Hiển thị các bài đăng có nhãn thuận lợi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thuận lợi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2022

“...CHỈ CÓ HAI HẠNG NGƯỜI KHÔNG MẮC KHUYẾT ĐIỂM”

Trong bài nói tại Hội nghị nghiên cứu lịch sử Đảng của Ban Tuyên giáo Trung ương, ngày 28-11-1959, được Báo Nhân Dân số 2093, đăng ngày 9-12-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh huấn thị: “…Chỉ có hai hạng người không mắc khuyết điểm: Là đứa bé còn ở trong bụng mẹ và người đã chết bỏ vào quan tài. Có hoạt động thì khó tránh khỏi khuyết điểm. Nhưng khi có khuyết điểm thì phải thật thà tự phê bình, hoan nghênh người khác phê bình và kiên quyết sửa chữa”.

Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ mới với đặc điểm: Đất nước tạm thời chia cắt làm hai miền, miền Bắc đã có hòa bình, dưới sự lãnh đạo của Đảng đang bắt đầu xây dựng một xã hội mới, miền Nam vẫn còn dưới ách đô hộ, áp bức của chủ nghĩa đế quốc. Đây cũng là thời điểm Đảng và Chính phủ, các cấp và các ngành từ Trung ương đến địa phương tiến hành công tác sửa sai trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc một cách kiên quyết và toàn diện, trên tinh thần đề cao, thật thà tự phê bình và phê bình (TPB&PB) để nghiêm túc khắc phục, sửa chữa khuyết điểm.

Trong sinh hoạt và hoạt động thực tiễn, mỗi con người và mỗi tổ chức đều có những ưu điểm và khuyết điểm, có mặt thuận lợi và khó khăn, có nhân tố tích cực và tiêu cực, có cái tiến bộ và cái lạc hậu. Quá trình phát triển của mỗi con người, mỗi tổ chức như thế nào và theo chiều hướng nào phụ thuộc chính vào cách thức giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt tốt - xấu, thuận lợi - khó khăn, tích cực - tiêu cực. Mỗi đảng viên và tổ chức đảng cũng như vậy; muốn tiến bộ và phát triển thì phải phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm. Muốn sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, phải đề cao và thật thà TPB&PB.

Quán triệt và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về TPB&PB, trong suốt quá trình xây dựng và hoạt động, Đảng ta luôn coi trọng TPB&PB; coi đó là quy luật phát triển của Đảng, là thước đo trình độ sinh hoạt dân chủ trong Đảng và là ý thức trách nhiệm của Đảng với nhân dân. TPB&PB là biện pháp quan trọng để giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ Đảng, để giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, vấn đề TPB&PB càng trở nên cần thiết hơn.

QĐND

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2022

THỜI CƠ VÀ THUẬN LỢI CỦA THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Về tổng thể, xét trên cả bình diện thế giới và trong nước, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay diễn ra trong điều kiện có những thời cơ và thuận lợi to lớn đan xen với nhiều khó khăn, thách thức.

