Hiển thị các bài đăng có nhãn sai lầm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sai lầm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2022

PHẢI CHĂNG VIỆT NAM CẦN LIÊN MINH QUÂN SỰ ĐỂ GIỮ VỮNG ĐỘC LẬP, CHỦ QUYỀN VÀ TOÀN VẸN LÃNH THỔ”

Quan điểm “Việt Nam cần liên minh quân sự để giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ” là rất sai lầm, thiếu cơ sở, “lợi bất cập hại”, đi ngược lại đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng. Vì vậy, cần phải được phê phán, bác bỏ.

Những năm gần đây, đặc biệt từ khi Sách trắng quốc phòng Việt Nam công khai với giới truyền thông trong nước và quốc tế rằng sẽ không tiến hành liên minh quân sự với bất cứ một quốc gia nào thì các thế lực thù địch tuyên truyền đó là một chính sách “bảo thủ”, “lạc hậu”, đi ngược lại xu thế tăng cường hợp tác và toàn cầu hoá (?!).

Lợi dụng những diễn biến phức tạp về tranh chấp chủ quyền ở khu vực Biển Đông, đặc biệt là những hành vi ngày càng mạnh bạo của Trung Quốc, các thế lực thù địch lập luận rằng: Một quốc gia nhỏ yếu như Việt Nam sẽ không thể đứng vững nếu không tiến hành liên minh quân sự với một cường quốc bên ngoài, nhất là với Mỹ, một quốc gia có lợi ích đối lập với Trung Quốc, đang xem Trung Quốc là đối thủ số một, thậm chí như kẻ thù (?!).

Khi cuộc xung đột quân sự Nga - Ukraine nổ ra, chúng càng cổ xuý cho quan điểm trên. Chúng lập luận rằng vì Ukraine không phải là thành viên của liên minh quân sự Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) nên NATO không có nghĩa vụ cùng Ukraine chống lại Nga. Bên cạnh đó, chúng còn tuyên truyền Phần Lan và Thuỵ Điển sớm “thức tỉnh” nên đã từ bỏ đường lối trung lập, chủ động viết đơn xin gia nhập khối quân sự này, và được NATO chính thức khởi động tiến trình kết nạp từ ngày 5/7/2022.

Các phần tử đóng vai người “tư vấn”, “kiến nghị”, “hiến kế”, thúc giục Việt Nam tiến hành liên minh quân sự nhằm mục đích làm giảm niềm tin của nhân dân vào đường lối đối ngoại đúng đắn, sáng suốt của Đảng, tạo ra sự chia rẽ nội bộ, đồng thời gây chia rẽ Việt Nam - Trung Quốc, tạo cơ sở cho những kẻ cơ hội can thiệp vào nội bộ của Việt Nam.

Đối với Việt Nam thì việc tiến hành liên minh quân sự để giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là hết sức sai lầm, thiếu cơ sở, “lợi bất cập hại”, đi ngược lại đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng.

Thứ Năm, 13 tháng 10, 2022

ĐẬP TAN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN THÀNH QUẢ DÂN CHỦ CỦA VIỆT NAM

Trong thời gian qua, trước những khó khăn về kinh tế-xã hội do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid 19 chưa được giải quyết và những diễn biến phức tạp trong khu vực… lợi dụng tình hình này, những kẻ cơ hội chính trị, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" đã xuyên tạc tình hình, hòng bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam, chế độ xã hội Việt Nam. Họ viết và tán phát trên mạng rằng: "Đàn áp về nhân quyền ở Việt Nam ngày càng gia tăng"; "các quyền của người dân, trong đó có dân chủ, quyền lập hội, biểu tình… không được thực hiện, trái lại ngày càng bị bóp nghẹt...". Vậy dân chủ đã và đang được bảo đảm ở Việt Nam như thế nào?

Đặc trưng nền dân chủ của Việt Nam là tất cả mọi người đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ; chế độ dân chủ của Việt Nam dựa trên hệ thống chính trị các cấp-đó là chế độ sinh hoạt của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp; là tiếng nói của Mặt trận Tổ quốc và của các đoàn thể xã hội luôn luôn được tôn trọng. Ở đây tiếng nói, nguyện vọng của người dân được bảo đảm thông qua các đại diện của mình.

Một trong những đặc trưng của nền dân chủ ở Việt Nam là chế độ dân chủ do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và cầm quyền. Tuy nhiên, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam phải tuân thủ nguyên tắc: “1. Đảng Cộng sản Việt Nam-đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; 2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình; 3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật". (Điều 4, Hiến pháp 2013).

Ngay từ khi cách mạng thành công (tháng 8-1945) cho đến thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm đến dân chủ ở cấp cơ sở. Theo đó. Tổng Bí thư Đỗ Mười chỉ đạo ban hành Chỉ thị số 30 về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Nội dung quy chế dân chủ ở cơ sở gồm: Bảo đảm để mọi người dân ở cơ sở được thông tin về pháp luật, các chủ trương, chính sách của Nhà nước…; có quy chế và các hình thức để nhân dân, cán bộ, công chức ở cơ sở được bàn bạc và tham gia ý kiến vào các chủ trương, chính sách, nhiệm vụ công tác chuyên môn, công tác cán bộ... của chính quyền, cơ quan, đơn vị; có quy định về việc để nhân dân bàn và quyết định dân chủ đối với những loại việc liên quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân trên địa bàn; cơ chế để nhân dân, công nhân, cán bộ, công chức ở cơ sở trực tiếp và thông qua, gồm: Mặt trận, các đoàn thể, ban thanh tra nhân dân kiểm tra, giám sát hoạt động của chính quyền, thủ trưởng cơ quan,…

Sau Chỉ thị 30, Chính phủ đã luật hóa bằng nghị định của Chính phủ. Dựa trên chỉ thị và nghị định về dân chủ, Nhà nước Việt Nam đã ban hành hàng trăm văn bản nhằm bảo đảm quyền dân chủ của người dân ở cơ sở, bao gồm cả quyền dân chủ của cán bộ, công chức, của cán bộ, nhân viên ở các doanh nghiệp… Cho đến nay, chế độ dân chủ ở Việt Nam đã và đang được thực hiện nghiêm túc ở các cấp, từ cơ sở xã phường, cơ quan, cho đến Quốc hội. Tất cả những vấn đề từ đời sống thường nhật cho đến vấn đề độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ đều được người dân quan tâm và có quyền tham gia.

Những ý kiến xuyên tạc, phủ nhận thành tựu về dân chủ có nhiều nguyên nhân, trong đó có những nhận thức không đầy đủ về dân chủ. Ở nhiều quốc gia phương Tây, dân chủ thường gắn với các hoạt động chống chính phủ của các tổ chức phi chính phủ (NGOs)… Đó là các cuộc tụ tập đông người, phá hủy các công trình công cộng, xúc phạm cá nhân, quan chức từ cấp thấp cho đến tổng thống. Quyền tự do báo chí cũng có nội dung tương tự… Trách nhiệm của người đưa tin, của cơ quan quản lý báo chí thường rất nhẹ. Vì vậy dùng tiêu chí dân chủ, nhân quyền của phương Tây để xem xét, đánh giá chế độ dân chủ của Việt Nam là một sai lầm về chính trị và thiếu sót về phương pháp luận. Do đó, cần nhận thức đúng, về mặt nguyên tắc, nền dân chủ của Việt Nam là một nền dân chủ có kỷ cương, có tổ chức, có hệ thống.

Thứ Tư, 20 tháng 4, 2022

NHỮNG “KHÚC CUA” LỊCH SỬ VÀ ĐẢNG KHÔNG GIẤU KHUYẾT ĐIỂM

Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam trong 92 năm qua đã chứng minh sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi, lập nên nhiều kỳ tích trong các thời kỳ cách mạng.

Thế nhưng, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, trước những “khúc cua” lịch sử ở từng giai đoạn, hoàn cảnh cụ thể, Đảng ta cũng từng mắc phải những sai lầm, khuyết điểm, thậm chí là nghiêm trọng. Trong cuộc cải cách ruộng đất và chỉnh đốn Đảng ở miền Bắc (1953-1956), khi nhận ra những sai lầm, Trung ương Đảng đã họp tự kiểm điểm suốt một tháng (từ ngày 25-8 đến 24-9-1956). Trung ương Đảng thẳng thắn thừa nhận: “Đó là những sai lầm nghiêm trọng, phổ biến, kéo dài về nhiều mặt, những sai lầm về những vấn đề nguyên tắc, trái với chính sách của Đảng, trái với nguyên tắc và điều lệ của một đảng theo Chủ nghĩa Mác-Lênin, trái với chế độ pháp luật của nhà nước dân chủ nhân dân”(*). Các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị phụ trách công tác này đều tự phê bình một cách sâu sắc và tự nhận hình thức kỷ luật rất nghiêm khắc. Tổng Bí thư Trường Chinh xin từ chức. Các đồng chí Lê Văn Lương, Hoàng Quốc Việt xin rút khỏi Bộ Chính trị. Sau khi hội nghị kết thúc, Đảng tổ chức cuộc mít tinh lớn tại Nhà hát Lớn Hà Nội, công khai thừa nhận sai lầm trước nhân dân.

