Hiển thị các bài đăng có nhãn đổi mới. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đổi mới. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 1 tháng 4, 2023

TIẾP TỤC ĐỔI MỚI, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU GIAI ĐOẠN MỚI.

 

Ngày 30/3, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chủ trì cuộc họp Bộ Chính trị, Ban Bí thư cho ý kiến về Đề án Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 15, ngày 10/6/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 (Nghị quyết Trung ương 5 khóa XI).

Sau khi nghe đại diện lãnh đạo Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án trình bày nội dung Tờ trình, Bộ Chính trị thảo luận và cho rằng, hơn 35 năm đổi mới, nhất là trong 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa XI, đổi mới và phát triển chính sách xã hội là chủ trương xuyên suốt và nhất quán của Đảng, Nhà nước ta với tinh thần tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Việc triển khai có hiệu quả các chính sách xã hội, bảo đảm an sinh xã hội cho người dân đã góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; đồng thời mang lại những thành tựu to lớn trong tiến bộ, công bằng xã hội. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt, khẳng định tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng,...

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn một số hạn chế, như: chính sách xã hội còn thiếu tính bao trùm, thiếu liên kết giữa các chính sách trong tổ chức thực hiện, tỷ lệ bao phủ thấp. Chênh lệch mức sống giữa vùng miền, nhóm đối tượng còn lớn, kết quả giảm nghèo chưa bền vững, chuẩn nghèo và chuẩn trợ cấp còn thấp. Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, bảo hiểm xã hội còn thấp và chưa thật sự hấp dẫn người lao động. Chất lượng dịch vụ y tế cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu; hệ thống cung cấp dịch vụ xã hội phát triển chậm; đầu tư chính sách xã hội còn có mặt chưa hiệu quả...

Bộ Chính trị khẳng định, việc tiếp tục đổi mới, phát huy hiệu quả chính sách xã hội là nhiệm vụ chiến lược, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, góp phần bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội cho nhân dân và tạo điều kiện để nhân dân tham gia và thụ hưởng ngày một tốt hơn thành quả của phát triển. Việc xây dựng và thực hiện chính sách xã hội phải đặt trong tổng thể quản lý phát triển xã hội bền vững; giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, bảo đảm tính bền vững trong các chính sách xã hội nhất là phúc lợi xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người.

Đầu tư cho thực hiện các mục tiêu chính sách xã hội phải phù hợp khả năng nền kinh tế và yêu cầu hiện thực hóa các mục tiêu chính sách xã hội, trong đó nguồn lực nhà nước đóng vai trò chủ đạo cùng các nguồn lực quan trọng của doanh nghiệp, xã hội và đóng góp của người dân; kết hợp nội lực với ngoại lực thông qua hợp tác quốc tế. Xây dựng và hoàn thiện chính sách xã hội phải toàn diện, hiện đại, bao trùm, bền vững, lấy con người làm trung tâm, là chủ thể, mục tiêu, động lực, nguồn lực để phát triển.

Việc thực hiện chính sách xã hội phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý chặt chẽ, hiệu quả của Nhà nước, sự giám sát thường xuyên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị-xã hội, sự tham gia tích cực của người dân, doanh nghiệp. Khơi dậy khát vọng phát triển, phát huy truyền thống tương thân, tương ái; tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, ý chí tự lực, tự cường của nhân dân trong giải quyết các vấn đề xã hội. Bộ Chính trị giao cho Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tiếp thu ý kiến của Bộ Chính trị và các cơ quan liên quan để hoàn thiện Đề án báo cáo Bộ Chính trị trình Hội nghị Trung ương 7 khóa XIII.

 

 

 

 

 

 

Thứ Tư, 15 tháng 3, 2023

ĐỔI MỚI HÌNH THỨC ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

        Cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong thời đại công nghệ số hiện nay đang gặp nhiều khó khăn, phức tạp. Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” được hình thành trên cơ sở tổng kết thực tiễn gần 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Nghị quyết số 35-NQ/TW nêu rõ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp, của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.

Đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị là một trong những nội dung trong 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 được Đảng ta xác định trong Văn kiện Đại hội XIII. Việc tăng cường, đẩy mạnh các biện pháp đấu tranh chống các luận điệu sai trái, xuyên tạc không chỉ nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ và sự ổn định của đất nước mà còn nhằm bảo vệ uy tín, hình ảnh Việt Nam trong bối cảnh hội nhập.

Thực tế, những quan điểm thù địch, xuyên tạc bản chất của Nhà nước Việt Nam XHCN hướng tới mục tiêu làm thay đổi bản chất dân chủ của Nhà nước, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nhằm làm chệch hướng. Bên cạnh các quy định của pháp luật, các biện pháp quản lý không gian mạng từ cơ quan có thẩm quyền thì vai trò của dư luận xã hội trong việc định hướng và điều chỉnh hành vi đạo đức của con người thông qua cơ chế giám sát cũng hết sức cần thiết. Cần nâng cao bản lĩnh, năng lực dự báo, định hướng, đảm bảo sự lãnh đạo tập trung, thống nhất để phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, nhất là sức mạnh tổng hợp của các “binh chủng” công tác tư tưởng để thực hiện thắng lợi đồng thời cả hai mục tiêu: Bảo vệ, phát triển, vận dụng sáng tạo nền tảng tư tưởng và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền nhằm nâng cao trách nhiệm của người sử dụng mạng internet, nâng cao khả năng nhận thức và năng lực tự sàng lọc thông tin của người dân và cộng đồng, hình thành thói quen hành xử tích cực trên môi trường mạng. Đây là giải pháp có ý nghĩa then chốt và lâu dài để mỗi người dân trở thành bộ lọc thông tin hiệu quả cho chính mình và cộng đồng. Mỗi người khi sử dụng mạng internet cần đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện rõ âm mưu, bản chất của các thế lực thù địch để không tin, không bị lôi kéo, dẫn dắt trước các thông tin xấu, độc./.


Thứ Năm, 1 tháng 12, 2022

FRIEDRICH ENGELS VỚI DỰ BÁO THIÊN TÀI VỀ VẤN ĐỀ QUỐC TẾ HÓA ĐỜI SỐNG MỌI MẶT CỦA XÃ HỘI

Friedrich Engels sinh ngày 28-11-1820 ở thành phố Barmen, tỉnh Rhein, Vương quốc Phổ (nay là nước Đức), trong một gia đình chủ xưởng dệt.

Ông là nhà lý luận chính trị, một triết gia và nhà khoa học nổi tiếng thế kỷ 19. Tên tuổi và sự nghiệp cách mạng của Engels gắn liền và trở thành sự nghiệp chung với Karl Marx, nhưng ông chỉ tự nhận mình là “một cây vĩ cầm thứ hai, bên cạnh Marx”.