Việt Nam quá độ lên CNXH là phù hợp với qui luật phát triển khách quan của lịch sử và nguyện vọng của nhân dân ta. Vì vậy, Việt Nam đã và đang nhận được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới và đông đảo bạn bè quốc tế. Hiện nước ta đã có quan hệ ngoại giao với hơn 180 quốc gia. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang kiên định thực hiện có hiệu quả mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam - một đảng cách mạng đã được tôi luyện qua các thời kỳ cách mạng. Thời kỳ quá độ lên CNXH nước ta đã chuyển sang chặng đường phát triển mới: thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã vạch rõ: “Chúng ta có nhiều thuận lợi cơ bản: có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, có bản lĩnh chính trị vững vàng dày dặn kinh nghiệm lãnh đạo; dân tộc ta là một dân tộc anh hùng; nhân dân ta có lòng yêu nước nồng nàn, có truyền thống đoàn kết và nhân ái, cần cù lao động và sáng tạo, luôn ủng hộ và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; chúng ta đã từng bước xây dựng được những cơ sở vật chất - kỹ thuật rất quan trọng; cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, sự hình thành và phát triển của kinh tế tri thức cùng với quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là một thời cơ để phát triển”. Hơn nữa, con đường đi lên CNXH của Đảng và nhân dân ta ngày càng sáng rõ. Mục tiêu, đặc trưng, những phương hướng cơ bản và những quan hệ lớn mang tính quy luật trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc tiếp tục được bổ sung, cụ thể hoá, phát triển với những nhận thức quan trọng. Đó chính là những yếu tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Một thuận lợi cơ bản trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay là chúng ta có những tiềm năng, thế mạnh về tài nguyên, vị trí địa lý, nguồn lao động dồi dào của thời kỳ dân số vàng, những giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc, nền văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc các dân tộc, ý chí và nghị lực của con người Việt Nam. Đây là những lợi thế so sánh trong hội nhập phát triển của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên; nguồn nhân lực, đội ngũ công nhân kỹ thuật cao, lành nghề. Đây là tiền đề quan trọng để đất nước ta tiếp thu, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới, là cơ hội lớn để Việt Nam thu hút đầu tư, chuyển giao khoa học công nghệ.

Cùng với đó, thành tựu, kinh nghiệm của thời kỳ đổi mới đã tạo ra cho đất nước thế và lực mới, có sức mạnh tổng hợp to lớn về nhiều mặt. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.Điều đó tạo ra cho đất nước thời cơ và vận hội mới, nâng tầm Việt Nam trên trường quốc tế. Những năm tới là giai đoạn kinh tế nước ta tiếp tục phục hồi, lấy lại đà tăng trưởng sau thời kỳ suy giảm. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên. Nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước có thu nhập trung bình. Các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá, an sinh xã hội có nhiều tiến bộ. Tình hình chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ XHCN, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được củng cố và phát huy. Nước ta mở rộng giao lưu, nâng tầm hợp tác với các nước lớn, với các nước khắp năm châu, tạo điều kiện cho hoạt động kinh tế phát triển và thu hút vốn đầu tư, khoa học công nghệ tiên tiến của các nước.

Bên cạnh đó, tình hình thế giới và những đặc điểm của thời đại hiện nay đã mở ra thời cơ lớn để nước ta có thể phát triển nhanh và bền vững, tạo những điều kiện thuận lợi cho nước ta quá độ đi lên CNXH. Hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển là xu thế lớn. Trật tự thế giới mới theo xu hướng đa cực ngày càng rõ. Các nước tăng cường hợp tác và giao lưu quốc tế trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền, lãnh thổ của nhau. Cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội tiếp tục phát triển dù có những khó khăn, phức tạp. Một số nước kiên định con đường XHCN đã tiến hành cải cách, đổi mới và thu được nhiều thành tựu phát triển như Trung Quốc, Cu Ba. Phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế đã có sự phục hồi và phát huy ảnh hưởng trên con đường đấu tranh vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ.

Loài người đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với nền tảng công nghệ kỹ thuật số, nền kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ. Mặc dù có những “cấm vận” với một vài quốc gia nhưng toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ, tác động đa chiều đến các nước, mang tính vừa hợp tác vừa cạnh tranh, tùy thuộc vào nhau. Quá trình quốc tế hóa sản xuất và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu rộng. Kinh tế thế giới tuy còn nhiều khó khăn sau đại dịch Covid - 19 và bất ổn chiến tranh, xung đột nhưng sẽ phục hồi. Sự phát triển của cách mạng khoa học, công nghệ và đặc điểm giai đoạn hiện nay của thời đại đã tạo ra cơ hội thuận lợi để nước ta tiếp cận với nguồn vốn, khoa học công nghệ, trình độ quản lý kinh tế - xã hội tiên tiến của thế giới trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đảng và Nhà nước ta đã chủ động nắm bắt xu thế quốc tế, mở rộng quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội với các nước, các tổ chức quốc tế, đem lại thời cơ thuận lợi để Việt Nam xây dựng cơ sở kinh tế - xã hội của CNXH, có điều kiện phát triển kinh tế nhanh, bền vững. Vì vậy, chúng ta cần nắm bắt thời cơ, tranh thủ các cơ hội quốc tế thuận lợi để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trên cơ sở độc lập, tự chủ, nhằm phát triển đất nước, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, tăng cường vị thế và tiềm lực đất nước. Có như vậy, nước ta mới có thể rút ngắn thời gian phát triển trong chặng đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Thứ Ba, 10 tháng 8, 2021

