự thật về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; về vấn đề hòa giải, hòa hợp dân tộc sau khi miền Nam được giải phóng, cả nước thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội rồi thông qua đó phủ nhận vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nghề bồi bút của cái gọi là "Tập hợp Dân chủ đa nguyên", của những Phạm Trần, B. Giang, Đ. Mỹ Linh, Nguyễn Thị Cỏ M, Tưởng Năng T... nhất là mỗi dịp toàn Đảng, toàn dân, toàn quân kỷ niệm Ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước (30/4/1975) hằng năm.

Lâu nay, những kẻ bồi bút này theo đuôi các thế lực thù địch, phản động thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" thường dùng chiêu "bình mới rượu cũ" để tung tin bài xấu, độc lên mạng xã hội nhằm quy chụp, nhận định theo chủ kiến cá nhân để kích động, chia rẽ lòng dân, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hiểu đúng sự thật lịch sử bằng bản lĩnh và trái tim của nười Việt Nam yêu nước chân chính là góp phần nhận thức đúng trách nhiệm và nghĩa vụ của mình; là thêm yêu hơn giang sơn gấm vóc mà bao thế hệ cha anh đã không quản mồ hôi, xương máu để giành và giữ lấy.

Từ các nguồn sử liệu chính thống, khách quan, khoa học và tin cậy trong các kho lưu trữ của Đảng và Nhà nước Việt Nam; trong các công trình nghiên cứu về lịch sử, về chiến tranh… ở cả Việt Nam và thế giới, giới nghiên cứu, người muốn tìm hiểu đều có thể thấy rằng: Lịch sử cách mạng Việt Nam và lịch sử thế giới hiện đại đã ghi nhận cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước là cuộc chiến tranh nhân dân của nhân dân Việt Nam để giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ, thống trị, xâm lược của ngoại bang.

Từ trong các nguồn sử liệu đó, người có tri thức và khách quan đều nhận thấy, các cuộc đấu tranh vì một nước Việt Nam hòa bình, dân tộc và thống nhất trong lịch sử dân tộc nói chung, nguyên nhân, bản chất và chủ trương tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng nói riêng, chắc chắn không phải là cuộc "nội chiến huynh đệ tương tàn", lại càng không phải là sự tranh giành quyền lực "giữa các thế lực thống trị" mà mục đích, xét cho cùng, cũng chỉ là để đổi một ách nô lệ ngoại bang lấy một ách nô lệ bản xứ" như những luận điệu phản động, vu khống, xuyên tạc trên mạng xã hội.

Thứ Ba, 15 tháng 3, 2022

NHẬN DIỆN ÂM MƯU CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG MẠNG XÃ HỘI ĐỂ XUYÊN TẠC, PHÁ HOẠI CHÍNH SÁCH HÒA HỢP DÂN TỘC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện nay, nhất là khi nhân loại đã bước vào kỷ nguyên số thì việc dẫn nguồn, biên tập lại một cách méo mó thông tin sớm muộn cũng sẽ bị phát hiện, tẩy chay. Trong khi đó, chỉ cần lướt qua trên Internet, người ta rất dễ tìm được những thông tin đã được kiểm chứng rõ ràng. Ví dụ như các chương trình “Xuân Quê hương”, “Trại hè dành cho thanh thiếu niên người Việt ở nước ngoài”… mà chúng ta đã và đang tiến hành đã được rất nhiều hãng thông tấn báo chí, các website trên thế giới thừa nhận và đăng tải. Mặt khác, tình trạng tin giả hiện nay cũng đã được hầu hết các tổ chức, quốc gia cảnh báo và bài trừ. Về vấn đề này, xin dẫn lại một khuyến nghị trên Trang tin tức của Tòa thánh Vatican (Vatican News) trong việc cảnh báo những tin giả (fake new) âm mưu chia rẽ sự đoàn kết về tôn giáo (trong đó có Công giáo) ở Việt Nam như sau: “Trong thời đại hiện nay, Internet nói chung và mạng xã hội nói riêng là mảnh đất tốt để chúng ta có thể thực hiện việc loan báo Tin Mừng. Tuy nhiên, nó đồng thời cũng là mảnh đất màu mỡ cho những thông tin “phản - Tin Mừng” phát triển, nhưng lại mạo danh hay núp dưới danh nghĩa của Giáo hội Công giáo. Trong hoàn cảnh ở Việt Nam, điều này vô cùng nguy hiểm!”.


