Hiển thị các bài đăng có nhãn kháng chiến. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kháng chiến. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2022

“...CHỈ CÓ HAI HẠNG NGƯỜI KHÔNG MẮC KHUYẾT ĐIỂM”

Trong bài nói tại Hội nghị nghiên cứu lịch sử Đảng của Ban Tuyên giáo Trung ương, ngày 28-11-1959, được Báo Nhân Dân số 2093, đăng ngày 9-12-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh huấn thị: “…Chỉ có hai hạng người không mắc khuyết điểm: Là đứa bé còn ở trong bụng mẹ và người đã chết bỏ vào quan tài. Có hoạt động thì khó tránh khỏi khuyết điểm. Nhưng khi có khuyết điểm thì phải thật thà tự phê bình, hoan nghênh người khác phê bình và kiên quyết sửa chữa”.

Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ mới với đặc điểm: Đất nước tạm thời chia cắt làm hai miền, miền Bắc đã có hòa bình, dưới sự lãnh đạo của Đảng đang bắt đầu xây dựng một xã hội mới, miền Nam vẫn còn dưới ách đô hộ, áp bức của chủ nghĩa đế quốc. Đây cũng là thời điểm Đảng và Chính phủ, các cấp và các ngành từ Trung ương đến địa phương tiến hành công tác sửa sai trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc một cách kiên quyết và toàn diện, trên tinh thần đề cao, thật thà tự phê bình và phê bình (TPB&PB) để nghiêm túc khắc phục, sửa chữa khuyết điểm.

Trong sinh hoạt và hoạt động thực tiễn, mỗi con người và mỗi tổ chức đều có những ưu điểm và khuyết điểm, có mặt thuận lợi và khó khăn, có nhân tố tích cực và tiêu cực, có cái tiến bộ và cái lạc hậu. Quá trình phát triển của mỗi con người, mỗi tổ chức như thế nào và theo chiều hướng nào phụ thuộc chính vào cách thức giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt tốt - xấu, thuận lợi - khó khăn, tích cực - tiêu cực. Mỗi đảng viên và tổ chức đảng cũng như vậy; muốn tiến bộ và phát triển thì phải phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm. Muốn sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, phải đề cao và thật thà TPB&PB.

Quán triệt và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về TPB&PB, trong suốt quá trình xây dựng và hoạt động, Đảng ta luôn coi trọng TPB&PB; coi đó là quy luật phát triển của Đảng, là thước đo trình độ sinh hoạt dân chủ trong Đảng và là ý thức trách nhiệm của Đảng với nhân dân. TPB&PB là biện pháp quan trọng để giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ Đảng, để giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, vấn đề TPB&PB càng trở nên cần thiết hơn.

QĐND

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2022

KHÔNG ĐƯỢC PHÉP XUYÊN TẠC, BỊA ĐẶT VỀ NỖI ĐAU, SỰ HI SINH, MẤT MÁT CỦA DÂN TỘC

Dân tộc Việt Nam đã phải trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại mới có được sự độc lập, tự do và cơ đồ như ngày hôm nay. Nhân dân ta đã phải anh dũng đấu tranh, chấp nhận mọi hi sinh, mất mát, đau thương mới có được cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Vì vậy, mỗi người dân Việt Nam cần tỉnh táo trước các luận điệu xuyên tạc, bịa đặt, phủ nhận lịch sử; cần gìn giữ hòa bình, chung tay xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã lùi xa. Dấu mốc ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975) đến nay đã hơn 47 năm. Vậy nhưng những kẻ chống cộng cực đoan ở hải ngoại và một số đối tượng từng được hưởng lợi dưới chế độ Việt Nam cộng hòa, hoặc một số đối tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở trong nước vẫn không thôi xuyên tạc về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Luận điệu họ đưa ra là do sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà dẫn đến “cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn”, “Nồi da xáo thịt” hoặc “miền Bắc xâm lược miền Nam”… Thực chất, đây chỉ là giọng điệu của những kẻ “mong muốn” được làm tay sai cho ngoại bang để có lợi lộc, hoặc “ước mơ hão huyền” về danh phận nếu âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch thành công. Họ hết lời ca ngợi chế độ Việt Nam cộng hòa, họ bị đồng đô la che mắt nên sẵn sàng chấp nhận thân phận “con rối”, “chú hề”. Đó là những luận điệu dối trá, khơi gợi hận thù, kích động mâu thuẫn nhằm gây mất ổn định, phá hoại sự đoàn kết, thống nhất của dân tộc. Về bản chất của chế độ Việt Nam cộng hòa, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã từng thừa nhận: “Mỹ còn viện trợ, thì chúng tôi còn chống Cộng. Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau ba giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập”.

Những kẻ bị đồng tiền làm tha hóa, biến chất, sẵn sàng làm tay sai cho các thế lực thù địch để họ thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình ở Việt Nam phải biết rằng: đằng sau đồng đô la “nhơ bẩn” mà họ thụ hưởng ấy chính là máu và nước mắt của đồng bào ta. Họ phải biết rằng, hành động “Rước voi về giày mả tổ”, “Cõng rắn cắn gà nhà” từ xưa trong lịch sử luôn luôn bị lên án. Thời kỳ 1954 - 1975, họ đã tiếp tay cho Mỹ đưa sang Việt Nam hàng triệu lượt quân nhân (có thời điểm cao nhất hơn nửa triệu quân Mỹ cùng có mặt) cùng lính đánh thuê ở nhiều nước khác; đã rải gần 8 triệu tấn bom đạn, gần 80 triệu lít chất độc hóa học cùng nhiều loại vũ khí tối tân khác…

