Hiển thị các bài đăng có nhãn thành tựu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thành tựu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 9 tháng 1, 2023

ĐẢNG, MÙA XUÂN VÀ VẬN NƯỚC

Với người dân Việt Nam, mùa xuân luôn thiêng liêng và ấm áp. Mùa xuân gắn với Tết Nguyên đán - Tết cổ truyền của dân tộc, mở đầu năm mới âm lịch. Mùa xuân là mùa cây cối đâm chồi, nảy lộc, nở hoa và là mùa của niềm tin, hy vọng.

Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, có rất nhiều sự kiện trọng đại xảy ra vào mùa xuân. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào mùa xuân (ngày 3-2-1930) đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường xây dựng và phát triển của dân tộc ta. Từ mùa xuân năm ấy, vận nước đã thay đổi. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng, dân tộc Việt Nam tiếp tục tạo lập thêm nhiều mùa xuân huy hoàng, khiến cả thế giới phải ngưỡng mộ.

Có lẽ hiếm có dân tộc nào trên thế giới khi nói đến Đảng cầm quyền, người dân lại dùng hai chữ “Đảng ta”. Hai chữ đó thật thiêng liêng, tự hào, gắn sâu trong tâm thức của các thế hệ người Việt 93 năm qua. 93 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phấn đấu không ngừng, luôn xứng đáng là “người đày tớ, người lãnh đạo thật trung thành của nhân dân”, “là đạo đức, là văn minh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã từng ghi nhận.

Sau mùa xuân thành lập Đảng, đến mùa xuân năm 1931 là sự ra đời của Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương vào ngày 26-3-1931, tiền thân của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ngày nay. Đây là tổ chức chính trị - xã hội lớn nhất của thanh niên Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Mùa xuân năm 1941, Bác Hồ kính yêu trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước. Giữa một vùng núi non trùng điệp với muôn hoa đua sắc và lòng người rưng rưng, lắng đọng trong giờ phút Bác Hồ đặt bước chân đầu tiên lên đất mẹ tại cột mốc 108 (Pác Bó - Cao Bằng) trong sắc hoa Xuân rực rỡ sau bao năm xa Tổ quốc đã trở thành cảm hứng vô tận cho sự ra đời bài thơ “Mùa Xuân năm 1941” của nhà thơ Tố Hữu: Ôi sáng Xuân nay, Xuân bốn mốt/Trắng rừng biên giới nở hoa mơ/Bác về... im lặng. Con chim hót/Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ...”.

Điện Biên Phủ - chiến dịch quyết chiến chiến lược của quân đội nhân dân Việt Nam, là đòn tiến công tiêu diệt lớn nhất, điển hình nhất của quân và dân Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp, giáng đòn quyết định đánh bại ý chí xâm lược của thực dân Pháp được tổ chức vào mùa xuân năm 1954 (chiến dịch kéo dài từ ngày 13-3 đến ngày 7-5-1954).

Trận Ấp Bắc là trận chống càn điển hình của quân và dân miền Nam Việt Nam đánh bại lực lượng càn quét của ngụy quân Sài Gòn được cố vấn Mỹ chỉ huy, báo hiệu sự phá sản của chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ diễn ra vào mùa xuân năm 1963 (2-1-1963). 5 năm sau, vào dịp Tết Mậu Thân (năm 1968), quân dân miền Nam nhất tề tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở 64 thành phố, thị xã và nhiều vùng nông thôn rộng lớn, tiến công hàng loạt căn cứ quân sự, đánh trúng các sào huyệt, cơ quan đầu não quan trọng của quân Mỹ và quân Ngụy, là đòn quyết định giáng vào chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ.

Mùa xuân năm 1973, sau nhiều thất bại thảm hại, Chính phủ Mỹ buộc phải tuyên bố chấm dứt mọi hành động ném bom, bắn phá miền Bắc Việt Nam. Ngày 27-1-1973, Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pari lập lại hòa bình tại Việt Nam.

Mùa xuân năm 1975, cả dân tộc Việt Nam bừng bừng khí thế cho cuộc tổng tiến công chiến lược. Mở đầu là chiến dịch Tây Nguyên (từ 4-3 đến 24-3-1975). Kết thúc là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (26-4 đến 30-4-1975), giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Có một sự trùng hợp khá lý thú của lịch sử, các kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng ta thường được tổ chức vào mùa xuân. Sau mỗi kỳ Đại hội, Đảng ta lại đem đến cho đất nước những mùa xuân ấm áp, sinh chồi nảy lộc. Đại hội lần thứ nhất của Đảng diễn ra vào mùa xuân năm 1935 tại Ma Cao, Trung Quốc. Gần đây nhất là Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng diễn ra vào mùa xuân năm 2021.

Trong các sự kiện về Đảng ta, mùa xuân và vận nước của Việt Nam không thể không nhắc đến các sự kiện diễn ra trên mảnh đất cách mạng Tuyên Quang. Từ khi có Đảng, nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang một lòng một dạ sắt son theo Đảng, xây dựng phong trào, phát triển, củng cố cơ sở cách mạng vững chắc; tiến hành thắng lợi cuộc khởi nghĩa giành chính quyền cấp xã, cấp châu đầu tiên trong cả nước. Khi tình hình thế giới biến động mau lẹ, có lợi cho cách mạng Việt Nam, Bác Hồ đã chỉ thị phải chọn ngay một địa bàn để làm căn cứ lãnh đạo cách mạng cả nước. Tân Trào, Tuyên Quang, mảnh đất hội tụ đầy đủ các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, có dân tốt, cơ sở cách mạng tốt, địa hình tốt, thuận tiện làm một trung tâm liên lạc với miền xuôi, miền ngược và nước ngoài, đã được chọn làm căn cứ chỉ đạo cách mạng cả nước.

Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng được tổ chức tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang vào mùa xuân năm 1951 (từ ngày 11 đến ngày 19-2-1951). Đây là một trong những sự kiện lịch sử trọng đại, đánh dấu bước trưởng thành mới về tư tưởng, đường lối chính trị của Đảng. Đảng từ bí mật trở lại hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển cách mạng.

Sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, vào mùa xuân năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở lại Tuyên Quang để lãnh đạo toàn dân kháng chiến kiến quốc. Ngày 2-4-1947, Người về đến làng Sảo, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang. Một lần nữa, Thủ đô Khu Giải phóng năm xưa đã trở thành Thủ đô Kháng chiến, là nơi ở, làm việc của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận, các bộ, ngành, cơ quan Trung ương.

Sau 7 năm Bác Hồ rời Tuyên Quang về Hà Nội, vào mùa xuân năm 1961 (trong 2 ngày 19 và 20-3-1961), Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang vô cùng xúc động được đón Người về thăm. Bác đã đến thăm xóm Hợp Hòa 2, xã Lưỡng Vượng (thị xã Tuyên Quang), Trung đoàn 246, Nông trường Sông Lô, Trường Thiếu nhi vùng cao, Trường Sư phạm cấp I Bình Thuận, Trường Bổ túc văn hóa tỉnh, Trường Đảng tỉnh Tuyên Quang. Người đến dự Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ III; nói chuyện với nhân dân Tuyên Quang tại sân vận động thị xã; thăm và nói chuyện với nhân dân Tân Trào (Sơn Dương)…

Thực hiện lời căn dặn của Bác khi Người về thăm Tuyên Quang, Đảng bộ, nhân dân các dân tộc trong tỉnh luôn đoàn kết thống nhất, phấn đấu không ngừng và đạt nhiều thành tựu quan trọng, đặc biệt trong năm 2022 vừa qua với sự tăng trưởng kinh tế cao, diện mạo từ đô thị tới nông thôn được đổi thay khởi sắc, đời sống nhân dân được cải thiện.

Mùa xuân năm 2023 này là mùa xuân thứ 93 kể từ ngày Đảng ta ra đời và là mùa xuân thứ ba thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Năm 2022 vừa khép lại với những thành tựu toàn diện của Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực đời sống, kinh tế, xã hội, đối ngoại, an ninh quốc phòng, đặc biệt là xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong đó, kinh tế đạt tăng trưởng ở mức cao nhất trong nhiều năm qua, vượt qua mọi dự báo lạc quan nhất, tạo đà cho hầu hết các lĩnh vực khác bứt phá… Cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực đã đạt được những thành công lớn, tạo bước chuyển mạnh mẽ. Không còn vùng cấm, không có ngoại lệ. Liên tục các cán bộ vi phạm, kể cả cán bộ cấp cao bị “đưa ra ánh sáng”, bị xử lý đúng người, đúng tội thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước, được nhân dân đồng tình, ủng hộ cao. Qua đó, thể hiện nhất quán quan điểm “nói đi đôi với làm” trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực.