Sau hơn 10 năm đất nước thống nhất, cả nước đi lên xây dựng CNXH nhưng rơi vào khủng hoảng kinh tế-xã hội, Đảng ta một lần nữa tiến hành đợt tự phê bình và phê bình nghiêm túc và sâu sắc. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội VI của Đảng (năm 1986) dũng cảm nhận thấy “những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện”. Đảng tự thấy mình mắc “bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan, là khuynh hướng buông lỏng trong quản lý kinh tế-xã hội, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng”.  Những năm đầu của thời kỳ đổi mới, một số cán bộ, đảng viên muốn rập khuôn kinh nghiệm cải tổ, cải cách của nước ngoài, nhất là trong đổi mới chính trị, đổi mới kinh tế và hoạt động báo chí, văn hóa, văn nghệ. Đã chớm nở khuynh hướng đòi “dân chủ, công khai" một cách cực đoan; khuynh hướng phủ nhận quá khứ, bôi đen hiện thực; khuynh hướng muốn chuyển nhanh nhất loạt sang cơ chế thị trường tự do, muốn tư nhân hóa hoàn toàn, "thương mại hóa" báo chí, xuất bản... Những khuynh hướng này đã được ngăn chặn, uốn nắn kịp thời. Các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã định hướng tư tưởng trong toàn Đảng và xã hội. Thực sự có cuộc đấu tranh tư tưởng sâu rộng để đổi mới và giữ vững định hướng XHCN.

Thực tế Đảng ta cũng đã phạm những khuyết điểm, sai lầm. Điều quan trọng là Đảng ta không che giấu khuyết điểm, sai lầm, mà công khai thừa nhận, thành tâm lắng nghe ý kiến nhân dân. Và một khi phát hiện và nhận ra sai lầm thì quyết tâm sửa chữa để phấn đấu đi lên, từ đó Đảng ngày càng trưởng thành, lớn mạnh.

Có thể khẳng định, có được đường lối chính trị đúng trong hoàn cảnh phát triển bình thường đã là việc khó; ở những bước ngoặt của lịch sử, trong bối cảnh đất nước và quốc tế có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, thì việc Đảng ta xác định được một đường lối chính trị đúng và bảo đảm cho đường lối đó thành hiện thực càng khó khăn hơn. Nó là kết quả của trí tuệ, tài năng, phẩm chất, khí phách. Nó trải qua một quá trình suy tư gian khổ, tìm tòi, đổi mới tư duy lý luận, tổng kết thực tiễn, có khi phải làm đi làm lại nhiều lần, thậm chí có lúc đã không tránh khỏi sai lầm và tạm thời thất bại.

Thứ Hai, 21 tháng 2, 2022

KHÔNG THỂ COI SỰ SỤP ĐỖ MÔ HÌNH CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở LIÊN XÔ VÀ ĐÔNG ÂU LÀ SAI LẦM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN

Như chúng ta đã biết, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xôviết ở Liên Xô và Đông Âu trong những năm 90 của thế kỷ XX là bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan, nhưng nguyên nhân sâu xa từ nhận thức không đúng, vận dụng máy móc, giáo điều những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin. Nhưng điều tệ hại nhất và là nguyên chủ yếu, trực tiếp dẫn đến sự đổ vỡ của chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xôviết ở Liên Xô và các nước Đông Âu là do nhiều sai lầm chủ quan, kéo dài, ngày càng trầm trọng của các đảng cộng sản và những người lãnh đạo của các đảng và nhà nước ở đó. Họ đã xa rời những nguyên lý cơ bản của chủ Mác - Lênin, để cho chủ nghĩa cơ hội lũng đoạn chính trị, mất cảnh giác, thủ tiêu đấu tranh giai cấp, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, mất phương hướng chính trị, thiếu sắc sảo, nhạy bén trong lãnh đạo, quan liêu, bảo thủ, trì trệ... không theo kịp sự phát triển của thực tiễn.

Ở vào thời điểm có tính chất bước ngoặt liên quan đến vận mệnh của chủ nghĩa xã hội thì họ không đủ bản lĩnh và trí tuệ chèo lái con| thuyền cách mạng vượt qua sóng to, gió lớn mà lại tự “dâng hiến” mọi thành quả đã đạt được trong gần một thế kỷ đấu tranh cho chủ nghĩa tư bản và giai cấp tư sản không một chút do dự.

Tất cả điều đó không có nghĩa là chủ nghĩa Mác - Lênin đã bị phá sản, những nguyên lý cơ bản của nó là sai lầm. Trái lại, chính vì không nắm vững bản chất cách mạng và khoa học; xơ cứng, giáo điều trong vật dụng, phát triển; buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng, lùi bước trong cuộc đấu tranh tư tưởng, mất cảnh giác với kẻ thù ở bên ngoài, không tỉnh táo đề phòng sự phá hoại từ bên trong đã làm cho chủ nghĩa xã hiện thực sụp đỗ. Bài học xương máu” ấy đang nhắc nhở chúng ta trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải luôn luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tuyệt đối không lặp lại sai lầm “theo vết xe đổ”, để mất vai tròlãnh đạo của Đảng Cộng sản, mất chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đã phải để biết bao xương máu mới có được.

Thứ Tư, 4 tháng 8, 2021

“CHỦ NGHĨA CHIA RẼ VÀ CỰC ĐOAN” MỘT QUAN ĐIỂM HẾT SỨC SAI LẦM VỀ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

Quan điểm này đem quy chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan, đối lập với tư tưởng “đoàn kết và thống nhất của Hồ Chí Minh”.

Đây là sự quy chụp, áp đặt cho chủ nghĩa Mác - Lênin một cách vô căn cứ, vu khống, bịa đặt. Bởi vì chia rẽ, cực đoan không phải là bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin mà đó là tư tưởng và hành động sai lầm của những người theo chủ nghĩa chia rẽ, bè phái, tả khuynh hoặc hữu khuynh...

Chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học phản ánh những quy luật khách quan của thế giới, dựa trên phương pháp biện chứng duy vật với các quan điểm khách quan, toàn diện, phát triển, lịch sử - cụ thể và thực tiễn chứ không phải dựa trên chia rẽ và cực đoan, phiến diện, không thể đồng nhất, lẫn lộn những sai lầm đó với chủ nghĩa Mác - Lênin.

Trên thực tế, như chúng ta biết, C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất trong phong trào cách mạng. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại!”. Về sau này Lênin bổ sung thêm: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, xây dựng các chính đảng cách mạng, C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đều yêu cầu phải đoàn kết, thống nhất để tạo thành sức mạnh của tổ chức cách mạng.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn giương cao ngọn cờ đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, đoàn kết toàn dân, đoàn kết toàn Đảng.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy khi nào đoàn kết thì thắng lợi, chia rẽ là thất bại.

Đảng ta đã đúc rút bài học quan trọng: “Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng Việt Nam”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công”.

Đảng cũng khẳng định, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực chủ yếu, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam./.

Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021

"DÍNH VẾT" MÀ KHÔNG "TRƯỢT DỐC"

Về cơ sở, mấy anh em trong đoàn báo chí muốn được đi thăm một doanh nghiệp tiêu biểu của địa phương. Chủ tịch xã giới thiệu đến cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của ông X. Trên đường, anh cán bộ xã dẫn đoàn công tác kể, ông X từng là cán bộ xã, từng mấy nhiệm kỳ ngồi “ghế thường vụ”, sau “dính vết”, xin nghỉ về làm kinh doanh. Đến nay, cơ sở của ông X không những tạo việc làm cho người dân trong xã, mà còn rất hăng hái ủng hộ các hoạt động xã hội của địa phương, phong trào của đoàn thể.

Tham quan cơ sở nhà ông X mới thấy lời giới thiệu của chủ tịch xã quả không xa thực tế. Hoạt động sản xuất, kinh doanh rất mạnh và hiệu quả, bạn hàng khắp nơi trên thế giới. Điều khiến nhiều người quan tâm, ấy là cách tổ chức của cơ sở nhà ông X rất giống một xí nghiệp sản xuất nhà nước thời trước. Ngoài ra, cơ sở này còn có chi bộ đảng, tổ chức đoàn thanh niên và công đoàn.