Bom đạn, vũ khí của Mỹ đã gây nên những hậu quả hết sức thảm khốc cho dân tộc ta. Theo thống kê, có khoảng hơn 4 triệu dân thường ở cả miền Nam và miền Bắc bị chết và bị thương tật suốt đời; có khoảng 850.000 quân nhân hy sinh, 600.000 quân nhân bị thương hoặc bị bệnh; có hơn 200.000 hài cốt liệt sỹ vẫn chưa tìm thấy, khoảng 300.000 hài cốt liệt sỹ chưa xác định được danh tính tại các nghĩa trang; có trên 312.000 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; có hơn 3.000 nghĩa trang liệt sĩ trên cả nước… Trong đó, tỉnh Quảng Nam có hơn 65.000 liệt sỹ (là tỉnh có số liệt sỹ nhiều nhất cả nước), trong đó huyện Điện Bàn (tỉnh Quảng Nam) có hơn 19.800 liệt sỹ (là huyện có số liệt sỹ nhiều nhất cả nước). Nước ta hiện có gần 140.000 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, trong đó Quảng Nam có hơn 15.000 mẹ (là tỉnh có nhiều Mẹ Việt Nam Anh hùng nhất cả nước). Ngoài ra, còn rất nhiều hậu quả của chiến tranh vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay, tiêu biểu như những di chứng của thương tật, của chất độc màu da cam, bom mìn còn sót lại... Đó là những sự mất mát, hi sinh, là xương máu, là nỗi đau mà dân tộc ta đã phải trải qua mới có được thắng lợi, thống nhất, hòa bình và độc lập như ngày hôm nay.

Những mất mát, hi sinh, nỗi đau to lớn còn hiện hữu, mỗi người chúng ta đều có thể nhận thức rõ. Vì vậy, tháng 7 hàng năm chúng ta tổ chức các hoạt động nhân Ngày Thương binh liệt sĩ (ngày 27/7) là khoảng thời gian cao điểm thể hiện sự tri ân sâu sắc đối với công lao to lớn của những thương binh, liệt sĩ trong cuộc chiến giành độc lập, bảo vệ Tổ quốc. Đó là những nỗ lực của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân nhằm đền ơn đáp nghĩa, nhằm xoa dịu một phần nỗi đau không gì bù đắp được của những gia đình liệt sỹ, thương binh, những người có công với cách mạng.

Không được phép đem những mất mát, hi sinh, nỗi đau to lớn đó của nhân dân, của dân tộc ra để mà xuyên tạc và bịa đặt. Những kẻ sống như “thân tầm gửi” thiếu gốc rễ, như “con rối” bị giật dây, phải bám vào các thế lực thù địch ở nước ngoài để tìm nguồn sống cho bản thân liệu có sớm tỉnh ngộ!?. Họ đã mù quáng mà vô tình xúc phạm biết bao anh linh của các thế hệ tiền nhân, làm tổn hại tình đoàn kết và tương lai của đất nước.

Họ không biết rằng, ngay cả người Mỹ và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên khắp thế giới đã có nhiều hành động ủng hộ Việt Nam trong cuộc chiến chống Mỹ, cứu nước. Điều đó được thể hiện trong thời gian Mỹ tham chiến tại Việt Nam, đã có 50 quốc gia có phong trào ủng hộ Việt Nam, hơn 200 tổ chức, ủy ban, phong trào đoàn kết ủng hộ Việt Nam, hơn 160 triệu người ở nhiều nước ghi tên tình nguyện sang Việt Nam đánh Mỹ, 83 cơ quan đại diện của Mỹ ở các nước bị nhân dân sở tại đập phá… Ngay trong nội bộ nước Mỹ, cũng có hơn 200 tổ chức chống chiến tranh Việt Nam trên khắp các bang; thậm chí, có những công dân Mỹ tự thiêu để phản đối cuộc chiến… Đó là những bằng chứng hùng hồn cho thấy tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam; ngược lại, cho thấy tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh mà Mỹ tiến hành ở Việt Nam.

Vì vậy, người Việt Nam chúng ta, nhất là lớp trẻ hãy cảnh giác với những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của những kẻ phản quốc, những kẻ bán rẻ lương tâm, xem thường đạo lý dân tộc. Chúng ta - những con người Việt Nam chân chính, một mặt cần nhận thức đúng đắn về bản chất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; mặt khác,quan trọng hơn, cần xác định rõ trách nhiệm của mỗi người trong việc tri ân, đền đáp công lao đối với các thế hệ tiền nhân đã cống hiến, đã hy sinh để gìn giữ sự thống nhất, sự độc lập và tự do cho Tổ quốc. Đặc biệt,cùng nhau nỗ lực phấn đấu để xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2022

VÕ CHÍ CÔNG – NHÀ LÃNH ĐẠO XUẤT SẮC CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC

Đồng chí Võ Chí Công (bí danh Năm Công), nguyên Bí thư Khu ủy Khu 5, nguyên Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (nay là Chủ tịch nước), tên khai sinh là Võ Toàn, sinh ngày 7-8-1912 trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng, tại làng Khương Mỹ, tổng Phú Quý, phủ Tam Kỳ, nay thuộc xã Tam Xuân 1, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.

Từ người yêu nước trở thành người cộng sản, cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công gắn liền với những năm tháng chiến tranh ác liệt và gian khổ, lăn lộn bám dân, bám địa bàn, để lại những dấu ấn sâu sắc trong lòng quân dân Khu 5 và đồng bào cả nước.