Dẫu vẫn còn không ít khó khăn, thách thức, song kết quả của những nỗ lực trong năm vừa qua là tiền đề rất quan trọng cho vận nước vào năm 2023 này.

Với nhân dân, Đảng ta luôn là mùa xuân của dân tộc.

Theo: ĐỖ PHÚ THỌ

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2022

FRIEDRICH ENGELS VỚI DỰ BÁO THIÊN TÀI VỀ VẤN ĐỀ QUỐC TẾ HÓA ĐỜI SỐNG MỌI MẶT CỦA XÃ HỘI

Friedrich Engels sinh ngày 28-11-1820 ở thành phố Barmen, tỉnh Rhein, Vương quốc Phổ (nay là nước Đức), trong một gia đình chủ xưởng dệt.

Ông là nhà lý luận chính trị, một triết gia và nhà khoa học nổi tiếng thế kỷ 19. Tên tuổi và sự nghiệp cách mạng của Engels gắn liền và trở thành sự nghiệp chung với Karl Marx, nhưng ông chỉ tự nhận mình là “một cây vĩ cầm thứ hai, bên cạnh Marx”.

Với bộ óc thiên tài, trái tim nhân hậu và đức tính khiêm nhường, Engels đã để lại cho nhân loại một kho tàng lý luận về chiến lược và sách lược đấu tranh của giai cấp vô sản thế giới. Đồng thời, ông còn để lại những di sản tư tưởng, lý luận về khoa học dự báo mang tính “vạch thời đại”, trong đó có dự báo vấn đề quốc tế hóa đời sống mọi mặt của xã hội, mà dấu ấn sâu sắc ngày nay đó là quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra rất mạnh mẽ trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Sinh thời, Engels đã cùng với Marx dày công nghiên cứu thực tiễn xã hội tư bản, tổng kết lý luận, hợp sức viết và công bố các tác phẩm lý luận nổi tiếng như: “Gia đình thần thánh”, “Hệ tư tưởng Đức”, “Chống Duhring”, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”... Những tác phẩm đó đã góp phần quan trọng tạo nên bước ngoặt cách mạng trong lịch sử tư tưởng nhân loại với việc xây dựng và phát triển một thế giới quan triết học mới: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (1848), mà dấu ấn của Engels “không thể phai mờ”, có nội dung nêu rõ: “Vì luôn luôn bị thúc đẩy bởi nhu cầu về những nơi tiêu thụ sản phẩm, giai cấp tư sản xâm lấn khắp hoàn cầu. Nó phải xâm nhập vào khắp nơi, trụ lại ở khắp nơi và thiết lập những mối liên hệ ở khắp nơi. Do bóp nặn thị trường thế giới, giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng của tất cả các nước mang tính chất thế giới”. Tuy các nhà kinh điển mác-xít chưa trực tiếp sử dụng khái niệm “quốc tế hóa” mà sử dụng thuật ngữ “mang tính chất thế giới” nhưng vấn đề này được các ông luận giải thấu đáo và sâu sắc trên quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử, đó là: Khi con người, công cụ sản xuất và tổng thể các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất phát triển vượt quá ranh giới của một quốc gia-dân tộc, chính là lúc xuất hiện nhu cầu xã hội hóa mọi mặt đời sống xã hội. Đến một mức độ nhất định, xã hội hóa trở thành xu thế khách quan, thành tiền đề, điều kiện để lực lượng sản xuất phát triển. “Đại công nghiệp tạo ra thị trường toàn thế giới”, cho nên xã hội hóa là sản phẩm của nền văn minh nhân loại, không phải chỉ riêng có ở chủ nghĩa tư bản.

Theo tư tưởng của Engels, khi vấn đề kinh tế (rộng hơn là sản xuất vật chất) đã được quốc tế hóa thì tất yếu dẫn đến xu hướng quốc tế hóa các lĩnh vực khác của đời sống xã hội; đồng thời làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Không một quốc gia, dân tộc nào có thể đứng ngoài những xu hướng quốc tế hóa mang tính tất yếu, khách quan đó. Trong xu hướng quốc tế hóa của nhân loại, Engels luôn đặt con người ở vị trí trung tâm của sự phát triển xã hội, được chứng minh bằng luận điểm nổi tiếng: “... trong một hệ thống những quốc gia độc lập, quan hệ với nhau trên một cơ sở bình đẳng và ở vào một trình độ phát triển tư sản xấp xỉ ngang nhau, cho nên lẽ dĩ nhiên là yêu sách về bình đẳng phải mang một tính chất chung, vượt ra ngoài ranh giới của một quốc gia riêng biệt, là tự do và bình đẳng phải được tuyên bố là những quyền của con người”. Như vậy, quyền bình đẳng giữa các quốc gia, dân tộc, giữa các màu da, chủng tộc gắn với tự do của con người và không chỉ dừng lại ở một quốc gia mà mang tính quốc tế, tính nhân loại, tính phổ biến, là một trong những quyền cơ bản của con người, của các dân tộc trên thế giới.

Hiện nay, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trên thế giới đang phát triển mạnh mẽ với những đột phá lớn. Từ “kinh tế tri thức” đến “kinh tế số”, “xã hội số” đang trở thành cái đích mà nhiều quốc gia-dân tộc trên thế giới phải đến, đã đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa đời sống mọi mặt của xã hội, làm tăng mối liên kết, hợp tác và phát triển giữa các nước. Đó chính là hệ quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất và xã hội hóa sản xuất trên phạm vi toàn thế giới, điều mà Engels đã tiên đoán.

Việt Nam là một bộ phận không tách rời trong cộng đồng thế giới, cho nên tất yếu phải hội nhập vào xu thế quốc tế hóa đời sống mọi mặt của xã hội. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế-bước phát triển cao của quốc tế hóa-đã, đang và tiếp tục trở thành xu thế chung của toàn nhân loại hiện nay.

Vì vậy, trên cơ sở tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nêu rõ: “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia-dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia. Gắn kết chặt chẽ quá trình chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng với việc nâng cao sức mạnh tổng hợp, huy động tiềm năng của toàn xã hội; đổi mới, hoàn thiện thể chế trong nước, nâng cao năng lực tự chủ, cạnh tranh và khả năng thích ứng của đất nước”. Trong bối cảnh tình hình thế giới hiện nay, việc “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” ở nước ta cần thấu triệt quan điểm lấy hội nhập kinh tế làm nền tảng để bảo đảm tồn tại bền vững của hội nhập trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

Sau hơn 35 năm đất nước thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nước ta đã giành được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trong bối cảnh thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều biến động phức tạp, nhanh chóng và khó lường. Đảng ta đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Vì vậy, việc vận dụng sáng tạo tư tưởng, lý luận của Engels về quốc tế hóa đời sống mọi mặt của xã hội vào công cuộc “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” ở nước ta hiện nay vẫn giữ nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn.

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2022

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN KẾT QUẢ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

Hiện nay, trên các trang mạng xã hội, blogger cá nhân xuất hiện một số tổ chứ Quốc tế có thâm thù, kỳ thị với chế độ chính trị và Nhà nước ta, đã lấy vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” làm cái cớ để xuyên tạc, vu cáo Việt Nam “vi phạm nhân quyền”. Họ xuyên tạc, boi den tình hình nhân quyền ở Việt Nam rằng: “Việt Nam là một quốc gia mà tôn giáo nằm dưới sự chi phối của chính phủ”, “Việt Nam đang cô đơn" vv... Tuy nhiên, cho dù họ có ra sức chống phả, xuyên tạc, bôi đen với chiêu trò nào đi chăng nữa cũng không thể phủ nhận, xóa bỏ những thành quả to lớn về bảo đảm quyền con người mà Đảng và Nhà nước ta đã đạt được trong những năm vừa qua.

Trong cương lĩnh, đường lối của Đảng ta từ khi thành lập đến nay, Đảng luôn nhất quán quan điểm xem quyền con người là mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định những cam kết quốc tế của Nhà Nước ta với cộng đồng quốc tế về quyền con người: Coi trọng chăm lo hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người, bảo vệ và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà nước ta ký kết. Hiến pháp năm 2013 đã dành cả một chương (chương II) quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”, nêu rõ: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bao đảm theo hiến pháp và pháp luật” (khoản 1, Điều 14)

Cho đến nay, Việt Nam đã gia nhập, ký kết nhiều công ước quốc tế cơ bản về quyền con người và công ước chuyên biệt về quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương như: “Công ước quốc tế về Quyền Dân sự, Chính trị, năm 1966; Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ” “Công ước chống tra tấn” (CAT) và “Công ước của Liên hợp quốc về Quyền của người khuyết tật, năm 2014.vv...