Trò chuyện với ông X, nhiều nhà báo gợi chuyện xưa. Ông X cũng không ngần ngại mà kể lại câu chuyện thế này:

Tôi là một thanh niên có lý tưởng, hoài bão, được gia đình và Nhà nước tạo điều kiện cho đi học hành bài bản. Tôi cũng được đánh giá là năng nổ, nhiệt tình trong công tác, hoạt động đoàn thể. Vì những lẽ ấy, tôi trở thành lãnh đạo từ khi còn khá trẻ. Vị trí đầu tiên cũng nhỏ thôi, nhưng sau này xét lại, tôi thấy mình đã “dính vết” từ lúc đấy. Số là, chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp của chúng tôi là một bác thương binh, sức khỏe không tốt nên đã tin tưởng giao tôi toàn quyền phụ trách. Anh phó chủ nhiệm như tôi phải chăm lo, quán xuyến giao việc cho các tổ, đội; phân phối từ cân giống đến bao phân. Nói chung, tôi cũng là người nhanh nhạy với thị trường nên sản xuất, kinh doanh khá tốt. Có tiền, chúng tôi lại tập trung vào xây dựng cơ bản, lúc đó mới bắt đầu sinh chuyện. Mặc dù mọi hoạt động của ban chủ nhiệm hợp tác xã đều có sự giám sát của tổ chức nhưng mọi người lại tin tưởng mình quá đâm sinh ra “chuyên quyền”, anh nào có quan hệ tốt thì mình tạo điều kiện nhiều hơn. Dù dư luận có xì xào nhưng hoạt động của hợp tác xã vẫn phát triển. Tôi cũng được cất nhắc lên vị trí cao hơn, phụ trách lĩnh vực rộng hơn. Rất nhiều lần tôi phát hiện hiện tượng thất thoát, nhắc nhở thì anh em đổ lỗi do trình độ quản lý yếu kém và mong được thông cảm. Từ “thông cảm” đến “thông đồng” có ranh giới mong manh lắm các đồng chí ạ! Tôi trở thành loại cán bộ mà chính tôi lúc trẻ đã hết sức phê phán. Sau này, nhiều việc bị vỡ lở, tôi nhận kỷ luật của Đảng, nhưng không bị cắt chức vụ chính quyền. Song, tôi lại thấy thất vọng ở chính mình nên tự động xin rút khỏi vị trí quản lý. Tôi nghĩ rằng, trở về làm một đảng viên tốt còn hơn một cán bộ “dính vết”. Từ đó, tôi xây dựng một cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tư nhân như các đồng chí đang thấy hôm nay.

Rõ ràng, cách hành xử của của ông X cũng đáng khâm phục, bởi không phải ai cũng dám rời bỏ những thành quả mình khó khăn mới đạt được. Đặc biệt, đó lại là vị trí cán bộ quản lý trong hệ thống công chức của nhà nước, “giấc mơ” của nhiều người. Có ý kiến cho rằng, giá như khi nhận ra những sai lầm của mình, ông X nên kiên trì sửa chữa để trở thành một cán bộ tốt. Song, ai cũng có ước mơ, hy vọng, có hướng đi của riêng mình, điều chúng ta có thể làm chính là ủng hộ quyết định của họ. Và dù sao, quyết định của ông X vẫn cho thấy đó là một quyết định đúng đắn. Khi cầu thị, biết sửa đổi, người cán bộ đó dù ở bất kỳ cương vị, làm công việc gì, trong hoàn cảnh nào, nếu làm tốt công việc của mình, vẫn có thể vươn lên, đóng góp cho xã hội.

Thời gian qua, toàn Đảng tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” đã tạo chuyển biến tích cực, không chỉ trong đội ngũ cán bộ mà toàn dân. Ban Tuyên giáo Trung ương có Báo cáo sơ kết 4 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW đã phát hiện nhiều tấm gương tốt. Những tấm gương này không chỉ đến từ khối công chức, viên chức, cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang mà còn cả những người dân rất bình dị. Mỗi nỗ lực đóng góp cho xã hội của họ đều được ghi nhận, mỗi thành quả của họ đều được công bằng đánh giá. Thành quả đó có thể là những đề tài nghiên cứu về vũ trụ, hay chỉ là công việc chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ rất thầm lặng và khiêm nhường.

Học Bác Hồ, chúng ta đã học cả một nền văn hóa, một lối sống đẹp vì mọi người, trên hết, đó là đạo đức, lý tưởng, cách nghĩ, cách làm. Ví như cái cách ông X quyết định “buông bỏ” để tìm hướng đi khác cho riêng mình vẫn bám sát lý tưởng của thời thanh niên sôi nổi. “Dính vết” mà không “trượt dốc”, ngẫm ra cũng rất đáng khen!./.

Thứ Ba, 2 tháng 3, 2021

THÁI ĐỘ TRƯỚC NHỮNG SAI LẦM, KHUYẾT ĐIỂM

Để có quan điểm, thái độ đúng đắn trước những sai lầm, khuyết điểm và đứng vững trước những luận điệu chống phá của các thế lực thù địch, việc nghiên cứu, nhận thức lại quan điểm của V.I.Lênin về vấn đề này thật sự có ý nghĩa.

Trong dịp Đảng ta tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, các thế lực thù địch trong và ngoài nước ra sức chống phá hòng làm thất bại hoặc lu mờ sự kiện trọng đại này. Chiêu bài của chúng là cố tình làm ngơ trước những thành tựu vĩ đại mà Đảng ta đã mang lại cho nhân dân ta, đất nước ta trong 35 năm đổi mới vừa qua. Chúng ra sức rêu rao, thổi phồng những sai lầm, khuyết điểm của những tổ chức, cá nhân cán bộ,đảng viên và quy kết thành những sai lầm, khuyết điểm của Đảng nhằm hạ bệ, gieo rắc sự hoang mang, hoài nghi của những người nhẹ dạ, cả tin, từ đó làm giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng. Mặt khác, chúng đưa ra những dẫn chứng “hùng hồn” về nền chính trị dân chủ, tự do, văn minh của một số nước phát triển trên thế giới để kêu gọi Đảng ta phải cải tổ, cải cách, học tập, làm theo.

Để có quan điểm, thái độ đúng với những sai lầm, khuyết điểm và đứng vững trước các luận điệu chống phá của các thế lực thù địch, việc nghiên cứu, nhận thức lại quan điểm của V.I.Lênin trong tác phẩm “Thư gửi công nhân Mỹ” (ngày 20/8/1918) thật sự có ý nghĩa, cho dù tác phẩm này ra đời cách đây đã hơn 100 năm.

Trong thư gửi công nhân Mỹ - một nước tư bản chủ nghĩa hoàn toàn đối lập với chế độ xã hội chủ nghĩa mà nước Nga đang xây dựng, V.I.Lênin vẫn không ngần ngại thừa nhận: “Do trình độ phát triển cao của các lực lượng sản xuất của lao động liên hợp của con người, do việc sử dụng máy móc và tất cả những cái kỳ diệu của kỹ thuật mới nhất, nước Mỹ đã đứng hàng đầu trong các nước tự do và văn minh”. Đồng thời, V.I.Lênin cũng thẳng thắn nói với giai cấp công nhân Mỹ rằng, cách mạng nước Nga đang gặp rất nhiều sai lầm trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là những sai lầm trong khi đập tan sự phản kháng của lực lượng ủng hộ chế độ cũ, xây dựng chế độ xã hội mới; giai cấp nông dân có sai lầm, giai cấp công nhân có sai lầm và các Xô viết cũng mắc không ít sai lầm.

Đáng chú ý là thái độ đanh thép của V.I.Lênin trước những sai lầm đó: “Mặc dù báo chí vụ lợi của giai cấp tư sản cứ việc rêu rao khắp nơi mỗi khi cách mạng của chúng tôi phạm sai lầm. Những sai lầm của chúng tôi không làm cho chúng tôi sợ”.

Lý giải cho thái độ của mình, Lênin cho rằng: “Con đường của lịch sử không thẳng tắp như đại lộ Nép-xki... Kẻ nào chỉ “tán thành” cách mạng của giai cấp vô sản “với điều kiện” là: cách mạng phải diễn ra dễ dàng và không vấp váp, vô sản ở các nước phải có hành động thống nhất ngay tức khắc, cách mạng phải được bảo đảm trước là không thể thất bại được, cách mạng phải đi theo một con đường rộng lớn, thênh thang và thẳng tắp, người làm cách mạng, trên bước tiến tới thắng lợi, không phải tạm thời chịu những hy sinh hết sức lớn, không phải “cố thủ trong một pháo đài bị bao vây” hoặc không phải đi len lỏi trên những con đường núi nhỏ hẹp, ngoắt ngoéo, khó đi và đầy nguy hiểm, thì kẻ đó không phải là người cách mạng, kẻ đó chưa thoát khỏi tật thông thái rởm của giới trí thức tư sản, kẻ đó sẽ luôn luôn và thực sự rơi vào phe tư sản phản cách mạng, cũng như bọn xã hội chủ nghĩa - cách mạng cánh hữu, bọn men-sê-vích”. Người cho rằng, không phải hễ cách mạng bắt đầu, là con người trở thành thánh ngay. Các giai cấp lao động bị áp bức, bị mê muội, bị giam hãm trong cảnh bần cùng, dốt nát, dã man trong hàng thế kỷ, không thể nào hoàn thành cách mạng mà lại không phạm sai lầm… Nhưng cứ một trăm sai lầm mà nước Nga phạm phải bị giai cấp tư sản và tay sai của chúng đem đi rêu rao khắp nơi, thì có 10.000 hành vi vĩ đại và anh dũng xuất hiện ở khắp nơi trên đất nước Nga. Theo V.I.Lênin, những hành vi đó lại càng vĩ đại, càng anh dũng, vì chúng rất bình thường, ít ai biết đến, xuất hiện ngay trong sinh hoạt hàng ngày của người dân lao động, những người mà theo V.I.Lênin, không hề có thói quen và không có khả năng đem mỗi thắng lợi của mình ra rêu rao ở khắp mọi nơi.