Người thanh niên Võ Chí Công sớm giác ngộ cách mạng và hoạt động phong trào thanh niên ở cơ sở từ năm 1930; tháng 5-1935 đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) tại Chi bộ ghép Mỹ Sơn. Thông minh, nhanh nhẹn, giỏi tuyên truyền, vận động, đồng chí tích cực tham gia tổ chức cách mạng bí mật tại quê hương Tam Kỳ, Quảng Nam và gây dựng cơ sở cách mạng tại các tỉnh miền Trung.

Từ năm 1936-1939, trên cương vị Bí thư chi bộ ghép một số xã, dưới sự lãnh đạo của Phủ ủy Tam Kỳ, đồng chí đã lãnh đạo tổ chức đấu tranh chống lại sự đàn áp của địch, khôi phục tổ chức Đảng, giữ vững phong trào cách mạng ở địa phương; kiên trì, bền bỉ giác ngộ những người yêu nước để bồi dưỡng, kết nạp đảng viên, tăng cường đội ngũ cán bộ cho Đảng, đồng thời nỗ lực vận động nhân dân giữ vững niềm tin nhằm duy trì, mở rộng phong trào cách mạng ở địa phương.

Với từng bước trưởng thành trong quá trình hoạt động của mình, tháng 1-1940 đồng chí được phân công đảm trách Bí thư Phủ ủy Tam Kỳ rồi Bí thư lâm thời Tỉnh ủy Quảng Nam vào tháng 3-1940. Tiếp đó, trên cương vị Ủy viên xứ ủy Trung Kỳ phụ trách các tỉnh từ Quảng Nam đến Phú Yên rồi Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam, những năm 1941-1942 đồng chí bí mật lặn lội đi khắp miền Trung, vừa lãnh đạo cuộc đấu tranh chống lại sự khủng bố của địch, vừa gây dựng thêm nhiều cơ sở cách mạng, tái lập hệ thống tổ chức của Đảng, phát triển rộng rãi Mặt trận Việt Minh ở Quảng Nam và Trung Bộ.

Là nhà lãnh đạo có uy tín của Đảng và quần chúng nhân dân, nên đồng chí luôn là mục tiêu săn lùng của kẻ thù.

Tháng 10-1943, đồng chí bị địch bắt, kết án tù chung thân, sau đó giảm xuống 25 năm tù. Mặc dù bị tra tấn rất dã man, nhưng đồng chí luôn giữ vững chí khí của người cộng sản kiên cường, không hé răng nửa lời với địch và đã kiên cường vượt qua những tháng năm bị cực hình tra tấn ở nhà tù Hội An, bị đày ải, giam cầm trong nhà đày Buôn Ma Thuột. Tháng 3-1945, đồng chí được ra tù, trở về Quảng Nam, tiếp tục hoạt động cách mạng, làm Trưởng ban Khởi nghĩa tỉnh, chỉ huy cướp chính quyền ở Quảng Nam – Đà Nẵng.

Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đồng chí Võ Chí Công đã cùng Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời trực tiếp chỉ đạo xây dựng chính quyền cách mạng và lực lượng vũ trang ở Quảng Nam – Đà Nẵng.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đồng chí là một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt của Liên khu V, lãnh đạo nhân dân Liên khu V kiên cường chiến đấu, tăng gia sản xuất, chia lửa với chiến trường chính Bắc Bộ, góp phần vào thắng lợi chung của cả nước với đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trên cương vị là Bí thư Khu ủy kiêm Chính ủy Quân khu V, đồng chí đã vượt qua mọi gian khổ, hy sinh, kiên trì bám đất, bám dân, luôn đi sát cơ sở, sát phong trào, tổ chức chỉ đạo quân và dân Liên khu V chiến đấu không lùi bước, giành được nhiều thắng lợi to lớn.

Tháng 3-1975, Bộ Chính trị chủ trương tập trung lực lượng vào hướng chủ yếu, hành động táo bạo, bất ngờ, quyết tâm giải phóng miền Nam. Đồng chí Võ Chí Công đã tích cực chuẩn bị về mọi mặt cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy, tham gia chỉ đạo đánh mở màn vào Buôn Ma Thuột, giải phóng toàn bộ vùng đất chiến lược Tây Nguyên, làm cho quân địch choáng váng, tháo chạy về Đà Nẵng cố thủ. Nắm bắt thời cơ mới xuất hiện, đồng chí đề xuất ý kiến với Bộ Chính trị, chớp thời cơ tiến công giải phóng Đà Nẵng sớm hơn kế hoạch đã định. Thắng lợi ở Tây Nguyên và Đà Nẵng góp phần tạo thế và lực to lớn cho toàn quân, toàn dân ta đánh thắng ý đồ kéo dài chiến tranh của Mỹ, ngụy, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào ngày 30-4-1975 lịch sử.

Gần 30 năm lãnh đạo quân dân Quảng Nam – Đà Nẵng và Khu V chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đồng chí Võ Chí Công đã có nhiều cống hiến to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, hòa bình, thống nhất đất nước. Những mốc son trên con đường hoạt động cách mạng thời kỳ này của đồng chí đã được ghi vào lịch sử của Đảng ta, tô đậm trang sử kháng chiến oai hùng của quân và dân Nam Trung Bộ.

Thứ Năm, 2 tháng 9, 2021

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHÍNH NGHĨA DỰA TRÊN SỰ SO SÁNH KHẬP KHIỄNG VỚI AFGHANISTAN

Lâu nay, với bản chất xấu độc, chống phá quyết liệt, các thế lực thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị… thường lợi dụng mọi cơ hội, mọi sự kiện, sự việc ở Việt Nam cũng như thế giới để xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo nhằm tuyên truyền chống phá cách mạng nước ta.

Vừa qua, trên một số trang mạng xã hội đã xuất hiện bài viết của một số đối tượng so sánh cuộc chiến tranh ở Afghanistan với cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Đây thực chất là những thông tin sai trái, xấu độc mang tính phá hoại về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của nhân dân Việt Nam.

