Hiển thị các bài đăng có nhãn vị thế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn vị thế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2023

NGHĨ VỀ MÙA XUÂN VÀ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

Lịch sử ghi nhận, trước khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta bị áp bức dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX tuy dấy lên mạnh mẽ và theo nhiều khuynh hướng tư tưởng, con đường khác nhau nhưng đều không thành công, do thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn, thiếu một học thuyết khoa học tiên tiến soi đường.

Mùa xuân, chúng ta cùng ôn lại sự kiện lịch sử: Ngày 3/2/1930, dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam đã tiến hành hội nghị hợp nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là kết quả phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam kết hợp với chủ nghĩa Mác-Lênin, là kết quả quá trình chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ đó, Đảng lãnh đạo đất nước vượt qua muôn vàn khó khăn, gian nan, thử thách để ghi dấu những mốc son chói lọi của đất nước, dân tộc. Cách mạng Tháng Tám thành công cùng sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mở ra kỷ nguyên mới – độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Mang sứ mệnh cao cả, Đảng ta tiếp tục lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, thu non sông về một mối và tiếp tục lãnh đạo sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Những luận điệu chống phá “cũ mèm”

Tuy vậy, trên một số diễn đàn, mạng xã hội, trên trang điện tử tiếng Việt của một số cơ quan báo chí, truyền thông thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam tiếp tục tung ra các bài viết, luận điệu sai trái, xuyên tạc Đảng và Nhà nước Việt Nam không quan tâm đến lợi ích chính đáng của nhân dân và dân tộc Việt Nam. Họ cho rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ đại diện cho lợi ích của một nhóm thiểu số tinh hoa, chứ không đại diện cho lợi ích của quốc gia, lợi ích dân tộc”; “việc Đảng thừa nhận sự tha hóa, biến chất, tham nhũng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chứng tỏ Đảng không đủ tư cách để đại diện cho toàn dân để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc”…

Có ý kiến còn bình luận “việc Đảng kết hợp mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH là siêu hình, trái quy luật và xu thế phát triển của thế giới”. Lại có ý kiến đưa ra lý lẽ lập lờ rằng, nội hàm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc mà Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là mông lung, khó khả thi, vì bảo vệ Tổ quốc chỉ là bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chủ quyền quốc gia, chứ không phải là bảo vệ một đảng phái, một chế độ chính trị nào. Có ý kiến quy kết “chế độ độc đảng lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khiến Việt Nam hiện vẫn là một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu”!

Thủ đoạn mà các thế lực này thường sử dụng là xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ nhận cơ sở lý luận về vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ra sức tuyên truyền cho luận điệu “chủ nghĩa Mác – Lênin đã lỗi thời”; “chủ nghĩa Mác – Lênin là lý thuyết suông về CNXH không tưởng, không có thực”…

Họ đồng nhất sự sụp đổ của CNXH ở Đông Âu, Liên Xô với bản chất của chủ nghĩa Mác – Lênin. Từ đó cho rằng, chủ nghĩa Mác – Lênin không còn phù hợp với thế kỷ XXI, không phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay và cần loại bỏ khỏi đời sống tư tưởng chính trị xã hội. Họ cũng tầm thường hóa tư tưởng Hồ Chí Minh, mục đích sâu xa là phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với vai trò là nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Không dừng lại ở việc xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ nhận cơ sở lý luận về vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền của Đảng, các thế lực thù địch, phản động còn ra sức lợi dụng những tiêu cực nảy sinh trong đời sống xã hội, nhất là tình trạng tham nhũng để gây nhiễu dư luận, xuyên tạc bản chất của chế độ; coi những tiêu cực đó có nguyên nhân là do sự lãnh đạo của Đảng. Nguy hiểm hơn, các đối tượng đưa ra luận điệu “tham nhũng là hệ quả tất yếu của chế độ độc đảng”; “việc phòng chống tham nhũng thực chất là đấu đá trong nội bộ Đảng”. Từ đó, các thế lực này lớn tiếng hô hào đòi thay đổi chế độ, thực hiện “đa nguyên, đa đảng”!

Những ý kiến nêu trên, nếu không cố tình ngụy tạo thông tin, đánh tráo khái niệm, đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất thì cũng là cái nhìn phiến diện theo kiểu “thầy bói xem voi”, chỉ nhìn cây mà không thấy rừng, lồng ghép những lời đơm đặt, xuyên tạc nhằm chống phá, hạ bệ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước.

Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”, với tư cách là “đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam”, trước sau như một, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tuyệt đối trung thành và làm hết sức mình để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân; đồng thời không ngừng củng cố và nâng cao sức mạnh, vị thế, uy tín của đất nước Việt Nam trên trường quốc tế.

Lịch sử 93 năm qua đã chứng minh, từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn phấn đấu rèn luyện để xứng đáng là đội tiên phong, đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, của dân tộc Việt Nam. Khái niệm đảng cầm quyền với đảng lãnh đạo chính quyền của Ðảng Cộng sản Việt Nam là sự thống nhất biện chứng.

Bởi lẽ, sự tồn tại và phát triển của Ðảng là tiền đề, điều kiện cho sự tồn tại, hoạt động của Nhà nước và Nhà nước là một phương thức hoạt động của Ðảng, là đối tượng lãnh đạo của Ðảng. Khi Ðảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng duy nhất cầm quyền thì “mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Ðảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà đất nước ta đạt được sau 37 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng được thể hiện toàn diện trên các lĩnh vực. Kinh tế ra khỏi khủng hoảng và tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN được đẩy mạnh. Từ một đất nước nghèo nàn, có cơ sở vật chất-kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội (KT-XH) lạc hậu, trình độ thấp, đến nay Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; văn hóa, xã hội tiếp tục phát triển; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt; khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố, tăng cường; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh và độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.

Việt Nam đứng trong top 40 nền kinh tế có quy mô GDP lớn nhất thế giới, top 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất. Tính đến năm 2022, quy mô nền kinh tế ước đạt gần 400 tỷ USD; thu nhập bình quân đầu người đạt hơn 4.000USD; quy mô thương mại khoảng 750 tỷ USD, thuộc nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại quốc tế. Việt Nam là nơi hội tụ của hàng vạn nhà đầu tư đến từ 140 quốc gia, vùng lãnh thổ, với gần 35.000 dự án FDI đang hoạt động có tổng vốn đầu tư gần 430 tỷ USD. Không chỉ vậy, Việt Nam thuộc nhóm nước đạt mức cao chỉ số phát triển con người (HDI).

Năm 2020, tỷ lệ nghèo đa chiều theo chuẩn quốc tế giảm còn 4,8% (so với 9,9% năm 2016). Việt Nam đã hoàn thành trước thời hạn nhiều Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ MDG-2015 và đang nỗ lực thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững SDG-2030 của Liên hợp quốc. Nhiều quốc gia trên thế giới coi Việt Nam là một hình mẫu đáng tham khảo, học hỏi kinh nghiệm về việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội. Với những nỗ lực không mệt mỏi năm 2022, chúng ta đạt và vượt 13 chỉ tiêu, 1 chỉ tiêu xấp xỉ đạt trong 15 chỉ tiêu kế hoạch đề ra.

Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với giai cấp, dân tộc và xã hội được xây dựng trên nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh lãnh đạo của Đảng, đồng bộ (hệ thống các văn bản pháp luật) và đồng thuận (điều lệ, quy định) của các tổ chức có liên quan, không phải do Điều lệ Đảng “cố tình” quy định hay xếp đặt. Đây là một yếu tố quan trọng, bảo đảm tính chính danh đầy đủ được quy định tại Điều 4 Hiến pháp năm 2013.

Với những thành quả nêu trên, đầy đủ cơ sở khẳng định rằng, dù thời cuộc có nhiều biến động, thế giới có nhiều đổi thay nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam đã, đang và tiếp tục là lực lượng chính trị duy nhất có đủ vị thế, trí tuệ, năng lực, uy tín để lãnh đạo nhân dân Việt Nam thực hiện toàn diện công cuộc đổi mới, bảo vệ độc lập chủ quyền và xây dựng, phát triển đất nước theo con đường XHCN. Mọi sự xuyên tạc Đảng Cộng sản Việt Nam không quan tâm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc đều không có giá trị và bị thực tiễn bác bỏ.

Theo: Bình Nguyên – Bảo Ninh

Thứ Hai, 9 tháng 1, 2023

VIỆT NAM GIỮ VỮNG VỊ THẾ TRONG NHÓM 30 QUỐC GIA HÙNG MẠNH NHẤT THẾ GIỚI

Với quy mô kinh tế ngày càng tăng, quyền lực mềm và sức ảnh hưởng được công nhận rộng rãi, Việt Nam giữ vững vị thế trong top 30 quốc gia hùng mạnh nhất thế giới năm 2022, theo xếp hạng của hãng US News & World Report.

Theo bảng xếp hạng những đất nước hùng mạnh nhất hành tinh năm 2022, Việt Nam là quốc gia hùng mạnh thứ 30 thế giới với GDP đạt trên 363 tỷ USD; dân số vượt 98,2 triệu dân.

Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam chỉ đứng sau Singapore (vị trí 26), vượt Indonesia (vị trí 32) và Thái Lan (vị trí 36).

Vị thế này khẳng định uy tín và vai trò ngày càng được nâng cao của Việt Nam trên trường quốc tế. Việt Nam thời gian qua cũng được đánh giá cao ở sức mạnh “quyền lực mềm” với đà thăng hạng ngoạn mục, tầm ảnh hưởng trong khu vực cũng như trên thế giới sâu rộng và rõ nét hơn.

Bảng xếp hạng những cường quốc hùng mạnh nhất thế giới do US News & World Report công bố, đánh giá khách quan mức độ ảnh hưởng của các quốc gia, chính sách đối ngoại cũng như sức mạnh chính trị, kinh tế và quân sự của nước đó trên khắp thế giới.

Bảng xếp hạng này là một phần nghiên cứu "Những quốc gia tốt nhất thế giới" hằng năm, khảo sát và đánh giá 85 quốc gia dựa trên phản hồi từ 17.000 người tham gia. Theo bảng xếp hạng, Mỹ, Trung Quốc và Nga là 3 quốc gia hùng mạnh nhất thế giới năm 2022.

Theo: TTXVN

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2022

LỢI ÍCH CỦA VIỆC KHÔNG LIÊN MINH QUÂN SỰ

Không tiến hành liên minh quân sự là biện pháp loại bỏ rủi ro, tác động bất lợi, tránh rơi vào vòng xoáy cạnh tranh giữa các cường quốc. Không tham gia liên minh quân sự để Việt Nam không “chuốc” thêm kẻ thù. Mặt khác, nó còn tạo thuận lợi cho Việt Nam hợp tác thực chất, hiệu quả với tất cả các quốc gia trên thế giới, tham gia sâu rộng và phát huy được vai trò trong các cơ chế, diễn đàn an ninh khu vực, quốc tế.

Không tiến hành liên minh quân sự,mối quan hệ hoà bình, hợp tác, hữu nghị giữa Việt Nam với các nước láng giềng được giữ vữngvàsự hợp tác giữa Việt Nam với các nước sẽ góp phần giữ gìn an ninh biên giới, đối phó với các thách thức an ninh phi truyền thống.

Không liên liên minh quân sự giúp Việt Nam không đánh mất lợi thế địa chiến lược. Khi tiến hành liên minh quân sự có nghĩa là việc “chọn bên” đã được thực hiện. Trong toan tính của bên đối lập, vị trí địa chiến lược của Việt Nam sẽ không còn giá trị lợi dụng. Nhiều quốc gia trung lập khác sẽ không còn mặn mà tìm đến Việt Nam. Vì thế, vị thế địa chiến lược của đất nước suy giảm, làm mất đi cơ hội hợp tác sâu rộng và thực chất với nhiều đối tác.

Trong điều kiện hoà bình, có vị trí địa chiến lược, có “cơ đồ”, vị thế như hiện nay, thì việc liên minh quân sự sẽ là “lợi bất cập hại”. Thay vì tiến hành liên minh quân sự, Việt Nam cần tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, đa dạng hoá, đa phương hoá như Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã chỉ rõ.

Để đối phó với các thách thức bên ngoài, Việt Nam cần xây dựng các mối quan hệ quốc tế song phương, đa phương thực chất, hiệu quả, đồng thời phát huy tối đa sức mạnh nội lực và tranh thủ ngoại lực, nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, vị thế quốc tế để bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”.

Thứ Tư, 4 tháng 5, 2022

ĐIỆN BIÊN PHỦ - 56 NGÀY ĐÊM CHẤN ĐỘNG ĐỊA CẦU

Chiến thắng Điện Biên Phủ đi vào lịch sử của dân tộc Việt Nam như một Bạch Đằng, một Chi Lăng, hay một Đống Đa trong thế kỷ 20 và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa kiểu cũ của chủ nghĩa đế quốc.

Theo đánh giá của tướng H.Navarre và các nhà quân sự Pháp-Mỹ thì “Điện Biên Phủ là một vị trí chiến lược quan trọng đối với chiến trường Đông Dương và cả miền Đông Nam Á, nằm trên trục giao thông nối liền các miền biên giới của Lào, Thái Lan, Miến Điện (Myanmar) và Trung Quốc. Từ Điện Biên Phủ, quân Pháp có thể bảo vệ được Lào, rồi từ đó đánh chiếm lại các vùng đã mất ở Tây Bắc trong những năm 1952-1953 và tạo điều kiện thuận lợi để tiêu diệt các sư đoàn chủ lực của Việt Nam”. Đánh giá Điện Biên Phủ là một vị trí chiến lược quan trọng bậc nhất ở Đông Dương, nên sau khi đánh chiếm Điện Biên Phủ vào ngày 20/11/1953, quân Pháp không ngừng tăng thêm binh lực, vũ khí, trang thiết bị quân sự, xây thêm nhiều công sự, đồn lũy và các loại vật tư khác. Được sự giúp đỡ của Mỹ về cố vấn, trang bị kỹ thuật, kinh tế, Pháp đã xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm quân sự mạnh nhất Đông Dương.