Trên thực tế, các quyền về dân sự, chính trị, quyền tự do tín ngưỡng, tôn  giáo và quyền của các dân tộc thiểu số được bảo đảo ngày càng tốt hơn. Quyền tự do ngôn luận báo chí ngày càng được bảo đảm đầy đủ và phát triển tốt. Trên lĩnh vực kinh tế - xã hội, văn hóa, việc bảo đảm quyền con người được thực hiện ngày càng tốt hơn thông qua tốc độ tăng trưởng kinh tế. Bình quân thu nhập đầu người tăng lên; tỷ lệ hộ ghèo giảm xuống, Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho nhóm ghèo, hộ ghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số vv…

Những thành tựu trên đây là cơ sở chính trị, pháp lý vững chắc, chứng minh quyền con người ở Việt Nam luôn được Đảng, Nhà nước ta tôn trọng và bảo đảm đầy đủ. Các thế lực thù địch dù có dung mưu thâm, kế hiểm thế nào đi chăng nữa cũng không thể phủ nhận kết quả bảo đảm quyền con người ở Việt Nam.

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2022

SỰ THẬT VỀ TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

Những năm gần đây, các thế lực thù địch, phản động với bản chất xuyên tạc và một thái độ áp đặt, chủ quan, đòi hỏi một “tiêu chuẩn kép” về “dân chủ, nhân quyền”, tự do tôn giáo; vẫn một thủ đoạn xuyên tạc, bóp méo sự thật một cách thô thiển bất chấp thực tế về những thành tựu to lớn của Việt Nam trong lĩnh vực nhân quyền, tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Họ muốn tạo sự hoài nghi về phương hướng lãnh đạo của Đảng Cộng sản, các chính sách, pháp luật của Nhà nước ta có liên quan đến tôn giáo và hoạt động tự do tôn giáo. Đồng thời, dùng mọi thủ đoạn thâm độc xuyên tạc sai sự thật về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

Việc làm trên của các thế lực phản động, thù địch vừa tạo phản ứng tiêu cực của các chức sắc cực đoan và số tín đồ cuồng tín tìm cách tạo dựng các vụ việc phức tạp mang màu sắc của tôn giáo hòng phá hoại an ninh chính trị, trật tự xã hội và mục đích cao nhất là dùng sức mạnh của tôn giáo để lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hiến pháp 2013 của Việt Nam quy định tại Điều 12 Chương I khẳng định: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng Hiến chương Liên Hợp Quốc và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việt Nam là một trong những nước sớm phê chuẩn Công ước quốc tế về nhân quyền.

Với nguyên tắc đó, Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2017 và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác của Quốc hội, của Nhà nước Việt Nam đã quán triệt và thể chế hóa đầy đủ những quan điểm, chủ trương, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Các quy định pháp lý đó không những phù hợp với tinh thần và nội dung tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Công ước quốc tế, mà còn đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, củng cố niềm tin, tạo động lực để đồng bào các tôn giáo “đồng hành cùng dân tộc”, góp phần quan trọng vào củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Văn kiện Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo Hiến chương, Điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước”.

Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, Đảng ta nhấn mạnh: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo; có những chính sách đặc thù giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước”.

Là một nước đa tôn giáo, nhưng cộng đồng các tôn giáo hoạt động ở Việt Nam luôn gắn bó với dân tộc; đồng thời, là nhân tố xã hội và văn hoá tích cực góp phần làm cho nền văn hoá Việt Nam phong phú, đa dạng và đặc sắc. Việt Nam còn là một đất nước rất ôn hoà trong quan hệ giữa các tôn giáo, có truyền thống đoàn kết tôn giáo, đoàn kết toàn dân trong quá trình dựng nước và giữ nước. Việc chung sống hoà bình và bao dung giữa các tôn giáo cùng với tính nhân ái, nhân bản của con người và xã hội Việt Nam đã tạo ra một bức tranh sinh động về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam: thuần tuý nhưng phong phú, đan xen nhưng không mâu thuẫn.

Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, quan hệ tích cực và mang tính xây dựng giữa các tôn giáo và Nhà nước đã được thể hiện rất rõ và ngày càng được củng cố. Đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có đoàn kết hoà hợp các tôn giáo là nguồn sức mạnh và là nhân tố quyết định bảo đảm cho mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng, tôn giáo; thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết lương - giáo và giữa các tôn giáo; khắc phục thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, chống mọi hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, đồng thời nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc.

Ngày nay, trong điều kiện hội nhập quốc tế, mở rộng quan hệ, hợp tác đầu tư với nước ngoài, cũng đang nảy sinh tình trạng sơ hở, mất cảnh giác trong các lĩnh vực đối ngoại, kinh tế, văn hoá, tư tưởng và trong quản lý nhà nước về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, cùng với những biểu hiện tiêu cực của cơ chế thị trường, là những điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá ta trên các mặt trận chính trị, tư tưởng văn hoá, xã hội bằng những âm mưu, thủ đoạn mà các thế lực thù địch thường làm là: phản bác chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phủ định tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội.Tuyên truyền đề cao các giá trị của chủ nghĩa tư bản về thể chế chính trị, đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, dựng ngọn cờ “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”; chia rẽ giữa nhân dân, Quân đội, Công an với Đảng, Nhà nước; chia rẽ lương giáo với các tổ chức quần chúng khác trong hệ thống chính trị, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân; tuyên truyền chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, chạy theo ham muốn vật chất tầm thường, gieo rắc văn hoá đồi truỵ, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan. Suy cho cùng hòng làm cho tình hình chính trị ở Việt Nam mất ổn định. Đây là “bài học” mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã dành nhiều thời gian, công sức “nghiên cứu, đúc kết” từ những cuộc xung đột chính trị xảy ra ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới những năm gần đây.

Bởi vậy, Đảng ta yêu cầu: “Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch”. Chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc hoặc những hoạt động, tín ngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp luật.

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 – 2030 trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta xác định: “Thực hiện tốt mục tiêu đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người theo quy định của pháp luật. Phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo vào giữ gìn và nâng cao đạo đức truyền thống xã hội, xây dựng đời sống văn hóa ở các khu dân cư, góp phần ngăn chặn các tệ nạn xã hội”

Mặt khác, cần đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Đó là những cơ sở để chúng ta kiên quyết đấu tranh, phản bác mọi luận điệu xuyên tạc, cố tình phủ nhận quan điểm, chủ trương, chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam và những thành tựu về tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta sau hơn 35 năm đổi mới.

Đồng thời, là cơ sở để chúng ta kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, làm vô hiệu hóa các “đạo lạ”, “tạp giáo”; lợi dụng tự do tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Thứ Hai, 21 tháng 2, 2022

XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ KIẾN TẠO MỘT KIỂU XÃ HỘI MỚI VỀ CHẤT, HOÀN TOÀN KHÔNG HỀ ĐƠN GIẢN, DỄ DÀNG

Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội. 

Trong thời kỳ quá độ, các nhân tố XHCN được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi XHCN, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực. Sự đan xen, cạnh tranh này càng phức tạp và quyết liệt trong điều kiện cơ chế thị trường và mở cửa, hội nhập quốc tế. Bên cạnh các mặt thành tựu, tích cực, sẽ luôn có những mặt tiêu cực, thách thức cần được xem xét một cách tỉnh táo và xử lý một cách kịp thời, hiệu quả. Đó là cuộc đấu tranh rất gay go, gian khổ, đòi hỏi phải có tầm nhìn mới, bản lĩnh mới và sức sáng tạo mới. Đi lên theo định hướng XHCN là một quá trình không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố XHCN để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng. Với cách nhìn khoa học, biện chứng như vậy, không thể lấy hiện tượng, vấn đề cụ thể là những hạn chế tồn tại, thiếu sót, sơ hở trong đời sống xã hội để đánh đồng hiện tượng thành bản chất của CNXH, quy kết đó là kết quả đi theo con đường CNXH mang lại.

 Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đạt được trong hơn 35 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng là kết quả của công cuộc đổi mới, của quá trình CNH, HĐH, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN… Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn dắt dân tộc ta vững vàng tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; là nền tảng để Đảng ta hoàn thiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới. Để cuối cùng “với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”./.

