Hiển thị các bài đăng có nhãn chuẩn mực. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chuẩn mực. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2022

XÂY DỰNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Hiện nay, đất nước đang bước vào thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu, rộng. Tình hình mới đặt ra rất nhiều yêu cầu mới về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

Đã vậy, thực tế công tác xây dựng Đảng cho thấy còn “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””(1). Tình hình này đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ phải từng bước xây dựng được chuẩn mực đạo đức cách mạng và chuẩn mực ứng xử đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

Theo từ điển Tiếng Việt, chuẩn là “cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, để hướng theo đó mà làm cho đúng”, chuẩn mực là “chuẩn”(2). Chuẩn mực khác với nguyên tắc - “là điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”, hoặc nên tránh, không nên làm(3). Chuẩn mực cũng khác với quy tắc - “là những điều quy định mọi người phải tuân theo trong một hoạt động chung nào đó”(4).

Có thể hiểu chuẩn mực đạo đức cách mạng là những tiêu chuẩn đạo đức cách mạng và những tiêu chuẩn ứng xử đạo đức cách mạng có tính khuôn mẫu, mực thước được toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta công nhận dùng làm căn cứ, cơ sở để đánh giá và điều chỉnh hành vi ứng xử của cán bộ, đảng viên, là căn cứ để xác định việc nên làm và việc không nên làm, giúp cán bộ, đảng viên với tư cách chủ thể đạo đức có căn cứ, cơ sở điều chỉnh hành vi ứng xử đạo đức của mình hướng tới chân - thiện - mỹ và phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng. Khi còn sống, Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng khái niệm tư cách đạo đức của cán bộ, đảng viên - về thực chất cũng là chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên.

Chúng tôi cho rằng, những chuẩn mực đạo đức cách mạng mà Hồ Chủ tịch xây dựng vẫn còn nguyên giá trị trong giai đoạn hiện nay. Do vậy, xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên cũng là xây dựng những chuẩn mực đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là:

1. Trung với Tổ quốc, hiếu với nhân dân. Trung với Tổ quốc và hiếu với nhân dân là những chuẩn mực đạo đức đầu tiên cao nhất của người cán bộ cách mạng. Tuy nhiên: “ngày xưa trung là trung với vua. Hiếu là hiếu với cha mẹ mình thôi”; còn ngày nay, “trung là trung với Tổ quốc, hiếu là hiếu với nhân dân”(5). Trung với Tổ quốc là trung thành với lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc, của Ðảng, với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam, trung thành với đường lối đổi mới của Đảng. Tiêu chuẩn này cũng đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải quán triệt tinh thần “lợi ích của cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng... Nghĩa là phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, lên trước hết. Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc.

Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau”(6).

Hiếu với dân là không chỉ yêu thương cha mẹ mình, “mà còn phải thương cha mẹ người, phải cho mọi người đều biết thương cha mẹ”(7). Trung, Hiếu trong chuẩn mực đạo đức cách mạng gắn bó mật thiết với nhau và nhằm phục vụ mục tiêu độc lập dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân.

2. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

Cần, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai”(8); “Cần không phải là làm xổi. Nếu làm cố chết cố sống trong một ngày, một tuần, hay một tháng, đến nỗi sinh ốm đau, phải bỏ việc. Như vậy không phải là cần. Cần là luôn luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm cả đời. Nhưng không làm quá trớn. Phải biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng của mình, để làm việc cho lâu dài”(9). Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng yêu cầu Cần phải gắn với kế hoạch, nghĩa là phải tính toán cẩn thận, sắp đặt gọn gàng khi làm việc thì Cần mới có hiệu quả, lười biếng là kẻ thù to nhất của Cần. Người căn dặn: “Công việc bất kỳ to nhỏ, đều có điều nên làm trước, điều nên làm sau. Nếu không có kế hoạch, điều nên làm trước mà để lại sau, điều nên làm sau mà đưa làm trước, như thế thì sẽ hao tổn thì giờ, mất công nhiều mà kết quả ít”(10). Như vậy thì Cần cũng vô nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng yêu cầu “Cần và chuyên phải đi đôi với nhau. Chuyên nghĩa là dẻo dai, bền bỉ. Nếu không chuyên, nếu một ngày cần mà mười ngày không cần, thì cũng vô ích”(11).

Kiệm, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “Là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi. CẦN với KIỆM, phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người.

CẦN mà không KIỆM, “thì làm chừng nào xào chừng ấy”. Cũng như một cái thùng không có đáy; nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không.

KIỆM mà không CẦN, thì không tăng thêm, không phát triển được. Mà vật gì đã không tiến tức phải thoái. Cũng như cái thùng chỉ đựng một ít nước, không tiếp tục đổ thêm vào, lâu ngày chắc nước đó sẽ hao bớt dần, cho đến khi khô kiệt”(12). Kiệm đòi hỏi không chỉ tiết kiệm của cải, tiền bạc, nguyên vật liệu mà còn phải tiết kiệm cả thời giờ, tiết kiệm sức dân, sức người. “Thời giờ cũng cần phải tiết kiệm như của cải.