Tính đến tháng 3/1954, tại Điện Biên Phủ đã có 12 tiểu đoàn và bảy đại đội bộ binh, ba tiểu đoàn pháo binh, một đại đội xe tăng, một phi đội máy bay thường trực (14 chiếc). Sau này trong quá trình chiến dịch, quân Pháp tăng viện thêm bốn tiểu đoàn, hai đại đội lính dù, tổng cộng có 17 tiểu đoàn, phần lớn đều là lính tinh nhuệ. Ngoài ra còn có các quân chủng pháo binh, công binh, thiết giáp, phân đội hỏa pháo. Tổng số quân tăng lên hơn 16.000 người và 300 máy bay vận tải tiếp tế, có sự chi viện của không quân Mỹ.

Tại Hội nghị phổ biến nhiệm vụ quân sự và kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954 diễn ra cùng thời điểm quân Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng, “địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ là để che chở cho Lai Châu và Thượng Lào bị uy hiếp. Như vậy là bị động phân tán lực lượng để đối phó với ta. Vô luận rồi đây, địch tình thay đổi thế nào, địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ căn bản là có lợi cho ta."

Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ với bí danh Trần Đình, nhất trí thông qua phương án tác chiến của Tổng Quân ủy. Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy, đồng chí Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng, Lê Liêm - Chủ nhiệm Chính trị, Đặng Kim Giang - Chủ nhiệm Cung cấp.

Với những nỗ lực cao nhất, Việt Nam đã dồn hết sức người, sức của cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Nhiều tầng lớp nhân dân hăng hái lên đường tham gia chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ như công nhân, nông dân, trí thức, văn nghệ sỹ… Và đã có biết bao tấm gương hy sinh trên đường ra trận, nhiều anh hùng quên mình xả thân cho cuộc kháng chiến. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã khẳng định đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ tự lực cánh sinh, đã phát huy cao độ truyền thống yêu nước, ý chí chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.

Đầu tháng 3/1954, thời gian chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tiến công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ với phương châm “đánh chắc, tiến chắc” đã hoàn thành. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ có tất cả 49 cứ điểm, được chia làm ba phân khu. Trên chiến trường, ta mở ba đợt tiến công vào Điện Biên Phủ.

Đợt một của chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn ngày 13/3/1954, với trận tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam thuộc vòng ngoài Phân khu Bắc của tập đoàn cứ điểm. Đợt hai diễn ra ngày 30/3/1954, đánh vào phân khu trung tâm. Đợt ba chiến dịch diễn ra ngày 1/5 và kết thúc ngày 7/5/1954, đánh chiếm các cứ điểm phía Đông và tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Sau 56 ngày đêm chiến đấu, hy sinh, gian khổ, quân và dân Việt Nam đã tiêu diệt toàn bộ Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, buộc thực dân Pháp phải ngồi vào bàn Hội nghị cùng ký Hiệp định Geneva chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược (1945-1954) ở Đông Dương, miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng. Hiệp định Geneva đã tạo được cục diện mới, tạo tiền đề và cơ sở pháp lý rất quan trọng để dân tộc Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975).

Những cột mốc đáng nhớ trong chiến dịch Điện Biên Phủ

20/11/1953, Pháp cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, manh nha ý định xây dựng căn cứ quân sự ở đây và ngăn chặn quân chủ lực Việt Nam chiếm đóng Tây Bắc.

03/12/1953, Navarre chính thức quyết định xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ sau khi nghiên cứu, xem xét và cân nhắc những điều kiện thuận lợi tại thung lũng lòng chảo phía Tây Bắc Việt Nam. Quyết định này đưa tới sự ra đời của tập đoàn cứ điểm “chưa từng thấy” ở Đông Dương với 49 cứ điểm mạnh mẽ, được đầu tư viện trợ tối đa và binh lực và hỏa lực và sự dẫn dắt, chỉ huy của Đại tá De Castries.

06/12/1953, Bộ Chính trị quyết định chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược trong Đông - Xuân 1953 - 1954 của ta với Thực dân Pháp, đồng thời cử Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Bí thư kiêm Tổng tư lệnh mặt trận.

26/01/1954, Tổng tư lệnh mặt trận, Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định chuyển phương châm tác chiến từ “Đánh nhanh, thắng nhanh” sang “Đánh chắc, tiến chắc”.

31/01/1954, Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ chuyển vị trí đóng quân đến khu rừng Mường Phăng trên đại điểm xã Mường Phăng, huyện Điện Biên cách Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ khoảng 40km đường bộ và khoảng hơn 15km đường chim bay.

13/3/1954, Sau khi chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt, ta chính thức mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ tại Trung tâm đề kháng Him Lam, một trong những cụm cứ điểm mạnh nhất của Pháp nằm phía Đông Bắc Tập đoàn cứ điểm.

31/3/1954, Đợt tấn công thứ hai vào Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, nhiệm vụ tập trung vào dãy cao điểm phía Đông, khu sân bay Mường Thanh, thừa cơ tiến vào khu trung tâm, nơi có Sở chỉ huy của De Castries.

01/5/1954, Đợt tấn công cuối cùng nhằm kết thúc số phận của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được tiến hành. Nhiệm vụ quan trọng nhất là tiêu diệt nốt A1 và C2, thừa cơ tiến hành tổng công kích.

06/5/1954, vào lúc 20 giờ 30 phút, khối bộc phá 960kg nổ trên Đồi A1 báo hiệu ngày tàn của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

07/5/1954, sau khi mở được chiếc chìa khóa cuối cùng A1, quân ta từ các hướng tiến thẳng vào hầm chỉ huy của De Castries. Không có sự kháng cự, De Castries cùng Bộ chỉ huy quân Pháp và sau đó là toàn bộ quân đồn trú từ các hầm trú ẩn và các cứ điểm ra hàng.

21/7/1954, Hiệp định Gionever được ký kết, Pháp và các nước tham gia công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, rút quân khỏi Đông Dương./.

Thứ Hai, 28 tháng 2, 2022

NÂNG CAO VỊ THẾ VÀ UY TÍN CỦA ĐẤT NƯỚC

Định hướng công tác đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân và công tác đối ngoại của hệ thống chính trị là một nội dung quan trọng được đề cập trong cuốn sách của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng Với cách gợi mở dung dị nhưng rất sâu sắc, đồng chí đã chỉ rõ quan điểm và quyết tâm tiếp tục xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc dân tộc “cây tre Việt Nam”, “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam.

Đó là tư duy ngoại giao: Mềm mại, khôn khéo nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đoàn kết, nhân ái nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc. Biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái, “tùy cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”. 