Thứ Sáu, 3 tháng 12, 2021

THÀNH TỰU PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Việt Nam có nền một văn hóa phong phú, giàu bản sắc, được hình thành qua hàng nghìn năm lịch sử. Nguồn tài nguyên văn hóa Việt Nam dồi dào, đa dạng về loại hình và có giá trị cao trên nhiều phương diện, được công nhận cả ở tầm khu vực và quốc tế là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội. Hệ thống di sản văn hóa phong phú, cảnh quan kỳ vĩ và thơ mộng là những tài sản vô giá, có tiềm năng chuyển hóa thành những sản phẩm, dịch vụ độc đáo, đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế, thương mại cũng như tạo dựng thương hiệu, vị thế của văn hóa Việt Nam.

Trong những năm, Đảng, Nhà nước ta luôn chú trọng xây dựng nên văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Các giá trị văn hóa dân tộc tiếp tục được khẳng định và nâng tầm trong điều kiện mới. Hàng loạt những hoạt động văn hoá truyền thống dân tộc được phục hồi và có bước phát triển mới. Những lễ hội dân gian của các làng quê, của các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam được khôi phục và tổ chức thường xuyên, một mặt thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Mặt khác, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tuyên truyền giáo dục tinh thần yêu nước, ý thức tự hào, tự tôn dân tộc, qua đó sáng tạo, bổ sung, phát triển nâng tầm giá trị bản sắc văn hoá, tăng cường tinh thần đoàn kết, ý thức gắn bó cộng đồng, nâng cao lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm trong gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Đồng thời, thông qua phong trào xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư, nhiều sinh hoạt văn hóa cộng đồng đã từng bước được cải tạo phù hợp với nếp sống văn minh, tiến bộ.

Chúng ta không chỉ chú trọng bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc, mà còn tiếp thu có chọn lọc nhiều loại hình, sinh hoạt văn hóa có xuất xứ từ nước ngoài. Hội nhập quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng ta từng bước tiếp cận nền văn minh thế giới với trình độ và công nghệ hiện đại, tạo cơ sở tiền đề cho sáng tạo những giá trị mới, tự khẳng định mình trên trường quốc tế. Qua tiếp xúc, giao lưu, học hỏi sẽ làm giàu bản sắc văn hoá dân tộc, góp phần phát triển đất nước lên một tầm cao mới, nâng vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Những giá trị tinh hoa văn hoá nhân loại được kế thừa phát triển sẽ tạo điều kiện cho thế hệ trẻ tiếp cận với nền văn minh trí tuệ, làm giàu tri thức, tích cực lao động, cống hiến làm giàu cho bản thân, cho cộng đồng và xã hội. Mỗi con người Việt Nam hiện nay đang có khát vọng làm giàu, xoá nghèo nàn lạc hậu, đảm bảo bình đẳng và công bằng xã hội, phấn đấu đưa nước ta phát triển, sánh vai các nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng được nâng lên tầm cao hơn, hiệu quả, thiết thực vì lợi ích và phẩm giá con người; gắn chặt yêu nước với yêu quí lao động chân chính, hiệu quả, tích cực làm giàu cho bản thân, quê hương và xã hội.

Thực tiễn cho thấy, văn hóa không chỉ đồng hành cùng dân tộc, hòa nhịp cùng với sự phát triển chung của dân tộc mà trên nhiều phương diện còn giữ vai trò tiên phong, thúc đẩy phát triển đất nước. Vì vậy, bảo vệ lợi ích dân tộc về văn hoá là một bộ phận hợp thành của lợi ích quốc gia; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, vị thế văn hoá dân tộc trong cộng đồng văn hóa thế giới phải được coi là một nhiệm vụ có ý nghĩa trọng yếu. Đồng thời, nếu không hướng đến những mục tiêu phát triển rộng lớn, không đạt được nhịp độ và hòa nhập với sự phát triển chung như nhiều quốc gia trên thế giới thì Việt Nam, văn hóa Việt Nam sẽ bị chậm bước thậm chí sẽ phải đương đầu với nhiều thách thức trước những chuyển biến ngày càng mau chóng của văn minh nhân loại.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH VĂN HÓA CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Nhân Hội nghị Văn hóa toàn quốc do Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức ngày 24/11/2021, trên các trang mạng xã hội, một số đối tượng phản động, thù địch đã ra sức xuyên tạc, bóp méo quan điểm, chính sách văn hóa và phát triển văn hóa của Đảng, Nhà nước ta. Chúng cố tình sử dụng những tồn tại, hạn chế trong xây dựng, phát triển văn hóa ở nước ta thời gian qua để phê phán chính sách văn hóa, phủ nhận thành tựu phát triển văn hóa ở Việt Nam. Có kẻ còn hồ đồ cho rằng, chính sách văn hóa của Đảng, Nhà nước ta đã kìm hãm sự phát triển của văn hóa. Đây là những luận điệu hoàn toàn sai trái, thực chất nhằm phủ nhận vai trò của văn hóa đối với sự nghiệp cách mạng nói chung, phát triển đất nước nói riêng; phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam.

Thực thế là, suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, nhận thức của Đảng về văn hóa ngày càng toàn diện, đầy đủ và sâu sắc hơn. Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn coi trọng vai trò của văn hóa và hết sức quan tâm đến công tác xây dựng văn hóa trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Đảng ta luôn xác định, xây dựng văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.  Trên cơ sở nhất quán với quan điểm về văn hóa và xây dựng nền văn hóa Việt Nam từ các Đại hội trước, đến Đại hội lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội. Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, dân chủ, khoa học và nhân văn. Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, đoàn kết, dũng cảm, tài trí, cần cù, nhân ái, nghĩa tình, hòa hiếu, khoan dung. Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng. Phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; cần chú ý đầy đủ đến yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế. Xây dựng văn hóa trong Đảng, cơ quan Nhà nước và cả hệ thống chính trị để tạo động lực, niềm tin và lan tỏa mạnh mẽ trong nhân dân. Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.

Thực hiện quan điểm, chính sách văn hóa của Đảng, công tác văn hóa đã đạt được những thành tựu quan trọng, trực tiếp góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam thấm nhuần tinh thần dân tộc, dân chủ, khoa học và nhân văn, hướng con người Việt Nam đến chân - thiện - mỹ. Tất nhiên, bên cạnh những thành tựu, công tác này cũng không tránh khỏi những tồn tại, hạn chế, do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Đảng ta đã thẳng thắn nhìn nhận, kiên quyết khắc phục, tạo chuyển biến tiến bộ trong công tác này. Mà việc tổ chức Hội nghị Văn hóa toàn quốc là một hoạt động có ý nghĩa thiết thực nhằm thống nhất về nhận thức, tư tưởng và hành động, thể hiện rõ sự quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành trong chấn hưng nền văn hóa Việt Nam, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới. Vì vậy, mọi luận điệu phủ nhận vai trò của văn hóa, cố tình xuyên tạc quan điểm, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta đối với xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam là hoàn toàn sai trái, cần kiên quyết bác bỏ.

PHÊ PHÁN, BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU “ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM”

Công cuộc đổi mới 35 năm qua đã thực sự gắn bó với vận mệnh dân tộc, vận mệnh đất nước, gắn bó với mỗi người chúng ta và được bạn bè quốc tế quan tâm đến như một lẽ đương nhiên. Chính vì thế, mọi biểu hiện của đổi mới luôn được nhiều người chăm chú theo dõi, phân tích, đánh giá, nhận định. Trong nhiều nhiệm kỳ đại hội Đảng vừa qua, công cuộc đổi mới luôn được Đảng ta xác định rõ ngay trong chủ đề của đại hội. Tuy nhiên, thời gian qua vẫn có một số đối tượng ác ý tung ra những luận điệu đả kích, chống phá trắng trợn.

Những luận điệu đen tối đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ hơn về chính trị để tạo thêm động lực, nếu không, trước sau cũng sẽ đưa đến tàn lụi đất nước. Tựu trung, chủ ý thâm độc nhất cho rằng đổi mới đã cạn kiệt nguồn lực, từ sau Đại hội XIII không đổi mới nữa, hoặc nếu có đổi mới thì đổi mới về chính trị mà thôi. Các Đại hội VII, VIII, IX, X, XI, XII và XIII của Đảng đều khẳng định tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới để đưa đất nước đi lên. Lời hiệu triệu đó rất phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và ý nguyện của nhân dân.

Qua 35 năm đổi mới, “đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, là nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững đất nước". Nhìn lại những nét chính yếu của hành trình đổi mới, chúng ta thấy rõ nhận định nêu trên của Đại hội XIII là chính xác. Công cuộc đổi mới đã giải phóng sức sản xuất, củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất mới, đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng của một nước có thu nhập thấp; đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể; ổn định chính trị-xã hội được bảo đảm; định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững; vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường; quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc; quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng được đẩy mạnh thêm.