NHẬN DIỆN ÂM MƯU CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ ĐỀ XUẤT CÁI GỌI LÀ “PHƯƠNG CÁCH HÒA HỢP”

Xét ở góc độ luật pháp, “đại diện” là việc một người, một cơ quan, tổ chức nhân danh người, cơ quan, tổ chức khác xác lập, thực hiện hành vi pháp lí trong phạm vi thẩm quyền đại diện. Quyền đại diện được xác lập theo sự ủy quyền, theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật… Trong hiến pháp và pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới, “đại diện” là một trong những chế định quan trọng được ghi nhận. Ví dụ như tại Mục 1, Điều 3 của Hiến pháp Nga: “Nhân dân Nga đa sắc tộc là đại diện cho chủ quyền và là nguồn duy nhất của quyền lực ở Liên bang Nga”, hoặc trong Điều 135, Bộ luật Dân sự năm 2015 của Việt Nam, “quyền đại diện” cũng được quy định rõ: “Quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện; theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật”... Lấy cơ sở pháp lý làm căn cứ, chúng ta thấy những hoạt động (từ phát ngôn cho đến các hành động cụ thể) của những người trong Việt Tân, Việt Quốc, Khối 8406, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời... chỉ nhân danh cho chính bản thân họ hoặc cho một nhóm người “cùng chung tham vọng”; việc đưa ra các “tuyên ngôn” chẳng qua chỉ là chiêu bài lừa mị những người nhẹ dạ cả tin, những người đã lâu không có điều kiện nắm bắt tình hình trong nước...; các bài viết đăng tải trên Internet của họ chỉ thể hiện quan điểm cá nhân, nhóm người và hoàn toàn không phải là quan điểm đại diện cho nhân dân Việt Nam. Đặc biệt, những người này không có bất kỳ cơ sở pháp lý nào (sự ủy quyền, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, điều lệ pháp nhân, quy định của pháp luật…) để có thể “đại diện” cho số đông hay “nguyện vọng của đa số”, nhất là khi nguyện vọng của đa số ở đây không phải là mong ước chính đáng, phù hợp của tất cả các tầng lớp nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội Việt Nam, mà chỉ là tham vọng của một nhóm người mang mưu đồ ích kỷ, xấu xa.

Khi đã không có cơ sở pháp lý để “đại diện” cho “nguyện vọng của đa số” thì cái gọi là “phương cách hòa hợp” cũng chỉ là viển vông. Đối với những kẻ không có tư cách đại diện, lại thường xuyên sử dụng các hành động khủng bố thì dĩ nhiên các “phương cách hòa hợp” chỉ đơn thuần là một cách diễn đạt nhằm đánh tráo khái niệm, và mục đích chính là nhằm lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, cuối cùng là đòi đa nguyên đa đảng tại Việt Nam.

PHẢI CHĂNG CÁC CHÍNH SÁCH, LUẬT PHÁP VỀ HÒA HỢP DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LÀ NỬA VỜI?

Phải khẳng định đó là quan điểm sai lầm, đáng phê phán và lên án. Hiện nay, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc kết hợp thực hiện lời dạy của Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc: “Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc sẽ vẻ vang”, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành các chính sách, luật pháp cùng những hành động thiết thực về hòa giải, hòa hợp dân tộc, có thể kể đến Nghị quyết số 36-NQ/TW về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Quy chế miễn thị thực cho người Việt Nam ở nước ngoài, Chỉ thị 45-CT/TW về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới... Đặc biệt, chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã được Đảng cụ thể hóa vào các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, như: “đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước”, “Hỗ trợ để người Việt Nam ở nước ngoài có địa vị pháp lý vững chắc, phát triển kinh tế và đời sống, hòa nhập xã hội nước sở tại”, “Làm tốt công tác bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài và tranh thủ tối đa nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài tham gia đóng góp phục vụ phát triển đất nước”. Các cơ quan chuyên trách về công tác người Việt ở nước ngoài (Ủy ban người Việt ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao) cũng đã làm tốt công tác hòa hợp, hòa giải dân tộc thông qua giúp người Việt Nam ở nước ngoài ổn định cuộc sống, hội nhập vào xã hội sở tại, hướng về Tổ quốc…