Của cải nếu hết, còn có thể làm thêm. Khi thời giờ đã qua rồi, không bao giờ kéo nó trở lại được...

Muốn tiết kiệm thời giờ, thì việc gì ta cũng phải làm cho nhanh chóng, mau lẹ. Không nên chậm rãi. Không nên “nay lần mai lữa”.

Tiết kiệm thời giờ là Kiệm, và cũng là Cần”(13).

Nhưng để Kiệm có kết quả thì phải khéo tổ chức công việc. Điều cần lưu ý là điểm mới trong quan niệm về Kiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn.

Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm.

Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm.

Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ”(14).

Liêm, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “là trong sạch, không tham lam”(15). “Chữ LIÊM phải đi đôi với chữ KIỆM. Cũng như chữ KIỆM phải đi đôi với chữ CẦN.

Có KIỆM mới LIÊM được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam.

Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là BẤT LIÊM.

Người cán bộ, cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư”(16), người buôn gian, bán lậu, người nhân lúc khó khăn mà bắt chẹt dân,v.v. đều là bất liêm. Người “Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm, là tham vật úy lạo. Gặp giặc mà rút ra, không dám đánh là tham sinh úy tử. Đều làm trái với chữ LIÊM”(17). Do vậy, cán bộ chẳng những phải thực hành CẦN, KIỆM mà còn phải thực hành chữ LIÊM trước để làm kiểu mẫu cho dân.

Chính, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà.

CẦN, KIỆM, LIÊM, là gốc rễ của CHÍNH. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải CHÍNH mới là người hoàn toàn...

Làm việc CHÍNH, là người THIỆN.

Làm việc TÀ, là người ÁC.

Siêng năng (cần), tần tiện (kiệm), trong sạch (liêm), CHÍNH là THIỆN.

Lười biếng, xa xỉ, tham lam, là tà, là ác”(18).

Chí công vô tư, là làm bất cứ việc gì cũng phải nghĩ về Tổ quốc, Dân tộc, Đảng trước hết. Người cán bộ, đảng viên “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc”(19). Nếu “Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ngày càng ít, mà những tính tốt... ngày càng thêm”(20). Những tính tốt ấy là Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm.

Với chuẩn mực ứng xử của người cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu:

1) Đối với mình, không được tự kiêu, tự đại; luôn luôn cầu tiến bộ; luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình; “Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý”(21). “Nếu chính mình tham ô bảo người ta liêm khiết có được không? Không được. Mình trước hết phải siêng năng, trong sạch thì mới bảo người ta trong sạch, siêng năng được”(22).

2) Đối với người, “Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới. Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới. Phải thực hành chữ Bác-Ái”(23).

3) Đối với việc, “Phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà.

Đã phụ trách việc gì, thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi, đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm. Bất kỳ việc to, việc nhỏ, phải có sáng kiến, phải có kế hoạch, phải cẩn thận, phải quyết làm cho thành công. Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh. Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm.

Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình), dù là việc nhỏ”(24). Như vậy, người cán bộ, đảng viên luôn phải đặt lợi ích của Tổ quốc, dân tộc, của Đảng lên trên hết.

Để xây dựng được những chuẩn mực đạo đức này cho cán bộ, đảng viên cần thực hiện các giải pháp cơ bản sau:

Mỗi cán bộ, đảng viên căn cứ vào vị trí, chức năng nhiệm vụ cụ thể của mình phải cụ thể hóa được các tiêu chí trung với nước, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và thái độ ứng xử với mình, với người và với việc cho phù hợp.

Phát huy vai trò của nhân dân, trong xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Bởi lẽ, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn “so với số nhân dân thì số đảng viên chỉ là tối thiểu, hàng trăm người dân mới có một người đảng viên. Nếu không có nhân dân giúp sức, thì Đảng không làm được việc gì hết… Rời xa dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại”(25). Hơn nữa, nếu chúng ta lôi cuốn được nhân dân tham gia kiểm tra, giám sát, phòng, chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên thì việc xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên sẽ hiệu quả hơn.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng với chủ trương “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các quy định, quy chế nhằm giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát”(26) và bảo đảm đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

Phát huy tinh thần tích cực, chủ động và thực hiện nghiêm túc quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương trong xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng. Mỗi đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa những tấm gương sáng về đạo đức cách mạng. Đồng thời, tăng cường đấu tranh chống các quan điểm, hành vi phản đạo đức, phi đạo đức. Cổ vũ, biểu dương các gương sáng đạo đức tạo ảnh hưởng sâu, rộng trong Đảng và ngoài xã hội. Thực hiện tốt các giải pháp này sẽ từng bước xây dựng được chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

GS, TS TRẦN VĂN PHÒNG

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2022

KHÔNG LẠM DỤNG LÀM BIẾN TƯỚNG TỪ “QUỐC DÂN”

Để góp phần giữ gìn sự chuẩn mực, trong sáng của tiếng Việt, với vai trò là cầu nối thông tin văn hóa với công chúng, báo chí truyền thông cần có trách nhiệm hiểu đúng, dùng đúng từ “quốc dân”, không nên sử dụng từ này một cách tràn lan, ghán ghép một cách khiên cưỡng.