V.I.Lênin còn đưa ra giả định rằng, nếu như cách mạng có 100 hành vi đúng và có 10.000 hành vi sai lầm chăng nữa thì cách mạng cũng không vì thế mà kém phần vĩ đại. Bởi vì, đây lần đầu tiên quảng đại quần chúng lao động đang tự mình xây dựng đời sống mới của mình, đang dựa vào kinh nghiệm bản thân để giải quyết các vấn đề gay go nhất của tổ chức xã hội chủ nghĩa.

V.I.Lênin cho rằng mỗi sai lầm của người lao động trong quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới cũng bằng hàng ngàn, hàng triệu thành tựu của thiểu số bóc lột, thành tựu trong nghệ thuật lừa bịp và bóc lột những người lao động. Vì chỉ có thông qua những sai lầm đó, công nhân và nông dân mới học tập được cách xây dựng một đời sống mới, mới vạch ra được con đường vượt qua hàng nghìn trở ngại để tiến tới chủ nghĩa xã hội thắng lợi.

Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng chưa có tiền lệ nên ngoài những thành tựu to lớn đã giành được thì việc còn hạn chế, khuyết điểm là điều không thể tránh khỏi. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng trước đây và hiện nay, Đảng ta không giấu giếm sai lầm, khuyết điểm của mình, vì thế Đảng mới tồn tại, phát triển và được nhân dân tin tưởng. Nói như V.I.Lênin, cho dù Đảng có thể mắc sai lầm, khuyết điểm, chúng ta vẫn tin vào Đảng vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng là cao đẹp; vì những thành quả Đảng mang lại cho đất nước ta, dân tộc ta đã được lịch sử ghi nhận; vì con đường cách mạng là khó khăn, gian khổ, hy sinh. Chỉ khi nào Đảng không nhận thức được sai lầm, khuyết điểm, che dấu khuyết điểm, không kiên quyết khắc phục sai lầm, khuyết điểm thì khi đó Đảng tự đánh mất vai trò lãnh đạo của mình như Đảng Cộng sản Liên xô đã từng phạm phải.

Một trăm năm với bao vật đổi, sao rời, nhưng chân lý thì vẫn luôn được người đời thừa nhận, quan điểm của V.I.Lênin trong “Thư gửi công nhân Mỹ” vẫn như ngọn đèn pha soi sáng cho chúng ta trên con đường đi theo Đảng, tin theo Đảng làm cách mạng.

Thứ Hai, 7 tháng 9, 2020

THỰC CHẤT CỦA GIỌNG ĐIỆU ĐỀ NGHỊ THAY ĐỔI TÊN NƯỚC

Trước hết, về hệ quả lý luận, sự thay đổi tên nước như có người nêu sẽ dẫn đến “vênh” giữa nền tảng tư tưởng của Đảng ta (đó là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh) với mục tiêu đi lên xã hội XHCN. Cần lưu ý rằng mô hình kinh tế của xã hội Việt Nam hiện nay là mô hình “quá độ” lên xã hội XHCN. Nói cách khác về mặt logic, mô hình này chưa phải là mô hình XHCN.

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN THÀNH QUẢ CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

Cách mạng Tháng Tám giành thắng lợi cách đây 75 năm là dấu mốc lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt Nam thời hiện đại. Vậy mà, những phần tử cơ hội, xét lại trong và ngoài nước, đặc biệt cái gọi là đảng Việt Tân lại cố tình phủ nhận thành quả vĩ đại ấy của dân tộc ta. Chúng cho rằng “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sai lầm lịch sử”, “là đi ngược lại sự bảo hộ của mẫu quốc”, “là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam”... Đây là những luận điệu xuyên tạc trắng trợn của những kẻ thiếu lương tri... quên đi “vết nhơ” của lịch sử dân tộc ta đã phải chịu cảnh nô lệ, lầm than hơn 80 năm.

NHẬN DIỆN SỰ SAI LẦM DẪN ĐẾN PHẢN ĐỘNG VỀ CHÍNH TRỊ CỦA CÁI GỌI LÀ BẢN “GÓP Ý”

Với chủ nghĩa cộng sản. Họ đã quy kết chủ nghĩa cộng sản chỉ là “đấu tranh/ phân biệt”; và dám cả gan bịa ra rằng: “Đấu tranh giai cấp là một điều ngu ngốc”? Có thể thấy, trước hết ở đây là thể hiện sự kém hiểu biết về bản chất của chủ nghĩa cộng sản; sau là xuyên tạc tư tưởng và hành động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nghiên cứu Hồ Chí Minh toàn tập (bộ 15 tập), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2011, không có một dòng nào, chữ nào Chủ tịch Hồ Chí Minh viết và nói như họ dẫn dắt.

Thứ Hai, 18 tháng 5, 2020

“PHẢI CÓ TÌNH ĐỒNG CHÍ THƯƠNG YÊU LẪN NHAU”

Vì người đời không phải thánh thần, không ai tránh khỏi sai lầm, khuyết điểm, cho nên chúng ta không sợ khuyết điểm, chỉ sợ có lỗi mà không sửa, có lỗi mà giấu giếm, lừa cấp trên, chèn ép cấp dưới dẫn đến tự phê bình và phê bình hình thức, chung chung, vì sợ “mất uy tín”, “mất thể diện”. Tự phê bình và phê bình đúng sẽ “chẳng những không làm giảm thể diện và uy tín của cán bộ, của Đảng. Trái lại, còn làm cho sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn, thiết thực hơn, do đó mà uy tín và thể diện càng tăng thêm”… Do đó, để thực hiện lời căn dặn của Hồ Chí Minh về “thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình” và phải được tiến hành trên tinh thần “có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”, trong mọi hoàn cảnh, ở mọi cấp, mỗi tổ chức Đảng phải thường xuyên nhìn thẳng vào sự thật, phải “có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó” và “mỗi cán bộ, mỗi đảng viên hằng ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng”.

Thứ Ba, 4 tháng 2, 2020

ĐẢNG KHÔNG SỢ CÓ SAI LẦM VÀ KHUYẾT ĐIỂM, CHỈ SỢ KHÔNG CHỊU CỐ GẮNG SỬA CHỮA SAI LẦM VÀ KHUYẾT ĐIỂM

Đây là một đặc tính cách mạng của Đảng ta, là yếu tố căn bản, khiến cho Nhân dân ta mãi mãi tin yêu, đùm bọc, che chở và giao phó sứ mệnh lịch sử lãnh đạo đất nước cho Đảng. Thực tiễn trong 90 năm qua, có những lúc Đảng ta có những sai lầm, khuyết điểm, thậm chí có những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng do giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan. Nhưng mỗi lần như vậy, Đảng đã nghiêm túc nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, kịp thời “sửa đổi lối làm việc”, nêu cao tinh thần phê bình, tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chính đốn để củng cố niền tin đối với Nhân dân, tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng phát triển đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong từng thời kỳ lịch sử.

Thứ Hai, 18 tháng 2, 2019

NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG NHỮNG SAI LẦM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN TRONG QUÁ TRÌNH VẬN DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN HỌC THUYẾT MÁC – LÊNIN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Trên thực tế, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực, Đảng Cộng sản luôn luôn vận dụng và phát triển phong phú chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể nước mình. Trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân được kết tinh trong đường lối lãnh đạo chính trị của Đảng. Để biến đường lối thành hiện thực phải thông qua quá trình vận động cách mạng và tổ chức thực hiện, tổng kết thực tiễn, quá trình đó khó có thể tránh khỏi sai lầm khuyết điểm ở một khâu nào đó và các thế lực thù địch sẽ lợi dụng những sai lầm, khuyết điểm đó để tiến công Đảng Cộng sản theo thể thức tuyệt đối hoá sai lầm khuyết điểm, thổi phồng sai lầm khuyết điểm, rằng sai lầm khuyết điểm của một bộ phận cán bộ, đảng viên, một tổ chức đảng là sai lầm khuyết điểm của toàn Đảng; sai lầm ở một khâu nào đó trong quá trình tổ chức thực hiện đường lối, tổng kết thực tiễn hoặc sai lầm trong công tác cán bộ của Đảng thành sai lầm của toàn bộ đường lối của Đảng, thậm chí có kẻ còn lớn tiếng cho rằng đó là sai lầm của cả học thuyết, sai lầm thuộc về bản chất của chủ nghĩa xã hội và của Đảng Cộng sản. Đồng thời, chúng còn lợi dụng lỗ hổng trong việc sửa chữa khuyết điểm, sai lầm để phủ định sạch trơn quá khứ, phủ định những thành tựu vĩ đại của lịch sử nhằm gây hoang mang, gieo rắc hoài nghi trong nhân dân, lôi kéo cán bộ, đảng viên bất mãn thoái hoá, biến chất bổ sung vào đội ngũ phản động hòng chống Đảng, chống nhân dân.