Chính đổi mới đã đưa nước ta từ chỗ thiếu thốn, có khi phải nhập lương thực, nay trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới thành thị, từ miền núi đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay. Cũng chưa bao giờ phong cách sống và làm việc của mọi gia đình và mọi người dân lại có những nét mới mẻ, tươi tắn như hôm nay. Đổi mới giúp chúng ta vừa kế thừa và phát huy những thành quả tốt đẹp đã đạt được trước đây vừa có cách nghĩ khác trước, nghe khác trước, nhìn khác trước, làm khác trước, phù hợp với tình hình đang phát triển. Đổi mới đã đem đến một sức vóc mới cho đất nước, tiếp sức đôi chân chúng ta đi thêm những bước dài trên con đường hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Tuy vậy, trong tiến trình đi lên, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, chúng ta không quên rằng đất nước mình vẫn còn nhiều khó khăn, sự phát triển của nền kinh tế chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, còn nhiều yếu tố chưa bảo đảm tăng trưởng cao và lâu bền, còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, mà những nhân tố đó còn có phần tăng thêm. Rõ ràng là phía trước của chúng ta không chỉ có thuận lợi và thời cơ mà còn có những khó khăn và nguy cơ không thể xem thường.

Càng như vậy càng phải tiếp tục đổi mới, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức để đất nước tiếp tục phát triển bền vững.

Những thành tựu của 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đã tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo. Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN THÀNH TỰU XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM

Đổi mới ở Việt Nam do Đảng khởi xướng và lãnh đạo bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986). Đó là sự lựa chọn tất yếu nhằm đưa Việt Nam thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, là một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước.

Sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Nền kinh tế của đất nước ngày càng phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực và thế giới.

Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đã tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; khẳng định con đường đi lên CNXH của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Thứ Ba, 9 tháng 11, 2021

THÀNH TỰU ĐỔI MỚI LÀ BẰNG CHỨNG THỰC TIỄN SINH ĐỘNG BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU “ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM ĐÃ CẠN KIỆT NGUỒN LỰC”

Qua 35 năm đổi mới, “đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, là nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững đất nước".

Nhìn lại những nét chính yếu của hành trình đổi mới, chúng ta thấy rõ nhận định nêu trên của Đại hội XIII là chính xác. Công cuộc đổi mới đã giải phóng sức sản xuất, củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất mới, đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng của một nước có thu nhập thấp; đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể; ổn định chính trị-xã hội được bảo đảm; định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững; vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường; quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc; quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng được đẩy mạnh thêm.

Chính đổi mới đã đưa nước ta từ chỗ thiếu thốn, có khi phải nhập lương thực, nay trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới thành thị, từ miền núi đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay. Cũng chưa bao giờ phong cách sống và làm việc của mọi gia đình và mọi người dân lại có những nét mới mẻ, tươi tắn như hôm nay. Đổi mới giúp chúng ta vừa kế thừa và phát huy những thành quả tốt đẹp đã đạt được trước đây vừa có cách nghĩ khác trước, nghe khác trước, nhìn khác trước, làm khác trước, phù hợp với tình hình đang phát triển. Đổi mới đã đem đến một sức vóc mới cho đất nước, tiếp sức đôi chân chúng ta đi thêm những bước dài trên con đường hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Tuy vậy, trong tiến trình đi lên, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, chúng ta không quên rằng đất nước mình vẫn còn nhiều khó khăn, sự phát triển của nền kinh tế chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, còn nhiều yếu tố chưa bảo đảm tăng trưởng cao và lâu bền, còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, mà những nhân tố đó còn có phần tăng thêm. Rõ ràng là phía trước của chúng ta không chỉ có thuận lợi và thời cơ mà còn có những khó khăn và nguy cơ không thể xem thường. Càng như vậy càng phải tiếp tục đổi mới, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức để đất nước tiếp tục phát triển bền vững.

Thứ Ba, 21 tháng 9, 2021

MỘT SỐ THÀNH TỰU CỦA BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG CHÍNH TRỊ Ở NƯỚC TA

Với Việt Nam, trong mỗi thời kỳ phát triển, đặc biệt kể từ ngày thành lập Đảng, Ðảng ta luôn coi trọng công tác phát triển phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, trong đó nhấn mạnh cả vấn đề trao quyền chính trị cho phụ nữ. Quan điểm của Ðảng về công tác phụ nữ và bình đẳng giới được thể hiện xuyên suốt trong các nghị quyết của Ðảng qua các kỳ Đại hội. Nhiều chính sách được ban hành nhằm tạo điều kiện để phụ nữ phát triển và thúc đẩy bình đẳng giới.

Với những chủ trương, đường lối đúng đắn phù hợp với từng giai đoạn phát  triển của đất nước, nên trong lĩnh vực bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong tham gia lãnh đạo quản lý nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Dấu ấn rõ nét đó là chỉ số bình đẳng giới không ngừng được cải thiện. Năm 2020, Việt Nam được xếp vị trí  thứ 87 trên tổng số 153 quốc gia được khảo sát trên thế giới về thu hẹp khoảng cách giới. Nhìn lại những con số thống kê qua các kỳ bầu cử cho thấy những thành quả quan trọng mà cả hệ thống chính trị đã quyết tâm thực hiện trong lĩnh vực tham chính của phụ nữ,… Kết quả bầu cử Đại biểu quốc hội khóa XV tỷ lệ đại biểu là nữ đạt 30,26% và đây cũng là lần đầu tiên từ nhiệm kỳ Quốc hội khoá VI trở lại đây, tỷ lệ đại biểu Quốc hội là phụ nữ đạt trên 30%Tỷ lệ nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh đạt 26,5% (tăng 1,37% so với nhiệm kỳ trước); cấp huyện đạt 27,9% (tăng 3,2% so với nhiệm kỳ trước). Việc bố trí lãnh đạo nữ trong Quốc hội kỳ này chiếm gần 40%. Đây là minh chứng cho thấy sự ưu việt trong sự nghiệp giải phóng phụ nữ, giải phóng con người của Đảng, Nhà nước ta và cũng cho thấy sự vươn lên của phụ nữ Việt Nam, đưa vị thế phụ nữ Việt Nam tham gia Quốc hội đứng thứ hai khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đứng thứ 6 ở châu Á. Tại Đại hội XIII, trong số Ủy viên Trung ương Đảng chính thức được bầu có 18 đại biểu nữ, tăng 01 đại biểu so với nhiệm kỳ khóa XII. Trong 63 bí thư tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025 có tới 9 người là nữ thuộc các tỉnh: Lạng Sơn, Lai Châu, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nam, Ninh Bình, Quảng Ngãi và An Giang. Đây là số lượng nữ bí thư tỉnh ủy nhiều nhất từ trước đến nay. Theo thống kê của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, trong nhiệm kỳ này, ở cấp cơ sở, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy đạt 21%, tăng 2%; cấp trên cơ sở đạt 17%, tăng 2%. Đối với các đảng bộ trực thuộc Trung ương, tỷ lệ nữ đạt 16%, tăng 3% so với nhiệm kỳ trước. Trong bộ máy hành chính nhà nước cấp Trung ương và địa phương tính đến hết tháng 7-2020, tỷ lệ các bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan thuộc Chính phủ (30) có lãnh đạo nữ đạt 36,6% (11/30).

Thứ Sáu, 6 tháng 8, 2021

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN THÀNH TỰU HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM

Thế giới đang chứng kiến một giai đoạn đặc biệt của lịch sử phát triển loài người với những thay đổi to lớn mang lại nhiều thách thức nhưng đi kèm với vận hội và tiềm năng rất lớn. Sau 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, tạo ra thế và lực mới, là chỗ dựa vững chắc để tiếp tục chủ động, tích cực hội nhập và phát triển. Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giúp chúng ta nhìn rõ bản chất sự vận động của tình hình thế giới. Đó cũng là cơ sở vững chắc cho việc hoạch định, tổ chức và thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong tình hình mới, để phát huy sức mạnh tổng hợp của dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0, đưa đất nước vững bước trong quá trình thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hội nhập quốc tế tiếp tục tạo thêm nguồn lực cho phát triển kinh tế. Việc Việt Nam trúng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với số phiếu cao kỷ lục trong 75 năm phát triển của Liên hợp quốc (192/193 phiếu) đã cho thấy vai trò, vị thế, uy tín cũng như khả năng của Việt Nam đóng góp vào công việc chung của thế giới. Những thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội là không thể phủ nhận, là bằng chứng sinh động khẳng định tính đúng đắn của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, vì lợi ích quốc gia - dân tộc.