Người Việt Nam chúng ta luôn muốn khép lại quá khứ, hướng tới tương lai, nhưng không cho phép bất kỳ ai bịa đặt, xuyên tạc sự thật về cuộc kháng chiến anh dũng của mình. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu ba bài viết dưới đây để xem các đối tượng đã xuyên tạc, bịa đặt như thế nào? Đó là các bài viết: "Kabul năm 2021 có phải là Sài Gòn năm 1975?" của Jackhammer Nguyễn; "Afghanistan trong vòng vây Taliban và Sài Gòn năm 1975 có gì khác biệt?" của Minh Dũng và "Chiến tranh Afghanistan đang kết thúc như ở Việt Nam" của Việt Luận.

 Về nguyên nhân cuộc chiến tranh ở Việt Nam, Jackhammer Nguyễn cho rằng "Cuộc chiến ở Việt Nam là để ngăn chặn làn sóng cộng sản tràn xuống Đông Nam Á". Việt Luận cũng viết "Mỹ vào Việt Nam để ngăn chặn họa Cộng sản từ phương Bắc tràn xuống". Còn Minh Dũng thì phán "Mỹ đưa quân vào miền Nam Việt Nam cũng với mục đích là ngăn chặn làn sóng cộng sản như những quân bài Domino tràn xuống Đông Nam Á".

Nhân dân Việt Nam, dư luận quốc tế, trong đó có cả người dân Mỹ đều lên án đó là cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ vào Việt Nam. Thế giới còn nhớ mãi hành động tự thiêu của một số người dân ở Mỹ và các nước khác để phản đối chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ. Thậm chí có hàng trăm sĩ quan, binh lính Mỹ trực tiếp tham chiến ở Việt Nam khi hiểu rõ sự thật, đã phản chiến để phản đối hành động xâm lược của Mỹ. Còn với Việt Nam, rõ ràng đây là cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta chống đế quốc Mỹ để bảo vệ độc lập dân tộc của mình. Vì vậy, 3 đối tượng trên không thể có lý do nào ngụy biện được cho hành vi xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ.

Trong bài viết của mình, Jackhammer Nguyễn cho rằng cuộc chiến tranh ở Việt Nam "do người Mỹ chủ động", "Đó là sự chủ động đến rồi đi của người Mỹ". Sự thật là Mỹ chủ động xâm lược Việt Nam và Mỹ đã bị Việt Nam đánh bại nên buộc phải cuốn cờ cút về nước, chứ không có chuyện Mỹ" chủ động đi” khỏi Việt Nam. Chính Minh Dũng đã viết "Mỹ đã thua cuộc ở Việt Nam, hình ảnh người Mỹ phải di tản trên nóc tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn năm 1975 là một biểu tượng thất bại, mà trong mắt nhiều người đó là một thất bại nhục nhã". Minh Dũng cũng phải thừa nhận thất bại nặng nề về nhiều mặt, trong thời gian dài của Mỹ "Cuộc chiến Việt Nam khiến nước Mỹ tổn thất hơn 58.000 quân. Chiến tranh Việt Nam gây di chứng nặng nề cho nước Mỹ, từ vấn đề xã hội, văn hóa, kinh tế, cho đến học thuyết quân sự của nước này. Nước Mỹ luôn ám ảnh với cuộc chiến ở Việt Nam qua nhiều thế hệ và có ảnh hưởng rất lớn tới các cuộc chiến tranh sau này".

Trong cuộc kháng chiến của mình, quân và dân Việt Nam đã kiên quyết, kiên trì, chiến đấu hy sinh với mục tiêu bất di bất dịch là "đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào" để giành thắng lợi cuối cùng cho độc lập dân tộc. Năm 1965, lính thủy quân lục chiến Mỹ vào Việt Nam, cũng là năm Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12, khóa III của Đảng ta hạ quyết tâm chiến lược cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân: "Động viên lực lượng cả nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào". Và cả dân tộc Việt Nam đã kiên định thực hiện thành công quyết tâm chiến lược đó. Ấy vậy mà trong bài "Chiến tranh Afghanistan đang kết thúc như ở Việt Nam", Việt Luận bịa đặt: "Ở Việt Nam, từ sau Mậu Thân hai ông Richard Nixon và Henry Kissinger đã đi đêm với kẻ thù, bắt tay bắt chưn, ăn chả giò…rồi ký hiệp định rút quân Mỹ để cho kẻ thù làm gì thì làm". Cũng theo Việt Luận: "Mỹ bí mật ngoéo tay với Hà Nội", "Hà Nội từ chối nói chuyện" với "người anh em trong nước", "Hà Nội một mực bác bỏ "Thiệu - Kỳ - Hương", "chỉ săn đón Mỹ mà thôi".

Trên thực tế, Mỹ không ngừng đánh phá, giết hại đồng bào ta ở miền Nam, dùng không quân và hải quân bắn phá miền Bắc, trong đó có cuộc tập kích bằng pháo đài bay B52 tháng 12 - 1972, ném bom cả vào nhà thương, trường học với ý đồ đưa miền Bắc Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá. Những tội ác dã man ấy đã bị quân và dân ta trừng trị đích đáng! Chả lẽ đấy lại là việc "đi đêm", "săn đón Mỹ" của quân và dân Việt Nam ư?

Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai luôn xuyên tạc, bịa đặt về cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam, về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 của quân và dân ta nhằm tuyên truyền xuyên tạc, kích động Cộng sản là "tàn ác", "Cộng sản chiếm được sài Gòn thì sẽ có tắm máu". Nhưng trên thực tế ngày 30-4-1975, quân cách mạng đã vào Sài Gòn trong niềm vui chào đón của nhân dân, với những giọt nước mắt xúc động, hạnh phúc của hòa bình, độc lập, của niềm vui chiến thắng, chứ không hề có "trả thù", "tắm máu"…Thế mà đối tượng Jackhammer Nguyễn vẫn viết liều rằng: "Đoàn người chạy loạn ở miền Nam Việt Nam trong tháng 4-1975 bị thúc đẩy bởi những cảnh giết chóc của lực lượng cộng sản năm 1968, và xa hơn nữa là cảnh đấu tố cải cách ruộng đất 1955". Đối tượng Việt Luận cũng kết bừa: "Năm xưa Việt Nam có hiệp định "chấm dứt chiến tranh và tái lập hòa bình…" để rồi kết thúc bằng máu và nước mắt trong ngày 30 tháng Tư".

Chỉ qua những phân tích sơ bộ từ ba bài viết của ba đối tượng trên cũng đã cho thấy bộ mặt thật và những âm mưu, thủ đoạn xấu xa nhằm cố tình bịa đăt, xuyên tạc về cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Những âm mưu, thủ đoạn, hành động xấu, sai trái, thâm độc, ác ý của thế lực, các đối tượng dù là cũ rích hay mới, có thể hiện dưới hình thức nào, so sánh với gì… cũng đều không thể làm thay đổi được sự thật chính nghĩa và chiến thắng vẻ vang của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại!


Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021

TRẦN GIA PHỤNG NÓI LÁO MÀ KHÔNG ĐỎ MẶT

Mới đây, trên nhiều diễn đàn phản động, Trần Gia Phụng đã tán phát bài viết “Trước ngày 30-4-1975” với mục đích xét lại nguyên nhân của chiến thắng lịch sử 30.4, hòng “tạo cơ sở” cho những mưu đồ phá hoại đất nước. Với góc nhìn thiển cận và giọng điệu của kẻ “ngụy sử” y cho rằng: Sau hiệp định Paris (27-01-1973), trong khi Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ đạn dược và nhiên liệu cho VNCH, khiến quân đội VNCH thiếu phương tiện chiến đấu, thì trái lại, Liên Xô gia tăng gấp bốn (4) lần viện trợ quân sự cho quân đội VNDCCH, làm cho tương quan lực lượng giữa hai bên trong cuộc chiến, nghiêng hẳn về phía VNDCCH. Theo “kết luận” của Trần Gia Phụng thì việc nhận được viện trợ lớn từ phía Liên Xô đã tạo nên “cơ may” để quân và dân ta đánh bại hoàn toàn ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đây là luận điệu xuyên tạc, phủ nhận sự thật lịch sử hết sức lố bịch, vô ơn, bội nghĩa ẩn chứa dã tâm xấu xa.

Trước hết, chúng ta cần khẳng định, chiến thắng vĩ đại 30.4.1975, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ trường kỳ, gian khổ là chiến thắng chính nghĩa của nhân dân Việt Nam trước đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Nguyên nhân cơ bản làm nên chiến thắng này là do Đảng ta, với đường lối lãnh đạo đúng đắn đã quy tụ được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Đồng thời, chiến thắng này bắt nguồn từ nghệ thuật quân sự đặc sắc Việt Nam, kết hợp nhuần nhuyễn giữa “tạo thế”, “tranh thời” và “chuyển lực”, giữa ba vùng mặt trận (thành thị, nông thôn, miền núi), ba cấp độ tác chiến (chiến lược, chiến dịch, chiến thuật), ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích) và ba mũi tiến công (quân sự, chính trị, binh vận). Trong suốt cuộc kháng chiến trường kỳ, chúng ta đã biết tạo thời cơ và triệt để tận dụng thời cơ, mở những cuộc tiến công chiến lược làm thay đổi cục diện chiến tranh, tiến lên thực hiện cuộc tổng tiến công và nổi dậy, đè bẹp quân địch, giành thắng lợi cuối cùng. Điều này đã được lý luận và thực tiễn quân sự thế giới khẳng định: nhân dân ta đánh thắng đế quốc Mỹ là vì chúng ta mạnh hơn đế quốc Mỹ; trong chiến tranh, không bao giờ có chuyện “may rủi”, “tình cờ”. Bên thắng phải là bên mạnh hơn, còn bên thua nhất định phải là bên yếu hơn. Việc Mỹ phải rút quân về nước sau Hiệp định Pari ngày 27/1/1973 và Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là minh chứng hùng hồn đầy thuyết phục, đã nói lên nhận định sâu sắc ấy.

Chúng ta không phủ nhận sự giúp đỡ vô cùng to lớn và quý báu của Liên Xô và Trung Quốc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; nhưng sự giúp đỡ ấy không thể quyết định được chiến thắng của nhân dân ta. “Trường kỳ kháng chiến”, “tự lực cánh sinh”, với quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước không gì có thể lay chuyển của nhân dân ta và sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng mới là nguyên nhân căn bản, quyết định để chúng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, và cuối cùng kết thúc chiến tranh với chiến thắng vang dội. Chỉ những kẻ thiển cận, mang sẵn tư tưởng và mưu đồ “xét lại lịch sử”, “phủ nhận lịch sử” mới cố tình đưa ra những luận điệu xuyên tạc về cái gọi là “cơ may” chiến thắng có được từ sự trợ giúp bên ngoài. Chúng ta phải cảnh giác và vạch trần những luận điệu trơ trẽn và nguy hiểm ấy./.