TỪ “QUỐC DÂN” MANG Ý NGHĨA LỚN LAO, TRANG TRỌNG

Quốc dân vốn có nghĩa là “người trong một nước”, “nhân dân trong một quốc gia”. Đây là một từ ngữ mang ý nghĩa chính trị, thể hiện tính trang nghiêm, trang trọng và thường gắn liền với những sự kiện, hoạt động gắn với đời sống chính trị của quốc gia.

Một trong những sự kiện chính trị quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam gắn liền với từ “quốc dân”, đó là ngày 16/8/1945, tại đình Tân Trào (Tuyên Quang), dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng bộ Việt Minh (Việt Nam độc lập Đồng minh hội) đã tổ chức khai mạc Đại hội đại biểu quốc dân (còn gọi là Quốc dân Đại hội Tân Trào). Tham dự Đại hội có hơn 60 đại biểu đại diện cho cả 3 miền Bắc-Trung-Nam, đại diện cho các ngành, các giới, các dân tộc, các đảng phái chính trị, các đoàn thể cứu quốc và một số Việt kiều ở Thái Lan và Lào để bàn kế hoạch tổng khởi nghĩa giành chính quyền về nhân dân. Quốc dân Đại hội Tân Trào là tiền thân của Quốc hội Việt Nam - cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của tất cả các giai cấp, tầng lớp nhân dân và thể hiện sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam.

Trong nhiều bài viết, bài nói ở những thời điểm quan trọng của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh có lúc dùng từ “quốc dân”, hay “quốc dân đồng bào” với hàm ý đề cao vị trí, vai trò, sức mạnh to lớn của các tầng lớp nhân dân trong nước, qua đó khích lệ đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước thương nòi và phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để đánh đuổi thực dân đế quốc, quyết giành độc lập, tự do cho dân tộc. Người từng khẳng định: “Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của cả quốc dân”.

Với ý nghĩa đó, có thể nói rằng, khi nói đến từ “quốc dân” là nói đến những vấn đề mang tính quốc gia đại sự, những việc làm, hành động gắn với quy mô, tầm vóc lớn lao nên có sức tác động, ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống chính trị, xã hội.

ĐẾN LẠM DỤNG TỪ “QUỐC DÂN” TRÀN LAN, BIẾN TƯỚNG

Tuy vậy, thời gian gần đây, trên các phương tiện truyền thông đại chúng và truyền thông xã hội xuất hiện khá nhiều từ “quốc dân” gắn vào đối tượng cụ thể, nhất là những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật, giải trí, thể thao... gặt hái được một số thành tựu nào đó trong nghề nghiệp và thu hút sự quan tâm của công chúng. Ví như: “Mẹ chồng quốc dân” nói về vai diễn ấn tượng của một nữ diễn viên đóng vai mẹ chồng trong một bộ phim truyền hình dài tập. “Ông bố quốc dân” nói về một nam diễn viên đã có những cử chỉ chăm lo hết mực dành cho đứa con trai kém may mắn. “MC quốc dân” nói về một người dẫn chương trình thường “chiếm sóng” ở nhiều gameshow truyền hình. “Cầu thủ quốc dân” nói về một cầu thủ bóng đá mới nổi trong làng túc cầu Việt Nam. “Hoa hậu quốc dân” nói về một cô hoa hậu là người dân tộc thiểu số hay xuất hiện ở nhiều sự kiện văn hóa, giải trí...

Bên cạnh đó, từ “quốc dân” cũng được gán với những người có hành vi, cử chỉ, ngoại hình ít nhiều tạo sức ảnh hưởng trong cộng đồng, dù đôi khi đó chỉ là hiện tượng nhất thời, ví như: “thầy giáo quốc dân”, “bà vợ quốc dân”, “ông chồng quốc dân”, “bạn trai quốc dân”, “em gái quốc dân”...

Khách quan mà nói, việc dùng từ “quốc dân” gắn với những con người có cử chỉ, hành động, việc làm tích cực, nhân văn, lan tỏa những điều tốt đẹp cho cộng đồng, đất nước cũng không ngoài mục đích nhân lên những giá trị tiến bộ trong cuộc sống, xã hội. Tuy nhiên, sự lạm dụng từ “quốc dân” một cách thái quá, hay gán ghép không đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng sẽ khiến cho không ít người được tung hô rất dễ tự ảo tưởng về bản thân và đó là “mảnh đất màu mỡ” dung túng cho “bệnh ngôi sao” như một “vết dầu loang” làm vẩn đục môi trường văn hóa xã hội và đời sống nghệ thuật, giải trí. Đấy là chưa kể một số người nào đó có những những hành vi tiêu cực, sai trái, nhố nhăng, phản cảm được nhiều người biết đến cũng được báo chí, truyền thông ghép với từ “quốc dân”, ví như: “tên trộm quốc dân”, “gã nghiện rượu quốc dân”, “cô ả hung dữ quốc dân”, “tay ăn chơi quốc dân”... Sự gán ghép này vừa gượng gạo, ngô nghê, vừa làm “ô nhiễm” sự trong sáng của tiếng Việt.