 Cũng với cách tiếp cận rất gần gũi, dễ hiểu, Tổng Bí thư chỉ ra mối quan hệ giữa “trong ấm, ngoài êm”, có nghĩa là phải xây dựng đoàn kết nội bộ, xây dựng đất nước "ấm" về kinh tế, về đời sống tinh thần, nội bộ thật sự đoàn kết, ổn định... thì mới có thể thực hiện các mục tiêu góp phần giữ vững môi trường hòa bình, hữu nghị trong khu vực và trên thế giới. Thực tế cho thấy, nhiều năm qua, Quân đội ta đã thực hiện tốt quan điểm này, nâng cao chất lượng công tác đối ngoại quốc phòng, vừa góp phần xây dựng nền hòa bình nhân loại, thực hiện tốt nghĩa vụ quốc tế, đồng thời nhất quán tư duy bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Những tinh thần trong cuốn sách của Tổng Bí thư cần được các cấp ủy, chỉ huy nghiên cứu, phát huy vai trò của từng cá nhân, từng tổ chức trong góp phần nâng cao vị thế và uy tín của đất nước. Những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy cần sớm cụ thể hóa những quan điểm, nội dung trong cuốn sách vào công tác giảng dạy ở các nhà trường trong và ngoài quân đội, góp phần tạo nên một thế hệ con người mới, có tâm thế về trình độ ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ, chủ động hòa nhập, bắt nhịp với xu thế hội nhập quốc tế trong điều kiện hiện nay.

Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021

UY TÍN VÀ VỊ THẾ CỦA VIỆT NAM

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Tô Anh Dũng chia sẻ với báo chí nhiều kết quả ấn tượng từ chuyến công tác tại Anh và Pháp của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính.

Mở ra nhiều cơ hội tăng cường hợp tác với các nước

* Hội nghị COP 26 là một trong những nội dung quan trọng trong chuyến công du lần này của Thủ tướng. Vậy Thứ trưởng có thể khái quát lại kết quả cũng như ý nghĩa dự Hội nghị COP 26 của đoàn Việt Nam do Thủ tướng Phạm Minh Chính dẫn đầu?

- Hội nghị đã thu hút sự tham gia của gần 200 quốc gia thành viên trong đó có 120 Nguyên thủ và Thủ tướng các nước cùng khoảng 36 ngàn đại biểu. Chính vì vậy, việc Thủ tướng Phạm Minh Chính và đoàn Việt Nam tham gia hội nghị mang nhiều ý nghĩa quan trọng và đạt được nhiều kết quả thiết thực.

Đây là bước triển khai cụ thể ở cấp cao chủ trương, đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng lần thứ XIII về “tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế” và Chỉ thị 25 của Ban Bí thư về “đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030”.

Với việc tham gia đóng góp tại hội nghị, chúng ta đã tái khẳng định thông điệp mạnh mẽ tới tất cả bạn bè quốc tế về một Việt Nam trách nhiệm, chủ động, tích cực trong tham gia xử lý một trong những thách thức chung toàn cầu lớn nhất và được quan tâm cao nhất hiện nay là biến đổi khí hậu. Qua đó thể hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Thông qua sự tham gia chủ động, tích cực với những thông điệp sâu sắc thể hiện trong các phát biểu của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại hội nghị, đặc biệt là cam kết liên quan đến việc đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, tham gia cam kết giảm phát thải metan toàn cầu và Tuyên bố Glasgow các nhà lãnh đạo về rừng và sử dụng đất, cộng đồng quốc tế thấy rõ hơn chủ trương, quyết tâm, nỗ lực và cam kết chính trị của Việt Nam trong ứng phó với biến đổi khí hậu.

Trong tiếp xúc song phương nhân dịp hội nghị, lãnh đạo các nước chia sẻ những tác động nghiêm trọng của biến đổi khí hậu cũng như những khó khăn, thách thức chúng ta đang gặp phải. Lãnh đạo các nước cũng coi Việt Nam là hình mẫu về một nước đang phát triển còn nhiều khó khăn nhưng đã có những đóng góp đi đầu về ứng phó biến đổi khí hậu.

Các đề xuất của Thủ tướng được các nước hoan nghênh, ủng hộ. Điều này mở ra nhiều cơ hội để chúng ta tăng cường hợp tác với các nước, các đối tác về tài chính, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực để hỗ trợ các nỗ lực của ta nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu.

Nhân dịp tham dự COP26, Thủ tướng và đoàn Việt Nam đã có hơn 20 cuộc gặp, tiếp xúc song phương với lãnh đạo cấp cao các nước ở tất cả các châu lục, trong đó có các đối tác chiến lược, đối tác lớn và lãnh đạo các tổ chức tài chính quốc tế, năng lượng mới, môi trường...

Qua đó thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam với các đối tác, đưa quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu, hiệu quả, góp phần tích cực củng cố cục diện đối ngoại vững chắc và thuận lợi để giữ vững hòa bình, ổn định và phát triển đất nước.

Đây cũng là dịp chúng ta triển khai ngoại giao vắc xin, ngoại giao y tế, vận động thu hút nguồn lực bao gồm cả tài chính, công nghệ, góp phần tích cực phục vụ phòng chống dịch Covid-19 và phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội.

* Vậy kết quả ngoại giao vắc xin và hợp tác y tế qua chuyến đi lần này đạt được là gì, thưa ông?

- Các nước chia sẻ khó khăn của Việt Nam và đáp ứng tích cực đề nghị của ta. Cụ thể, Pháp công bố viện trợ thêm gần 1,4 triệu liều vắc xin chống Covid-19 qua kênh song phương và cơ chế COVAX, nâng tổng số liều vắc xin Pháp hỗ trợ cho Việt Nam lên hơn 2 triệu liều.

Anh khẳng định sẽ giúp Việt Nam nâng cao năng lực y tế, chuyển giao công nghệ sản xuất vắc xin Covid-19.

Công ty trong nước và Công ty AstraZeneca ký hợp đồng mua 25 triệu liều, nâng tổng số thoả thuận lên hơn 55 triệu liều và cam kết trong tháng 11 và tháng 12/2021 toàn bộ số vắc xin sẽ được đưa về Việt Nam, kịp thời thực hiện nhanh chóng mục tiêu tiêm vắc xin toàn dân của Chính phủ.

Các nước coi trọng vai trò, vị thế của Việt Nam

* Còn hoạt động song phương tại Anh và chuyến thăm chính thức tại Pháp của Thủ tướng đạt những kết quả nổi bật nào, thưa Thứ trưởng?

- Anh và Pháp đều là hai nước lớn trên thế giới, là Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, thành viên Nhóm G-7 và là đối tác chiến lược của Việt Nam. Pháp sẽ đảm nhiệm vai trò Chủ tịch luân phiên EU trong nửa đầu năm 2022. Cả hai nước đang điều chỉnh chính sách hướng đến khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó coi trọng ASEAN và Việt Nam. Trong bối cảnh đó, chuyến thăm làm việc tại Anh và thăm chính thức Pháp đạt được nhiều mục tiêu quan trọng, kết quả thực chất và có ý nghĩa chiến lược.

Cả hai nước dành cho Thủ tướng và đoàn sự đón tiếp hết sức trọng thị và nồng hậu. Mặc dù phải tập trung cao cho Hội nghị COP26, tiếp đón hàng trăm nguyên thủ nhưng cả Hoàng gia và Chính phủ Anh đều coi trọng sự tham dự của Việt Nam.

