Hiển thị các bài đăng có nhãn đời sống. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đời sống. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2022

FRIEDRICH ENGELS VỚI DỰ BÁO THIÊN TÀI VỀ VẤN ĐỀ QUỐC TẾ HÓA ĐỜI SỐNG MỌI MẶT CỦA XÃ HỘI

Friedrich Engels sinh ngày 28-11-1820 ở thành phố Barmen, tỉnh Rhein, Vương quốc Phổ (nay là nước Đức), trong một gia đình chủ xưởng dệt.

Ông là nhà lý luận chính trị, một triết gia và nhà khoa học nổi tiếng thế kỷ 19. Tên tuổi và sự nghiệp cách mạng của Engels gắn liền và trở thành sự nghiệp chung với Karl Marx, nhưng ông chỉ tự nhận mình là “một cây vĩ cầm thứ hai, bên cạnh Marx”.

Với bộ óc thiên tài, trái tim nhân hậu và đức tính khiêm nhường, Engels đã để lại cho nhân loại một kho tàng lý luận về chiến lược và sách lược đấu tranh của giai cấp vô sản thế giới. Đồng thời, ông còn để lại những di sản tư tưởng, lý luận về khoa học dự báo mang tính “vạch thời đại”, trong đó có dự báo vấn đề quốc tế hóa đời sống mọi mặt của xã hội, mà dấu ấn sâu sắc ngày nay đó là quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra rất mạnh mẽ trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Sinh thời, Engels đã cùng với Marx dày công nghiên cứu thực tiễn xã hội tư bản, tổng kết lý luận, hợp sức viết và công bố các tác phẩm lý luận nổi tiếng như: “Gia đình thần thánh”, “Hệ tư tưởng Đức”, “Chống Duhring”, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”... Những tác phẩm đó đã góp phần quan trọng tạo nên bước ngoặt cách mạng trong lịch sử tư tưởng nhân loại với việc xây dựng và phát triển một thế giới quan triết học mới: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (1848), mà dấu ấn của Engels “không thể phai mờ”, có nội dung nêu rõ: “Vì luôn luôn bị thúc đẩy bởi nhu cầu về những nơi tiêu thụ sản phẩm, giai cấp tư sản xâm lấn khắp hoàn cầu. Nó phải xâm nhập vào khắp nơi, trụ lại ở khắp nơi và thiết lập những mối liên hệ ở khắp nơi. Do bóp nặn thị trường thế giới, giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng của tất cả các nước mang tính chất thế giới”. Tuy các nhà kinh điển mác-xít chưa trực tiếp sử dụng khái niệm “quốc tế hóa” mà sử dụng thuật ngữ “mang tính chất thế giới” nhưng vấn đề này được các ông luận giải thấu đáo và sâu sắc trên quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử, đó là: Khi con người, công cụ sản xuất và tổng thể các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất phát triển vượt quá ranh giới của một quốc gia-dân tộc, chính là lúc xuất hiện nhu cầu xã hội hóa mọi mặt đời sống xã hội. Đến một mức độ nhất định, xã hội hóa trở thành xu thế khách quan, thành tiền đề, điều kiện để lực lượng sản xuất phát triển. “Đại công nghiệp tạo ra thị trường toàn thế giới”, cho nên xã hội hóa là sản phẩm của nền văn minh nhân loại, không phải chỉ riêng có ở chủ nghĩa tư bản.

Theo tư tưởng của Engels, khi vấn đề kinh tế (rộng hơn là sản xuất vật chất) đã được quốc tế hóa thì tất yếu dẫn đến xu hướng quốc tế hóa các lĩnh vực khác của đời sống xã hội; đồng thời làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Không một quốc gia, dân tộc nào có thể đứng ngoài những xu hướng quốc tế hóa mang tính tất yếu, khách quan đó. Trong xu hướng quốc tế hóa của nhân loại, Engels luôn đặt con người ở vị trí trung tâm của sự phát triển xã hội, được chứng minh bằng luận điểm nổi tiếng: “... trong một hệ thống những quốc gia độc lập, quan hệ với nhau trên một cơ sở bình đẳng và ở vào một trình độ phát triển tư sản xấp xỉ ngang nhau, cho nên lẽ dĩ nhiên là yêu sách về bình đẳng phải mang một tính chất chung, vượt ra ngoài ranh giới của một quốc gia riêng biệt, là tự do và bình đẳng phải được tuyên bố là những quyền của con người”. Như vậy, quyền bình đẳng giữa các quốc gia, dân tộc, giữa các màu da, chủng tộc gắn với tự do của con người và không chỉ dừng lại ở một quốc gia mà mang tính quốc tế, tính nhân loại, tính phổ biến, là một trong những quyền cơ bản của con người, của các dân tộc trên thế giới.