Với bộ óc thiên tài, trái tim nhân hậu và đức tính khiêm nhường, Engels đã để lại cho nhân loại một kho tàng lý luận về chiến lược và sách lược đấu tranh của giai cấp vô sản thế giới. Đồng thời, ông còn để lại những di sản tư tưởng, lý luận về khoa học dự báo mang tính “vạch thời đại”, trong đó có dự báo vấn đề quốc tế hóa đời sống mọi mặt của xã hội, mà dấu ấn sâu sắc ngày nay đó là quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra rất mạnh mẽ trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Sinh thời, Engels đã cùng với Marx dày công nghiên cứu thực tiễn xã hội tư bản, tổng kết lý luận, hợp sức viết và công bố các tác phẩm lý luận nổi tiếng như: “Gia đình thần thánh”, “Hệ tư tưởng Đức”, “Chống Duhring”, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”... Những tác phẩm đó đã góp phần quan trọng tạo nên bước ngoặt cách mạng trong lịch sử tư tưởng nhân loại với việc xây dựng và phát triển một thế giới quan triết học mới: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (1848), mà dấu ấn của Engels “không thể phai mờ”, có nội dung nêu rõ: “Vì luôn luôn bị thúc đẩy bởi nhu cầu về những nơi tiêu thụ sản phẩm, giai cấp tư sản xâm lấn khắp hoàn cầu. Nó phải xâm nhập vào khắp nơi, trụ lại ở khắp nơi và thiết lập những mối liên hệ ở khắp nơi. Do bóp nặn thị trường thế giới, giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng của tất cả các nước mang tính chất thế giới”. Tuy các nhà kinh điển mác-xít chưa trực tiếp sử dụng khái niệm “quốc tế hóa” mà sử dụng thuật ngữ “mang tính chất thế giới” nhưng vấn đề này được các ông luận giải thấu đáo và sâu sắc trên quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử, đó là: Khi con người, công cụ sản xuất và tổng thể các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất phát triển vượt quá ranh giới của một quốc gia-dân tộc, chính là lúc xuất hiện nhu cầu xã hội hóa mọi mặt đời sống xã hội. Đến một mức độ nhất định, xã hội hóa trở thành xu thế khách quan, thành tiền đề, điều kiện để lực lượng sản xuất phát triển. “Đại công nghiệp tạo ra thị trường toàn thế giới”, cho nên xã hội hóa là sản phẩm của nền văn minh nhân loại, không phải chỉ riêng có ở chủ nghĩa tư bản.

Theo tư tưởng của Engels, khi vấn đề kinh tế (rộng hơn là sản xuất vật chất) đã được quốc tế hóa thì tất yếu dẫn đến xu hướng quốc tế hóa các lĩnh vực khác của đời sống xã hội; đồng thời làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Không một quốc gia, dân tộc nào có thể đứng ngoài những xu hướng quốc tế hóa mang tính tất yếu, khách quan đó. Trong xu hướng quốc tế hóa của nhân loại, Engels luôn đặt con người ở vị trí trung tâm của sự phát triển xã hội, được chứng minh bằng luận điểm nổi tiếng: “... trong một hệ thống những quốc gia độc lập, quan hệ với nhau trên một cơ sở bình đẳng và ở vào một trình độ phát triển tư sản xấp xỉ ngang nhau, cho nên lẽ dĩ nhiên là yêu sách về bình đẳng phải mang một tính chất chung, vượt ra ngoài ranh giới của một quốc gia riêng biệt, là tự do và bình đẳng phải được tuyên bố là những quyền của con người”. Như vậy, quyền bình đẳng giữa các quốc gia, dân tộc, giữa các màu da, chủng tộc gắn với tự do của con người và không chỉ dừng lại ở một quốc gia mà mang tính quốc tế, tính nhân loại, tính phổ biến, là một trong những quyền cơ bản của con người, của các dân tộc trên thế giới.

Hiện nay, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trên thế giới đang phát triển mạnh mẽ với những đột phá lớn. Từ “kinh tế tri thức” đến “kinh tế số”, “xã hội số” đang trở thành cái đích mà nhiều quốc gia-dân tộc trên thế giới phải đến, đã đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa đời sống mọi mặt của xã hội, làm tăng mối liên kết, hợp tác và phát triển giữa các nước. Đó chính là hệ quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất và xã hội hóa sản xuất trên phạm vi toàn thế giới, điều mà Engels đã tiên đoán.

Việt Nam là một bộ phận không tách rời trong cộng đồng thế giới, cho nên tất yếu phải hội nhập vào xu thế quốc tế hóa đời sống mọi mặt của xã hội. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế-bước phát triển cao của quốc tế hóa-đã, đang và tiếp tục trở thành xu thế chung của toàn nhân loại hiện nay.

Vì vậy, trên cơ sở tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nêu rõ: “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia-dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia. Gắn kết chặt chẽ quá trình chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng với việc nâng cao sức mạnh tổng hợp, huy động tiềm năng của toàn xã hội; đổi mới, hoàn thiện thể chế trong nước, nâng cao năng lực tự chủ, cạnh tranh và khả năng thích ứng của đất nước”. Trong bối cảnh tình hình thế giới hiện nay, việc “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” ở nước ta cần thấu triệt quan điểm lấy hội nhập kinh tế làm nền tảng để bảo đảm tồn tại bền vững của hội nhập trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

Sau hơn 35 năm đất nước thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nước ta đã giành được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trong bối cảnh thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều biến động phức tạp, nhanh chóng và khó lường. Đảng ta đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Vì vậy, việc vận dụng sáng tạo tư tưởng, lý luận của Engels về quốc tế hóa đời sống mọi mặt của xã hội vào công cuộc “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” ở nước ta hiện nay vẫn giữ nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn.

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2022

CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐÃ VÀ ĐANG ĐỔI MỚI, CẢI CÁCH THÀNH CÔNG, TIẾP TỤC VỮNG BƯỚC ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Ở Trung Quốc, sau hơn 40 năm cải cách mở cửa (1979- 2018) đã thu được những kỳ tích. Năm 2018, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc tăng 33,5 lần, ước khoảng 12.300 tỷ USD, chiếm 15% GDP toàn cầu, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, sau Mỹ. Giai đoạn 1978 - 2017, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm đạt 9,5%, cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng trung bình hằng năm của nền kinh tế thế giới là 2,9%. Trong giai đoạn 2012 - 2016, hằng năm, kinh tế Trung Quốc đóng góp 34% vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Năm 1978, GDP bình quân đầu người ở Trung Quốc mới chỉ ở mức 156 USD, là một trong những nước nghèo nhất thế giới, nhưng đến năm 2017, GDP bình quân đầu người đã đạt 8.800 USD, được xếp vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Số người nghèo ở Trung Quốc giảm từ 770 triệu người năm 1978 xuống còn 30,46 triệu người năm 2017, tức tỷ lệ người nghèo giảm từ 97,5% năm 1978 xuống mức 3,1% năm 2017. Trong tương lai không xa, có thể dự đoán các chỉ số GDP, PPP theo GDP của nước này sẽ vượt Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) cộng lại. Trung Quốc hiện có 317 tỷ phú và hiện đứng thứ hai thế giới sau Mỹ về chỉ số này.

Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới, đã thu được những thành tựu to lớn, toàn diện: Nền kinh tế phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP năm 2020 đạt 342,7 tỉ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỉ USD vào năm 2020. Tỉ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều. Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định, qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: “Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay".

Cải cách kinh tế ở Lào, kết quả bước đầu của chính sách “cập nhật hoá mô hình kinh tế” ở Cuba,… cũng  đã đưa các nước này vượt qua được giai đoạn khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, đập tan mọi âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực thù địch, tạo được những bước đột phá phát triển, là những bằng chứng rõ ràng về sự phục hồi của CNXH, góp phần thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới. “… tương lai của chủ nghĩa xã hội phụ thuộc ở mức độ quyết định vào những cuộc cải cách của chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc và Việt Nam”. Đồng thời, sự trỗi dậy mạnh mẽ của phong trào cánh tả ở nhiều nước Mỹ Latinh trong những thập niên qua là bằng chứng sống động về tính khoa học, cách mạng của sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Thực tế, các thế lực thù địch càng điên cuồng tiến công hòng phủ nhận, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, thì càng chứng tỏ giá trị và sức sống của học thuyết Mác - Lênin. Quy luật tồn tại, phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin đòi hỏi, trong suốt quá trình tồn tại, phát triển của mình phải thường xuyên đấu tranh chống lại các trào lưu tư tưởng phản khoa học, phản động đó. Thay cho lời kết xin trích khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc. Không có lực lượng gì ngăn trở được lịch sử loài người tiến lên. Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển”. Và khẳng định của Đảng ta: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”./.

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2022

ĐỔI MỚI, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG LÀ VIỆC LÀM THƯỜNG XUYÊN

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư.

Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Thực hiện tư tưởng của Người, Đảng ta không ngừng chăm lo công tác xây dựng Đảng, lãnh đạo nhân dân ta vượt qua mọi gian nan, thử thách, đưa cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Ngày nay, Đảng đang lãnh đạo nhân dân ta thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và đã đạt được những thành tựu to lớn và quan trọng. Tuy nhiên trước yêu cầu mới ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng, trong Đảng đã bộc lộ một số yếu kém như: sự suy thoái về tư tưởng chính trị, tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên, việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ không nghiêm… Đảng ta đã xác định phải tiếp tục coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, nhiệm vụ sống còn, củng cố, chỉnh đốn, làm cho Đảng ngày càng vững mạnh về mọi mặt.

Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Với cương vị lãnh đạo của mình, Đảng phải là một Đảng trí tuệ, đạo đức, văn minh. Là thành viên của hệ thống chính trị, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng phải xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân; chống mọi biểu hiện tiêu cực của bộ máy nhà nước như bệnh quan liêu, tham nhũng, lãng phí; xây dựng và nâng cao bản lĩnh chính trị và uy tín của đội ngũ cán bộ, đảng viên với tinh thần hiểu dân, học dân, hỏi dân, tin dân, thật sự là người đày tớ trung thành của nhân dân. Đảng phải luôn chú trọng công tác xây dựng Đảng, thường xuyên tự đổi mới và chỉnh đốn. Đảng phải quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đảng viên, đưa ra khỏi hàng ngũ của Đảng những người không xứng đáng. “Đảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình, Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa để tiến bộ, để dạy bảo cán bộ và đảng viên” (Hồ Chí Minh). Đây là nhiệm vụ xuyên suốt trong công tác xây dựng Đảng.

Đứng trước thời cơ và thách thức mới, để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, mỗi cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân cần nâng cao hơn nữa tinh thần cảnh giác, không chủ quan với những thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, không mơ hồ, lơ là với tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; kiên định chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII, XIII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Quy định về những điều đảng viên không được làm… coi đây là giải pháp đột phá để xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, gương mẫu. Từ đó đưa ra khỏi Đảng những cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, không đủ tư cách, tham nhũng, tiêu cực, thoái hóa, biến chất về đạo đức, lối sống, cơ hội, bè phái, cục bộ địa phương, coi thường pháp luật, không tôn trọng nhân dân...

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2022

VÕ CHÍ CÔNG - NGƯỜI KHƠI NGUỒN ĐỔI MỚI TRONG NÔNG NGHIỆP

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, đồng chí Võ Chí Công được điều ra Trung ương công tác; được Đảng tín nhiệm cử giữ nhiều trọng trách. Trên các cương vị: Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Chính phủ, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng, Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí luôn trăn trở về con đường đi lên của cách mạng; sớm thể hiện sự tìm tòi đổi mới tư duy về kinh tế, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp…

Từ năm 1976 đến đầu năm 1977, đồng chí được giao nhiệm vụ trên cương vị Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Hải sản, trong tình hình kinh tế bao cấp, Nhà nước không đủ xăng dầu, phương tiện sản xuất cho ngành hải sản hoạt động. Nhận rõ được ưu thế đất nước có bờ biển dài, nhiều tiềm năng phát triển kinh tế thủy sản, đồng chí đã xuống các cơ sở quốc doanh, các hợp tác xã nghề lâu năm để nghiên cứu, tìm ra nguyên nhân của sự trì trệ, thua lỗ; đề xuất với Chính phủ những giải pháp thiết thực, giải quyết khó khăn cho ngành hải sản, thực hiện cơ chế tự quản để phát triển sản xuất, xóa bỏ bao cấp. Do có sự đổi mới về quản lý và cách tổ chức, ngành hải sản đã từng bước vươn lên trở thành một ngành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.

Năm 1978, đồng chí Võ Chí Công được phân công phụ trách khối nông, lâm, hải sản và kiêm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp. Khi phụ trách ngành nông nghiệp – lĩnh vực công việc mới mẻ, phức tạp và rất nặng nề, đồng chí ngày đêm trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi, làm thế nào để tháo gỡ khó khăn của hàng triệu nông dân trong các hợp tác xã. Đồng chí đã đi xuống nhiều hợp tác xã nắm tình hình, ra tận đồng ruộng gặp bà con xã viên hỏi thăm công việc sản xuất và nhận rõ nhiều hợp tác xã thực hiện khoán đến nhóm và người lao động đã đem lại hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập cho xã viên, như các hợp tác xã ở Vĩnh Phú, Hải Phòng.

Không dừng lại ở việc đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp, đồng chí Võ Chí Công đã góp phần phát triển tư duy về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của đất nước. Là Trưởng Ban nghiên cứu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, đồng chí đã tích cực xuống các cơ sở kinh tế, mở nhiều cuộc hội thảo, tập hợp ý kiến của các chuyên gia kinh tế, các viện nghiên cứu, góp phần xây dựng, hoàn thiện trình Bộ Chính trị ra Nghị quyết 306-NQ/TW (tháng 4-1986) về bảo đảm quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở (bao gồm các cơ sở kinh tế quốc doanh, kinh tế tiểu thủ công nghiệp; kinh tế gia đình và thành phần kinh tế cá thể, tư nhân trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp, các hợp tác xã, các tập đoàn sản xuất và kinh tế cá thể trong nông nghiệp).

Sự thành công của cơ chế khoán trong nông nghiệp và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, có sự đóng góp to lớn của đồng chí Võ Chí Công, góp phần quan trọng để Đảng ta đề ra đường lối đổi mới đất nước một cách đúng đắn, vững chắc.

Trên cương vị Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, đồng chí đã có những đóng góp quan trọng vào đổi mới hoạt động của Quốc hội, đặc biệt là công tác lập hiến và lập pháp. Với trọng trách là Chủ tịch Ủy ban sửa đổi Hiến pháp năm 1980, dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Bộ Chính trị, sự góp ý của Hội đồng Nhà nước, đồng chí Võ Chí Công đã cùng Ủy ban tập hợp ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân; tập trung được nhiều chuyên gia; nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng Hiến pháp của một số nước, vận dụng vào thực tiễn Việt Nam; kiên trì đấu tranh với những quan điểm sai trái trong việc sửa đổi Hiến pháp, giữ vững những điều cơ bản về dân chủ, về pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp sửa đổi năm 1992 – Hiến pháp của thời kỳ đổi mới, được Trung ương Đảng, Quốc hội thông qua, đánh dấu mốc lịch sử về công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, làm cơ sở vững chắc cho việc xây dựng hệ thống pháp luật, quản lý mọi mặt hoạt động của đất nước, trong thành công đó có sự đóng góp rất quan trọng của đồng chí Võ Chí Công.

Những năm tháng là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Võ Chí Công đã tích cực góp ý kiến với Đảng và Ban Chấp hành Trung ương đối với những vấn đề lớn, quan trọng về tăng cường sự lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Thứ Tư, 15 tháng 6, 2022

MỘT SỐ THỦ ĐOẠN TRONG “CHIẾN LƯỢC DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Hiện nay, các thế lực thù địch đã và đang thực hiện nhiều thủ đoạn tinh vi để chống phá sự nghiệp đổi mới ở nước ta, trong đó nổi lên một số thủ đoạn chủ yếu là:

Một là, chúng rêu rao không ít luận điệu rằng học thuyết Mác-Lênin là "lạc hậu", là "sai lầm". Họ tỏ ra tiếc nuối, hối hận vì đi theo “con đường CNXH” của Mác và phát đi những tiếng kêu lạc lõng kêu gọi xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng ta là Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Những việc làm, thủ đoạn trên của các thế lực thù địch trước hết nhằm tìm mọi cách xóa bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh-nền tảng tư tưởng của Đảng ta để thay thế bằng tư tưởng tư sản. Chúng xác định rõ, chính trị, tư tưởng là mặt trận hàng đầu, là khâu đột phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam trong tình hình hiện nay. Do vậy, đây là mục tiêu nhất quán của chiến lược “diễn biến hòa bình” chống CNXH mà các thế lực thù địch hướng tới.