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

"CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN LÀ NGOẠI LAI, BẮT NGUỒN TỪ PHƯƠNG TÂY NÊN KHÔNG CÒN PHÙ HỢP VỚI VIỆT NAM" - SỰ SAI LẦM TAI HẠI

Các thế lực thù địch đang điên cuồng bài bác, trương lên và tung hê các luận điệu rằng: “Học thuyết Mác là sản phẩm của giữa thế kỷ XIX, do vậy đem đặt nó trong bối cảnh, thế kỷ XXI nếu không lạc hậu, thì cũng chẳng thể là khoa học”; “Chủ nghĩa Mác - Lênin là ngoại lai, bắt nguồ n từ phương Tây nên không còn phù hợp với Việt Nam”. Nhưng, sự thật có phải như các thế lực thù địch của chủ nghĩa Mác - Lênin rêu rao như vậy không?
C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin không phải là những ông “thầy tiên tri của lịch sử” như một số người bôi nhọ. Các Ông là những nhà khoa học - những nhà cách mạng. Lý tưởng mà các Ông theo đuổi là khát vọng của nhân loại tiến bộ - con người được giải phóng hoàn toàn khỏi mọi ách áp bức bóc lột, được ấm no, tự do, hạnh phúc. Nói cách khác, lý luận của các ông chỉ giúp loài người lựa chọn điều cần và phải đi con đường dẫn tới xã hội không còn người bóc lột người, với những lực lượng tiên quyết, những điều kiện có tính chất cần và đủ. Thử hỏi điều đó, phương Đông, nơi khi mà chủ nghĩa thực dân đang còn giày xéo lên tất cả các dân tộc, dưới gót sắt nô dịch của chúng, có cần không hay chỉ phương Tây, nơi chính nhân dân lao động các nước tư bản chủ nghĩa đang bị giai cấp tư sản cầm tù, mới cần đến?
Sự cần thiết, sự phù hợp, vai trò cơ sở, nền tảng tư tưởng lý luận, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với lịch sử phát triển của cách mạng thế giới và Việt Nam, có thể khái quát ở những điểm chủ yếu dưới đây:
Thứ nhất, sự vận động, phát triển từ thời cổ đại đến nay của nhân loại và của lịch sử dân tộc Việt Nam là bằng chứng rõ ràng chứng tỏ rằng, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội (HTKTXH) của chủ nghĩa Mác - Lênin là khoa học, đúng đắn và phản ánh chính xác lịch sử vận động, phát triển tiến bộ của toàn thể nhân loại, trong đó có dân tộc Việt Nam.
Học thuyết đó đã chỉ rõ: Lịch sử phát triển của loài người là lịch sử phát triển và thay thế nhau của các HTKTXH, trong đó sự phát triển của các quan hệ sản xuất theo hướng tiến bộ là cơ sở hạ tầng, trên đó xây dựng nên kiến trúc thượng tầng thích hợp.
Lịch sử loài người đã và đang trải qua 5 HTKTXH. Đó là quy luật chung của sự phát triển xã hội loài người; còn mỗi quốc gia dân tộc có thể bỏ qua một hình thái nào đó trong điều kiện lịch sử của thời đại và dân tộc. Việt Nam bỏ qua sự phát triển HTKTXH chiếm hữu nô lệ và HTKTXH tư bản chủ nghĩa là một thực tế lịch sử khách quan không thể phủ nhận.
Thứ hai, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra quy luật khách quan của quá trình ra đời, phát triển của CNXH, CNCS; đồng thời cũng chỉ ra điều kiện chủ quan quyết định của quá trình đó là: lý luận tiên phong và Đảng tiên phong của giai cấp công nhân. Trong tác phẩm “Làm gì?”, V.I.Lênin đã khẳng định: “Không có lý luận cách mạng, thì không thể có phong trào cách mạng”, “chỉ đảng nào được một lý luận tiên phong soi đường thì mới làm tròn vai trò chiến sỹ tiên phong”
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện, giáo dục, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng chính trị, kim chỉ nam cho hành động cách mạng, là minh chứng thuyết phục nhất chứng tỏ rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin đã thực sự đóng vai trò lý luận dẫn đường cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Thứ ba, V.I.Lênin kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo học thuyết của C. Mác vào thực tiễn cách mạng ở Nga và thế giới, trên cơ sở đó đề ra học thuyết về cách mạng XHCN trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa.
Trên cơ sở những nghiên cứu, phân tích về CNĐQ, V.I.Lênin phát hiện ra. quy luật phát triển không đều về kinh tế và chính trị của CNTB trong thời kỳ CNĐQ và đi đến kết luận: cách mạng vô sản có thể thắng lợi ở một số nước hay thậm chí ở một nước riêng lẻ, nơi CNTB chưa phải là phát triển nhất, nhưng là khâu yếu nhất trong sợi dây chuyền TBCN. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đã chứng minh cho điều đó.
Thứ tư, những thành tựu có ý nghĩa lịch sử, mang tính bước ngoặt, đặc biệt là những thành tựu của gần 30 năm đổi mới mà Việt Nam đã đạt được, một phần rất quan trọng là do Đảng, Nhà nước ta đã vận dụng sáng tạo những tư tưởng, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, trong đó có Chính sách kinh tế mới (NEP) của V.I.Lênin trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
Thứ năm, sự vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin, cụ thể là NEP của Lênin vào hoàn cảnh, điều kiện Việt Nam được thể hiện đặc biệt rõ nét trong quan điểm, chủ trương của Đảng ta về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
Như vậy, với những phân tích trên đây thì không thể nói rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin là “xa lạ”, là “không phù hợp” với Việt Nam được.

Chủ Nhật, 8 tháng 10, 2017

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM SAI TRÁI: “VIỆT NAM LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ SAI LẦM LỊCH SỬ; NHÀ NƯỚC NÀO, CHẾ ĐỘ NÀO CŨNG ĐƯỢC MIỄN LÀ DÂN GIÀU, NƯỚC MẠNH”