Những lý lẽ nêu trên cho thấy: không hề có cái gọi là “đãi bôi” hay “con đường nửa vời” trong việc ban hành các chính sách, luật pháp về hòa giải, hòa hợp dân tộc của Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta luôn tỏ rõ thiện chí trong quá trình hòa hợp dân tộc. Trong đó, việc chủ động chào đón sự trở về của những kiều bào từng làm việc cho chế độ cũ, từng rời bỏ đất nước... là minh chứng tiêu biểu nhất. Trường hợp của nguyên Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Cao Kỳ là một ví dụ điển hình. Trở về quê hương sau gần 30 năm xa xứ, ông đã khẳng định: “Đại đoàn kết dân tộc là chính sách đúng đắn của chính phủ Việt Nam, trong đó xem kiều bào ở nước ngoài là một bộ phận của cộng đồng dân tộc Việt Nam”. Hoặc như trường hợp của nguyên chuẩn tướng, quyền Tổng tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hoà Nguyễn Hữu Hạnh: Từ khi còn nắm giữ quyền lực trong chế độ cũ cho đến lúc qua đời (2019) tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhân sĩ Nguyễn Hữu Hạnh đã có những việc làm thiết thực, trở thành “một tấm gương tiêu biểu của những người Việt Nam chân chính, có tinh thần dân tộc và yêu nước, cho dù chỗ đứng ở đâu, cương vị thế nào vẫn luôn hướng về đất nước và dân tộc”.

Không chỉ dang tay đón nhận những người con Việt Nam thiết tha thực tâm trở về với đất mẹ, Đảng và Nhà nước còn có những việc làm thiết thực, nhân văn để giúp đỡ, bảo hộ công dân đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Việc hỗ trợ người bị nạn (bao gồm cộng đồng người Việt) trong cơn bão Katrina năm 2005 ở Mỹ; việc khuyến cáo và có những hành động kịp thời để bảo hộ công dân tránh khỏi những tổn thất về người và của trước những xung đột, biểu tình, đảo chính ở một số nước, khu vực; việc tiến hành đưa người Việt ở nước ngoài trở về Tổ quốc trước đại dịch COVID-19... đã chứng minh cho thiện chí hòa hợp và tinh thần “không ai bị bỏ lại phía sau”.

PHẢI CHĂNG Ở VIỆT NAM KHÔNG CÓ HÒA HỢP DÂN TỘC?

Thực tiễn cho thấy, trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, nhất là từ khi có Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, ở Việt Nam không có sự bất đồng và mâu thuẫn giữa các tộc người với nhau, đặc biệt là giữa người Kinh và các dân tộc thiểu số.

Chúng ta biết rằng, mâu thuẫn hoặc xung đột tộc người, tôn giáo thường bắt nguồn từ sự khác biệt về hệ tư tưởng, lợi ích (kinh tế) và cả những khác biệt văn hóa… giữa các tộc người, tôn giáo. Tuy nhiên điều này chỉ đúng ở tầm bao quát chung của nhân loại, hoặc đã và đang diễn ra ở một số nước, khu vực trên thế giới. còn ở Việt Nam lại hoàn toàn khác. Trải qua suốt chiều dài lịch sử, Việt Nam cũng đã có những xung đột hoặc cuộc chiến xảy ra (ví dụ như sự chuyển tiếp, thay thế quyền lực giữa các vương triều: Đinh, Lý, Trần, Hồ, Lê…; phân tranh Trịnh - Nguyễn; Đàng Trong - Đàng Ngoài…) nhưng các cuộc chiến, xung đột này (bao gồm những liên minh và đối địch, tạm thời hay lâu dài) không phải là xung đột hoặc chiến tranh mang màu sắc thanh trừng sắc tộc, tôn giáo mà chỉ là các cuộc chiến, xung đột dựa trên quyền lợi thiết thân với tính chất chuyển giao hoặc thôn tính quyền lực, lợi ích… được thực hiện bởi các vua, chúa; ở mỗi bên “tham chiến”, đội quân thường là sự tập hợp lực lượng bao gồm những người cùng chung mục đích về lợi ích kinh tế, quyền lợi hay địa vị xã hội... được xuất thân từ nhiều thành phần dân tộc, tầng lớp xã hội khác nhau.