Hai là, chúng muốn xóa bỏ vị trí, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm thực hiện “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”. Về thực chất, chúng mưu đồ hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; nhen nhóm lực lượng phản động chống đối để giành quyền thống trị xã hội cho giai cấp tư sản. Chúng tán phát nhiều tài liệu với những luận điệu xuyên tạc, giả danh vì dân, vì nước để đòi: Xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013; đòi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”; đòi “phi chính trị hóa quân đội và công an”... Hay xuyên tạc rằng: “Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội nước ta là không chính danh, chỉ là hội nghị Đảng Cộng sản mở rộng”; “cuộc bầu cử chỉ do Đảng độc diễn, người dân không có vai trò gì”... Thực chất, đây là những thủ đoạn đòi xây dựng một thiết chế bầu cử theo kiểu phương Tây...

Ba là, chúng muốn gây mất ổn định về chính trị ở nước ta. Chúng tác động vào những cán bộ, đảng viên thiếu rèn luyện, tu dưỡng, từng bước làm tha hóa họ, dùng “cộng sản diệt cộng sản”, “cộng sản con diệt cộng sản cha”. Chúng không tiếc công sức và tiền bạc để thực hiện những hành vi lén lút, lôi kéo những người có chính kiến bất đồng, chống CNXH, chống sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dùng họ như một “con rối chính trị” trong tay để thực hiện mưu đồ về chính trị.

Chúng còn lợi dụng một số sai phạm của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ cấp cao, rồi hồ đồ lớn tiếng vu khống, dựng chuyện. Khi có những sự kiện ở khu vực, thế giới ảnh hưởng đến Việt Nam, chúng lại lên mạng xã hội, tập hợp những phần tử cơ hội, bất đồng chính kiến kêu gọi tuần hành phản đối, gây sức ép đối với hệ thống chính trị các cấp, làm rối loạn trật tự, an toàn xã hội...

Chúng kích động những vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”, tạo tâm lý hoài nghi, giảm dần niềm tin vào Đảng và hệ thống chính trị ở nước ta, gây mâu thuẫn nội bộ, làm mất sự đồng thuận xã hội.

Bốn là, bằng nhiều thủ đoạn bao vây, cấm vận kinh tế, lợi dụng các tổ chức quốc tế, tác động từng bước, làm suy yếu tiềm lực kinh tế, xâm nhập, chi phối, lũng đoạn kinh tế-tài chính, chuyển hóa nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta chệch hướng theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Năm là, xóa bỏ nền văn hóa, đạo đức, lối sống của chế độ XHCN, nhường chỗ để văn hóa, đạo đức, lối sống tư sản xâm nhập vào. Từ đó làm tha hóa phẩm chất, đạo đức con người, làm băng hoại nhiều giá trị truyền thống của dân tộc ta, dẫn đến rối loạn an ninh chính trị, trận tự an toàn xã hội.

Sáu là, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, mục tiêu là loại bỏ sự lãnh đạo của Đảng ta đối với quân đội và công an, hòng tạo ra sự bất ổn chính trị trong nước và cao hơn là sụp đổ chế độ...

Chiến lược “diễn biến hòa bình” được Đảng ta xác định là một trong 4 nguy cơ ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ. Thực tế các thế lực thù địch luôn luôn tìm mọi cách để  thực hiện “diễn biến hòa bình” đối với Đảng ta, chế độ ta. Thế nhưng, bằng sự đoàn kết, vững vàng, bản lĩnh chính trị cao, dựa trên trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân thì không thế lực nào có thể ngăn cản con đường phát triển của đất nước chúng ta.

Thứ Hai, 14 tháng 2, 2022

COI TRỌNG XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI

Quá trình đổi mới, Đảng coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng, lý luận bao gồm công tác giáo dục, bồi dưỡng nâng cao nhận thức tư tưởng, trình độ lý luận trong Đảng và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại hội VI của Đảng là bước đổi mới tư duy lý luận. Nếu không có tư duy mới về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội với những đặc trưng và quy luật cần được nhận thức đúng như chỉ dẫn của V.I. Lê-nin và Chủ tịch Hồ Chí Minh, chắc chắn sẽ không có đường lối đổi mới xuất hiện tại Đại hội VI của Đảng. Khi mô hình chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu vì các đảng cộng sản ở các nước này đã rời bỏ chủ nghĩa Mác  - Lê-nin, hạ vũ khí trước những đòn tiến công hiểm độc của kẻ thù tư tưởng và cả sự phản bội trong nội bộ, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn kiên định và nhận rõ bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Đại hội VII của Đảng (tháng 6-1991) khẳng định, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Ngày 28-3-1992, Bộ Chính trị khóa VII ban hành Nghị quyết số 01-NQ/TW, “Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay”. Nghị quyết nêu rõ thành công của công tác tư tưởng, lý luận của Đảng từ sau Đại hội VI: “Nét nổi bật là đã bước đầu đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy kinh tế, khắc phục được một phần những biểu hiện của chủ nghĩa giáo điều và bệnh chủ quan duy ý chí; đồng thời tỉnh táo phòng ngừa và ngăn chặn những ảnh hưởng nguy hại của chủ nghĩa cơ hội, xét lại”.

Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Cần tiến hành thường xuyên cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận theo yêu cầu của sự nghiệp đổi mới. Khắc phục chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa kinh nghiệm, đồng thời chống chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh và xét lại”. Những quan điểm đúng đắn về tư tưởng, lý luận bảo đảm cho Đảng vững vàng vượt qua thách thức ở thời điểm đặc biệt khó khăn đó, đồng thời cũng thể hiện sự trưởng thành trong phương pháp nhận thức của Đảng. Đảng cũng chủ trương đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục, học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh tại hệ thống trường đảng từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Năm 1992, Bộ Chính trị quyết định và trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng bộ giáo trình quốc gia các môn khoa học Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Việc giáo dục, học tập các môn lý luận chính trị trong các trường đại học, cao đẳng được nâng cao chất lượng với giáo trình được biên soạn mới. Các cơ quan làm công tác tư tưởng, lý luận, như Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương), Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc (từ năm 1993 là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), Hội đồng Lý luận Trung ương (được thành lập năm 1996), Tạp chí Cộng sản, Báo Nhân Dân là những cơ quan rất quan trọng trong xây dựng Đảng về tư tưởng, lý luận và nghiên cứu lý luận kết hợp chặt chẽ với tổng kết thực tiễn, giáo dục nâng cao nhận thức tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; từ đó, góp phần nâng cao trình độ lý luận của Đảng như ngày nay. Kết quả nghiên cứu lý luận góp phần quan trọng làm sáng tỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, đã thật sự là luận cứ khoa học để bổ sung, phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), phát triển đường lối đổi mới tại các đại hội của Đảng (nhất là Đại hội XII, Đại hội XIII).