(Tiếp)
Thứ ba, Việt Nam lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lựa chọn chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là phù hợp với điều kiện, khả năng, thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Việt Nam lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa không phải xuất phát từ sự áp đặt chủ quan mà đây là tổng hợp điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, kinh tế và chính trị, trong nước và quốc tế, phản ánh khát vọng của dân tộc. Sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa cũng là sự lựa chọn của chính lịch sử từ hơn 87 năm về trước. Năm 1930, khi những con đường cứu nước theo khuynh hướng tư sản, tiểu tư sản đều thất bại, Ðảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã nắm lấy ngọn cờ lãnh đạo cách mạng, đặt nền móng cho con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Ðông Nam châu Á. Với đại thắng mùa xuân năm 1975, nước ta giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Năm 1986, trong bối cảnh chủ nghĩa xã hội lâm vào khủng hoảng, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đứng trước nguy cơ tan rã và khủng hoảng kinh tế - xã hội trong nước kéo dài, Ðảng ta đã khởi xướng công cuộc đổi mới, tạo một bước ngoặt mang ý nghĩa cách mạng cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhờ công cuộc đổi mới hơn 30 năm qua, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, làm thay đổi căn bản bộ mặt đất nước, tạo ra thế và lực mới cho đất nước, nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế.
Có thể khẳng định rằng các sự kiện trong những năm 1930, 1945, 1954, 1975, 1986 đã trở thành những cột mốc lịch sử quan trọng cho sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa, tạo thành sợi dây lôgíc - lịch sử của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Dù trong hoàn cảnh nào, lúc thuận lợi hay khó khăn, kể cả khi trong tình thế “hiểm nghèo”, Ðảng ta vẫn không rời xa mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.  Lịch sử cận đại và hiện đại nước ta đã khẳng định, con đường cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại ngày nay do Ðảng Cộng sản chân chính lãnh đạo tất yếu đi lên chủ nghĩa xã hội. Ðộc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội, có như vậy độc lập dân tộc mới triệt để. Độc lập dân tộc tức là chống áp bức, bóc lột, mà muốn chống áp bức, bóc lột triệt để phải xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Với một dân tộc mà quá trình dựng nước luôn đi đôi giữ nước, đã hi sinh biết bao thế hệ, đã đánh đổ biết bao mồ hôi, nước mắt, xương máu mới giành được độc lập dân tộc, hơn ai hết, mỗi con người Việt Nam hiểu rõ được giá trị của độc lập, tự do. Tư bản chủ nghĩa là con đường đầy rẫy khuyết tật, là chế độ xã hội mà “máu và bùn nhơ rỉ ra từ tất cả các lỗ chân lông” (3), chúng ta không thể lựa chọn con đường đó. Hiện nay, khi đã giành được độc lập dân tộc, mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức, nhưng Việt Nam có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản - một Ðảng mácxít – lêninnít chân chính, sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đất nước hòa bình, ổn định; trên thế giới, “hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn” (4) – đó là nguồn nội và ngoại lực quan trọng để tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc đi lên chủ nghĩa xã hội.
Thứ tư, Việt Nam lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lựa chọn chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của thời đại hiện nay.
Thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi thế giới, được mở đầu bằng sự thắng lợi của cuộc cách mạng XHCN tháng Mười Nga 1917 và kết thúc khi xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản trên thế giới. “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc... Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tớ chủ nghĩa xã hội” (5). Sau sự sự đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô, Đông Âu, bọn cơ hội, phản động ra sức rêu rao về “sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội”, “chủ nghĩa xã hội đã bị chôn vùi một lần cho mãi mãi dưới bức tường Beclin đổ nát”… Thực ra, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu không phải là sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa nói chung, mà chỉ là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội không phù hợp – mô hình chủ nghĩa xã hội tập trung, quan liêu, bao cấp. Chủ nghĩa xã hội với những phẩm giá tốt đẹp vẫn là lý tưởng mà nhân loại tiến bộ đang hướng tới; những giá trị cao cả của nó vẫn trường tồn trong đời sống nhân loại. Sau “trận động đất chính trị” đó, các nước tiến theo con đường xã hội chủ nghĩa còn lại vẫn kiên định mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, một số nước tiến hành cải cách, đổi mới, giành được những thành tựu to lớn (đặc biệt là Việt Nam, Trung Quốc); phong trào cộng sản và công nhân quốc tế từng bước được phục hồi; phong trào “cánh tả” ở Tây Âu và có bước phát triển mới, phong trào “chủ nghĩa xã hội thế kỷ 21” nổi lên ở nhiều nước Mỹ La-tinh... chứng minh sức sống của chủ nghĩa xã hội.
Hiện nay, chủ nghĩa tư bản là một chế độ xã hội đã lỗi thời về mặt lịch sử, song vẫn còn tiềm năng phát triển, nhất là về kinh tế, nhờ ứng dụng những thành tựu mới của khoa học và công nghệ, cải tiến phương pháp quản lý, thay đổi cơ cấu sản xuất, điều chỉnh các hình thức sở hữu và chính sách xã hội. Tuy vậy, những mâu thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa - được biểu hiện thành mâu thuẫn giữa tư bản và lao động - chẳng những không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc... Chủ nghĩa tư bản trong quá trình tồn tại của mình đã trải qua nhiều cuộc khủng hoảng và suy thoái, gây ra nhiều tội ác cho loài người (chiến tranh, khủng bố, phân biệt chủng tộc...). Ðặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, sau cuộc khủng hoảng nợ công (2010), chủ nghĩa tư bản đang phải đối mặt với nhiều vấn đề nhức nhối: sự chia rẽ trong nội bộ EU dẫn tới Brexit, cuộc khủng hoảng làn sóng người di cư tại Châu Âu, sự sa lầy trong các cuộc can dự vũ trang ở Trung Đông, Bắc Phi... Chủ nghĩa tư bản hiện đại về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công, nó không thể tự giải quyết được những mâu thuẫn cơ bản, vốn có của nó. Muốn giải quyết được mâu thuẫn đó, phải thay thế chủ nghĩa tư bản bằng một chế độ xã hội tiến bộ hơn, nhân văn hơn – đó là chủ nghĩa xã hội.

Như vậy, với góc độ tiếp cận toàn diện về lôgíc – lịch sử, lý luận – thực tiễn, xu thế thời đại, vận hội – thách thức của dân tộc, luận điểm “Việt Nam lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là sai lầm lịch sử; nhà nước nào, chế độ nào cũng được, miễn là dân giàu, nước mạnh” hoàn toàn phi lịch sử, mơ hồ và sai trái. Con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, xây dựng chế độ chính trị, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay là sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp xu hướng phát triển khách quan của lịch sử và các giá trị nhân văn cao đẹp của nhân loại. Để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, toàn đảng, toàn dân và toàn quân phải kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định đường lối đổi mới, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình”, xây dựng thành công xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Thứ Năm, 18 tháng 8, 2016

Phải chăng có “Những điều không thể hiểu nổi?”

Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, rất chú trọng phát huy tính ưu việt của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa và coi đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển đất nước. Đảng, Nhà nước ta luôn chú trọng thực hiện phương châm dân biết, dân bàn, dân làm và dân kiểm tra, công khai minh bạch các vấn đề xã hội. Đảng, Nhà nước ta không bao giờ bao che cho các hành vi tham ô, tham nhũng, có hành vi làm trái với pháp luật và làm tổn hại đến tài sản của đất nước, niềm tin của nhân dân. Những vụ việc tham ô, tham nhũng, hai máy bay Su – 30 MK2 và CaSa - 12 của Quân chủng PK-KQ gặp nạn trên biển và việc Tập đoàn Formosa xả chất thải gây ô nhiễm ven biển miền Trung, đều được Đảng, Nhà nước chỉ đạo giải quyết kịp thời, công khai nguyên nhân của vụ việc để nhân dân cùng chia sẻ và cùng giải quyết. Mặc dù, Đảng, Nhà nước ta đã công khai minh bạch, chính xác, kịp thời về nguyên nhân của hai máy bay Su - 30 MK2 và CaSa - 12 của Quân chủng PK-KQ gặp nạn trên biển và việc Tập đoàn Formosa xả chất thải gây ô nhiễm ven biển miền Trung trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng. Mặc dù vậy, trong thời gian qua vẫn có không ít các đối tượng phản động, chống đối cực đoan đã tán phát nhiều bài viết có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc sự thật, chống lại Đảng, Nhà nước ta. Có những kẻ từ bỏ quê hương, từ bỏ đồng bào, từ bỏ Tổ quốc, đang sống lưu vong ở nước ngoài, sống bằng nghề  bồi bút lớn tiếng cho rằng  “ Những điều không thể hiểu nổi”? Phải chăng do ông ta cố ý hay do xa Tổ quốc thiếu thông tin hay lợi dụng vụ việc đó để cố tình vu khống cho Đảng, Nhà nước ta không dân chủ, không minh bạch, không giải trình một số vụ việc cho nhân dân biết...để tiếp tục bài ca không có gì xa lạ là “Đảng độc quyền lãnh đạo thì không có dân chủ”?
Lịch sử của xã hội loài người cho thấy có nhiều thuộc tính để đánh giá trình độ dân chủ của một chế độ xã hội, trong đó tính minh bạch và giải trình là một thuộc tính quan trọng. Trong thực hiện chế độ dân chủ ở các nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay rất chú trọng tính minh bạch, vì đó là sự thể hiện mối quan hệ giữa giai cấp công nhân cầm quyền thông qua vai trò lãnh đạo của chính Đảng, quản lý của Nhà nước với nhân dân. Không phải đến bây giờ mới xuất hiện tính minh bạch mà nó xuất hiện rất sớm, song nó cũng không phải là thuộc tính cố hữu của bất cứ xã hội nào, nhất là trong các xã hội người bóc lột người trước đây và kể cả trong xã hội tư bản chủ nghĩa hiện nay.
Theo tiếng Việt nên hiểu Minh bạch, xét dưới góc độ hành động là động từ, dùng để chỉ những hành động thể hiện sự rõ ràng, rành mạch trong bất cứ công việc nào. “Minh bạch - rõ ràng”; còn xét dưới tính chất của sự việc, trạng thái của hành động thì minh bạch còn là tính từ, trạng từ, với nguyên gốc của từng từ cụ thể có thể hiểu: minh là sáng; bạch là trắng; theo đó, minh bạch cũng được hiểu với tính chất là rõ ràng. Theo tiếng Việt phổ thông: “Minh bạch. Rõ ràng, rành mạch”. Những từ đồng nghĩa với minh bạch được thừa nhận là rành mạch, sáng tỏ; còn những từ trái nghĩa cùng được hiểu một cách thống nhất là: ám muội, bất minh, khuất tất, mờ ám. Tiếng Anh, còn có các từ: clear transparent với đồng nghĩa chỉ tính chất của sự việc, hành động là trong suốt, dễ hiểu, dễ nhận thấy rõ, minh bạch...
Giải trình, trước hết theo cách hiểu thông thường thì giải trìnhgiải thích, trình bày nhằm làm sáng rõ một vấn đề gì. Trong tiếng Anh cỏ từ: Explain với nghĩa là giải thích, thanh minh. Còn trong tiếng Việt, nghĩa của “Giải trình. Trình bày, giải thích, thuyết minh”... Như vậy, giải trình được hiểu với các từ nguyên nghĩa là trình bày, giải thích, nói rõ, thuyết minh, làm sáng rõ một vấn đề gì đó.
Thực tế diễn ra hai máy bay Su - 30 MK2 và CaSa - 12 của Quân chủng PK-KQ gặp nạn trên biển và việc Tập đoàn Formosa xả chất thải gây ô nhiễm ven biển miền Trung là điều mỗi người dân yêu nước không ai muốn để xảy ra. Đảng, Nhà nước ta, các cơ quan chức năng đã công khai minh bạch nguyên nhân vụ việc trên các phương tiện thông tin đại chúng, huy động mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước để khắc phục hậu quả, hỗ trợ và chia sẻ những mất mát cho những quân nhân bị nạn, ngư dân miền Trung. Hiện nay các cơ quan chức năng từ Trung ương đến các địa phương tiếp tục kiểm điểm làm rõ trách nhiệm của mỗi cấp, mỗi ngành để rút ra những bài học kinh nghiệm, không để tái diễn những vụ việc tương tự. Đại diện cho Tập đoàn Formosa xả chất thải gây ô nhiễm ven biển miền Trung đã xin lỗi Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân ta, cũng đã nhận rõ trách nhiệm của mình và xin bồi thường 500 triệu USD. Ngoài ra các tổ chức chính trị - xã hội, những nhà hảo tâm đã phát huy truyền thống dân tộc “thương người như thể thương thân” đã có nhiều hoạt động quyên góp tiền, gạo để giúp đỡ đông bào ven biển miền Trung và những quân nhân bị nạn.
 Đảng, Nhà nước ta có minh bạch và giải trình công khai những vụ việc đã xảy ra trên các phương tiện thông tin nên đã thu hút được sự quan tâm chia sẻ của đồng bào trong nước và ngoài nước; đồng thời đó cũng là một trong những minh chứng của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang phát huy tối đa những thuộc tính dân chủ xã hội theo phương châm là của dân, do dân và vì dân mà thường gọi là chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đây là một chế độ xã hội mà ý Đảng, lòng dân luôn phấn đấu hướng tới và nó khác về chất so với những xã hội còn có sự bóc lột người, đặc biệt là xã hội tư bản chủ nghĩa. Điều căn bản nhất quy định mức độ phát triển của các thuộc tính minh bạch và giải trình lại chính là sự phát triển của nền kinh tế dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Song cùng với sự phát triển của kinh tế, nhu cầu đầu tiên của đời sống xã hội sẽ kéo theo những tập quán, thói quen về minh bạch và giải trình, đòi hỏi sự phát triển thích ứng và tương thích của hệ thống luật pháp. Luật pháp định hình và được thực thi một cách nghiêm minh, thường xuyên, liên tục lại là điều kiện để minh bạch và giải trình trở thành nếp sống và văn hóa luật pháp của chế độ xã hội đó. Mặc dù là độc Đảng nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn lắng nghe ý kiến của nhân dân và vì nhân dân, thường xuyên quan tâm công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng để thực sự vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức; đáp ứng ngang tầm đòi hỏi của nhiệm vụ lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Đảng Cộng sản Việt Nam là một mẫu mực thực hành dân chủ trong sinh hoạt Đảng, lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đồng bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội để từng bước thực hiện mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh” ./.
                                                                       

Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2016

CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG THÔNG TIN XẤU, XUYÊN TẠC VỀ CUỘC BẦU CỬ QUỐC HỘI KHÓA XIV VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2016-2021


Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, sẽ được tổ chức vào ch nhật (ngày 22/5/2016). Đây là một ngày hội lớn của toàn dân – ngày mà cử tri cả nước thực hiện quyền cao cả là bầu cử để lựa chọn ra các đại biểu có đủ phẩm chất, năng lực, để tham gia đảm nhiệm có hiệu quả đến công việc của đất nước, của cấp trung ương đến các địa phương. Tuy nhiên, gần đây, trên internet xuất hiện nhiều trang mạng núp bóng “truyền thông xã hội”, đưa tin, giật tít rầm rộ, như “giúp phổ biến kiến thức cho người tự ứng cử và cử tri”, “thúc đẩy quá trình dân chủ hóa”, “cung cấp các thông tin hữu ích về ứng cử, bầu cử dành cho các ứng viên tự do và cử tri”... Thực tế nội dung của các bài viết trên là những thông tin mang tính chủ quan cá nhân, thông tin không đúng sự thật... Như một phản ứng dây chuyền, có kịch bản từ trước, một số trang mạng và báo, đài hải ngoại của tổ chức phản động nước ngoài (Đối thoại, Đàn chim Việt, RFI, RFA..., đã từng đăng tải các tin bài xuyên tạc về Đại hội lần thứ XII của Đảng), tăng cường đăng tải những bài viết có nội dung sai trái, xuyên tạc về cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021.
          Một số người tự cho là “cấp tiến”, “yêu nước”, đã hô hào vận động tranh cử trên mạng, có nhóm lập facebook “Vận động ứng cử đại biểu Quốc hội 2016” nhưng hoạt động như một tờ báo điện tử, ngang nhiên cử người xưng là “phóng viên” đi phỏng vấn, viết bài “đánh bóng”, lăng xê một số người tự ứng cử thuộc nhóm “xã hội dân sự”. Các cá nhân này đã vi phạm các quy định của pháp luật: điều 20, Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý hoạt động thông tin điện tử trên internet; điều 65, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân: Về hình thức vận động bầu cử, có hai hình thức: Gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri tại hội nghị tiếp xúc cử tri ở địa phương nơi mình ứng cử và thông qua phương tiện thông tin đại chúng (được quy định tại điều 67 của Luật này).
          Một s trang mạng và đài, báo nước ngoài đưa ra các luận điệu xuyên tạc: “Cuộc bầu cử này là không chính danh, chỉ là hội nghị Đảng Cộng sản mở rộng”. Họ bày tỏ rõ ý định phá hoại cuộc bầu cử, “Hãy tranh cử để ít nhất là làm cho Đảng phải mệt hơn, tốn tiền đối phó”(!). Trên trang của cái gọi là “Hội nhà báo độc lập Việt Nam” họ phát động “thảo luận đầu xuân” về tự ứng cử đại biểu Quốc hội và đưa ra tuyên bố yêu cầu “xóa cơ chế Đảng cử, dân bầu”...Thực tế chứng minh, chính những người đưa ra các luận điệu trên đã quên mất rằng, mỗi quốc gia có một thể chế chính trị khác nhau và ở Việt Nam, việc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cuộc bầu cử đã được hiển định rõ ràng trong điểm 1, điều 4, Hiến pháp năm 2013 “Đảng Cộng sàn Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.
Thông qua việc tự ứng cử đại biểu Quốc hội ở một số các khóa gần đây cho thấy, tại kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII (năm 2007) có 30 người tự ứng cử, Quốc hội khóa XIII (năm 2011) có 82 người tự ứng cử. Số người tự ứng cử được lọt vào vòng chính thức để kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII (18%) cao hơn kỳ Quốc hội khóa XII (12%). Đáng chú ý là, có người 2 lần liền tự ứng cử đại biểu Quốc hội đều trúng. Tại kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV này, cả nước đã có 154 người tự ứng cử, tăng nhiều hơn so với các nhiệm kỳ trước. Điều đó đã bác bỏ một số ý kiến quy chụp cho rằng, bầu cử đại biểu Quốc hội ở Việt Nam chỉ là sân chơi “độc diễn” của Đảng, không có cửa cho các ứng cử viên tự đo (!).
        Trong thời gian gần đây, trên mạng xã hội và đài, báo nước ngoài xuất hiện nhiều thông tin về việc những người tự ứng cử bị “gây khó dễ”, “phân biệt đối x; thậm chí có người còn cho rằng “đang có một chiến dịch “tẩy chay”, “đấu tố” những người tự ứng cử”... Vậy, sự thực là gì? Một số cá nhân tự ứng cử đại biểu Quốc hội khỏa XIV kỳ này mà họ muốn tham gia, có người là thành viên Đảng Dân chủ Việt Tân, đã tham gia phiên điều trần tại Hạ viện Mỹ; và đã tụ tập đông người trái pháp luật (vi phạm Nghị định số 08/2005/NĐ-CP ngày 18-3-2005 của Chính phủ)... Ngoài ra, còn có người tự ứng cử có nhiều phát ngôn, bài viết trên mạng xã hội có nội dung thiếu văn hóa, phản cảm, cổ vũ các đối tượng nhân danh và lợi dụng bảo vệ chủ quyền biển, đảo, bảo vệ môi trường… tụ tập đông người gây rối nơi công cộng. Việc làm của họ được chính quyền nơi cu trú ghi nhận xét vào lý lịch, được nhân dân nơi cư trù đóng góp, phê bình và không tín nhiệm, không thể coi là bị phân biệt đối xử, bị đấu tố.
Cần phải khẳng định rằng, tiến trình bầu cử Quốc hội ở nước ta tuân thủ một quy trình chặt chẽ, dân chủ, bình đẳng, khách quan, với tinh thần “thượng tôn pháp luật”. Thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn bầu cử của Bộ chính trị (khóa XI), thủ tướng Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các ban ngành, đoàn thể Trung ương… đến nay, công tác chuẩn bị cho cuộc bầu cử đã hoàn tất, đảm bảo đúng tiến độ, tuân thủ chặt chẽ quy định của pháp luật. Sau khi kết thúc ba vòng hiệp thương, ngày 26/4/2016, Văn phòng Quốc hội đã họp báo công bố danh sách 870 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIV. Trong đó, đại biểu do Trung ương chiếm tỷ lệ 38,97%; 204 người dân tộc thiểu số, chiếm 23,34%; 268 người dưới 40 tuổi, chiếm 30,80%; 97 người ngoài Đảng chiếm 11,155; 11 người tự ứng cử.
Niềm vui của toàn Đảng, toàn dân ta trên khắp mọi miền Tổ quốc, không khí náo nức đợi chờ ngày hội lớn đã thể hiện, lan tỏa trong mỗi người dân Việt Nam. Thành công của cuộc bầu cử sẽ tạo cơ sở vững chắc để nhân dân ta tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng thời, đó cũng là bằng chứng thuyết phục nhất để bác bỏ các luận điểm sai trái, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng ta có thể thấy rằng, trong thời gian trước ngày bầu cử và sau bầu cử, các thể lực thù địch sẽ vẫn tiếp tục xuyên tạc chống phá cuộc bầu cử với nhiều hình thức, thủ đoạn… với tinh thần cảnh giác và kiên quyết của mỗi người dân Việt Nam thì những âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch sẽ bị vạch trần và không thể thực hiện được mưu đồ xấu xa của chúng. Thực tế cho chúng ta thấy, với lịch sử 70 năm phát triển và không ngừng hoàn thiện, Quốc hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng với kỳ vọng của nhân ta. Qua XIV lần bầu cử đã diễn ra trong lịch sử dân tộc, luôn thể hiện sự tôn trọng quyền tự do dân chủ của mỗi cử tri, các quy trình theo đúng luật pháp; do vậy, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 tất yếu thành công tốt đẹp, là một bước tiến để đi đến mục tiêu: dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2015