Hiện nay, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trên thế giới đang phát triển mạnh mẽ với những đột phá lớn. Từ “kinh tế tri thức” đến “kinh tế số”, “xã hội số” đang trở thành cái đích mà nhiều quốc gia-dân tộc trên thế giới phải đến, đã đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa đời sống mọi mặt của xã hội, làm tăng mối liên kết, hợp tác và phát triển giữa các nước. Đó chính là hệ quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất và xã hội hóa sản xuất trên phạm vi toàn thế giới, điều mà Engels đã tiên đoán.

Việt Nam là một bộ phận không tách rời trong cộng đồng thế giới, cho nên tất yếu phải hội nhập vào xu thế quốc tế hóa đời sống mọi mặt của xã hội. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế-bước phát triển cao của quốc tế hóa-đã, đang và tiếp tục trở thành xu thế chung của toàn nhân loại hiện nay.

Vì vậy, trên cơ sở tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nêu rõ: “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia-dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia. Gắn kết chặt chẽ quá trình chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng với việc nâng cao sức mạnh tổng hợp, huy động tiềm năng của toàn xã hội; đổi mới, hoàn thiện thể chế trong nước, nâng cao năng lực tự chủ, cạnh tranh và khả năng thích ứng của đất nước”. Trong bối cảnh tình hình thế giới hiện nay, việc “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” ở nước ta cần thấu triệt quan điểm lấy hội nhập kinh tế làm nền tảng để bảo đảm tồn tại bền vững của hội nhập trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

Sau hơn 35 năm đất nước thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nước ta đã giành được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trong bối cảnh thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều biến động phức tạp, nhanh chóng và khó lường. Đảng ta đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Vì vậy, việc vận dụng sáng tạo tư tưởng, lý luận của Engels về quốc tế hóa đời sống mọi mặt của xã hội vào công cuộc “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” ở nước ta hiện nay vẫn giữ nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn.

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2022

CÁC THẾ LỰC LỢI DỤNG ĐỜI SỐNG KHÓ KHĂN CỦA ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ ĐỂ CHIA RẼ ĐOÀN KẾT, KÍCH ĐỘNG CHỐNG ĐỐI CÁCH MẠNG NƯỚC TA

Lợi dụng đời số khó khăn của các đồng bào dân tộc thiểu số để chia rẽ đoàn kết, kích động chống đối cách mạng. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi ở nước ta hiện nay còn rất nhiều khó khăn, thách thức; đời sống khó khăn, thiếu thốn của đồng bào của các dân tộc thiểu số là vấn đề các thế lực thường xuyên lợi dụng kích động, gây mâu thuẫn, chia rẽ. Một số dân tộc thiểu số như người La Hủ ở Lai Châu, người Rục ở Quảng Bình… kinh tế còn hái lượm và săn bắt còn chiếm vị trí khá quan trọng trong đời sống đồng bào. Một số dân tộc thiểu số sản xuất nương rẫy là chủ yếu như các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Mông – Dao, Môn – Khmer miền núi, Tạng – Miến và Nam Đảo sống ở vùng cao Tây Nguyên. Một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam còn có bộ phận sống trong tình trạng du cach, du cư, đặc biệt là dân tộc Mông. Hiện nay, trung bình diện chung, tỷ trọng hộ nghèo là người dân tộc thiểu số chiếm gần 50% tỷ lệ hộ nghèo của cả nước. Thực trạng trên là do việc giảm nghèo chưa vững chắc, chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp, nhất là vùng khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Các tổ chức chính trị phản động như: “Đảng Châu Phạ”, “Đảng người Mông yêu người Mông”, “Đảng Cộng sản Mông”… được thành lập và phát triển, không ngừng tuyên truyền các luận điệu mê tín, dị đoan, xuyên tạc chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước ta trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Biết rõ vai trò của già làng, trưởng bản, những người có uy tín trong đồng bào các dân tộc thiểu số, trong quá trình thực hiện âm mưu, ý đồ chống phá, các thế lực thù địch tìm cách tác động, lôi keo những người này vào việc chống phá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Đây thực sự là thủ đoạn rất tinh vi và nguy hiểm.

Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2022

XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH VỀ PHÁT TRIỂN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CHO THANH NIÊN HIỆN NAY

Thực hiện phương châm gắn tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước phát triển, trong từng chiến lược, kế hoạch; nhằm xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho thanh niên, bảo đảm phát triển văn hóa nâng cao chất lượng cuộc sống của thanh niên, bảo vệ môi trường sinh thái - nhân văn.

Tăng cường đầu tư phát triển các thiết chế văn hóa ở cơ sở như nhà văn hóa, trung tâm học tập cộng đồng, điểm vui chơi, giải trí, xây dựng tủ sách truyền thống, phòng lưu niệm,… để thanh niên có điều kiện học tập, tìm hiểu về văn hóa truyền thống dân tộc.

Thứ Sáu, 6 tháng 8, 2021

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19 ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

Đại dịch COVID-19 tác động lên nhiều lĩnh vực của nền kinh tế nước ta, nhưng thể hiện tập trung ở hai yếu tố chính là cung và cầu. Đối với yếu tố cầu, dịch bệnh COVID-19 cùng với việc thực hiện biện pháp giãn cách xã hội cần thiết, bắt buộc theo Chỉ thị số 16/CT-TTg, ngày 31-3-2020, của Thủ tướng Chính phủ, “Về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19” làm tiêu dùng trong nước sụt giảm mạnh. Do ảnh hưởng đại dịch COVID-19, cầu của nền kinh tế (tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu) bị sụt giảm, từ đó làm suy giảm hoạt động sản xuất và tăng trưởng của nền kinh tế. Các biện pháp của Chính phủ đang triển khai hiện nay chủ yếu hướng tới kích thích tổng cầu và phục hồi sản xuất.

Đối với yếu tố cung, đại dịch COVID-19 làm đứt gãy chuỗi cung ứng đầu vào và lao động. Chẳng hạn, trong ngành công nghiệp ô-tô, do linh kiện đầu vào khan hiếm cùng với thực hiện giãn cách xã hội nên các doanh nghiệp sản xuất ô-tô trong nước như Honda, Nissan, Toyota, Ford, Hyundai… phải tuyên bố tạm dừng sản xuất, chỉ đến khi thời kỳ giãn cách xã hội kết thúc và chuỗi cung ứng được kết nối trở lại, các doanh nghiệp sản xuất ô-tô mới quay trở lại hoạt động.

Nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có chuyên gia người nước ngoài và người lao động nước ngoài chịu tác động nặng nề từ COVID-19 khi nguồn cung lao động bị thiếu. Chi phí sử dụng lao động trong thời kỳ này cũng cao hơn khi các doanh nghiệp phải đầu tư thêm khẩu trang, nước sát khuẩn, thực hiện các biện pháp an toàn trong lao động để tránh lây nhiễm vi-rút.

Ở góc độ xã hội, COVID-19 tác động làm tăng tỷ lệ nghèo và cận nghèo về thu nhập và làm sụt giảm thu nhập tạm thời của hộ gia đình và người lao động. Theo kết quả khảo sát của UNDP và UN WOMEN (2020), “trong tháng 12-2019, trung bình tỷ lệ hộ nghèo là 11,3%. Tỷ lệ này tăng lên tới 50,7% trong tháng 4-2020. Tỷ lệ hộ cận nghèo tăng từ 3,8% vào tháng 12-2019 lên 6,5% vào tháng 4-2020”. Quan trọng hơn, những hộ gia đình thuộc nhóm dân tộc thiểu số và hộ gia đình có lao động phi chính thức và gia đình những người nhập cư chịu tác động từ dịch bệnh lớn hơn. Cũng theo kết quả điều tra của UNDP và UN WOMEN (2020), “thu nhập trung bình của các hộ gia đình dân tộc thiểu số trong tháng 4 và tháng 5-2020 lần lượt chỉ tương ứng 25,0% và 35,7% so với mức tháng 12-2019. Trong khi đó, những con số này cao hơn, lần lượt ước tính khoảng 30,3% và 52% đối với nhóm hộ gia đình người Kinh và người Hoa. Trong tháng 4 và tháng 5-2020, thu nhập trung bình của hộ di cư được ước tính chỉ tương đương 25,1% và 43,2% so với mức của tháng 12-2019. Những con số này lần lượt là 30,8% và 52,5% đối với nhóm hộ gia đình không di cư”.