Trên thực tế, không hẳn ai cũng thoải mái với việc được gán ghép với từ “quốc dân”. Mới đây, một hoa hậu khá tên tuổi từng lên tiếng đề nghị báo chí, truyền thông không gọi cô là “hoa hậu quốc dân”. Bởi cô thẳng thẳn bày tỏ, từ “quốc dân” mang ý nghĩa lớn lao, trang trọng, nên cô không dám nhận mình là “hoa hậu quốc dân”, mà ngược lại chỉ muốn tự nhận mình là “hoa hậu bình dân” cho thân mật, dân giã, phù hợp với tính cách mộc mạc, giản dị vốn có của cô.

Khi nói đến từ có yếu tố “quốc” (Tổ quốc, quốc gia, quốc dân, quốc kỳ, quốc khánh, quốc thể, quốc lễ...) đều là những từ mang ý nghĩa chính danh, trang trọng, chuẩn mực. Vì vậy, để góp phần giữ gìn sự chuẩn mực, trong sáng của tiếng Việt, với vai trò là cầu nối thông tin văn hóa với công chúng, báo chí truyền thông cần có trách nhiệm hiểu đúng, dùng đúng từ “quốc dân”, không nên sử dụng từ này một cách tràn lan, ghán ghép một cách khiên cưỡng./.

PHÚC NỘI

Thứ Năm, 2 tháng 12, 2021

ĐỒNG TIỀN, QUYỀN LỰC VÀ SỰ THOÁI HÓA

Phát biểu trước đội ngũ cán bộ, đảng viên, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng đặt câu hỏi: “Tiền bạc lắm làm gì, chết có mang đi được đâu. Danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất”. Câu hỏi đặt ra là tại sao khi đã lên đến những đỉnh cao về chức vụ, quyền lực và tiền bạc thì không thiếu, mà không ít cán bộ vẫn liều lĩnh thực hiện các hành vi phạm pháp? Ma lực nào đã thúc đẩy họ?

Các vị từng là Ủy viên Trung ương Đảng, bộ trưởng, bí thư, chủ tịch UBND thành phố, một số người từng là anh hùng… vì dính vào tham nhũng, tiêu cực mà phải ngồi tù sẽ sống những năm tháng còn lại của cuộc đời trong dằn vặt, tủi hổ. Vậy, tại sao họ đánh đổi hoặc có thể nói là bán những thứ quý giá mà mình đang có, trong đó quan trọng nhất là danh dự, sự tôn trọng của xã hội đối với mình để lấy tiền?

Trong nền kinh tế thị trường, đồng tiền có sự chi phối rất lớn. Nền kinh tế càng phát triển thì vai trò của đồng tiền, giá trị của đồng tiền và sức hút của đồng tiền cũng ngày càng lớn hơn. Dân gian ta lan truyền câu cửa miệng: “Cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng rất nhiều tiền”. Nhưng có thật tiền sẽ mua được mọi thứ? Và một xã hội tốt đẹp có nên để xảy ra tình trạng tiền mua được mọi thứ?

Giáo sư người Mỹ Michael J.Sandel đã đặt ra câu hỏi này trong cuốn: “Tiền không mua được gì?” (What money can’t buy?). Trong xã hội Mỹ-điển hình của một xã hội tư bản đề cao giá trị đồng tiền, Michael J. Sandel vẫn nhìn thấy những thứ mà không thể và không nên dùng tiền để mua. Ông viết: “Có những điều tốt đẹp trong cuộc sống sẽ bị xói mòn, bị hư hỏng nếu chúng bị coi là hàng hóa. Vì vậy, để xác định xem thị trường có thể tồn tại ở đâu, cái gì nên tránh xa thị trường thì chúng ta phải tìm ra cách thức đánh giá giá trị một số thứ, như: Sức khỏe, giáo dục, cuộc sống gia đình, tự nhiên, nghệ thuật, trách nhiệm công dân… Chúng đều là những vấn đề mang tính đạo đức và chính trị chứ không chỉ đơn thuần là kinh tế”.

Michael J.Sandel đã đề cập đến vấn đề đạo đức của đồng tiền, hay chính xác là đạo đức khi sử dụng đồng tiền. Bởi theo ông: “Cuộc tranh luận này (cuộc tranh luận về khía cạnh đạo đức của đồng tiền - PV) không hề tồn tại trong kỷ nguyên tôn vinh thị trường. Hậu quả là khi không nhận biết được vấn đề, không bao giờ nghĩ đến chuyện tranh luận về chúng, từ chỗ có một nền kinh tế thị trường, chúng ta đã trượt sang trạng thái trở thành một xã hội thị trường”. Cũng theo tác giả người Mỹ: “Nền kinh tế thị trường là một công cụ đáng giá và hiệu quả, giúp chúng ta tổ chức được hoạt động sản xuất. Còn xã hội thị trường là một phương thức sống mà trong đó, các giá trị thị trường thâm nhập vào mọi ngóc ngách của cuộc sống con người. Chúng ta muốn một nền kinh tế thị trường hay một xã hội thị trường? Làm sao chúng ta xác định được hàng hóa nào được phép mua bán, còn hàng hóa nào phải chịu sự chi phối của các giá trị phi thị trường? Chỗ nào không nên có vai trò của đồng tiền?”.