Thứ Hai, 10 tháng 5, 2021

“CÁN BỘ PHẢI TUYỆT ĐỐI TRÁNH BỆNH QUAN LIÊU”

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “cán bộ là cái gốc của mọi việc, mọi việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Vì vậy, Người luôn chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ cả đức và tài, năng lực và phẩm chất đủ sức gánh vác, hoàn thành sự nghiệp vẻ vang của Tổ quốc. Người cán bộ phải đặt quyền lợi của Đảng, của Tổ quốc lên trên hết và lên trước hết, phải kiên quyết “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, phải trung thành, tận tụy, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, “phải hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”. Người luôn căn dặn cán bộ phải giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng, chống những thói hư, tật xấu, chống quan liêu, cửa quyền, gắn bó mật thiết với nhân dân là một trong những cách tốt nhất để hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, chính quyền nhân dân được thiết lập. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo về nguy cơ của bệnh quan liêu. Trong thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng ngày 17/10/1945, Bác nói tới những lầm lỗi của một số cán bộ như: làm việc trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo. Bác lên án các “ông quan cách mạng”: Coi khinh nhân dân, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt “quan cách mạng” lên mà không biết rằng thái độ kiêu ngạo đó sẽ làm mất đi lòng tin cậy của nhân dân, sẽ hại đến uy tín của Chính phủ.

Trong hoàn cảnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đang diễn ra gay go, ác liệt, tại chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài “Phải tẩy sạch bệnh quan liêu” đăng trên Báo Sự thật ra ngày 2/9/1950. Mở đầu bài viết, Người khẳng định nhiệm vụ của chính quyền, đoàn thể và của mỗi cán bộ đó là “phụng sự nhân dân, nghĩa là làm đầy tớ cho dân, “việc gì có lợi cho dân, dù nhỏ, cũng gắng sức làm, việc gì có hại cho dân, dù nhỏ, cũng hết sức tránh”. Bên cạnh đó, cán bộ cần phải hiểu và làm cho dân hiểu: Lợi ích tạm thời và lợi ích riêng, phải phục tùng lợi ích lâu dài và lợi ích chung. Lợi ích địa phương phải phục tùng lợi ích toàn quốc, toàn dân tộc./.

Thứ Năm, 29 tháng 4, 2021

CHIẾN THẮNG 30/4/1975, CHIẾN THẮNG CỦA LÒNG YÊU NƯỚC VIỆT NAM

Năm tháng sẽ qua đi nhưng thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang sử vàng chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ Việt Nam, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc .

Lịch sử tuy đã lùi xa gần 50 năm qua, nhưng tinh thần chiến thắng 30-4-1975 vẫn mãi mãi tỏa sáng và tiếp tục phát huy giá trị trong thời đại ngày nay và cả mai sau.

Vào lúc 11h30 ngày 30-4-1975, lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tung bay trên nóc dinh Độc Lập của ngụy quyền Sài Gòn, đánh dấu thời khắc lịch sử kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, kết thúc 30 năm trường kỳ gian khổ đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, quân và dân ta đã lập nên nhiều chiến công hiển hách, tiêu biểu nỗi bật đó là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” đặt dấu chấm hết cho sự đô hộ của thực dân Pháp ở Đông Dương nó báo hiệu một mùa Xuân mới của nhân loại đó là mùa Xuân của độc lập và tự do; đó là chiến dịch Tổng tiến công và nỗi dậy Tết Mậu thân 1968 làm thay đổi cục diện chiến trường buộc Mỹ phải ngồi vào bàn Hội nghị Paris; đó là chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” trong 12 ngày đêm tháng 12-1972 không những đập tan âm mưu đưa Hà Nội và miền Bắc “trở về thời kỳ đồ đá” mà đã đánh bại uy danh không lực Hoa Kỳ, làm sụp đổ ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ buộc chúng phải ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam, công nhận độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta, đồng thời mở ra một thời cơ mới “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” và Đại thắng mùa xuân 1975 kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài 21 năm, đánh bại tên đế quốc giàu mạnh nhất thu non sông về một mối, chấm dứt ách đô hộ của thực dân, đế quốc đối với dân tộc ta; mở ra giai đoạn mới giai đoạn hoà bình thống nhất, độc lập và đi lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời bước đầu làm phá sản chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ trên phạm vì toàn thế giới .

Với ý nghĩa vĩ đại đó, chiến thắng 30-4-1975 không chỉ là một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc ta mà còn là dấu ấn mang tầm vóc lịch sử và có ý nghĩa thời đại sâu sắc - nó chứng minh một dân tộc nhỏ bé, nghèo nàn và lạc hậu nếu có một Đảng cách mạng chân chính, đại biểu cho toàn dân tộc, có đường lối cách mạng đúng đắn, biết tập hợp sức mạnh của toàn dân thì có thể đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược dù chúng có hùng mạnh, hiếu chiến bậc nhất thế giới. Và dân tộc ta đã giành được thắng lợi vẻ vang, mở ra một kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đưa đất nước ta vững bước phát triển cho đến ngày nay .