NIỀM TIN VỮNG CHẮC VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA

Nước ta quá độ lên CNXH tuy không còn có sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước XHCN như trước, nhưng trong giai đoạn mới của thời đại, khi cách mạng khoa học-công nghệ và toàn cầu hóa đời sống thế giới, tất cả các nước đều ở trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, không một nước nào sống biệt lập mà có thể phát triển được. Sự hợp tác kinh tế với các nước bằng nhiều hình thức sinh động trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau dưới bất kỳ hình thức nào, sẽ tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý, phục vụ cho việc phát triển kinh tế đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của CNXH. Đó cũng là một khả năng thực tế mà chúng ta đã và đang cố gắng tận dụng, đưa nước ta hòa nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Mặt khác, không chỉ có thời cơ mà còn có cả những thách thức, những nguy cơ. Trong hợp tác kinh tế với các nước, nhất là với các nước tư bản phát triển, là những trung tâm kinh tế, kỹ thuật hùng mạnh, họ có thể lợi dụng ưu thế về vốn, kỹ thuật và công nghệ hiện đại để gây sức ép đối với chúng ta, nhất là trong những lúc chúng ta gặp khó khăn, buộc chúng ta phải chấp nhận những điều kiện có lợi cho họ, hòng lái chúng ta đi chệch khỏi định hướng XHCN. Mặc dù hòa bình, hợp tác, phát triển là xu hướng của thời đại nhưng còn một xu hướng khác đối lập là xu hướng cường quyền, áp đặt. Mưu toan của các thế lực cường quyền, hiếu chiến đang thể hiện trong các điểm nóng trên nhiều khu vực của thế giới, đang là những mưu toan độc chiếm các vùng biển đảo, xâm phạm độc lập, chủ quyền của nước khác.

Đó là những thách thức, những nguy cơ mà chúng ta cần có sự nhận thức sâu sắc và tỉnh táo, không một chút mơ hồ, mất cảnh giác, để có những chủ trương, biện pháp ngăn ngừa, đối phó hữu hiệu. Chúng ta thực hiện phương châm vừa hợp tác, vừa đấu tranh trên cơ sở giữ vững những vấn đề có tính nguyên tắc về mục tiêu chiến lược và mềm dẻo linh hoạt về sách lược. Đấu tranh không phải để phá vỡ hợp tác mà để phát triển sự hợp tác. Phải biết khéo tận dụng thời cơ, tranh thủ quan hệ với các nước lớn trong xu hướng đa cực hóa để mở rộng sự hợp tác vừa có lợi, vừa bảo vệ được mình và chuẩn bị sẵn sàng đối phó với những tình huống xấu nhất, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc.

Một vấn đề nữa cũng không kém phần quan trọng là khi nước ta hội nhập vào kinh tế khu vực và kinh tế thế giới, chúng ta cũng chịu sự tác động hai chiều tích cực và tiêu cực đến kinh tế của nước ta. Tác động tích cực khi kinh tế khu vực và kinh tế thế giới ổn định phát triển, tác động tiêu cực khi kinh tế thế giới và kinh tế khu vực rơi vào trì trệ khủng hoảng. Chúng ta cần có chính sách sử dụng tốt mặt tích cực và ngăn ngừa, hạn chế mặt tiêu cực, giữ cho nền kinh tế nước ta ổn định và phát triển. Đây là bài học thực tế đã xử lý trước những tác động tiêu cực của cơn khủng hoảng tài chính-tiền tệ và khủng hoảng kinh tế trong khu vực và thế giới trong thời gian qua.