Như thế, đồng tiền chi phối xã hội, ảnh hưởng tới cách nghĩ, cách ứng xử và đạo đức xã hội là câu chuyện mà con người ở mọi quốc gia đều có thể cảm nhận được. Thế nhưng, tùy vào văn hóa xã hội và thể chế chính trị mà cách giải quyết vấn đề này rất khác nhau.

Chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và đang áp dụng ngày càng đầy đủ hơn các quy luật, nguyên tắc của kinh tế thị trường. Nếu không có “định hướng XHCN”, thì các đặc điểm kinh tế thị trường của chúng ta cũng giống như nền kinh tế thị trường của các quốc gia trên thế giới. Phần “định hướng XHCN” vì thế rất quan trọng để hạn chế mặt trái của đồng tiền. Nhưng định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường là thứ mà chúng ta phải tốn nhiều công sức để thiết kế, định hình, nó bao gồm cả yếu tố thể chế và đạo đức.

Trong khi đó, mặt trái của kinh tế thị trường vẫn đang tác động hằng ngày, hằng giờ tới mỗi con người. Nền kinh tế càng phát triển thì lưu lượng tiền tệ trong nền kinh tế càng lớn và ý muốn dùng tiền để mua mọi thứ nếu không được phân tích, chỉ ra mặt trái, nếu không được kiểm soát thì có thể dần trở thành điều hiển nhiên của cuộc sống. Hệ lụy của nó là xã hội sẽ dần biến chất, đến mức những giá trị chuẩn mực đạo đức, nhân văn mang tính truyền thống của dân tộc, mang bản chất của xã hội XHCN sẽ bị thách thức. Ví như gần đây, chúng ta thấy có những ý kiến đòi phải công nhận mại dâm như một nghề chính thức trong xã hội, phải đóng thuế. Để giải quyết vấn đề này, chúng ta cần phải xác định rõ xem nhân phẩm của người phụ nữ có phải là thứ có thể mang ra mua bán, trao đổi hay không? Truyền thống văn hóa của chúng ta, bản chất xã hội XHCN của chúng ta có chấp nhận được việc mua bán đó không?…

Nếu ta để đồng tiền quyết định mọi vấn đề thì sẽ dẫn tới hệ lụy là người làm chính sách, nhà quản lý có thể hy sinh mọi thứ vì phát triển kinh tế. Vì phát triển kinh tế, chúng ta có thể hy sinh môi trường sống, vì kinh tế ta có thể hủy hoại cả nền văn hóa truyền thống của dân tộc, vì đồng tiền ta có thể hy sinh sức khỏe, vì đồng tiền ta có thể hy sinh các mối quan hệ trong gia đình… Để rồi cuối cùng, chúng ta sẽ không biết rõ mình là ai! Phát triển kinh tế, làm giàu kiểu như vậy thì thể hiện sự tàn phá hạnh phúc hơn là kiến thiết hạnh phúc.

Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021

DANH CHÍNH NGÔN THUẬN, SỰ TẤT THÀNH; DANH BẤT CHÍNH, NGÔN BẤT THUẬN, SỰ BẤT THÀNH

Ở đời, ai cũng muốn có một chữ “danh”. Nội hàm chữ “danh” chứa đựng ý nghĩa nhân văn tốt đẹp. Không chỉ là nhu cầu tự thân, khát vọng có một chữ “danh” chính đáng mà đó còn là động lực thúc đẩy con người phấn đấu không ngừng tiến bộ. Nhưng chữ “danh” thời nay đã bị không ít người hiểu sai, làm biến tướng, méo mó ý nghĩa đích thực của nó.

“Háo danh”: Đây là từ dùng để chỉ những người ham danh, háo lợi đến mức khác thường. Ở mức độ nhẹ, họ khôn khéo lấy lòng người khác, “mua chuộc” nhân tâm, ra sức “ra luồn, vào cúi”, nịnh nọt, ton hót cấp trên để mong được bổ nhiệm vào vị trí cao hơn. Nặng hơn, có người dù ở đâu, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến “cái ghế” mà mình nhắm tới, bằng mọi cách để tiếp cận, leo lên được “vị trí ngon”, thậm chí không ngại ngần sử dụng đủ thứ mánh khóe, thủ đoạn để chiếm đoạt được quyền cao, chức trọng. Có người háo danh đến mức bất chấp luân thường đạo lý, quên cả tình bằng hữu, chà đạp lên tình đồng chí, đồng nghiệp, sẵn sàng biến “đối tác” thành “đối thủ”, hạ bệ người khác để đạt được tham vọng cá nhân.

“Hư danh”: Là từ để chỉ những cái danh không có thực, nhưng người ta vẫn bị quyến rũ, bị mê hoặc đến mức mụ mị, lú lẫn. Có một số người tài năng ở mức “thường thường bậc trung”, nhưng vì muốn “lòe mắt” thiên hạ, họ cố “chạy” cho được cái học vị, học hàm này hay cái giải thưởng nọ, danh hiệu kia. Dù không đi bằng đôi chân của mình, nhưng một khi gắn những cái “mác” đó lên tấm danh thiếp, họ luôn tỏ ra “ta đây” khi giao lưu, tiếp xúc, trao đổi với người khác. Hơn thế, họ cố lấy cái “mác” ấy để đánh bóng bản thân, lên tiếng “thuyết trình, rao giảng” trên đăng đàn hội nghị, hội thảo và có lúc cũng “lên mặt” huấn thị, chỉ đạo cấp dưới đầy vẻ… “oai phong lẫm liệt”!