Những năm tháng gian khổ , khó khăn, ác liệt của chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ; những tàng tích chiến tranh cơ bản đã không còn nữa; thế hệ cha, ông đã góp phần làm nên chiến thắng nhiều người cũng đã đi về với thế giới người hiền. Đất nước đã hồi sinh và thay da đổi thịt: từ một nước nghèo đói đã thoát nghèo vươn lên no ấm, GDP bình quân đầu người đã tăng gấp 50 lần, GDP cả nước tăng trên 100 lần, vai trò, vị thế và cơ đồ của dân tộc đã thay đổi với khát vọng và ý chí vươn lên sánh vai cùng các nước phát triển. Tuy nhiên bên cạnh những chứng tích chiến tranh tưởng như đã bị thời gian xóa nhòa, song di chứng của sự tàn khốc, hủy diệt và hậu quả của chiến tranh vẫn để lại trên thân thể cũng như trong ký ức, hiện diện tại hàng nghìn nghĩa trang liệt sĩ, đài tưởng niệm trên khắp đất nước. Để có được ngày vui đại thắng, dân tộc ta đã phải chịu bao đau thương, mất mát, hàng triệu đồng bào, chiến sĩ đã ngã xuống trong hai cuộc kháng chiến, hàng triệu người khác để lại xương máu nơi chiến trường và biết bao người vợ , người mẹ, người con đến nay vẫn mong ngóng người thân được trở về. Có được ngày vui đại thắng chúng ta mới thấy cái giá của độc lập tự do là không có gì có thể so sánh .

Để làm nên trang sử vàng chói lọi đó có thể khẳng định bắt nguồn từ lòng yêu nước thiết tha của con người Việt Nam. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta là lịch sử chống ngoại xâm , giành và giữ độc lập dân tộc, đất nước ta đã phải đương đầu với biết bao cuộc xâm lăng của các thế lực ngoại bang, cũng như sự đe dọa của thiên tai khắc nghiệt. Và lịch sử cũng chứng minh, chính tinh thần yêu nước, đoàn kết ấy đã làm nên sức mạnh của Việt Nam, giúp dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn thử thách, chiến thắng mọi kẻ địch hung hãn, bạo tàn và đại thắng mùa Xuân 1975 là một móc son như vậy .

Chiến thắng 30/4/1975 là chiến thắng của lòng yêu nước, của khát vọng hòa bình, thống nhất, của tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo nhân dân phát huy và nâng lên đỉnh cao trong thời đại mới, xây dựng, củng cố nên khối đại đoàn kết toàn dân - kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại - đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các lực lượng cách mạng, tiến bộ trên thế giới, để thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.

Bốn sáu năm qua, những bài học từ chiến thắng 30-4-1975 tiếp tục được phát huy, nhất là bài học về bồi đắp và xây dựng lòng yêu nước, đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được phát huy chính là nhân tố làm nên sức mạnh nội lực để người Việt Nam vượt qua những hậu quả to lớn nặng nề của chiến tranh, vượt lên mọi khó khăn, thách thức của bao vây cấm vận. Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lê Nin phù hợp với điều kiện hoàn cảnh mới, kiên định con đường Độc lập dân tộc với Chủ nghĩa xã hội, nắm vững tư tưởng Hồ Chí Minh ra sức xây dựng đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” theo đúng di nguyện của Người. Đất nước ta đạt được những thành tựu kinh tế - xã hội to lớn có ý nghĩa lịch sử, giữ vững độc lập và chủ quyền lãnh thổ, ổn định an ninh chính trị, trật tự xã hội, vượt qua thiên tai, đại dịch, phát triển đất nước toàn diện, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế .

Phát huy tinh thần của chiến thắng 30-4-1975 trong giai đoạn cách mạng mới, toàn Đảng, toàn Dân, toàn quân đoàn kết, thống nhất với khát vọng vì một dân tộc Việt Nam giàu mạnh, biết phát huy lòng yêu nước của nhân dân ta, chắc chắn sẽ lại là nhân tố tạo thành sức mạnh tổng hợp giúp đất nước ta, nhân dân ta tiếp tục chiến thắng dịch bệnh Covid19, nhanh chóng phục hồi, ổn định tăng trưởng kinh tế - xã hội , giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, viết tiếp những trang sử mới trong kỷ nguyên hội nhập và phát triển của dân tộc Việt Nam thực hiện thắng lợi mục tiêu : Dân giàu, Nước mạnh , dân chủ, công bằng, văn minh.

Thứ Ba, 23 tháng 3, 2021

LỊCH SỬ CÒN ĐÓ, NHƯNG ĐÃ SANG TRANG

Trong ba mươi năm đấu tranh vì sự nghiệp độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, Sài Gòn luôn là nơi châm ngòi cho những phong trào đấu tranh rộng lớn, mạnh mẽ chống các thế lực ngoại quốc xâm lăng và phản động tay sai. Chỉ sau cuộc đấu tranh ủng hộ học sinh sinh viên chưa lâu, nhân dân Sài Gòn lại tiếp tục đấu tranh phủ đầu âm mưu can thiệp của Mỹ vào Việt Nam, tạo nên Ngày toàn quốc chống Mỹ

Lịch sử còn đó

Từ chỗ ủng hộ Pháp quay lại xâm lược và đô hộ Việt Nam, thực hiện chiến lược toàn cầu, Hoa Kỳ từng bước can thiệp sâu hơn vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Với lực lượng quân sự hùng hậu và hiện đại của mình, Hoa Kỳ đã giễu võ dương oai, nhằm khuất phục ý chí đấu tranh giành độc lập, thống nhất của dân tộc Việt Nam.

Bước vào năm 1950, đối phó với việc Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác chính thức công nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong tháng 1/1950, Mỹ và Anh công nhận công nhận chính quyền Bảo Đại ngày 7/2/1950.

Ngày 23/2/1950, một phái đoàn kinh tế Mỹ do A. Griffin cầm đầu đến Sài Gòn, tiếp theo đoàn khảo sát tình hình của Đại tá Jessup đến Đông Dương gặp Bảo Đại. Ngày 16/3/1950, Mỹ xúc tiến kế hoạch thao diễn lực lượng Hạm đội 7 ở Thái Bình Dương, dọc ven biển Trung Việt. Ngày 14/3/1950, Tư lệnh hạm đội Mỹ, Thủy sư đô đốc Russel S. Berkey đi trên soái hạm Stickwell cùng với khu trục hạm Anderson đến cảng Sài Gòn với ý định biểu dương lực lượng nhằm uy hiếp tinh thần dân Việt Nam, tạo thế chính trị cho Bảo Đại.

Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn quyết định đánh phủ đầu can thiệp Mỹ bằng đòn đấu tranh phối hợp quân sự và chính trị.

20 giờ 20 phút ngày 18/3/1950, đội biệt động của Trung đoàn 300 do Nguyễn Văn Bứa và Lê Tấn Ích chỉ huy, dùng 3 khẩu cối 82 mm, bắn 20 phát đạn xuống khu vực bến Argonne (nay là Tôn Đức Thắng), gần chỗ đậu của hai tàu Mỹ trên sông Sài Gòn.

Ngày 19/3/1950, dưới sự lãnh đạo của Ban Cán sự nội thành, hơn 300.000 đồng bào Sài Gòn đã xuống đường, tiến hành một cuộc biểu tình khổng lồ, đấu tranh trực diện với đế quốc Mỹ. Đồng bào giương cao cờ đỏ sao vàng, biểu ngữ, chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, vừa đi vừa hô vang khẩu hiệu "Đả đảo can thiệp Mỹ, đả đảo đế quốc Pháp và bù nhìn Bảo Đại", "Đế quốc Mỹ cút đi", "Hồ Chí Minh muôn năm". Đoàn biểu tình diễu hành qua các phố chính và chia ra nhiều ngả, tiến về phía cảng. Địch dùng hơi cay đàn áp, đồng bào siết chặt đội ngũ và hành động kiên quyết hơn, đốt cháy xe quân sự của Pháp, cờ Pháp, cờ Mỹ, cờ Bảo Đại bị hạ xuống trên đường đoàn biểu tình đi qua.

Một cánh biểu tình kéo về hướng Tòa Đô Chính, thiếu tá Perrieux lái xe Jeep xông vào toan giật cờ đỏ sao vàng. Hắn bị đánh trọng thương và chết tại bệnh viện Grall. Xe jeep bị đốt. Nguyễn Phan Long, Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Bộ Nội vụ ra lệnh đàn áp. Quần chúng chống lại quyết liệt. Trước khí thế của quần chúng, cảnh sát bỏ chạy. Lính Pháp đóng cửa trại. Cuộc biểu tình kéo dài tới chiều. Sợ những hành động bộc phát có thể nổ ra có cớ cho địch dùng bom, pháo hủy diệt, lãnh đạo Ban Cán sự nội thành quyết định chấm dứt biểu tình bằng cách cho một xe ôtô mui trần, hai thanh niên nam nữ giương cờ đỏ sao vàng thật lớn, mở hết tốc lực chạy qua các đường phố chính, hô to: “Cuộc biểu tình chống Mỹ đã thắng lợi, đề nghị đồng bào về nhà”. Đến 3 giờ chiều, cuộc biểu tình chấm dứt.

Trước sự đón chào “nồng hậu” của đồng bào Sài Gòn –Chợ Lớn, ngay trong ngày 19/3/1950, hai tàu Mỹ lặng lẽ rời Sài Gòn, kế hoạch diễn tập quân sự bị phá sản.

Thắng lợi của cuộc biểu tình ngày 19/3/1950 chẳng những có ý nghĩa cổ vũ tinh thần đấu tranh của nhân dân ta, mà còn giáng một đòn phủ đầu mạnh mẽ vào ý đồ can thiệp vào Đông Dương của đế quốc Mỹ. Đây là cuộc biểu tình chống Mỹ đầu tiên của nhân dân ta. Từ đó, ngày 19/3 hằng năm được gọi là Ngày toàn quốc chống Mỹ.

Lịch sử đã sang trang

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã kết thúc hơn 40 năm. Bình thường hóa quan hệ Việt Nam Hoa Kỳ cũng đã hơn 25 năm, mở ra cơ hội hợp tác toàn diện giữa các quốc gia từng là cựu thù, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của nhau và cùng có lợi.

Nói một cách hình ảnh, những con tàu, hạm đội Hoa Kỳ cách đây 70 năm mang đến chiến tranh và chết chóc, bị xua đuổi phải rời đi, bây giờ đã quay trở lại. Việt Nam đang tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, cần môi trường hòa bình và ổn định để phát triển. Trong quá trình đó, Việt Nam nói không với việc đặt các căn cứ quân sự của nước ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên, các hoạt động giao lưu hướng tới hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Hoa Kỳ ngày càng được đẩy mạnh. Cùng với những chuyến thăm của của Tổng thống Mỹ nhằm củng cố quan hệ song phương cũng như tham dự các sự kiện đa phương, những con tàu Mỹ đã trở lại. Nhưng chúng không mang đến chiến tranh mà mang đến an ninh, an toàn, tự do hàng hải và thịnh vượng cho khu vực biển Đông vốn đã và đang còn nhiều tranh chấp. Những con tàu quân sự của Mỹ đã cập bến Đà Nẵng, Sài Gòn, nhưng không bị xua đuổi mà được chào đón nồng hậu theo đúng nghĩa của nó. Hoa Kỳ cũng đã viện trợ cho Việt Nam, trước hết là lực lượng cảnh sát biển, những con tàu tuần tra hàng nghìn tấn, góp phần để Việt Nam thực thi pháp luật, bảo vệ lãnh hải, bảo vệ ngư dân của mình.

Khép lại quá khứ đau thương, hướng tới tương lai thịnh vượng là chủ trương của hai quốc gia từng là cựu thù là Việt Nam và Hoa Kỳ. Lịch sử còn đó, nhưng đã sang trang./.