KẾT HỢP CHẶT CHẼ GIỮA ĐỔI MỚI KINH TẾ VỚI ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ, LẤY NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ LÀ TRUNG TÂM, XÂY DỰNG ĐẢNG LÀ THEN CHỐT

Trong tiến trình 35 năm đổi mới, xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn được coi là vấn đề “then chốt”, bảo đảm cho Đảng giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã tổng kết 5 bài học lớn; trong đó, bài học hàng đầu là về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đây là cơ sở quan trọng để Đảng ta tiếp tục vận dụng, phát huy và phát triển sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, vững vàng vượt qua những khó khăn, thách thức trong giai đoạn cách mạng mới.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12-1986) quyết định đường lối đổi mới toàn diện đất nước cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Năm 1986, đất nước khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, lạm phát 774,7%, tổng thu nhập quốc dân khoảng 14 tỷ USD với hơn 50 triệu dân, thu nhập bình quân đầu người khoảng 280 USD. Trong hoàn cảnh đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, với trách nhiệm của Đảng cầm quyền, Đảng nhận thức rõ đổi mới là mệnh lệnh của cuộc sống, là trách nhiệm của Đảng đối với đất nước và nhân dân. Làm sao đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, phát triển đất nước, chăm lo đời sống của nhân dân? Ngay từ đầu, Đảng chủ trương kết hợp chặt chẽ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt; phải tập trung phát triển kinh tế và từ thành tựu kinh tế mà từng bước đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới tư duy lý luận, trước hết là tư duy kinh tế, đổi mới phong cách làm việc, phương thức lãnh đạo của Đảng.

Trải qua 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Năm 1996, Việt Nam ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội; năm 2008, ra khỏi tình trạng một nước kém phát triển, có mức thu nhập trung bình và năm 2020, với gần 100 triệu dân, thu nhập bình quân đầu người đạt 3.521 USD. Diện mạo đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn gấp nhiều lần, đời sống nhân dân được nâng cao rõ rệt về vật chất, văn hóa, tinh thần, về mức sống và chất lượng cuộc sống; nhất là về ăn, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh, dịch vụ cuộc sống. Hệ thống chính trị được xây dựng, củng cố vững mạnh, bảo đảm sự ổn định chính trị của đất nước. Quốc phòng, an ninh được tăng cường, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc. Đối ngoại, hội nhập quốc tế không ngừng mở rộng, kết hợp nội lực với ngoại lực, nâng cao vị thế của Việt Nam, tạo môi trường hòa bình, hợp tác và phát triển. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nêu rõ và Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Nhìn lại tiến trình 35 năm đổi mới và nhiệm kỳ vừa qua, Đại hội XIII của Đảng đã tổng kết 5 bài học lớn; trong đó, bài học hàng đầu là về xây dựng, chỉnh đốn Đảng: “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; thường xuyên củng cố, tăng cường đoàn kết trong Đảng và hệ thống chính trị; thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; hoàn thiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Công tác cán bộ phải thực sự là “then chốt của then chốt”, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, nhất là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”.

RA MẮT CUỐN SÁCH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

Cuốn sách gồm 29 bài viết, bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kể từ khi chuẩn bị xây dựng Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đến nay.

Sáng nay (9/2), Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp Hội đồng Lý luận Trung ương và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tổ chức lễ ra mắt cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Dự lễ ra mắt sách có Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng; Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Nguyễn Xuân Thắng; Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa…

Cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” do Hội đồng Lý luận Trung ương và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp tổ chức bản thảo và xuất bản, gồm 29 bài viết, bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kể từ khi chuẩn bị xây dựng Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đến nay.

Nội dung xuyên suốt 29 bài viết là sự phân tích biện chứng, lý giải thấu đáo những câu hỏi lớn về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Tổng Bí thư.

Các bài viết đã thể hiện rõ và làm sâu sắc thêm bản chất, giá trị cốt lõi của chủ nghĩa xã hội trên các bình diện chính trị, kinh tế, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh, cách diễn đạt hết sức dung dị, gần gũi, dễ hiểu đối với mọi tầng lớp nhân dân, được chắt lọc từ đời sống thực tiễn sinh động của đất nước.

Theo GS.TS Tạ Ngọc Tấn - Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương, cuốn sách là tài liệu quý, một công trình có tầm khái quát lý luận cao, tổng kết thực tiễn sâu sắc về những phát triển, sáng tạo riêng có của Đảng ta về mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trên nền tảng tư duy lý luận sâu sắc, cuốn sách đã trình bày, phân tích, lý giải các vấn đề lý luận và thực tiễn về mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam một cách khúc triết, rành mạch, rõ ràng, dung dị và dễ hiểu.

Cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ là cơ sở quan trọng cho việc tiếp tục tổng kết lý luận về đường lối đổi mới của Đảng ta, là tài liệu quý để giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, tạo nên sự đồng thuận để khơi dậy, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ Sáu, 11 tháng 2, 2022

BẢN LĨNH ĐẢNG TIÊN PHONG, DÂN TỘC ANH HÙNG

Hơn 92 năm qua, trong muôn vàn khó khăn, có lúc tưởng chừng không vượt qua nổi, Đảng ta kiên định, linh hoạt, thích ứng, bản lĩnh và sáng tạo lãnh đạo toàn dân vượt qua nhiều thách thức chưa có tiền lệ trong lịch sử. Đảng tiên phong, dân tộc anh hùng là nền tảng đưa đất nước tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác...

Một mốc son chói lọi

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trong hoàn cảnh đất nước trải qua gần một trăm năm dưới chế độ thực dân và hàng ngàn năm dưới chế độ phong kiến là chưa có tiền lệ trong lịch sử, trở thành một mốc son chói lọi. Đảng ta có đặc điểm rất Việt Nam, vì nhân dân đã sinh thành ra Đảng. Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào công nhân, Đảng ra đời có thêm yếu tố phong trào yêu nước. Đó là một nguồn lực mạnh mẽ không chỉ trong thời khắc Đảng ra đời mà cho đến tận hôm nay. Chủ nghĩa yêu nước là mạch nguồn của dân tộc Việt Nam, được hình thành, vun bồi qua hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, tạo ra nguồn cảm hứng vô tận, là sức mạnh nội sinh. Mỗi khi đất nước gặp thiên tai, dịch bệnh hay địch họa thì tinh thần ấy lại sôi nổi, kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nhấn chìm lũ bán nước, cướp nước, vượt qua và chiến thắng những gì chưa có tiền lệ.

Lãnh đạo cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp lên tới đỉnh cao trong những tháng ngày Xô viết Nghệ Tĩnh ngay sau khi ra đời, Đảng ta mở ra truyền thống đấu tranh anh dũng, tiên phong vì lợi quyền của nhân dân. Chúng ta có quyền tự hào vì chưa đầy một năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã nắm chính quyền ở địa phương và bắt đầu thi hành những chính sách dân chủ. Nhưng ngay sau đó, thực dân Pháp khủng bố dữ dội. Các tổ chức của Đảng và quần chúng tan rã hầu hết. Phong trào cách mạng sụt xuống, có lúc tưởng như không vượt qua được. Biến cái rủi thành cái may, các chiến sĩ cộng sản đã biến nhà tù thành trường học. Chính sách khủng bố đã không ngăn trở được bước tiến của cách mạng mà trở thành một thứ “lửa thử vàng”. Lòng trung thành và máu đào của những người cộng sản đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ và đồng bào đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt và kiên quyết của Đảng cùng với sức đoàn kết và hăng hái của toàn dân, với tinh thần “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng kiên quyết giành cho kỳ được độc lập”, chúng ta đi tới Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thắng lợi. Lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công và nắm chính quyền toàn quốc. Niềm tự hào to lớn đó không chỉ dành cho nhân dân Việt Nam mà còn dành cho các dân tộc bị áp bức.

Sau Cách mạng Tháng Tám, nước ta ở trong hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”. So với địch đủ hải, lục, không quân với vũ khí hiện đại, ta thiếu mọi thứ nhưng thừa lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và sự anh dũng hy sinh của toàn quân và toàn dân dưới sự lãnh đạo của một Đảng kiên quyết chủ trương kháng chiến, vừa lãnh đạo đánh giặc vừa bồi dưỡng sức dân. Sau 9 năm kháng chiến với tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, chúng ta đã đại thắng ở Điện Biên Phủ. Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là thắng lợi của nhân dân Việt Nam, của lực lượng hòa bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trên thế giới.