Đại dịch COVID-19 đang tác động lên mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, hoạt động thương mại, lao động, việc làm và thu nhập của người lao động. Trước cú sốc này, Đảng, Nhà nước ta đã cùng với toàn dân nỗ lực thực hiện mục tiêu kép, trong đó tập trung cao độ để phòng chống dịch Covid- 19, bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân.

Thứ Năm, 31 tháng 5, 2018

PHẢI CHĂNG MỨC SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN VIỆT NAM ĐANG ĐI XUỐNG?

Về nhận định mức sống của người dân Việt Nam đi xuống thì thực tế không ai có thể tin nổi. Bởi theo WB, mức sống ở Việt Nam đang được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm và các tầng lớp tiêu dùng mới mở rộng nhanh chóng. Cụ thể, báo cáo "Bước tiến mới: Giảm nghèo và thịnh vượng chung tại Việt Nam" của WB cho thấy, số dân Việt Nam được phân loại là an toàn về kinh tế lên 70%, trong đó 13% thuộc tầng lớp trung lưu. Số người nghèo ở Việt Nam từ 18 triệu vào năm 2010 đã giảm xuống còn khoảng 9 triệu vào năm 2016. 72% người nghèo ở Việt Nam nằm ở miền núi, vùng sâu, vùng xa; WB dự báo người nghèo ở khu vực này sẽ tiếp tục giảm với chính sách khuyến khích trồng cây công nghiệp có giá trị cao để tăng thu nhập trong cộng đồng các dân tộc thiểu số. 
Nghiên cứu của Công ty tư vấn Boston Consulting Group (BCG) cũng cùng chung nhận định trên khi cho rằng, tầng lớp trung lưu đang phát triển với tốc độ nhanh chóng ở Việt Nam. Theo đó, tầng lớp trung và thượng lưu với mức thu nhập từ 714USD/tháng trở lên ở Việt Nam tăng lên mức 33 triệu người trong thời gian 2014-2020. Trong khi đó, Công ty nghiên cứu thị trường Nielson ước tính, dân số thuộc tầng lớp trung lưu của Việt Nam sẽ đạt mức 44 triệu người vào năm 2020 và 95 triệu người vào năm 2030.
Theo Solidiance-công ty tư vấn chiến lược hàng đầu tại châu Á, giai đoạn 2012-2016, Việt Nam là quốc gia có nhu cầu tiêu thụ ô tô tăng trưởng nhanh nhất khối ASEAN. Nếu tính riêng quãng 2015-2016, Việt Nam có nhu cầu tiêu thụ ô tô đạt tăng trưởng 36%, trong khi Indonesia chỉ tăng nhẹ 5%, Thái Lan giảm 4% và Malaysia giảm 13%. Có thể nói, nhu cầu mua ô tô mới là một biểu hiện rõ ràng của mức sống người dân đi lên.
Trong Báo cáo thịnh vượng 2017 (Wealth Report 2017) được Công ty Knight Frank công bố, Việt Nam là một trong số các quốc gia có số người siêu giàu tăng nhanh hàng đầu thế giới. Theo báo cáo này, năm 2016, Việt Nam có 200 người siêu giàu (mỗi người sở hữu từ 30 triệu USD trở lên), tăng 32 người so với báo cáo năm trước đó và tăng 50 người so với năm 2014. Theo đó, tốc độ tăng người siêu giàu đạt 170%. Knight Frank dự báo, trong vòng một thập kỷ tới, Việt Nam sẽ có 540 người siêu giàu.
Tất cả những đánh giá tích cực, mang tính khách quan nêu trên của các cơ quan, tổ chức quốc tế, cũng như sự phấn khởi của người dân trước sự cải thiện thấy rõ của đời sống là những câu trả lời rõ ràng cho những nhận định thiếu thiện chí của một số cá nhân về nền kinh tế Việt Nam. Trong số này có những người luôn tỏ rõ thái độ hằn học với sự đi lên của kinh tế-xã hội, của đời sống nhân dân Việt Nam, của sức mạnh dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhưng những cố gắng câu kết với thế lực bên ngoài để bôi nhọ nền kinh tế-xã hội Việt Nam của họ là vô nghĩa bởi thực tế đã chứng minh tất cả. 