Thủ tướng Boris Johnson, Thái tử Charles, Thủ hiến ba vùng Scotland, Wales và Bắc Ireland" đều dành thời gian, kể cả ngày nghỉ để hội kiến và tiếp xúc riêng với Thủ tướng. Pháp dành cho Thủ tướng Phạm Minh Chính và đoàn Việt Nam các nghi lễ hơn cả thông lệ, trọng thị và rất thân tình: cả Tổng thống, Thủ tướng hội đàm và chiêu đãi trọng thể, Chủ tịch Quốc hội và Chủ tịch Thượng viện đều hội kiến với Thủ tướng Việt Nam.

Trong các cuộc hội đàm, hội kiến, lãnh đạo các nước bày tỏ coi trọng vai trò, vị thế của Việt Nam, thống nhất những định hướng lớn, giao cho các Bộ, ngành triển khai các biện pháp hợp tác cụ thể nhằm tăng cường lòng tin chiến lược, quyết tâm đưa các khuôn khổ hợp tác với Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực tiếp tục đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn nữa.

Bàn về các vấn đề đa phương, Lãnh đạo Anh, Pháp chia sẻ và ủng hộ Việt Nam trong các vấn đề quốc tế như ứng phó biến đổi khí hậu, an ninh an toàn, tự do hàng hải, hàng không trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS).

* Ông có thể nêu một vài con số cụ thể đạt được từ chuyến công tác của Thủ tướng?

- Kết quả ấn tượng của các hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư trong chuyến đi là với sự chứng kiến của Thủ tướng, gần 60 bản ghi nhớ hợp tác đã được doanh nghiệp Việt Nam và các nước thỏa thuận, tổng giá trị đầu tư cam kết lên đến hơn 30 tỷ USD, tập trung trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, kinh tế số, chuyển đổi số, môi trường, phát triển cơ sở hạ tầng, quy hoạch, công nghiệp hàng không vũ trụ, y tế và phòng chống dịch, giáo dục, nông nghiệp, du lịch… là những định hướng ưu tiên thu hút đầu tư của Việt Nam.

Gần 450 doanh nghiệp hàng đầu của Anh, Pháp và châu Âu tham dự trực tiếp và trực tuyến 2 diễn đàn doanh nghiệp ở Anh và Pháp bày tỏ được khích lệ bởi thông điệp của Thủ tướng là Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh, đồng hành và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp yên tâm đầu tư, kinh doanh dài hạn ở Việt Nam.

Ngoài ra, Thủ tướng đã có gần 40 cuộc tiếp xúc, trao đổi với hơn 60 lãnh đạo các tập đoàn, ngân hàng, trường đại học hàng đầu của Anh, Pháp và Châu Âu. Lãnh đạo các Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thông tin và Truyền thông, Tài nguyên và Môi trường, Y tế cũng đã làm việc riêng với khoảng gần 50 tập đoàn, doanh nghiệp lớn để trao đổi về các dự án đầu tư cụ thể và phương hướng hợp tác trong thời gian tới.

Thứ Tư, 9 tháng 6, 2021

KHẲNG ĐỊNH TẦM VÓC, GIÁ TRỊ SỰ KIỆN NGÀY 5/6/1911

Sự thật hành trình ra đi tìm đường cứu nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước để lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là như vậy. Từng chặng đường Người đã trải qua, những hoạt động của Người từ năm 1890-1969 đều được cập nhật khá đầy đủ trong các bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập 15 tập, Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử 10 tập, trong các cuốn sách Hồ Chí Minh tiểu sử chi tiết và tóm tắt; trong các công trình nghiên cứu khoa học của các học giả ở trong và ngoài nước… Tuy nhiên, bất chấp các thông tin chính xác đã có, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị không chỉ thường bịa đặt, bẻ cong sự thật, xuyên tạc về động cơ sang phương Tây tìm đường cứu nước của Người mà còn hồ đồ suy diễn để bôi đen nội dung lá đơn xin học ở Trường Thuộc địa của Người.

Đối với sự kiện lá đơn xin học và động cơ ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành, có thể khẳng định rằng:

Một là, không thể xuyên tạc mục đích xin học Trường Thuộc địa của Nguyễn Tất Thành, bởi nơi đây chỉ dạy ngôn ngữ và văn minh Pháp cho những thanh niên Việt Nam do Toàn quyền Đông Dương gửi sang học. Trong đó, học viên của Trường Thuộc địa không nhất thiết phải trở thành quan chức (mà Bùi Kỷ, Lê Văn Miến và nhiều người khác là những ví dụ thực tế). Hơn nữa, từ năm 1896 trở đi, cùng với việc đào tạo học viên trở thành nhà cai trị thuộc địa tương lai thì Trường Thuộc địa còn có những lớp dạy cho những người bản xứ các nghề chuyên môn như điện báo, kế toán, công xưởng…

Đồng thời, cũng không thể suy luận và xuyên tạc mục đích xin học Trường Thuộc địa của Người khi cho rằng: Nguyễn Tất Thành ban đầu học tập là vì theo ý muốn của cha để sau này sẽ làm quan triều đình nhà Nguyễn. Tuy nhiên, vì cha đã bị mất chức, nên việc làm quan triều đình nhà Nguyễn không thành, do đó mới tìm cơ hội sang Pháp, xin học ở Trường Thuộc địa, với “mộng làm quan cho thực dân Pháp". Thực chất, Người chưa bao giờ có ý định làm quan cho triều đình nhà Nguyễn, lại càng không bao giờ muốn trở thành quan cai trị thuộc địa tương lai, vì Người không chỉ thấu hiểu rất rõ tâm tư của người cha: “Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ, hựu nô lệ”/nghĩa là “Quan trường là nô lệ trong những người nô lệ, lại càng nô lệ hơn” mà còn có khát vọng lớn lao là "tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những gì tôi muốn, tất cả những điều tôi hiểu!”.

Hơn nữa, luận bàn về lá đơn xin học ở ở Trường Thuộc địa này, nhà sử học Pháp khá nổi tiếng D.Hémery từng nhấn mạnh rằng: "Lá đơn trước hết thể hiện ý muốn tạm thời được học, nhưng đơn xin học còn bao hàm một ý nghĩa khác, tóm tắt trong khẩu hiệu lưu hành lúc đó trong các thanh niên học sinh "xuất dương du học rồi về nhà cứu nước"…, để phổ biến tri thức hiện đại trong các dân tộc thuộc địa". Vì thế, có thể thấy, thực chất của việc xin học ở Trường Thuộc địa là Người muốn được học tập để làm giàu tri thức của mình, với "ý muốn trở thành có ích cho đồng bào tôi, muốn cho họ được hưởng những lợi ích của học thức" như đã trình bày trong lá đơn.