Thứ Sáu, 23 tháng 4, 2021

NIỀM TIN VÀO “KHÁT VỌNG HÙNG CƯỜNG”

“Khát vọng hùng cường” đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có mức thu nhập cao vào năm 2045 được thể hiện rõ trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Đó cũng là niềm tin của toàn dân ta. Thế nhưng, lại có những người tỏ ra nghi ngờ về mục tiêu ấy. Thậm chí, họ còn cho rằng, đất nước đã thống nhất gần nửa thế kỷ mà Việt Nam mới phát triển thành nền kinh tế đang phát triển có mức thu nhập trung bình thấp. Như thế, “khát vọng hùng cường” vào năm 2045 là phi thực tế?!

Có thể khẳng định nghi ngờ ấy là thiếu cơ sở. “Khát vọng hùng cường” của Việt Nam được xây dựng bằng một nền tảng thực tiễn rất đáng tin cậy.

Cần nhớ lại rằng, sau 30-4-1975, nền kinh tế Việt Nam kiệt quệ vì chiến tranh. Bom đạn đã tàn phá nặng nề cơ sở hạ tầng, các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất bị phá hủy, phá hỏng nghiêm trọng... Giao thương với thế giới bị thu hẹp. Thế nhưng, từ khi Đại hội VI của Đảng đề ra quyết sách đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã nhanh chóng chuyển mình. Hơn 35 năm đổi mới, những thành tựu mà nước ta gặt hái trở thành một bài học nêu gương cho nhiều quốc gia trên thế giới. Giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990) mức tăng trưởng GDP bình quân hằng năm chỉ đạt 4,4% thì giai đoạn 1991-1995, GDP bình quân đã tăng gấp đôi, đạt 8,2%/năm. Các giai đoạn sau đó đều có mức tăng trưởng khá cao; giai đoạn 2016-2019 đạt mức bình quân 6,8%. Tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước đã giảm từ 58% năm 1993 xuống 22% năm 2005; 9,45% năm 2010; 7% năm 2015 và còn dưới 3% năm 2020 (theo chuẩn nghèo đa chiều). Việt Nam đã thiết lập được nhiều quan hệ đối tác chiến lược về kinh tế, ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) khu vực và song phương với độ phủ rộng hầu hết các châu lục với gần 60 nền kinh tế có tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới...

Ai cũng biết, việc tăng tốc từ điểm xuất phát thấp bao giờ cũng tốn thời gian và sức lực hơn. Vì thế, tất yếu, để tịnh tiến đến các thành tựu, Việt Nam cần rất nhiều thời gian và nỗ lực. Gần đây, tốc độ “chín” của “quả ngọt” ngày càng tăng nhanh. Tính trong thời kỳ chiến lược 2011-2020, quy mô GDP Việt Nam tăng 2,4 lần, đứng trong tốp 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng thứ tư ASEAN. Theo Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Việt Nam đã tạo ra một câu chuyện huyền thoại trong công cuộc giảm nghèo với chỉ số phát triển con người (HDI) năm 2019 là 0,704, xếp thứ 117 trong tổng số 189 nước, nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng trưởng chỉ số HDI cao nhất trên thế giới. Đặc biệt, mặc dù năm 2020 ghi nhận những suy giảm mạnh về tăng trưởng và hầu hết các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của tất cả các nước trên thế giới, song các đánh giá và dự báo về kinh tế Việt Nam đều rất tích cực, nằm trong số hiếm hoi các nước vẫn giữ được mức tăng trưởng GDP dương với con số 2,91%. Việt Nam được coi là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới, phục hồi kinh tế nhanh hình chữ V, với mức tăng trưởng dự báo từ hơn 6% tới 11,2% trong năm 2021.

Với cơ sở vững chắc, đà phát triển mạnh mẽ cùng quyết tâm cao độ của Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị và đại đa số quần chúng nhân dân, việc Việt Nam bứt tốc để gặt hái những thành tựu lớn hơn, đưa khát vọng hùng cường trở thành sự thật sẽ hoàn toàn đạt được.

Nguồn: qdnd.vn

Thứ Tư, 3 tháng 3, 2021

THÀNH TỰU, THỜI CƠ VÀ VẬN HỘI MỚI

Nhìn lại sau hơn 35 năm đổi mới, từ một quốc gia lạc hậu, thiếu đói thường xuyên, Việt Nam đã vươn lên thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển. Tiềm lực và quy mô kinh tế ngày càng tăng lên, quy mô GDP đến năm 2020 ước đạt 268,4 tỉ USD, tăng khoảng 1,4 lần so với năm 2015; GDP bình quân đầu người năm 2020 ước đạt khoảng 2.750 USD/người, gấp khoảng 1,3 lần so với năm 2015. Tỉ trọng chi đầu tư phát triển tăng lên mức 27 - 28%, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh, đạt mức kỷ lục là 39 tỉ USD (năm 2019), tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hoá tăng 1,7 lần. Năng suất lao động đến năm 2020 tăng gần 1,5 lần so với năm 2015, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2016 - 2020 ước đạt 5,8%/năm. Đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao. Từ một quốc gia nông nghiệp lạc hậu Việt Nam đã trở thành một một thị trường mới nổi với trọng tâm là sản xuất thương mại, tham gia vững chắc vào thị trường thế giới qua chính sách thương mại tự do và chào đón các nhà đầu tư nước ngoài. Những năm gần đây, đặc biệt là năm 2020, Chính phủ đã thực hiện tốt việc giảm nợ công, tăng dự trữ ngoại hối và tạo ra môi trưởng thuận lợi hơn cho các doanh nhân khởi nghiệp.

Trên mặt trận ngoại giao, nhiều rào cản bị phá rỡ đã đưa Việt Nam đến gần với thế giới. Việt Nam đã trở thành mắt xích quan trọng trong nhiều liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu, tham gia nhiều thỏa thuận thương mại tự do quan trọng như Hiệp định thương mai tự do Việt Nam liên minh Châu Âu  EVFTA, Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương CPTPP, Hiệp định đối tác toàn diện khu vực RCEP… Từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới, Việt Nam đã khẳng định vị thế mới trên trường quốc tế, trở thành thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức khu vực và quốc tế, thiết lập quan hệ mở rộng với 189 quốc gia thành viên Liên hợp quốc và hơn 500 tổ chức phi chính phủ, xây dựng mạng lưới 30 đối tác chiến lược và đối tác toàn diện, trong đó có 17/20 nước thành viên G20 và toàn bộ các nước ASEAN

Trong lĩnh vực quốc phòng an ninh, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và lợi ích quốc gia – dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững môi trường hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước. Nền quốc phòng toàn dân đang trở nên ngày càng vững mạnh, toàn diện; đã có được những bước phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Việt Nam đã tự nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất và cung cấp nhiều loại vũ khí, nhiều tàu quân sự. Việt Nam từng bước đóng vai trò tham gia tích cực, cử sĩ quan tham gia các phái bộ quân sự, tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.

Bầu không khí xã hội dân chủ, cởi mở hơn; dân trí được nâng cao; con người Việt Nam năng động, sáng tạo hơn, tính tích cực cá nhân, tính tích cực xã hội được phát huy. Những nhân tố mới, giá trị mới của văn hóa, con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế từng bước được định hình trong đời sống, góp phần bồi đắp tinh thần dân tộc, củng cố, phát huy sức mạnh đại đoàn kết trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Quyền tự do sáng tạo, truyền bá văn hóa, văn học, nghệ thuật được tôn trọng; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt tâm linh của nhân dân được pháp luật bảo vệ và được tôn trọng, bảo đảm trên thực tế. Công tác xã hội, thu hút các nguồn lực xã hội để phát triển giáo dục được đẩy mạnh. Mạng lưới cơ sở giáo dục và đào tạo tiếp tục được mở rộng về quy mô, cơ sở vật chất được tăng cường.

Nhiều dự báo cho thấy những thuận lợi như sau đại dịch COVID-19 trọng tâm kinh tế đang chuyển dịch từ Tây sang Đông và Việt Nam đang được hưởng lợi từ sự chuyển dịch đó. Báo cáo tháng 12-2020 của Trung tâm nghiên cứu kinh tế Nhật Bản JCER dự báo quy mô nền kinh tế Việt Nam sẽ vượt qua Đài Loan vào năm 2035 và trở thành nền kinh tế lớn thứ hai Đông Nam Á, chỉ sau Indonexia. Dự báo khác cho rằng năm 2020 Việt Nam với dân số gấp 2 lần Hàn Quốc có tổng quy mô nền kinh tế đạt 300 tỷ USD, so với tổng quy mô nền kinh tế Hàn Quốc là 1,65 nghìn tỷ USD thì khoảng cách vẫn còn lớn. Nhưng nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm duy trì ở mức 7,5% thì dự kiến đến năm 2040, tổng quy mô nền kinh tế Việt Nam có thể bắt kịp hoặc vượt qua Hàn Quốc, trở thành nền kinh tế lớn thứ 6 ở Châu Á.