“Hão danh”: Chỉ cái danh ở mức hão huyền, viển vông, không tưởng. Số người này trong xã hội ít thôi, nhưng không phải “của hiếm”. Thời gian qua, dư luận chả được phen tá hỏa khi một số kẻ “họ không ai biết, tên chẳng ai hay”, bỗng đùng đùng “nổi đình, nổi đám”… Loại người này vốn chẳng tài cán gì, nhưng lợi dụng các trang mạng xã hội, in-tơ-nét để cố tình “khoe thân”, “lộ hàng”, phát ngôn gây sốc, tìm kiếm một sự “nổi tiếng” bằng tất cả sự tai tiếng của mình gây ra. Khi được “bầy đàn đám đông” nhẹ dạ cả tin tung hô, họ cứ tưởng mình là “nghệ sĩ”, “siêu mẫu”, “siêu sao” để rồi “mặt trơ mày tráo” vỗ ngực tự nhận là “người của công chúng”!

Suy cho cùng, cái danh không có lỗi. Cái lỗi chính là người ta đã lạm dụng, đã hiểu sai về nó. Một khi suy nghĩ không thấu, hành xử không đúng về cái danh, tự thân cái danh sẽ mất giá trị. Háo danh ư? Có thể bằng mọi giá để đoạt được danh đấy, nhưng cái danh ấy không bền vững, trước sau cũng sẽ bị lung lay từ gốc. Chạy theo hư danh? Cũng có thể tìm kiếm được vài ba lợi lộc nào đó cho cá nhân, nhưng cái lợi ấy chỉ nhất thời, bồng bềnh như nước chảy bèo trôi. Còn cố hão danh? Cứ mải miết bám đuổi để kiếm chác được chút ít hào nhoáng giả tạo cho bản thân, nhưng chả mấy chốc mà tan thành mây khói!

Cách đây mấy ngàn năm, nhà hiền triết cổ đại Khổng Tử từng nói: “Danh chính, ngôn thuận, sự tất thành” và “Danh bất chính, ngôn bất thuận, sự bất thành”. “Chính danh” hiểu theo nghĩa tích cực nhất, là biết khả năng, chức phận, trách nhiệm, nghĩa vụ của mình để làm đúng những chuẩn mực đạo đức cộng đồng và luân lý xã hội. Khả năng, năng lực mình đến đâu, thì cố gắng phát huy để phục vụ xã hội tới đó. Thế nên, sống ở trên đời, để xứng đáng với tư cách “Người”, đừng bao giờ xem nhẹ, coi thường “chính danh”. Cũng đừng vì danh lợi thuần túy mà biến mình thành một “con rối”, “con thiêu thân” trong đối nhân, xử thế và trên con đường tiến thân. Dân gian có câu: “Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng”. Cái danh không bằng tài năng, đức độ, thực lực của bản thân tạo ra, mà càng phải mua đắt bao nhiêu thì giá trị của nó càng bị rẻ rúng bấy nhiêu.

Ai cũng tưởng người đời hơn nhau ở chữ “danh”. Thực ra không phải vậy. Khả năng, mức độ tiếp cận, nhận diện, suy nghĩ về chữ “danh” thế nào cho thấu và hành xử đối với chữ “danh” cho đúng với bản chất và phù hợp với lôgíc nội tại của nó, đó mới là thước đo về sự minh triết, đức độ của con người./.

Thứ Năm, 23 tháng 3, 2017

Biến đổi các giá trị, chuẩn mực văn hóa trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái hiện nay