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

BIỂU HIỆN MỚI VỀ DÂN CHỦ HÓA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI, THỰC HIỆN QUYỀN LỰC THUỘC VỀ NHÂN DÂN

          Các nước XHCN đều nhận thức rõ vai trò đặc biệt quan trọng của dân chủ trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Đảng Cộng sản Trung Quốc trong quá trình cải cách, mở cửa, đã khẳng định rõ: “Phát triển nền chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục tiêu phấn đấu trước sau như một của Đảng ta. Không có dân chủ thì không có chủ nghĩa xã hội, không có hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa” [Đảng Cộng sản Trung Quốc (1998), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XV Đảng Cộng sản Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.56]. Theo Đảng Cộng sản Trung Quốc: “Bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa là nhân dân làm chủ. Mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân” [Đảng Cộng sản Trung Quốc (1998), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XV Đảng Cộng sản Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.56].
          Ở Việt Nam, trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định, dân chủ xã hội chủ nghĩa là một đặc trưng quan trọng, bản chất của chế độ XHCN, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) có viết: “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân” [Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.327]. Hiến pháp năm 1992 cũng khẳng định: tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và phải được thể chế hóa quyền lực đó bằng pháp luật, được pháp luật bảo hộ. Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước, xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa bảo đảm dân chủ được thực hiện trên thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực” [Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.84-85].
          Đảng Nhân dân Cách mạng Lào trong quá trình đổi mới đã chỉ rõ, dân chủ gắn với bản chất chế độ, là mục tiêu, là nhiệm vụ cần hiện thực hóa trên thực tế: “Chế độ của chúng ta là chế độ mà nhân dân làm chủ, tất cả là vì lợi ích và cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Đó không chỉ là mục tiêu, mà còn cần phải tổ chức thực hiện cho trở thành hiện thực”. Ở Cuba, vấn đề phát huy dân chủ được quan tâm và được mở rộng hơn trên thực tế, thông qua các quyền về kinh tế, chính trị, quyền con người… Với sự đổi mới trong nhận thức, sự cập nhật hóa mô hình phát triển kinh tế - xã hội của Đại hội VI (4-2011) và Đại hội VII (4-2016), đã tạo điều kiện và cơ hội cho người dân tham gia nhiều hơn, chủ động hơn vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; tham gia quản lý đất nước và bảo đảm ngày càng tốt hơn những điều kiện vật chất và tinh thần của nhân dân, những sự thay đổi đó đang hứa hẹn sẽ tạo điều kiện, cơ hội đưa Cuba bước sang một giai đoạn phát triển mới.
          Quá trình thực hiện dân chủ ở các nước XHCN gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị, trước hết là xây dựng đảng cộng sản trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực cầm quyền của đảng, phát huy dân chủ trong đảng là hạt nhân để phát huy đầy đủ dân chủ trong xã hội. Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN, hoàn thiện Hiến pháp, hệ thống pháp luật, khẳng định rõ quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm đối với xã hội. Nâng cao ý thức về quyền và nghĩa vụ, năng lực làm chủ của nhân dân. Xây dựng, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể nhân dân. Thành tựu quan trọng của thời kỳ cải cách, đổi mới ở các nước xã hội chủ nghĩa là đẩy mạnh dân chủ hóa đời sống xã hội, từng bước khắc phục tình trạng mất dân chủ còn tồn tại trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo được cơ chế để nhân dân được thực hiện quyền làm chủ của mình trên thực tế trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trong đó đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế… Thời kỳ trước cải cách, đổi mới, do cơ cấu kinh tế tập trung chủ yếu vào thành phần kinh tế công hữu, xóa bỏ các hình thức “phi công hữu”, bởi vậy, chưa phát huy được quyền làm chủ, năng lực, sức mạnh của nhân dân trong phát triển kinh tế. Thời kỳ cải cách, đổi mới, các đảng cộng sản nhận thức lại về cơ cấu kinh tế, phát triển nền kinh tế thị trường với đa dạng các thành phần kinh tế, tạo điều kiện mạnh mẽ để các thành phần kinh tế phát triển, từ đó, khai thác, phát huy được sức mạnh, tiềm năng, tính tích cực… của các thành phần kinh tế đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, dân chủ trong lĩnh vực kinh tế được phát huy mạnh mẽ hơn.
          Một điểm mới cũng thể hiện rõ tinh thần dân chủ hóa đời sống xã hội trong quá trình cải cách, đổi mới đó là quan tâm, phát huy dân chủ ở cơ sở. Quy chế dân chủ ở cơ sở, pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn nhằm… đã ra đời nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của mọi người dân, tăng cường tiếng nói, ý kiến đóng góp, sự kiểm tra, giám sát… của nhân dân và sự phát triển chung của cộng đồng, xã hội. Các đảng cộng sản cũng chủ trương đa dạng hóa các hình thức dân chủ, cả trực tiếp và gián tiếp để bảo đảm cho nhân dân được thực hiện bầu cử dân chủ, quyết sách dân chủ, giám sát dân chủ, đảm bảo cho nhân dân được hưởng quyền lợi, tôn trọng và bảo đảm nhân quyền, thực hiện dân chủ rộng rãi hơn, đầy đủ hơn và kiện toàn hơn. Bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao năng lực làm chủ của nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Phát huy tốt vai trò của các tổ chức đoàn thể nhân dân trong việc giám sát và phản biện xã hội, trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. 