Từ ngày hòa bình được lập lại, đất nước bị tạm chia làm hai miền. Đế quốc Mỹ và tay sai thống trị ở miền Nam, khủng bố cực kỳ dã man những người yêu nước, tiến hành chiến tranh phá hoại ở miền Bắc. Nhưng nhân dân Việt Nam quyết không sợ, vì có một Đảng lãnh đạo luôn giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội. Với nguồn cảm hứng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”, chúng ta đã giành chiến thắng, một thắng lợi mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc.

Đổi mới mang đậm dấu ấn của trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam

Gần nửa thế kỷ trôi qua từ khi cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là qua hơn 35 năm đổi mới, chúng ta tiếp tục hứng chịu muôn vàn khó khăn, thử thách. Khôi phục kinh tế sau chiến tranh; đối mặt với bao vây cấm vận của Mỹ, chiến tranh bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ. Các thế lực thù địch và cơ hội, bằng mọi âm mưu và thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt chống phá quyết liệt cách mạng nước ta.

Với bài học độc lập, tự chủ, sáng tạo, biết thích ứng linh hoạt, Đảng ta xác định rõ chủ nghĩa xã hội đứng trước nhiều khó khăn thử thách, lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội. Trong cơn chấn động chính trị lớn nhất thế kỷ XX khi thành trì của chủ nghĩa xã hội là Liên Xô sụp đổ, Đảng ta công khai tuyên bố với nhân dân và nhân loại tiến bộ về Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời khẳng định Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng ta xác định đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và dân tộc ta, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.

Với đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự gặp gỡ giữa ý Đảng - lòng dân; lòng dân - ý Đảng, cùng với ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, qua hơn 90 năm Đảng lãnh đạo, trong đó có hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy, kinh tế, văn hóa - xã hội và con người đều đổi mới. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước nghèo, khoảng 3/4 dân số sống dưới mức nghèo khổ, hiện nay Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 5,8% năm 2016 xuống dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều. Từ một nước thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng đầu thế giới. Người nghèo, trẻ em và người cao tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí. Tuổi thọ trung bình của người dân năm 2020 là 73 tuổi. Hiện có khoảng 70% dân số sử dụng internet, là một trong những nước có tốc độ phát triển công nghệ thông tin cao nhất thế giới. Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu Thiên niên kỷ và thuộc nhóm có chỉ số phát triển con người (HDI) cao của thế giới so với các nước có cùng trình độ phát triển. Trong khi chúng ta cơ bản khống chế được đại dịch Covid-19, vẫn giữ vững ổn định chính trị và từng bước phục hồi kinh tế.

Hai từ “ĐỔI MỚI” mang đậm dấu ấn trí tuệ, bản lĩnh và phong cách Việt Nam, là “Made in Việt Nam”. Đổi mới với sự kiên định mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đem lại một sinh khí mới với kết quả cuối cùng là tạo ra một xã hội xã hội chủ nghĩa theo đặc điểm Việt Nam, mang đậm dấu ấn của thiên tài và cốt cách, bản lĩnh và khí phách, thông minh và sáng tạo, linh hoạt và nhạy bén của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng ta và của dân tộc Việt Nam văn hiến và anh hùng.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nêu quyết tâm tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, đặt mục tiêu cụ thể đến năm 2030 (kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng), nước ta trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Dưới sự lãnh đạo của một Đảng trí tuệ, bản lĩnh, nghị lực, quyết tâm, chân chính cách mạng, đạo đức, văn minh và sự đồng lòng, ủng hộ của nhân dân anh hùng, chúng ta có cơ sở để tin tưởng chắc chắn rằng đất nước ta nhất định sẽ lập nên kỳ tích phát triển mới, cùng tiến bước và sánh vai với các cường quốc năm châu, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và ước vọng của toàn dân tộc ta.

PGS.TS BÙI ĐÌNH PHONG

NHẬN THỨC MỚI VỀ ĐẨY MẠNH ĐỔI MỚI NỘI DUNG, CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG CHUẨN HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA, SÁT THỰC TIỄN, MỤC TIÊU XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI HIỆN ĐẠI

 Để đáp ứng yêu cầu xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ xây dựng Quân đội hiện đại từ năm 2030 theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ Quân đội, trên cơ sở bám sát phương châm: “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”, các nhà trường Quân đội tiến hành đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình giáo dục, đào tạo, theo hướng: xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật trong Quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy sáng tạo, trình độ, kiến thức quân sự, chính trị, khoa học, ngoại ngữ, tin học đáp ứng với hội nhập, chiến tranh công nghệ cao; phương pháp làm việc khoa học, phong cách, tác phong dân chủ, chính quy, đoàn kết; đạo đức, lối sống lành mạnh, sức khỏe tốt.

Các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng cùng các nhà trường Quân đội kế thừa, phát huy truyền thống Quân đội, nghệ thuật quân sự Việt Nam, nắm chắc tổ chức, biên chế Quân đội, đòi hỏi từ thực tiễn và các chương trình, phương pháp đào tạo tiên tiến trên thế giới; trên cơ sở đó, chủ động có những bước đi thích hợp, bám sát tiêu chí chuẩn hóa, hiện đại hóa, tiếp cận, ứng dụng thành tựu cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Các chương trình đào tạo cần bảo đảm tính lôgic, liên thông từ thấp đến cao, rút ngắn thời gian đào tạo một cách hợp lý, đồng thời bám sát mục tiêu, chuẩn đầu ra của từng đối tượng đào tạo; cập nhật sự phát triển của khoa học và thực tiễn.

Tập trung nghiên cứu, xây dựng hoàn thiện Đề án đổi mới quy trình, chương trình đào tạo cán bộ các cấp trong Quân đội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; trong đó, tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung kịp thời các chương trình đào tạo, bảo đảm phù hợp với sự phát triển của vũ khí, trang bị mới; chú trọng xây dựng một số chương trình đào tạo các chuyên ngành đặc thù, lĩnh vực mũi nhọn, chất lượng cao để làm chủ vũ khí, trang bị, xây dựng nền công nghiệp quốc phòng hiện đại, lưỡng dụng. Đặc biệt, cần đổi mới chương trình, nội dung đào tạo ngoại ngữ, tin học, lấy chất lượng làm tiêu chí hàng đầu; kết hợp với mở rộng hợp tác về dạy học ngoại ngữ ở cả trong, ngoài nước và chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học tại chỗ, bảo đảm phù hợp với nhận thức, trình độ người học, v.v.

 

Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại làm mục tiêu thực hiện. Theo đó, các nhà trường Quân đội cần lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt việc ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin, kỹ thuật mô phỏng vào công tác giảng dạy; sáng tạo trong áp dụng phương pháp dạy học tích cực để phát huy tính chủ động, tự giác, sáng tạo của học viên; đồng thời, coi trọng việc hướng dẫn, rèn luyện kỹ năng thực hành cho người học, nhất là kỹ năng chỉ huy, làm chủ vũ khí, trang bị mới, hiện đại và khả năng tự nghiên cứu, vận dụng linh hoạt, sáng tạo khi thực tiễn có sự thay đổi, phát triển. Đẩy mạnh hoạt động phương pháp, nâng cao chất lượng giảng dạy, kết hợp chặt chẽ giữa trang bị kiến thức mới với truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu.

TIẾP TỤC KIÊN TRÌ, KIÊN QUYẾT XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG

Những năm qua, Đảng ta đã thể hiện quyết tâm chính trị rất cao, sự nỗ lực rất lớn và tư tưởng nhất quán về tầm quan trọng đặc biệt của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đồng thời, thể hiện tầm tư duy và thái độ kiên quyết, kiên trì thực hiện của Đảng, trước yêu cầu về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu trong tình hình mới.