Trong gia đình truyền thống, cha mẹ có uy quyền tuyệt đối với con cái và con cái phải có bổn phận phục tùng uy quyền của cha mẹ. Trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, người ta ít đề cập tới trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái nhưng lại nhấn mạnh tới bổn phận của con cái đối với cha mẹ. Nguyên nhân sâu xa của hiện tượng này bắt nguồn từ quan niệm đạo hiếu truyền thống, nó đòi hỏi con cái phải thành kính và phụng dưỡng cha mẹ, suốt đời làm theo cha và không bao giờ thay đổi.
Trong gia đình truyền thống, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái được nhấn mạnh theo nguyên tắc: quyền của cha mẹ và bổn phận của trẻ em, thì trong gia đình hiện nay nguyên tắc đó được nhấn mạnh theo chiều hướng ngược lại, đó là: quyền của trẻ em và bổn phận của cha mẹ. Hiện nay, vai trò giáo dục và kiểm soát con cái của cha mẹ trong gia đình ngày càng mờ nhạt. Hiện tượng này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, đặc biệt do ảnh hưởng của văn hóa phương Tây và sự tác động của chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước nên quyền trẻ em được coi trọng mà trong gia đình thì cha mẹ phải là người đầu tiên gương mẫu thực hiện quyền đó. Việc công nhận quyền trẻ em đã làm thay đổi căn bản những giá trị, chuẩn mực văn hóa trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái. Như vậy, có thể thấy không phải cha mẹ hiện nay muốn từ bỏ quyền kiểm soát trẻ em mà chính là do thời đại mới đã không chấp nhận để cha mẹ kiểm soát trẻ em theo các chuẩn mực truyền thống. Đó là sự khủng hoảng của thiết chế gia đình trong việc kiểm soát trẻ em hiện nay.
Nếu trong gia đình truyền thống, không gian sinh sống của trẻ em chủ yếu bó hẹp trong phạm vi hẹp, mọi hành vi của trẻ em đều được kiểm soát bởi gia đình, họ hàng và cộng đồng thì trong xã hội hiện nay, đặc biệt ở thành thị, phạm vi hoạt động của trẻ em rất rộng lớn, quan hệ xã hội được mở rộng, thậm chí, trẻ em sinh hoạt bên ngoài gia đình nhiều hơn trong môi trường gia đình. Bên cạnh đó, về phía cha mẹ, họ chủ yếu làm việc ở bên ngoài gia đình, thời gian để chăm sóc, giáo dục con cái rất ít. Đặc biệt, ở khu vực nông thôn, sự chuyển đổi của cơ cấu kinh tế, sự đa dạng hóa ngành nghề và quá trình phi nông nghiệp hóa nông thôn đã chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang các ngành nghề phi nông nghiệp, cha mẹ thường xuyên đi làm ăn xa nhà hoặc làm việc ở các cơ sở sản xuất bên ngoài gia đình nên họ cũng không có nhiều thời gian để quan tâm, chăm sóc, giáo dục con cái. Việc cha mẹ không có thời gian hoặc có quá ít thời gian quan tâm, chăm sóc, giáo dục con cái cho thấy đã xuất hiện một khoảng trống trong việc kiểm soát, giáo dục con cái. Việc đánh mất vai trò kiểm soát của cha mẹ đối với con cái đã dẫn đến nhiều hậu quả cho gia đình và xã hội như hiện tượng trẻ em lang thang, phạm tội hay rơi vào các tệ nạn xã hội, bạo lực học đường, tội phạm vị thành niên ngày càng gia tăng, đồng thời, cũng phản ánh những bất ổn và những thay đổi trong tâm lý và nhân cách của trẻ em hiện nay...
Thực tế cho thấy, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái đang có những biến đổi đáng lo ngại. Không ít cha mẹ cho rằng, con cái hiện nay không còn ngoan ngoãn, lễ phép như trẻ em trước đây, ngược lại trẻ em vị thành niên lại cảm thấy bị ức chế vì bị cha mẹ kiểm soát, can thiệp quá sâu vào tự do cá nhân và đời sống riêng tư. Về bản chất, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong gia đình Việt Nam hiện nay là một sự đảo ngược trật tự và vị trí so với gia đình truyền thống. Sự biến đổi này bắt nguồn từ sự biến đổi của điều kiện kinh tế - xã hội và bắt nguồn từ sự thay đổi của quy mô, cấu trúc, chức năng của gia đình hiện nay. Nó làm cho quyền uy, khoảng cách giữa cha mẹ và con cái ngày càng giảm sút và giãn ra. Sự biến đổi mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái ở một mức độ nhất định đang làm mất đi những giá trị, chuẩn mực văn hóa truyền thống như “cha từ, tử hiếu”. Không ít cha mẹ hiện nay rơi vào tình trạng bất lực trước việc con cái không nghe lời, vô trách nhiệm đối với cha mẹ, ông bà, thiếu tinh thần trách nhiệm đối với các công việc nhà. Vấn đề đặt ra trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái là cần phải củng cố chức năng giáo dục của gia đình, xây dựng mối quan hệ mới giữa cha mẹ và con cái trên cơ sở tiếp thu những giá trị, chuẩn mực văn hóa mới, đồng thời kế thừa những giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống, cần tạo cho trẻ em môi trường, điều kiện để phát triển nhân cách, năng lực nhưng cũng phải quan tâm đến giáo dục gia đình, giúp trẻ em nhận thức được những giá trị, chuẩn mực truyền thống, đặc biệt phải sống có trách nhiệm đối với gia đình, cộng đồng và xã hội.

Trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái, cần tìm ra giải pháp để giải quyết hài hòa giữa uy quyền, bổn phận của cha mẹ với quyền của trẻ em trong gia đình hiện nay, hoặc cha mẹ nhận thức được vai trò của giáo dục gia đình nhưng mặt khác, họ lại không có đủ thời gian, tri thức, phương pháp để giáo dục con cái dẫn đến hậu quả con cái sa vào tệ nạn xã hội, cản trở sự phát triển của gia đình theo hướng bền vững, tiến bộ./.