Hiện nay, Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng chung sống lâu đời, trong đó có 53 dân tộc thiểu số, với hơn 14 triệu người (chiếm khoảng 14,7% dân số cả nước). Mặc dù người Kinh là dân tộc chiếm đa số, nhưng thực tế cho thấy dưới sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước, vai trò và tham gia vào bộ máy chính quyền cũng như những đóng góp vào đời sống xã hội của người dân tộc thiểu số ngày càng được đảm bảo. Đơn cử như trong Quốc hội, số lượng đại biểu Quốc hội người dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã tăng dần theo các khóa: Khóa I: 10,2%, khóa XIII: 15,6%, khóa XIV: 17,3%, khóa XV: 17,84%.

Trong quan hệ tôn giáo, thực tiễn cũng đã chứng minh Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo và không có sự mâu thuẫn hoặc xung đột giữa các tôn giáo, tín ngưỡng; các tôn giáo ở Việt Nam luôn được tôn trọng, bình đẳng, không bị phân biệt đối xử và được Nhà nước bảo hộ hoạt động bằng pháp luật; người dân được thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo… Điều này đã được kiểm chứng, thừa nhận bởi nhiều quốc gia, nhiều tổ chức tôn giáo lớn trên thế giới. Trong Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế - Việt Nam 2018 của Đại sứ quán và Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Việt Nam đã khẳng định: “Hiến pháp (của Việt Nam) quy định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bao gồm cả quyền tự do không theo một tôn giáo nào. (...) Hiến pháp quy định tất cả các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật và nhà nước phải tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Hiến pháp cấm công dân vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” và “Việt Nam là thành viên của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị”.

Trong sinh hoạt, vào những ngày lễ lớn của các tôn giáo ở Việt Nam (Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, Hồi giáo...), lãnh đạo Đảng và Nhà nước đều tới thăm, chúc mừng và cùng các tôn giáo hướng tới lẽ sống “tốt đời đẹp đạo”. Đặc biệt, với đặc tính dung hòa sẵn có của đời sống văn hóa Việt Nam, trong hầu hết các lễ hội tôn giáo, ngoài sự hiện diện của tín đồ, còn có rất nhiều người dân, thậm chí là tín đồ của các tôn giáo khác cũng đến xem lễ, tham quan, du lịch, tìm hiểu văn hóa, tín ngưỡng…

NHẬN DIỆN CÁC QUAN ĐIỂM, LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN VỀ HÒA HỢP DÂN TỘC HIỆN NAY

Hiện nay, các thế lực chống đối và thù địch thường xuyên đưa ra các quan điểm sai trái, xuyên tạc và phủ nhận về chính sách hòa hợp dân tộc của Đảng, Nhà nước ta. Bên cạnh các tài liệu, văn bản phát tán trái phép, họ đã tận dụng triệt để sự phát triển của công nghệ số mà điển hình là dùng Internet để chống phá. Thông qua một số website, các mạng xã hội, các ứng dụng (app) chạy trên nền tảng điện thoại thông minh…, các thế lực thù địch đã tăng cường xuyên tạc, bóp méo về chính sách hòa hợp dân tộc của Việt Nam.

Có thể nhận diện các quan điểm, luận điệu sai trái xuyên tạc và phủ nhận về hòa hợp dân tộc qua các nhóm vấn đề sau:

Thứ nhất, các thế lực chống đối và thù địch cho rằng ở Việt Nam không có hòa hợp dân tộc thực sự vì xã hội Việt Nam luôn có sự bất đồng và mâu thuẫn giữa các tộc người với nhau, đặc biệt là mâu thuẫn giữa người Kinh và các dân tộc thiểu số, giữa người Công giáo và phần còn lại của dân tộc...