Thứ Năm, 19 tháng 4, 2018

CẦN CÁCH LY KHỎI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI ĐỐI VỚI MỘT SỐ PHẦN TỬ NHƯ VŨ AN ĐÔN

Tôi đã mất khá nhiều thời gian tìm hiểu về Võ An Đôn – vốn là một luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên, đã bị Đoàn Luật sư tỉnh Phú Yên xử lý kỷ luật với hình thức "Xóa tên khỏi đoàn luật sư" sau những sai phạm mà y gây ra.
Những tưởng sau quyết định kỷ luật Võ An Đôn sẽ thức tỉnh, cải tà quy chính, nào ngờ Đôn vẫn "ngựa quen đường cũ", tiếp tục đăng tải, phát tán các thông tin có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước; ca ngợi, cổ xúy cho số "dân chủ" hải ngoại và quốc nội với nhiều bài viết, bình luận ủng hộ quá mức.
Mới đây nhất, vào ngày 07.04.2018 trên trang Dân Làm Báo VN, Đôn tiếp tục đăng tải trên trang mạng này một thông báo với nội dung:
Sau khi Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên xóa tên tôi khỏi danh sách Đoàn luật sư, về danh nghĩa tôi không còn là luật sư.
Vì yêu nghề và muốn giúp người dân nên tôi tiếp tục hành nghề luật: tư vấn pháp luật; soạn thảo đơn thư khiếu nại, tố cáo, khởi kiện; nhận ủy quyền cho nguyên đơn và bị đơn đến tòa tham gia tố tụng; tranh tụng tại tòa với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, đất đai, hành chính, lao động, kinh tế thương mại, vay mượn tài sản.
Theo qui định pháp luật thì tôi chỉ khác luật sư duy nhất một điều: Tôi không được làm luật sư bào chữa cho bị can, bị cáo trong vụ án hình sự (người bị kết án tù).
Bà con, cô bác, anh chị gần xa có nhu cầu về pháp lý hãy đến với tôi. Riêng đối với người nghèo, người cô thân yếu thế, người đồng bào dân tộc thiểu số, người bị oan, trẻ em dưới 18 tuổi, phụ nữ mang thai bị ức hiếp, phân biệt đối xử… hoàn toàn miễn phí.
Địa chỉ liên hệ: khu phố Phước Thịnh, thị trấn Phú Thứ, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên. Điện thoại: 0932554399.
Đọc xong những dòng chữ trong bản "thông báo" này tôi không hiểu trong đầu Vũ An Đôn chứa những thứ gì nữa? Tôi có mấy lời:
Trước tiên, xin chúc mừng cho Hội "dân chủ" hải ngoại và quốc nội vì đã có thêm một "đệ tử" có "tâm huyết". Nhưng xin thưa với những chiêu bài cũ rích, lập luận rẻ tiền của các ngươi chẳng làm nên trò trống gì cả. Bởi chó có sủa thì chăng vẫn lên, đoàn người vẫn đi, lịch sử vẫn tiến về phía trước, những người như Đôn chỉ là lũ tiểu nhân ngu dốt, hám lợi không đáng quan tâm.
Thứ hai, thật đáng thương cho đấng sinh thành, quê hương, dòng họ vì có người con như Vũ An Đôn. Mỗi người sẽ có một suy nghĩ, nhận thức khác nhau nhưng chắc chắn không ai mong muốn mình có một người con, người thân mang tội phản quốc.
Thứ ba, hiện nay trước thủ đoạn thâm độc của các thế lực phản động và sự tràn ngập của các trang thông tin. Rất mong mọi người cảnh giác, tìm hiểu ngọn ngành, phân biệt đúng sai để có sự lựa chọn đúng. Cũng mong các lực lượng, cơ quan chức năng cần có biện pháp hữu hiệu bảo vệ người dân; đấu tranh và xử lý nghiêm đối với những hành vi sai trái, thù địch. Thậm chí, cần cách ly khỏi đời sống xã hội đối với những trường hợp như Vũ An Đôn./.