Hai là, sau khi bị Trường Thuộc địa từ chối, với mong muốn tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, Người đã quyết định làm thuê cho một hãng tàu biển, tiếp tục hành trình lao động kiếm sống, học hỏi và hoạt động cách mạng ở nhiều quốc gia, nhiều châu lục. Trong những năm tháng đó, Người có thời gian khám phá, chiêm nghiệm để hiểu được thực chất của “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, của pháp quyền, dân chủ và mô hình tổ chức Nhà nước tư sản; của nhân quyền, pháp quyền, dân chủ, mô hình tổ chức Nhà nước Xô viết và con đường đấu tranh giải phóng dân tộc theo tinh thần của V.I.Lênin, để rồi sau khi đã “trưng cất” được những tinh hoa của nền văn minh phương Đông và phương Tây, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, Người quyết định trở về "giúp ích cho đồng bào mình", lãnh đạo đồng bào mình tiến hành cuộc cách mạng giải phóng, chứ không phải giống như các luận điệu phản động, bịa đặt là: khi “bị từ chối thì bất đắc phiêu lưu kiếm sống, không có thời giờ suy nghĩ chuyện đất nước” và Nguyễn Ái Quốc “đến Liên Xô học tập là hy vọng có việc làm kiếm lương hằng tháng, chứ không phải vì cách mạng Việt Nam”…

Thực tế là từ những tri thức tích luỹ được; từ sự thấu hiểu được nguồn sức mạnh nội lực “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước” và với niềm tin cháy bỏng về một Tổ quốc Việt Nam được độc lập, nhân dân Việt Nam được tự do; với mong muốn đem lại hạnh phúc “cho tất cả mọi người”, Người đã không chỉ tiến hành đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán cho cách mạng Việt Nam, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, xây dựng đường lối chính trị đúng đắn phù hợp điều kiện cụ thể của Việt Nam và xu thế của thời đại là gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, mà còn cùng Đảng xúc tiến xây dựng lực lượng cách mạng, lực lượng vũ trang cách mạng, căn cứ địa cách mạng, xây dựng và củng cố, mở rộng các hình thức Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi… thiết thực, hiệu quả để chuẩn bị cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.

Trong quá trình đó, Người không chỉ thành công trong việc vận dụng học thuyết Mác - Lênin vốn có cơ sở thực tế từ xã hội phương Tây vào thực tiễn một nước thuộc địa, nửa phong kiến, chưa phát triển như Việt Nam mà còn phát triển học thuyết đó lên một tầm cao mới, phù hợp với phần thế giới còn lại - đó là những nước chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, mà Việt Nam là một điển hình.

Ba là, thời gian càng lùi xa, càng khẳng định rằng, hoài bão lớn lao của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành cách đây hơn một thế kỷ đã trở thành sự thật. Từ một sự lựa chọn đúng và khởi đầu một hướng đi đúng, với ý chí, quyết tâm và sự phấn đấu không mệt mỏi cho con đường mình đã chọn, Người ra đi từ bến cảng Sài Gòn năm 1911 đã tìm thấy con đường cách mạng đúng đắn và lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh vì một nước Việt Nam độc lập và thống nhất, tự do và hạnh phúc, ngày một phát triển bền vững.

Đồng thời, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh và kiên định con đường cách mạng do Người cùng Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn, 110 năm sau - một nước Việt Nam "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc" trên hành trình đi lên chủ nghĩa xã hội "đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay" như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định.

Vì vậy, vượt lên sự chống phá, bôi đen, xuyên tạc, bẻ cong sự thật của các thế lực phản động, thù địch, thì vẫn có thể khẳng định rằng: Ngày 5/6/1911 không chỉ là một sự kiện đặc biệt đánh dấu một sự lựa chọn chính xác của Nguyễn Tất Thành mà còn cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam và nhân dân Việt Nam. Đi theo con đường Người đã chọn, đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã hòa mình vào dòng chảy chung của nhân loại; đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo nên sức mạnh tổng hợp về thế, về lực, về thời để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển vững mạnh và phồn vinh, từng bước khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế, sánh vai cùng bạn bè quốc tế./.

Thứ Ba, 11 tháng 5, 2021

VỊ THẾ QUỐC TẾ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NA

Các đảng, các nước (kể cả các nước từng có quan hệ thù địch trước đây với Việt Nam như Hoa Kỳ, Anh, Pháp...) đều tôn trọng thể chế chính trị của Việt Nam. Các chuyến thăm nước ngoài của Tổng Bí thư Đảng ta đều được các nước, các đảng hết sức coi trọng, tiếp đón với tư cách là nhà lãnh đạo cao nhất, người đứng đầu chính thể Việt Nam.

Các đảng, các nước, không phân biệt hệ thống chính trị, khuynh hướng chính trị, nhận thức rất rõ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đều mong muốn củng cố và mở rộng quan hệ với Đảng Cộng sản Việt Nam. Hiện Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát triển quan hệ ở nhiều mức độ khác nhau với 247 chính đảng ở 111 quốc gia, trong đó 96 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 28 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính. Các đảng, các nước, các đối tác đánh giá đóng góp của Đảng Cộng sản Việt Nam trên nhiều mặt. Năm 2016, Đảng Cộng sản Việt Nam lần đầu đăng cai tổ chức IMWCP lần thứ 18 tại Hà Nội với sự tham gia của 57 đảng công nhân và công nhân đến từ 48 nước.

Thứ Sáu, 7 tháng 5, 2021

CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ - NHỮNG TRANG SỬ VÀNG HÀO HÙNG CỦA DÂN TỘC

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã khẳng định đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Điện Biên Phủ là một thung lung lòng chảo rộng lớn ở phía Tây vùng núi Tây Bắc, có chiều dài khoảng 20km, rộng từ 6-8km; cách Hà Nội khoảng 200km, cách Luang Prabang (Lào) khoảng 190km theo đường chim bay.

Theo đánh giá của tướng H.Navarre và các nhà quân sự Pháp-Mỹ thì “Điện Biên Phủ là một vị trí chiến lược quan trọng đối với chiến trường Đông Dương và cả miền Đông Nam Á, nằm trên trục giao thông nối liền các miền biên giới của Lào, Thái Lan, Miến Điện (Myanmar) và Trung Quốc." "Điện Biên Phủ là một cánh đồng rộng lớn nhất, đông dân và giàu có nhất vùng Tây Bắc." Từ Điện Biên Phủ, quân Pháp có thể bảo vệ được Lào, rồi từ đó đánh chiếm lại các vùng đã mất ở Tây Bắc trong những năm 1952-1953 và tạo điều kiện thuận lợi để tiêu diệt các sư đoàn chủ lực của Việt Nam.

Đánh giá Điện Biên Phủ là một vị trí chiến lược quan trọng bậc nhất ở Đông Dương, nên sau khi đánh chiếm Điện Biên Phủ vào ngày 20.11.1953, quân Pháp không ngừng tăng thêm binh lực, vũ khí, trang thiết bị quân sự, xây thêm nhiều công sự, đồn lũy và các loại vật tư khác. Được sự giúp đỡ của Mỹ về cố vấn, trang bị kỹ thuật, kinh tế, Pháp đã xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm quân sự mạnh nhất Đông Dương.

Tính đến tháng 3.1954, tại Điện Biên Phủ đã có 12 tiểu đoàn và bảy đại đội bộ binh, ba tiểu đoàn pháo binh, một đại đội xe tăng, một phi đội máy bay thường trực (14 chiếc). Sau này trong quá trình chiến dịch, quân Pháp tăng viện thêm bốn tiểu đoàn, hai đại đội lính dù, tổng cộng có 17 tiểu đoàn, phần lớn đều là lính tinh nhuệ. Ngoài ra còn có các quân chủng pháo binh, công binh, thiết giáp, phân đội hỏa pháo. Tổng số quân tăng lên hơn 16.000 người và 300 máy bay vận tải tiếp tế, có sự chi viện của không quân Mỹ.