Biến đổi các giá trị, chuẩn mực văn hóa trong mối quan hệ vợ chồng hiện nay

Hiện nay, mối quan hệ vợ chồng đã có nhiều biến đổi, địa vị, vai trò của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội đã từng bước được khẳng định, đặc biệt, giá trị bình đẳng, dân chủ trong quan hệ vợ chồng của văn hóa phương Tây được du nhập vào đã và đang “tấn công” vào quan niệm cổ hủ của văn hóa truyền thống, từ đó hình thành nên các giá trị, chuẩn mực văn hóa mới điều chỉnh mối quan hệ giữa vợ và chồng trong gia đình hiện nay. 
Trong gia đình hiện nay, mô hình người chủ gia đình đa dạng, phản ánh tính đa dạng của các loại hình gia đình. Người chủ gia đình có thể là người đàn ông/người chồng; người phụ nữ/người vợ; hay cả hai vợ chồng cùng làm chủ tùy thuộc vào phẩm chất, năng lực và đóng góp của họ trong mỗi gia đình. Tính đa dạng của mô hình người chủ gia đình cho thấy, địa vị của người phụ nữ trong gia đình hiện nay ngày càng được đề cao, lý do là người phụ nữ đã cải thiện được vai trò kinh tế của mình trong gia đình. Khác với gia đình truyền thống, vai trò của người chủ gia đình hiện nay phải dựa vào năng lực thực tế, vào sự đóng góp của người chồng hoặc người vợ trong gia đình chứ không phải là sự “thần thánh hóa”, sự suy tôn mù quáng vai trò tuyệt đối của người chồng trong gia đình. Thực tế đó, một mặt, phản ánh sự thay đổi vị trí, vai trò của người phụ nữ trong gia đình, mặt khác, phản ánh sự vận động và biến đổi của xã hội theo hướng ngày càng văn minh, tiến bộ hơn.
Luật pháp công nhận quyền bình đẳng giữa vợ và chồng về quyền sở hữu tài sản trong gia đình nhưng thực tế ở nhiều gia đình hiện nay, đặc biệt ở vùng nông thôn, người chồng vẫn chủ yếu đứng tên giấy tờ sở hữu các tài sản có giá trị lớn trong gia đình. Sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng về sở hữu các tài sản lớn trong gia đình là một trong những nguyên nhân chủ yếu để “nuôi dưỡng” tư tưởng gia trưởng và là một trong những lực cản lớn để thực hiện bình đẳng giới trong gia đình Việt Nam hiện nay. Bên cạnh đó, một mâu thuẫn khác cũng cần phải giải quyết trong mối quan hệ vợ chồng hiện nay đó là mặc dù phụ nữ tham gia hoạt động xã hội ngày càng nhiều, có đóng góp ngày càng lớn vào thu nhập của gia đình nhưng họ vẫn là người gánh vác chủ yếu các công việc nội trợ, giáo dục con cái, chăm sóc người ốm đau, người già... trong gia đình. Đó thực sự là một mâu thuẫn cần phải giải quyết, làm thế nào để phụ nữ vừa làm tròn trách nhiệm gia đình, vừa phải làm tròn trách nhiệm xã hội, có giải quyết được mâu thuẫn đó, phụ nữ mới có cơ hội phát triển. 

Hiện nay, bạo lực gia đình cũng đang diễn biến nghiêm trọng với nhiều dạng thức khó kiểm soát mặc dù Nhà nước đã ban hành Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và đưa ra xét xử nhiều vụ án nghiêm trọng liên quan đến bạo lực gia đình. Nếu trong gia đình truyền thống, bạo lực gia đình chỉ theo hướng một chiều là bạo lực của người chồng đối với người vợ thì hiện nay ngoài xu hướng đó, còn biểu hiện là bạo lực của người vợ đối với người chồng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, các vụ bạo lực gia đình nghiêm trọng hiện nay chủ yếu vẫn là do người chồng gây ra đối với người vợ. Nếu đánh giá khách quan, bạo lực gia đình không phải là ngẫu nhiên do người chồng không kiểm soát được hành vi của mình như cách giải thích truyền thống, mà nó phản ánh mối quan hệ quyền lực, sự xung đột các giá trị, chuẩn mực trong một xã hội rộng lớn hơn. Bạo lực gia đình ở góc độ này được coi là hệ quả của việc níu kéo một cách cực đoan những giá trị, chuẩn mực của gia đình truyền thống. Thực tế cho thấy, bạo lực gia đình là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tan vỡ gia đình, ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng các mối quan hệ gia đình, đe dọa tính bền vững của gia đình Việt Nam hiện nay. Do đó, bạo lực gia đình là một vấn đề mang tính xã hội chứ không phải là vấn đề của cá nhân, nên các giải pháp phòng chống bạo lực gia đình hiện nay cần phải được đề xuất dựa trên cơ sở làm thay đổi nhận thức của xã hội về bạo lực gia đình, tăng cường công tác bảo vệ và giúp đỡ nạn nhân của bạo lực gia đình, tăng cường vai trò của pháp luật đối với hành vi bạo lực gia đình, đặc biệt cần nâng cao địa vị của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội. 

Sự biến đổi các giá trị, chuẩn mực văn hóa trong gia đình Việt Nam hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, trong đó nổi lên là mối quan hệ giữa vợ và chồng, vấn đề đặt ra là gia đình và xã hội cần phải làm gì để người phụ nữ kết hợp trách nhiệm gia đình với trách nhiệm xã hội để phát triển toàn diện tiến tới sự bình đẳng thực chất giữa nam giới và nữ giới, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế, chính trị xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại đất nước.