Như vậy, từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, những thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, những nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên XHCN bỏ qua chế độ TBCN theo quan điểm của V.I.Lênin, người đã có đóng góp to lớn vào lý luận về sự “phát triển rút ngắn” và Chính sách kinh tế mới (NEP). Nó đã được thực tiễn khảo nghiệm mà ngày nay Đảng ta đang vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta.

Xuất phát từ tình hình như thế, chúng ta có thể tin tưởng vững chắc rằng Việt Nam đang trong tư thế vươn tầm, kiên định con đường đã lựa chọn, đã có đủ sức lực và trí tuệ để tiến bước cùng thế giới, tiến cùng thời đại; nhất định thực hiện được mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thứ Sáu, 6 tháng 8, 2021

NHỮNG THUẬN LỢI CỦA ĐỐI GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM TRONG CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ

Dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, số và chất lượng giai cấp công nhân Việt Nam đã và đang tăng lên. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, hiện nay, tổng số công nhân nước ta chiếm tỷ lệ khoảng 13% số dân và 24% lực lượng lao động xã hội, bao gồm số công nhân làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong nước; đang làm việc theo hợp đồng ở nước ngoài; số lao động giản đơn trong các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể. Dự báo đến năm 2020, giai cấp công nhân có khoảng 20,5 triệu người. Công nhân trong doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phát triển nhanh; ngược lại, công nhân trong doanh nghiệp nhà nước ngày càng giảm về số lượng.

Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, chính trị của giai cấp công nhân ngày càng được cải thiện. Số công nhân có tri thức, nắm vững khoa học - công nghệ tiên tiến tăng lên. Công nhân trong các khu công nghiệp, các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước và có vốn đầu tư nước ngoài được tiếp xúc với máy móc, thiết bị tiên tiến, làm việc với các chuyên gia nước ngoài nên được nâng cao tay nghề, kỹ năng lao động, rèn luyện tác phong công nghiệp, phương pháp làm việc tiên tiến. Lớp công nhân trẻ được đào tạo nghề theo chuẩn nghề nghiệp ngay từ đầu, có trình độ học vấn, văn hóa, được rèn luyện trong thực tiễn sản xuất hiện đại, sẽ là lực lượng lao động chủ đạo, có tác động tích cực đến sản xuất công nghiệp, giá trị sản phẩm công nghiệp, gia tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong tương lai…

Chủ Nhật, 20 tháng 12, 2020

TẬN DỤNG ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI CỦA KỶ NGUYÊN SỐ ĐỂ ĐẤU TRANH CÓ HIỆU QUẢ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC “PHI CHÍNH TRỊ HÓA” QUÂN ĐỘI

Nhận thức đúng bản chất, nội dung của kỷ nguyên số, yêu cầu phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội và nhiệm vụ xây dựng Quân đội về chính trị trong tình hình mới là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt. Kỷ nguyên số dù có thể làm biến đổi trên nhiều vấn đề cơ bản về chiến tranh và quân đội, nhưng không thể thay thế những nguyên tắc căn bản trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân; không thể làm méo mó, biến dạng chính trị của Quân đội ta. Trái lại, nó góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật về xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Bởi vậy, phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội cần tận dụng, thúc đẩy điều kiện, cơ sở quan trọng này để nâng cao hiệu quả đấu tranh và xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Trong kỷ nguyên số, vấn đề cốt lõi, như: trí tuệ nhân tạo, vạn vật internet, lưu trữ và xử lý dữ liệu lớn được ứng dụng trong lĩnh vực quân sự và vũ khí, trang bị thông minh hiện đại, cần được phát huy, trở thành nền tảng vật chất, cơ sở khoa học công nghệ cho xây dựng Quân đội về chính trị, làm thất bại mọi mưu đồ “phi chính trị hóa” Quân đội. Cần sử dụng có hiệu quả không gian mạng với tư cách là “không gian tác chiến mới”, làm thất bại mọi sự chống phá, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Phát huy ưu thế của khoa học công nghệ, kỹ thuật số, đặc biệt là công nghệ thông tin để đổi mới nội dung, phương thức nâng cao hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng và phát huy nhân tố con người trong Quân đội.