Về phía Việt Nam, việc quân Pháp nhảy dù tái chiếm Điện Biên Phủ không làm đảo lộn kế hoạch tác chiến chiến lược Đông Xuân 1953-1954 của Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, ngay cả trên hướng Tây Bắc. Trên các hướng đã được xác định, khối chủ lực vẫn mở các cuộc tiến công đúng như kế hoạch gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại và bị động đối phó.

Tại Hội nghị phổ biến nhiệm vụ quân sự và kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954 diễn ra cùng thời điểm quân Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng, “địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ là để che chở cho Lai Châu và Thượng Lào bị uy hiếp. Như vậy là bị động phân tán lực lượng để đối phó với ta. Vô luận rồi đây, địch tình thay đổi thế nào, địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ căn bản là có lợi cho ta."

Các đòn tiến công chiến lược quan trọng của Việt Nam trong Đông Xuân 1953-1954 đã buộc khối cơ động của địch phải phân tán đối phó trên nhiều hướng, tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân Việt Nam thực hiện trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ.

Ngày 6.12.1953, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ với bí danh Trần Đình, nhất trí thông qua phương án tác chiến của Tổng Quân ủy. Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy, đồng chí Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng, Lê Liêm - Chủ nhiệm Chính trị, Đặng Kim Giang - Chủ nhiệm Cung cấp.

Với những nỗ lực cao nhất, Việt Nam đã dồn hết sức người, sức của cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Nhiều tầng lớp nhân dân hăng hái lên đường tham gia chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ như công nhân, nông dân, trí thức, văn nghệ sỹ… Và đã có biết bao tấm gương hy sinh trên đường ra trận, nhiều anh hùng quên mình xả thân cho cuộc kháng chiến.

Đầu tháng 3.1954, thời gian chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tiến công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ với phương châm “đánh chắc, tiến chắc” đã hoàn thành. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ có tất cả 49 cứ điểm, được chia làm ba phân khu. Trên chiến trường, ta mở ba đợt tiến công vào Điện Biên Phủ.

Đợt một của chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn ngày 13.3.1954, với trận tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam thuộc vòng ngoài Phân khu Bắc của tập đoàn cứ điểm. Đợt hai diễn ra ngày 30/3/1954, đánh vào phân khu trung tâm. Đợt ba chiến dịch diễn ra ngày 1.5 và kết thúc ngày 7.5.1954, đánh chiếm các cứ điểm phía Đông và tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Sau 56 ngày đêm chiến đấu, hy sinh, gian khổ, quân và dân Việt Nam đã tiêu diệt toàn bộ Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã khẳng định đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ tự lực cánh sinh, đã phát huy cao độ truyền thống yêu nước, ý chí chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đi vào lịch sử của dân tộc ta như một Bạch Đằng, một Chi Lăng, hay một Đống Đa trong thế kỷ 20, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa kiểu cũ của chủ nghĩa đế quốc.

Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ đã khẳng định sức mạnh to lớn của nhân dân Việt Nam. Có thể nói, thực dân pháp và can thiệp Mỹ đã hoàn toàn bất ngờ trước sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam, trước việc “Việt Minh” có đủ lương thực và vũ khí để chiến đấu liên tục trong suốt gần hai tháng trên địa bàn hiểm trở, xa hậu cứ trước việc xuất hiện của trọng pháo trên trận địa đỉnh núi…

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, buộc thực dân Pháp phải ngồi vào bàn Hội nghị cùng ký Hiệp định Geneva chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược (1945-1954) ở Đông Dương, miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng. Hiệp định Geneva đã tạo được cục diện mới, tạo tiền đề và cơ sở pháp lý rất quan trọng để dân tộc Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975).

Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2021

ĐẠI HỘI XIII - CƠ HỘI ĐỂ QUẢNG BÁ HÌNH ẢNH ĐẤT NƯỚC, NÂNG CAO VỊ THẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM

191 cơ quan báo chí trong nước, 26 các cơ quan thông tấn, báo chí nước ngoài thường trú tại Hà Nội và nhiều hãng truyền thông quốc tế khác sẽ đưa tin về Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra tại Hà Nội từ ngày 25/1 đến ngày 2/2/2021.

Do ảnh hưởng của đại dịch Covid, lần đầu tiên trong 13 lần tổ chức đại hội Đảng toàn quốc những hãng thông tấn, báo chí quốc tế không đến được Việt Nam sẽ theo dõi, đưa tin về ĐH 13 bằng hình thức trực tuyến. Nhưng sẽ không vì thế mà thông tin về sự kiện chính trị quan trọng này của Việt Nam không đến được với thế giới kịp thời và đầy đủ. Theo ông Võ Văn Thưởng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, các phóng viên đưa tin về Đại hội XIII từ nước ngoài sẽ được tạo điều kiện tối đa để thông tin về sự kiện này.

Trung tâm Báo chí của Đại hội dự khai trương vào ngày 22/1 được thiết kế hiện đại, với đường truyền và băng thông tốt nhất với thông tin được cập nhật thường xuyên, liên tục bằng nhiều thứ tiếng khác nhau, hoạt động 24/24 tiếng trong suốt thời gian diễn ra Đại hội.

Năm nay, Đại hội XIII diễn ra trong bối cảnh thế giới đang chứng kiến những thay đổi vô cùng sâu sắc, nhanh chóng do tác động của đại dịch Covid, cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt cùng với nhiều yếu tố phức tạp, khó dự đoán về chính trị, an ninh, kinh tế, xã hội.

Việt Nam đang ở thời điểm có tính bước ngoặt với rất nhiều cơ hội để tạo ra những bước đột phá, đưa đất nước sang một giai đoạn phát triển hoàn toàn mới. Thành công trong việc khống chế đại dịch Covid-19 đã đưa cái tên Việt Nam lên trang nhất của nhiều cơ quan truyền thông lớn nhất một cách liên tục trong suốt năm 2020. Việt Nam đang là “Ngôi sao sáng tại Châu Á”. Tiếng nói của Việt Nam tại các diễn đàn khu vực và quốc tế ngày càng được lắng nghe. Việt Nam đang từng bước trở thành một quốc gia chủ động trên chính trường quốc tế, đóng góp ý tưởng, sáng kiến, xây dựng, định hình các quy tắc, luật lệ mới trên các sân chơi đa phương quốc tế, góp tiếng nói bình đẳng vào việc giải quyết những vấn đề quan trọng của thế giới.