Tại sao các quan điểm sai trái phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân?

Nhận diện và đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái không chỉ là trách nhiệm của Đảng ta mà cũng là trách nhiệm chung của các đảng cộng sản và công nhân quốc tế, của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và lực lượng yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên toàn thế giới. Đồng thời, còn là trách nhiệm của mỗi cán bộ đảng viên, của mỗi nhà khoa học và mỗi giảng viên làm công tác giảng dạy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh…Để thực hiện tốt trọng trách này, vấn đề nhận diện các loại quan điểm sai trái là hết sức cần thiết, do vậy chúng ta cần nắm vững một số luận điểm chủ yếu mà các thế lực thù địch đang tiến hành hiện nay, đó là: 
Tiến công, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin trong giai đoạn hiện nay: Các thế lực thù địch, chống cộng đang ra sức phê phán, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, hòng làm lung lay nền tảng tư tưởng và tạo ra một khoảng trống trong trận địa tư tưởng và để thay vào đó là hệ tư tưởng tư sản. Chúng tung ra đủ các luận điệu nhằm bác bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam. Ví dụ chúng đã lớn tiếng cho rằng, do du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam nên dẫn đến sai lầm lịch sử là diễn ra hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Hậu quả của hai cuộc kháng chiến đó làm cho đất nước bị kiệt quệ về kinh, tổn thất về con người và làm cho đất nước nghèo nàn kéo dài. Hoặc có luận điểm cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin là tư tưởng ngoại lai, xa lạ với truyền thống dân tộc; lý luận Mác - Lênin chỉ giải quyết vấn đề đấu tranh giai cấp, còn tư tưởng Hồ Chí Minh giải quyết đấu tranh dân tộc thuần túy nên nó đối lập nhau và không phù hợp với Việt Nam. Để phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng  còn cho rằng tội lớn nhất của Hồ Chí Minh là du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin với học thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh “nồi da nấu thịt” suốt mấy chục năm.
 Tiến công phủ định các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng đã cho rằng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội chỉ là một lý thuyết về chủ nghĩa xã hội không tưởng không bao giờ thực hiện được. Sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu là một tất yếu được dự báo trước; chủ nghĩa xã hội chỉ là một dạng xã hội đề cao chủ nghĩa cá nhân – xã hội tạo điều kiện cho những tư sản đỏ nắm quyền lãnh đạo xã hội nên bên ngoài thì đỏ nhưng bên trong đã đổi màu theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.

Về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân: Chúng cho rằng, giai cấp công nhân chỉ là những người có học vấn thấp, những lãnh tụ của giai cấp công nhân cũng thường có trình độ văn hóa không cao, lại được “đào luyện trong một môi trường đấu tranh giai cấp”, cho nên giỏi lắm cũng chỉ có thể lật đổ chế độ cũ, chứ không thể lãnh đạo toàn dân xây dựng được một xã hội mới tốt đẹp, nhất là trong thời đại khoa học phát triển. Họ lập luận: “… nếu như giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là “người đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản” xây dựng một xã hội mới thì tại sao ở những nước tư bản phát triển có lực lượng công nhân rất đông, chất lượng cao lại không thực hiện vai trò lịch sử của mình? Đảng Cộng sản Việt Nam không thể gọi là đảng của giai cấp công nhân được, vì nó có số lượng rất ít công nhân là đảng viên nên mang đậm bản chất giai cấp nông dân, chịu ảnh hưởng nặng nề của chủ nghĩa phong kiến. Với những điều kiện như vậy, giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản Việt Nam không thể lãnh đạo, xây dựng được chủ nghĩa xã hội đích thực ở Việt Nam...”.

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2015

Đảng cộng sản Việt Nam tại sao phải kiên trì bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh?

Đây là trách nhiệm, là sứ mệnh lịch sử trọng đại của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay, mà thông qua vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam phải ra sức đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đảng ta đã xác định rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ bản chất cách mạng khoa học của chủ nghĩa  Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đấu tranh chống lại các luận điệu, quan điểm phủ nhận, xuyên tạc và phản động nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một trong ba mặt công tác chính như giáo dục, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để nó thực sự trở thành nền tảng tư tưởng, tinh thần của toàn xã hội; nghiên cứu bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho theo kịp sự phát triển của đời sống xã hội; đấu tranh tư tưởng, lý luận nhằm chống lại những quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa  Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, góp phần giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội, xây dựng và bảo vệ thành công Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Trong bối cảnh hiện nay, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mang tính cấp bách, liên quan trực tiếp đến sự sống còn của chế độ, của dân tộc. Điều đó do các lý do cơ bản sau đây quy định: Thứ nhất, từ vai trò quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Nền tảng tư tưởng có vững thì mới có đường lối chính trị, công tác tổ chức, cán bộ đúng, mới thực hiện được công cuộc đổi mới. Thứ hai, việc giảng dạy, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời gian qua dù có những thành tựu nhưng cũng còn nhiều hạn chế, bất cập, kém hiệu quả. Thứ ba, việc nghiên cứu, bổ sung phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh còn nhiều bất cập, chưa góp phần giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra bức bách để phát triển đất nước, nhiều vấn đề thực tiễn chưa có câu trả lời lý luận thỏa đáng. Thứ tư, hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch điên cuồng tiến công chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, làm cho Đảng ta “biến chất” chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Thứ năm, thực tiễn xây dựng, bảo vệ Tổ quốc ta hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề rất mới đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, để nó thực sự theo kịp đòi hỏi của cuộc sống mới, công cuộc xây dựng xã hội mới.  Việc bác bỏ những luận điệu thù địch, sai trái  trên lĩnh  vực tư tưởng lý luận, bội nhọ quan điểm, đường lối của đảng góp phần làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Củng cố sự thống nhất về tư tưởng trong đảng, sự đồng thuận trong xã hội, là một trong những nhiệm vụ trọng yếu trong công tác tư tưởng, lý luận của đảng hiện nay.