Trang Asianmediacetre.org.vn ngày 18/1 cho rằng việc gọi nền kinh tế Việt Nam là “con hổ Châu Á” có vẻ sáo rỗng nhưng nếu duy trì mức tăng trưởng 7% trong thập kỷ tới Việt Nam cũng sẽ đi theo quỹ đạo giống như những  “con hổ Châu Á” Hồng Kông, Singaope, Hàn Quốc và Đài Loan trước đây. Theo báo cáo của tổ chức Economist Intelligence Unit (EUI) của Anh, Việt Nam nổi lên như một cơ sở sản xuất chi phí thấp, đánh bại cả Ấn Độ, thậm chí Trung Quốc về các chỉ số, bao gồm chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài, kiểm soát ngoại thương và hối đoái. Trong khi Việt Nam đạt 6 trên thang điểm 10 trong chính sách FDI thì cả Ấn Độ và Trung Quốc đều đạt điểm 5,5, về kiểm soát ngoại thương và hối đoái Việt Nam đạt 7,3 trong khi Trung Quốc là 6,4 và Ấn Độ là 5,5. Tham gia các hiệp định thương mai tự do mang đến cho Việt Nam nhiều lợi thế. Ví dụ như theo hiệp định EVFTA, nhóm hàng sản xuất giày dép sang EU phải chịu mức thuế 30% được giảm xuống 0% từ tháng 8/2020. Thời cơ và dư địa phát triển đang ủng hộ những nỗ lực và quyết tâm của Việt Nam.

Những thành công khá toàn diện trên nhiều mặt, lĩnh vực của sự nghiệp đổi mới không thể tách rời vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng, những năm qua Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng phát triển tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thực hiện toàn diện, đồng bộ. Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn được đẩy mạnh; hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tiếp tục được bổ sung, phát triển. Bộ máy của hệ thống chính trị để tinh gọn tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động được thực hiện với quyết tâm chính trị cao, đạt được kết quả quan trọng, rõ nét. Nhiều quy chế, quy định về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền, phân cấp, tăng cường kiểm tra, giám sát trong công tác cán bộ được rà soát, điều chỉnh, bổ sung và ban hành mới.

Dư luận quốc tế đánh giá cao về Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, cho rằng đây là sự kiện quan trọng không chỉ của Việt Nam mà còn trong cả khu vực. Global Time cho rằng Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ bầu ra ban lãnh đạo mới để tiếp tục chính sách ngoại giao độc lập hóa, đa phương hóa và đa dạng hóa. Quỹ Chính trị Konrad của Đức cho rằng bất kể nhân sự ở các vị trí lãnh đạo cao nhất có thể thay đổi thế nào thì Đảng Cộng sản Việt Nam cũng sẽ tiếp tục lãnh đạo đất nước một cách vững chắc. Việt Nam tiếp tục ổn định chính trị thông qua kết nối đa phương và song phương. Các thỏa thuận thương mại sẽ tiếp tục giúp Việt Nam thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tờ FAZ ngày 23/1 đăng bài viết với nhan đề “Đảng Cộng sản Việt Nam định vị mình thế nào trong tương lai” cho rằng các vị trí lãnh đạo cho thấy sự tiếp nối liên tục. Một thế hệ trưởng thành trong thời kỳ kinh tế mở cửa đang phấn đấu mạnh mẽ hơn bao giờ hết, có nhiều khả năng đương đầu với những thách thức trong việc lãnh đạo đất nước vượt qua đại dịch và những khó khăn sắp tới. Tạp chí “Thế giới đa cực” của Nga ngày 20/1 đăng bài viết có tiêu đề “Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam - cột mốc lịch sử trong đời sống Việt Nam” bày tỏ tin tưởng Đại hội XIII của Đảng sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của Việt Nam theo hướng hiện đại. Tác giả bài viết cho rằng nội dung các dự thảo văn kiện trình Đại hội thể hiện tầm nhìn chiến lược và cách tiếp cận sáng tạo của các cơ quan lãnh đạo của Đảng, cũng như quyết tâm của dân tộc Việt Nam phấn đấu xây dựng đất nước "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn", nhân dân được ấm no, hạnh phúc.

Những thành công, kinh nghiệm và phân tích nêu trên cho thấy tính hiện thực và khả thi của những mục tiêu và giải pháp được đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đề ra, hiệu triệu, tập hợp toàn Đảng, toàn dân sẽ làm nên những kỳ tích như những con rồng, con hổ Châu Á đã làm được trước đó.

Thứ Năm, 25 tháng 2, 2021

NHẬN DIỆN CÁI GỌI LÀ “DÂN CHỦ”, “NHÂN QUYỀN” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch đang tăng cường chống phá cách mạng nước ta bằng nhiều thủ đoạn tinh vi và quyết liệt. Dưới chiêu bài "dân chủ, nhân quyền”, họ tự xưng mình là những người có "sứ mệnh" đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền Việt Nam. Vậy thực chất quan điểm chính trị của họ là gì? Họ thường xuyên đăng tải những thông tin sai trái, thù địch, bịa đặt những vấn đề "dân chủ, nhân quyền" nhằm nói xấu chế độ ở Việt Nam.

Dân chủ, nhân quyền được xem là giá trị chung của nhân loại. Các dân tộc không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển và bản sắc văn hóa đều có đóng góp nhất định vào giá trị chung đó. Về mặt lý luận cũng như thực tiễn đời sống chính trị quốc tế cho thấy, không có mô hình "chuẩn" về dân chủ, nhân quyền, mà chỉ có những mô hình cụ thể dựa trên những giá trị phổ quát được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế về quyền con người. Tương tự như quan hệ giữa "cái chung", "cái phổ biến" với "cái đặc thù", "cái đơn nhất" trong triết học, những giá trị phổ quát về dân chủ, nhân quyền chỉ có thể thông qua các mô hình chính trị - xã hội cụ thể để biểu hiện. Nói một cách đơn giản là, dân chủ, nhân quyền có nhiều mô hình, tùy thuộc vào điều kiện lịch sử, truyền thống và văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc. Điều này đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Thế nhưng, trên mạng xã hội hiện nay, có một số tổ chức, cá nhân tự nhận mình là "nhà dân chủ", sùng bái mô hình dân chủ, nhân quyền của phương Tây, coi đó là "chuẩn", là "mặc định". Từ đó, họ ra sức xuyên tạc, vu cáo, phủ nhận chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, nhằm hướng sự phát triển của đất nước ta theo mô hình dân chủ, nhân quyền của phương Tây.

Không chỉ phủ nhận chế độ dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, các thế lực thù địch còn ra sức tô vẽ, sùng bái mô hình "dân chủ, nhân quyền" của phương Tây. Họ tuyệt đối hóa các giá trị phổ quát về quyền con người theo mô hình của phương Tây, cố tình tảng lờ một số quyền con người sẽ bị hạn chế đã được ghi trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (năm 1966). Theo cách nói của họ, Nhà nước Việt Nam đã vi phạm quyền con người ở Điều 18 (Về quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo), Điều 19 (Về quyền tự do ngôn luận, báo chí), Điều 21, 22 (Về quyền hội họp hòa bình, quyền lập hội...) trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (năm 1966) mà Việt Nam đã ký kết. Tuy nhiên, họ không hề đề cập đến việc thực hiện những quyền nêu trên đều có thể bị hạn chế (trong pháp luật quốc gia) là vì "an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, để bảo vệ sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng, hoặc các quyền và tự do của người khác". Gần đây, họ còn có "sáng kiến": Phát triển blog, hình thành "xã hội ảo", "công dân ảo" và sử dụng các trang mạng xã hội nhằm phát tán, thu gom, lưu trữ các bài viết. Qua đó, họ ra "Tuyên bố", lập bản "Kiến nghị", kêu gọi "ký tên"... ủng hộ các quan điểm cực đoan, sai trái. Chẳng hạn như: Tuyên bố 72 ra bản "kiến nghị" về sửa đổi Hiến pháp theo mô hình dân chủ đa nguyên, chế độ cộng hòa tổng thống; Tuyên bố về việc thực thi các quyền dân sự, chính trị, kêu gọi Nhà nước thực thi các quyền tự do, dân chủ theo các "chuẩn mực nhân quyền phổ quát" (không tính tới tính đặc thù, lịch sử và văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc); Tuyên bố 258, kêu gọi xóa bỏ Điều 258 (Về tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, Bộ luật Hình sự 1999 của Nhà nước ta)...