Hãng tin Sputnik của Nga nhận định: Việt Nam là hình mẫu anh hùng đích thực của năm 2020. Những thử thách mà Việt Nam đối mặt và vượt qua đã cho thấy sức mạnh kiên cường của nhân dân và sự sáng suốt của ban lãnh đạo đất nước, nhận được sự kính trọng, ngưỡng mộ chân thành của cộng đồng thế giới và nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Theo bảng xếp hạng về “Chỉ số quyền lực tại châu Á” năm 2020 của Viện Lowy – viện nghiên cứu chính sách đối ngoại hàng đầu của Australia – Việt Nam lại tiếp tục thăng hạng, vượt qua New Zealand lên xếp thứ 12 trong tổng số 26 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Bước sang năm 2021, truyền thông thế giới vẫn đang theo sát những chuyển động và bước đi tiếp theo của Việt Nam. Đại hội XIII của ĐCS Việt Nam sắp tới thu hút sự chú ý đặc biệt của truyền thông quốc tế không những chỉ như một sự kiện chính trị quốc gia trọng đại của Việt Nam, mà còn do vai trò, vị thế quốc tế ngày càng quan trọng của Việt Nam. Vì thế, đây sẽ là một cơ hội tuyệt vời để quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới như một đất nước hòa bình, ổn định về chính trị, xã hội, an toàn trong cuộc sống, có độ tin cậy chiến lược cao, năng động, có rất nhiều tiềm năng phát triển, một người bạn tốt và một đối tác có trách nhiệm với những vấn đề quốc tế chung.

Sự theo dõi, đưa tin của các cơ quan báo chí, thông tấn nước ngoài về Đại hội XIII dù là trực tiếp hay bằng hình thức trực tuyến là một cơ hội quý để thế giới đang nhìn nhận Việt Nam một cách trực diện qua những thông tin khách quan, trung thực nhất, chứ không phải qua lăng kính méo mó của một số thông tin bịa đặt, xuyên tạc của các thế lực xấu trên MXH. Tiếng nói của truyền thông quốc tế chắc chắn sẽ góp phần tiếp tục nâng cao hình ảnh, vị thế của đất nước trên trường quốc tế, góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2020

VIỆT NAM THAM GIA LỰC LƯỢNG “MŨ NỒI XANH” – NÂNG CAO VAI TRÒ, VỊ THẾ VÀ HÌNH ẢNH VIỆT NAM

Có thể thấy rõ rằng, việc Việt Nam tham gia lực lượng GGHB của LHQ là một hoạt động đối ngoại quan trọng, thực hiện sứ mệnh quốc tế cao cả, thể hiện vai trò, trách nhiệm của Việt Nam đối với một lĩnh vực trọng yếu của cộng đồng quốc tế. Hoạt động này đã góp phần tăng thiện cảm của quốc tế đối với đất nước, con người Việt Nam.

Cùng với việc thực hiện tốt các hoạt động chuyên môn theo nhiệm vụ được giao, các sĩ quan "mũ nồi xanh" Việt Nam còn tích cực làm công tác dân vận như tham gia dạy học, hướng dẫn người dân bản xứ trồng rau xanh, hướng dẫn các bà mẹ chăm sóc trẻ nhỏ đúng cách, may khẩu trang phòng, chống dịch Covid-19 tặng đồng đội và người dân địa phương... đã tạo ấn tượng đẹp về Bộ đội Cụ Hồ, về đất nước và con người Việt Nam.

Các bệnh viện dã chiến của LHQ bình quân mỗi năm chỉ thu dung khoảng 200 bệnh nhân, thì hai bệnh viện dã chiến của Việt Nam mỗi năm đã thu dung gấp hơn 10 lần, với hơn 2.000 bệnh nhân/bệnh viện. Chính vì hiệu quả công việc và thiện cảm tạo ra mà tỷ lệ các sĩ quan "mũ nồi xanh" của Việt Nam được LHQ đánh giá xuất sắc lên tới 33,3% (10/30 đồng chí được đánh giá), gấp nhiều lần so với mức trung bình khoảng 1-2% sĩ quan "mũ nồi xanh" được LHQ đánh giá là xuất sắc hằng năm theo thông lệ. Hai bệnh viện dã chiến cấp 2 của Việt Nam là những đơn vị có tỷ lệ nữ cao hơn tỷ lệ khuyến khích 15% do LHQ đưa ra, được LHQ biểu dương. Chính từ những kết quả trên mà LHQ đã gửi lời cảm ơn, ca ngợi lực lượng GGHB LHQ của Việt Nam.

Thứ Tư, 19 tháng 6, 2019

VỊ THẾ, UY TÍN CỦA VIỆT NAM NGÀY CÀNG TĂNG LÊN

Vị thế, uy tín của Việt Nam ngày càng tăng lên là một thực tế khách quan, chứ không phải cứ nói là được. Thực lực tổng hợp của quốc gia; sự đoàn kết và nỗ lực quyết tâm của toàn thể dân tộc; tính đúng đắn, quang minh, chính đại thể hiện mục tiêu hòa bình, hợp tác và phát triển của đường lối, chính sách đối ngoại là những yếu tố quyết định tạo nên vị thế, uy tín cho đất nước. Vị thế, uy tín đó phản ánh một Việt Nam thực sự có “giá trị” và có thể gọi là “giá trị chiến lược” trong quan hệ quốc tế.
“Giá trị chiến lược” của Việt Nam được cấu thành bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài. Bên trong, phải có sức mạnh nội lực, như: quốc phòng, an ninh đủ mạnh; khối đại đoàn kết toàn dân tộc và chính trị - xã hội ổn định; sự trong sạch, vững mạnh của Đảng và Nhà nước; những yếu tố lịch sử, truyền thống, hiện tại và tương lai phát triển; chính sách đối ngoại đúng đắn, độc lập, tự chủ. Thậm chí, cả những yếu tố mang “thương hiệu” Việt Nam, như đã từng là ngọn cờ đầu trong phong trào giải phóng dân tộc, là đất nước kiên định và vững vàng đi  theo con đường xã hội chủ nghĩa, không ngừng phát triển và đạt được nhiều thành tựu to lớn trong một thế giới đầy biến động. Ngược lại, “Giá trị chiến lược” là “điểm tựa” vững chắc cho việc thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại, không ngừng được phát huy, phát triển.
Việc được bầu vào Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc với sự tín nhiệm cao như vậy là bước khởi đầu rất thuận lợi giúp cho Việt Nam vượt qua những thử thách sắp tới để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Chúng ta đã từng làm tốt nhiệm vụ khi lần đầu tiên được bầu vào vị trí này trong nhiệm kỳ 2008-2009. Vì thế, nhiệm kỳ tới nhất định chúng ta sẽ làm tốt, chứ không phải ngồi vào ghế để “tuyên truyền cho vị thế và hình ảnh nhà cầm quyền là chính, đâu có sáng kiến đóng góp gì đáng kể cho cộng đồng quốc tế” như những luận điệu cố tình xuyên tạc của các thế lực thù địch!
Chúng ta cũng hiểu rõ niềm vinh dự, tự hào, nghĩa vụ, trách nhiệm cũng như những cơ hội và thách thức của Việt Nam khi là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Việt Nam đã và sẽ tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; thúc đẩy tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, góp phần tích cực vào những nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế vì hòa bình, hợp tác và phát triển”1. Những ai còn hồ đồ chống phá, xuyên tạc vị thế, uy tín của Việt Nam cần hiểu rõ, hiểu đúng quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng ta cùng thực thế Việt Nam trên trường quốc tế để tránh có cách nhìn thiển cận, “đổi trắng thay đen”, “thọc gậy bánh xe” trên con đường phát triển, hội nhập của Việt Nam.