Tại Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII, Trung ương thống nhất cao, cần tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất, đạo đức, lối sống, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; chấn chỉnh tác phong, lề lối làm việc; ngăn chặn, đẩy lùi, kiên quyết đấu tranh, xử lý thật nghiêm các hành vi tham nhũng, tiêu cực, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong toà Đảng. Có thể thấy, ba nhiệm kỳ gần đây, Hội nghị Trung ương 4, khóa XI, khóa XII và khóa XIII đều thể hiện quyết tâm, sự kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

Trước yêu cầu mới ngày càng cao của công cuộc đổi mới, nếu Đảng không giữ vững bản chất cách mạng của mình, không thật vững vàng về chính trị, tư tưởng; không thống nhất cao về ý chí và hành động; không trong sạch về đạo đức, lối sống; không chặt chẽ về tổ chức; không được nhân dân ủng hộ thì không thể đứng vững và đủ sức lãnh đạo đưa đất nước đi lên. Chính vì vậy, ngày 31/12/2011, Hội nghị Trung ương 4, khóa XI đã thống nhất rất cao về sự cần thiết phải ban hành Nghị quyết của Trung ương "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay", với 3 nội dung trọng yếu. Thứ nhất là ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Thứ hai là xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là ở cấp trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Thứ ba là xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị. Ba nội dung này có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó nội dung thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt và cũng là vấn đề cấp bách nhất.

Qua hơn 4 năm thực hiện, việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng; có tác động thúc đẩy đất nước vượt qua khó khăn, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế xã hội, củng cố thêm niềm tin trong Đảng và nhân dân. Toàn Đảng đã xử lý kỷ luật gần 1.400 tổ chức đảng và hơn 74.000 đảng viên ở các cấp. Trong số bị kỷ luật, có 82 tỉnh ủy viên và tương đương; hơn 1.500 huyện ủy viên và tương đương; gần 3.000 đảng viên bị kỷ luật bằng hình thức cách chức; hơn 8.700 bị khai trừ ra khỏi Đảng và hơn 4.300 cán bộ, đảng viên phải xử lý bằng pháp luật.

Chỉ riêng trong nhiệm kỳ Đại hội XII, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 1.300 tổ chức đảng và 87.000 đảng viên. Ngành Thanh tra, Kiểm toán qua công tác thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị thu hồi, xử lý tài chính hơn 580.000 tỉ đồng, gần 9.000 ha đất; kiến nghị xử lý trách nhiệm hơn 9.700 tập thể, cá nhân; chuyển cơ quan điều tra xử lý hơn 480 vụ việc có dấu hiệu phạm tội. Các cơ quan tố tụng cả nước đã phát hiện, khởi tố mới hơn 375.000 vụ án hình sự; đã kết thúc điều tra, ban hành cáo trạng truy tố, đưa ra xét xử sơ thẩm hơn 300.000 vụ án hình sự với hơn 500.000 bị cáo. Ngành Tòa án còn giải quyết, xét xử hơn 1.800.000 vụ việc dân sự, 32.000 vụ án hành chính.

Có thể nói, thực hiện các Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII, XIII, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng hệ thống chính trị được đặc biệt chú trọng, triển khai toàn diện, đồng bộ, hiệu quả. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chuyển biến mạnh mẽ, có bước đột phá gắn kết chặt chẽ giữa "xây" và "chống," có hiệu quả, ngày càng đi vào chiều sâu, được toàn Đảng, toàn dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao.

Vì vậy, xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn luôn là nhiệm vụ then chốt, đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta, chế độ ta. Do đó, trong ba nhiệm kỳ Đại hội Đảng liên tiếp, Trung ương đã quan tâm đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đảm bảo cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, ngang tầm nhiệm vụ.

Thứ Sáu, 7 tháng 1, 2022

ĐỔI MỚI VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, dạy học nhằm phát triển trí tuệ, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học. Trong giáo dục, người học bao giờ cũng là trung tâm, Hồ Chí Minh luôn lưu ý những người dạy, những nhà giáo phải chú ý tới đặc điểm của đối tượng, phải “đóng giầy theo chân”, không phải “khoét chân cho vừa giầy”. Điều này đòi hỏi người thầy phải bám sát, hiểu rõ đặc điểm đối tượng người học từ đó có phương pháp dạy phù hợp nhằm đảm bảo tính vừa sức. Người nhiều lần bày tỏ quan điểm chống lại cách dạy, cách học không hướng vào sự phát triển của người học, không kích thích sự suy nghĩ trong học tập. Người yêu cầu phải tránh lối dạy nhồi sọ. Người thầy cần phải có phương pháp dạy sao cho phát huy tốt tính chủ động, sáng tạo của người học. Cần phải thực hành dân chủ trong giáo dục. Đối với mọi vấn đề “thầy và trò cùng nhau thảo luận, ai có ý kiến gì đều thật thà phát biểu. Điều gì chưa thông suốt, thì hỏi, bàn cho thông suốt”. Đây là quan điểm mới trái ngược với phương pháp giáo dục nhồi sọ, áp đặt của chế độ thực dân, phong kiến.

Hồ Chí Minh rất chú trọng đến tính thiết thực của việc dạy. Người nhiều lần nhắc nhở phải tránh lối dạy học ôm đồm, chạy theo số lượng, chạy theo thành tích, vừa không đạt hiệu quả đặt ra, vừa gây tốn kém, lãng phí cả về thời gian, công sức và tiền của. Người cho rằng giáo dục phải bảo đảm tính vừa sức, phải căn cứ vào đặc điểm của đối tượng, trình độ, năng lực và tâm lý người học, không nên tham nhiều sẽ tạo tâm lý chán nản, không hứng thú trong học tập, vì thế sẽ không phát triển trí tuệ, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học

Trong toàn bộ di sản tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng về tự học, đặc biệt là tấm gương mẫu mực tự học và học suốt đời của Người là bài học vô cùng quý giá đối với các thế hệ người Việt Nam, vấn đề cơ bản nhất, nổi bật nhất là vấn đề xây dựng và hoàn thiện con người thông qua hoạt động giáo dục và tự giáo dục. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (năm 1947), khi nói về công tác huấn luyện cán bộ, Người đã có những chỉ dẫn xác đáng “Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”. Sau này, khi nói về công tác huấn luyện và học tập (năm 1950), Người lại nhấn mạnh: “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học”. Những lời dạy ngắn gọn của Chủ tịch Hồ Chí Minh làm nổi bật lên tính cần thiết của việc tự học và mối liên hệ khăng khít của các chủ đề tham gia vào quá trình tự học.

Học tập là công việc đòi hỏi mỗi người phải luôn tự trau dồi kiến thức của mình qua nhiều hình thức học tập đa dạng, học mọi nơi, mọi lúc. Hồ Chí Minh lưu ý: “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhay và học nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót lớn”. Với Người học tập là một sống việc suốt đời, là một nhiệm vụ cách mạng. Xã hội ngày càng phát triển, công việc ngày càng nhiều, máy móc ngày càng tinh xảo, để không lạc hậu, không bị đào thải, phải không ngừng học tập. Người khẳng định “Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ, càng thấy phải học thêm”. Sự học là vô cùng vì “dừng lại là lùi bước, là lạc hậu, mình tự đào thải mình trước”.

Thứ Hai, 20 tháng 12, 2021

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, BÔI ĐEN HÌNH ẢNH ĐẤT NƯỚC TRONG ĐỔI MỚI, HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Lợi dụng internet, mạng xã hội và những mặt tiêu cực trong xã hội chưa được khắc phục, một số kẻ đã tán phát luận điệu, xuyên tạc bản chất của xã hội XHCN, bôi đen hình ảnh của đất nước Việt Nam.

Hơn 35 năm qua kể từ khi Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới (từ năm 1986 đến nay), nhìn tổng thể, công cuộc đổi mới của đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội-nhất là sau cuộc khủng hoảng, sụp đổ của Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) Đông Âu (1985-1991). Từ tình trạng một quốc gia kém phát triển, lương thực không đủ… đến nay Việt Nam trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình; sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên: Chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.