Đặc điểm chung của các bài viết này là đưa ra những những nhận định, những quan điểm hồ đồ và hết sức phiến diện, kiểu như “Chúng ta cần hòa giải giữa các sắc tộc thiểu số và người Kinh. Chúng ta cần hòa giải giữa người Nam và người Bắc. Chúng ta cần hòa giải giữa người Công giáo và phần còn lại của dân tộc, nhất là với Phật giáo. Chúng ta cần hòa giải giữa cộng đồng người Việt hải ngoại với đất nước...”; “vấn đề hoà giải, hoà hợp vẫn còn nhức nhối”, “có lẽ dân tộc Việt Nam sẽ cần đến 50 năm nữa mới có thể chữa lành”; “hòa giải và hòa hợp dân tộc vẫn chưa thực hiện được tại Việt Nam”… (!?)

Thứ hai, họ cho rằng các chính sách, luật pháp về hòa giải, hòa hợp dân tộc ở Việt Nam hiện nay là “đãi bôi”, “con đường nửa vời”; Đảng và Nhà nước Việt Nam không có thiện chí trong quá trình hòa hợp dân tộc.

Với quan điểm này, họ đưa ra những bài viết cực đoan để phủ nhận chính sách, pháp luật về hòa giải, hòa hợp dân tộc cũng như luôn nghi ngờ về thiện chí của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Ngụy biện hơn, họ rêu rao rằng: “đa số người dân cả trong và ngoài nước đều cho rằng không thể có hòa hợp, hòa giải với chính sách hiện nay của chính phủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản...”(!?).

Thứ ba, họ tự nhận mình là “người đại diện” cho “nguyện vọng của đa số” để tuyên truyền đề xuất cho cái gọi là “phương cách hòa hợp”.

Để cổ súy cho luận điệu này, trên một số website hải ngoại, với những bài viết công kích, xuyên tạc, các thế lực chống đối và thù địch cho rằng chỉ có họ mới có thể đưa ra cách hiểu đúng cho hòa giải, hòa hợp dân tộc: “Hòa giải và hòa hợp dân tộc cũng là một trong ba lập trường căn bản của tập hợp dân chủ đa nguyên”(!?) và vu khống: “có sự thiếu tin tưởng vào thực tâm và thiện chí muốn hòa giải của các bên”... Những người này cũng tự huyễn hoặc cho mình cái quyền “đại diện” để đề ra “phương cách song phương và đơn phương” để tiến hành hòa giải hòa hợp. Theo đó, “phương cách song phương” là “đại diện hai bên Việt Nam và Việt Quốc ngồi lại với nhau để cùng giải quyết mâu thuẫn căn bản (!?)”; còn “Phương cách đơn phương” là yêu cầu đảng và nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay phải “thực tâm, có thiện chí” (!?)...

Thứ tư, lợi dụng tính chất dễ dàng tìm kiếm, dễ truy cập của mạng Internet, các thế lực chống đối và thù địch đã thường xuyên dẫn lại, cố tình chỉnh sửa (edit) các thông tin một cách bừa bãi mà không có và không cần nguồn kiểm chứng nhằm phá hoại, xuyên tạc. Theo số liệu thống kê, các thế lực thù địch đã “sử dụng khoảng 50 đài phát thanh, truyền hình, gần 400 tờ báo, tạp chí tiếng Việt, trong đó có khoảng 10 tờ có nội dung rất phản động, 66 nhà xuất bản để tuyên truyền, chống phá cách mạng Việt Nam…”.

Thứ năm, họ cho rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn cấm đoán và hạn chế các nghiên cứu về văn hóa, văn học miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975. Vì thế vẫn chưa có sự hòa giải, hòa hợp dân tộc (!?).

Để minh họa cho luận điệu trên, các thế lực chống đối và thù địch cố tình căn cứ vào một số quy định mà Đảng và Nhà nước ta ban hành trong giai đoạn 1975-1985 và chủ ý lờ đi những đổi mới trong lý luận và thực tiễn, cũng như những thành tựu từ 1986 đến nay, từ đó khẳng định: hiện nay Việt Nam vẫn cấm đoán và hạn chế các nghiên cứu về văn hóa, văn học miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975...