Gắn liền với những hoạt động trên, các nhà tự xưng là "dân chủ, nhân quyền" còn lợi dụng bầu không khí dân chủ của đất nước để thực hiện một số hoạt động "thực", như: Trao văn bản đến lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, đến các cơ quan chức năng, thậm chí trao văn bản tới các đại sứ quán, lãnh sự quán nước ngoài và tổ chức quốc tế ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh... Để tránh sự trừng phạt của pháp luật, họ "lách luật" bằng cách lợi dụng quyền "phản biện" (thực chất là để phản bác, phủ nhận), tuyên bố "chỉ thực hiện các quyền con người về quyền tự do, dân chủ được ghi trong các Công ước quốc tế về quyền con người mà Nhà nước Việt Nam đã tham gia" và chỉ hoạt động "ôn hòa", "bất bạo động"... Thực tiễn đời sống chính trị quốc tế cho thấy, các cuộc bạo loạn, lật đổ chế độ xã hội hiện hữu thường bắt đầu bằng những hành động gọi là "bất bạo động", "ôn hòa" kiểu ấy. Do vậy, những hành vi vi phạm pháp luật của họ sẽ bị pháp luật trừng trị nghiêm minh.

Những hoạt động nói trên của những kẻ lợi dụng "dân chủ", "nhân quyền" cũng như của các thế lực thù địch chẳng qua chỉ là trò bịa đặt, "bóp méo sự thật". Hành động của họ chẳng lừa được ai, chắc chắn sẽ bị lên án, bác bỏ.

Nhìn lại những thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực bảo đảm dân chủ, nhân quyền, có thể khẳng định rằng, đó là những thành tựu to lớn, không thể phủ nhận được. Những "phát biểu", "điều trần" của cá nhân này, tổ chức nọ nhằm bóp méo tình hình nhân quyền ở Việt Nam chỉ là những tiếng nói lạc lõng, xa lạ với cộng đồng quốc tế. Nó đã, đang và tiếp tục bị cộng đồng quốc tế vạch trần, lên án./.

Thứ Tư, 3 tháng 2, 2021

KỶ NIỆM 91 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG: MỞ RA TƯƠNG LAI TƯƠI SÁNG CHO DÂN TỘC VIỆT NAM

Hôm nay 3-2-2021, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tự hào kỷ niệm 91 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam trong không khí rộn ràng đón chào xuân mới Tân Sửu 2021 và phấn khởi trước một tương lai đầy hứa hẹn đang mở ra phía trước.

Nói tương lai hứa hẹn, là bởi đất nước vừa diễn ra sự kiện chính trị có ý nghĩa lịch sử, Đại hội lần thứ XIII của Đảng thành công tốt đẹp. Đảng đã đặt ra 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược cho lộ trình hiện thực mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đất nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng vào năm 2045. Đó cũng là khát vọng thiêng liêng của toàn dân tộc Việt Nam!

Trước khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta bị áp bức dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tuy dấy lên mạnh mẽ và theo nhiều khuynh hướng tư tưởng, con đường khác nhau nhưng đều thất bại. Nguyên nhân chung là do thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn, thiếu một học thuyết khoa học tiên tiến soi đường.

Ngày 3-2-1930, dưới sự chủ trì của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam đã tiến hành hội nghị hợp nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là sự tất yếu của lịch sử, là kết quả phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam kết hợp với Chủ nghĩa Mác-Lê nin, là kết quả quá trình chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Lựa chọn lịch sử nhưng cũng là nguyện vọng của hàng triệu người con đất Việt đứng dưới lá cờ của Đảng, là sự tin yêu, gắn bó với chính đảng có tư tưởng, mục tiêu xuyên suốt là “Vì dân”, lấy lợi ích và hạnh phúc của người dân làm gốc. Điều ấy đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Tất cả đường lối, phương châm, chính sách... của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân”.

Từ khi có Đảng lãnh đạo, đất nước vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức. Cách mạng Tháng Tám thành công và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã mở ra một kỷ nguyên mới - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Sau ngày lập quốc, Đảng tiếp tục lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, thu non sông về một mối, bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc nơi phên dậu phía Tây Nam, nơi biên cương phía Bắc và nơi biển đảo phía Đông.

Giữa bộn bề gian khó do hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại, sự bao vây cấm vận và những khó khăn, trì trệ về kinh tế - xã hội, Đảng vẫn kiên định đường lối và khởi xướng, lãnh đạo toàn dân tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, đạt những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Những cải cách kinh tế, chính trị đã đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, kinh tế liên tục tăng trưởng, tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói được xóa bỏ. Từ một trong những nước nghèo nhất thế giới, Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp.

Tại Đại hội lần thứ XIII, nhìn lại sự phát triển của Việt Nam sau 35 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhất là giai đoạn 2016 - 2020 có thể thấy những thành tựu đáng tự hào. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục phát triển; kinh tế vĩ mô ổn định, tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức khá cao với khoảng 5,9%; quy mô và tiềm lực nền kinh tế tăng lên. Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường. Quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế của đất nước ngày càng sâu rộng, đạt nhiều thành tựu nổi bật. Đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt.

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả rõ rệt. Nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng được phát hiện, điều tra, khởi tố, xét xử nghiêm minh, tạo sức răn đe, cảnh tỉnh, được cán bộ, đảng viên, nhân dân hoan nghênh, đánh giá cao và đồng tình ủng hộ. Tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái trong Đảng và hệ thống chính trị từng bước được kiềm chế, ngăn chặn.

Tự hào hơn nữa, năm 2020, trong bối cảnh đại dịch Covid-19, khi kinh tế thế giới suy thoái thì kinh tế nước ta vẫn đạt mức tăng trưởng 2,91%, là một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới. Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu “kép”, vừa khống chế, ngăn chặn đại dịch thành công, vừa phục hồi, phát triển kinh tế, bảo đảm đời sống và an toàn cho người dân. Thành công của Việt Nam được thế giới ghi nhận, coi là điểm sáng trong xử lý đại dịch Covid-19.

Những thành tựu nổi bật từ quá trình phấn đấu bền bỉ, liên tục nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, nhất là trong 5 năm qua có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nhưng để đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, nhanh và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đi đôi với “rất nhiều thuận lợi, thời cơ”, đất nước ta đang phải đối mặt với “muôn vàn khó khăn, thử thách”.

Môi trường đầu tư kinh doanh hiện vẫn chưa thực sự thông thoáng, minh bạch. Năng lực và trình độ công nghệ của nền kinh tế còn thấp. Công nghiệp vẫn chủ yếu gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng không cao. Giáo dục "làm người", đạo đức, lối sống chưa thực sự được chú trọng; nguy cơ tái mù chữ có xu hướng tăng ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Giảm nghèo chưa bền vững, chưa xử lý hữu hiệu vấn đề phân hóa giàu - nghèo.

Vấn đề đáng báo động nữa là một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa gương mẫu, chưa thực sự tôn trọng ý kiến, kiến nghị của nhân dân và giải quyết kịp thời những quyền, lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của người dân. Quyền làm chủ của nhân dân có lúc, có nơi còn bị vi phạm. Việc chấp hành pháp luật chưa nghiêm; kỷ cương, phép nước còn bị xem nhẹ. Hơn thế, tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta. Cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước chưa đầy đủ, đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả chưa cao.

Nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng những khuyết điểm, hạn chế không phải nhằm làm chùn ý chí hay tự hạ thấp những thành tựu mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn dân đạt được trong chặng đường dài đã qua. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng, một Đảng biết công khai thừa nhận những sai lầm khuyết điểm của mình, tìm ra nguyên nhân và tìm ra cách sửa chữa thì đấy là dấu hiệu của một Đảng chân chính, Đảng cách mạng”.

Cho nên, nhìn vào khuyết điểm để sửa chữa chính là cơ sở bồi đắp niềm tin vào Đảng, để dân tin, dân yêu và hết lòng xây dựng, bảo vệ Đảng, để cùng Đảng quyết tâm hiện thực khát vọng đất nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.

Với truyền thống vẻ vang và những bài học kinh nghiệm quý báu trong 91 năm lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta hoàn toàn có cơ sở tin tưởng, Đảng sẽ lãnh đạo toàn dân tộc ta lập nên những thành tựu mới trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, để đất nước ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn. Trong phát biểu bế mạc Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Thành công rất tốt đẹp của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng sẽ cổ vũ mạnh mẽ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tranh thủ thời cơ, thuận lợi, phấn đấu sớm đưa nước ta trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Một tương lai tươi sáng đang mở ra cho đất nước và dân tộc Việt Nam!