Thế nhưng lợi dụng internet, mạng xã hội (MXH) và những mặt tiêu cực trong xã hội chưa được khắc phục, một số kẻ đã tán phát luận điệu, xuyên tạc bản chất của xã hội XHCN, bôi đen hình ảnh của đất nước Việt Nam. Về tình hình trong nước, họ cường điệu những khó khăn trên lĩnh vực kinh tế, rằng “nền kinh tế Việt Nam đang đứng bên bờ vực thẳm”. Về cuộc đấu tranh chống tham nhũng họ viết: Đó chỉ là “cuộc đấu đá giữa nhóm tham nhũng mới với nhóm tham nhũng cũ”. Về chế độ xã hội họ viết: Ở Việt Nam “các quyền của người, nhất là quyền tự do ngôn luận, quyền “tự do internet, MXH” bị xâm phạm bởi Luật An ninh mạng…".

Tuy nhiên, nhìn từ thực tiễn có thể thấy, từ khi được hoàn toàn giải phóng đến nay, Việt Nam đã trải qua những thời kỳ đầy khó khăn, do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trong thời kỳ trước đổi mới (1975-1985), dân tộc Việt Nam đã phải đấu tranh với cuộc bao vây cấm vận nghiệt ngã của Mỹ (từ năm 1975 đến năm 1994). Trong thời kỳ này, Mỹ đã cản trở các tổ chức tài chính quốc tế và các nước cho Việt Nam vay tín dụng… Đến năm 1994, Mỹ mới tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn cấm vận Việt Nam và bình thường hóa quan hệ với Việt Nam vào tháng 7/1995. Cũng trong thời kỳ 1975-1985, những sai lầm của mô hình xây dựng xã hội theo mô hình chủ nghĩa xã hội (CNXH) kiểu cũ khiến nền kinh tế đất nước trì trệ, đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Là một quốc gia nông nghiệp, đất đai phì nhiêu, người dân cần cù, sáng tạo thế nhưng ở nhiều nơi đã xuất hiện tình trạng thiếu đói. Còn nhớ thời kỳ này, trong khi vết thương chiến tranh chưa được hàn gắn, thì dân tộc Việt Nam lại phải tiến hành hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

Bước sang thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay), mở đầu là Đại hội VI (năm 1986), dựa trên đổi mới tư duy lý luận-chính trị và kinh tế, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện đường lối chính sách xây dựng xã hội theo mô hình mới của CNXH. Về chính trị, đó là xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Trong mô hình này, các quyền bình đẳng về dân sự và chính trị được bảo đảm (về phương diện pháp lý). Về kinh tế đó là nền kinh tế thị trường, nhiều thành phần, cạnh tranh bình đẳng… theo định hướng XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Về đối ngoại, Việt Nam thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, với phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Như vậy có thể nói, trong mô hình mới của CNXH các quyền bình đẳng về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội và văn hóa đã được bảo đảm.

Nét đặc sắc trong xây dựng xã hội theo mô hình mới của CHXH, đó là các quyền con người, quyền công dân được bảo đảm bằng pháp luật cũng như trên thực tế. Hiến pháp năm 2013 dành một chương (Chương II) quy định về đầy đủ về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Những quy định về quyền con người tại chương này hoàn toàn tương thích với các công ước quốc tế về quyền con người, trong đó có những quyền được xem là “nhạy cảm” cũng đã được đưa vào văn kiện này. Thể chế hóa Hiến pháp năm 2013 và nội luật hóa các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã gia nhập, ký kết, Quốc hội Việt Nam vừa qua đã sửa và xây dựng nhiều đạo luật mới. Đó là Luật Báo chí (năm 2016), Luật Tiếp cận thông tin (năm 2013), Luật An ninh mạng (năm 2018)... Các quy định của những bộ luật trên đều nhằm bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự công cộng và quyền con người. Việt Nam hòa mạng internet toàn cầu khá sớm so với nhiều quốc gia trong khu vực-từ ngày 1-12-1997. Theo tổ chức nghiên cứu về MXH quốc tế-Next Web, hiện nay Việt Nam nằm trong “Top 10 quốc gia có nhiều người dùng Facebook nhất thế giới” với 64 triệu người, chiếm 3% tổng số tài khoản Facebook toàn cầu.

Trên lĩnh vực kinh tế, hình ảnh đất nước, cuộc sống của nhân dân đã được nâng cao đáng kể. Triển khai Chương trình 135 về phát triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc ít người, miền núi, vùng sâu, vùng xa… cho đến nay các xã, cụm dân cư đã có đủ cơ sở xã hội thiết yếu, như: Điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế. Tỷ lệ hộ đói, nghèo giảm nhanh, luôn đạt và vượt mục tiêu đề ra qua các giai đoạn, hoàn thành và vượt mức mục tiêu Thiên niên kỷ về giảm nghèo trước 10 năm… Giai đoạn 1992-1998, tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam bình quân mỗi năm giảm 2-3%. Đến hết năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam là 9,45%, vượt mục tiêu đề ra là 10%. Chính phủ Việt Nam đã xây dựng Định hướng giảm nghèo giai đoạn 2011-2020 với mục tiêu giảm số hộ nghèo còn 4-5% vào năm 2020. Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Việt Nam đã giảm được một nửa tỷ lệ đói nghèo trong hơn một thập kỷ và là một trong những quốc gia đạt tốc độ giảm đói nghèo nhanh nhất thế giới.

Về cuộc đấu tranh chống tham nhũng, có thể nói chưa nhiệm kỳ nào Đảng Cộng sản Việt Nam triển khai một chiến lược bài bản, quy mô như hiện nay. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong cuộc đấu tranh này là “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ” và “phải làm đến cùng”; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.

Trong quan hệ quốc tế, vị thế quốc tế của Việt Nam được nâng cao vượt bậc. Cho đến nay Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 13 quốc gia; Việt Nam cũng đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Ấn Độ, Nga, Trung Quốc. Với Hoa Kỳ, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác toàn diện. Trong thời kỳ đổi mới Việt Nam tham gia vào nhiều cơ quan quan trọng của tổ chức quốc tế rộng lớn: 1) Là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2008-2009; 2) thành viên Hội đồng Kinh tế-xã hội nhiệm kỳ 2016-2018; 3) Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền (nhiệm kỳ 2014-2016)… Ngày 25-5-2018 vừa qua, trong cuộc họp của Nhóm châu Á-Thái Bình Dương tại Liên hợp quốc, các nước trong khu vực đã nhất trí thông qua đề cử Việt Nam là ứng cử viên duy nhất của nhóm vào vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an (nhiệm kỳ 2020-2021-tại cuộc bầu cử sẽ được tổ chức vào tháng 6-2019).

Là thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, Việt Nam đã và đang tham gia vào lực lượng Gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. "Từ năm 2014, Việt Nam đã cử các sĩ quan tham gia các phái bộ gìn giữ hòa bình ở Cộng hòa Trung Phi và ở Nam Sudan. Mới đây, ngày 25-6-2018, Cục Hỗ trợ thực địa Liên hợp quốc đã công bố kết quả thanh sát địa điểm huấn luyện gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại các nước thuộc ASEAN, theo đó Việt Nam cùng với 3 nước là Campuchia, Indonesia, Thái Lan được chọn làm địa điểm huấn luyện gìn giữ hòa bình quốc tế luân phiên. Việt Nam cũng đang nỗ lực để triển khai Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 1 tại Nam Sudan”.

Đi theo con đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam không chỉ đã giành được quyền con người mà còn có những đóng góp to lớn trên lĩnh vực này từ tư tưởng lý luận cho đến thực tiễn. Công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế là một thời kỳ phát triển vượt bậc của Việt Nam về các phương diện, trong đó có quyền con người. Các quyền con người đều có những bước bảo đảm cao hơn, vị thế của dân tộc, đất nước được nâng cao hơn; được cộng đồng quốc tế trân trọng ghi nhận./.