Thứ Năm, 8 tháng 2, 2018

Sự biến đổi đời sống kinh tế của các dân tộc thiểu số ở nước ta từ năm 1986 đến nay

Từ năm 1986, đời sống kinh tế của các dân tộc thiểu số có những đổi thay quan trọng trên những vấn đề sau:
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế từng bước được hình thành và xác lập ở vùng miền núi và dân tộc thiểu số.
Đảng, Nhà nước Việt Nam đã quan tâm lớn đến xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế vùng miền núi dân tộc; khuyến khích đầu tư phát triển hạ tầng; xây dựng các cơ sở công nghiệp, các công trình thủy điện, điện lưới. Mạng lưới đường giao thông ngày càng phát triển. Hệ thống thủy lợi được kiên cố hóa, nâng cấp và xây dựng mới. Nhà nước quy hoạch, xây dựng mạng lưới thông tin bưu điện ở các vùng, miền để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Cơ cấu kinh tế lạc hậu ở vùng miền núi dân tộc trước đây đã chuyển dịch sang đa dạng hóa nhằm phát huy thế mạnh và tiềm năng kinh tế của các tộc người, phù hợp với đặc điểm của từng vùng, từng tộc người. Cơ cấu cây trồng vật nuôi có nhiều thay đổi đa dạng, hình thành các vùng trồng cây công nghiệp, cây ăn quả,  vùng chăn nuôi. Sản xuất lâm nghiệp chuyển biến tích cực theo hướng phát triển kinh tế rừng, trồng rừng, khoanh nuôi, chăm sóc bảo vệ rừng. Tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ tăng lên, giảm dần tỷ trọng nông, lâm nghiệp. Nhiều nghề thủ công nghiệp truyền thống được khôi phục, phát triển.
Nhà nước xác định quyền làm chủ đất đai gắn với môi trường sống của các tộc người thông qua giao đất giao rừng; đẩy mạnh công tác định canh định cư, xây dựng vùng kinh tế mới và phân bố lại lao động.
Khoa học kỹ thuật được ứng dụng vào đời sống kinh tế các tộc người thông qua khuyến nông, khuyến lâm. Phân phối lưu thông và trao đổi thương mại có những bước đổi mới và phát triển.
Địa bàn miền núi dân tộc đã, đang thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài trên các lĩnh vực. Vùng biên giới đã hình thành các khu kinh tế cửa khẩu quan trọng. Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm xây dựng các khu kinh tế quốc phòng, gắn phát triển kinh tế với quốc phòng - an ninh. 

Thứ Tư, 10 tháng 5, 2017

Biến đổi đời sống kinh tế của các dân tộc thiểu số ở nước ta từ năm 1986 đến nay

Từ năm 1986, đời sống kinh tế của các dân tộc thiểu số có những đổi thay quan trọng trên những vấn đề sau:
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế từng bước được hình thành và xác lập ở vùng miền núi và dân tộc thiểu số.
Đảng, Nhà nước Việt Nam đã quan tâm lớn đến xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế vùng miền núi dân tộc; khuyến khích đầu tư phát triển hạ tầng; xây dựng các cơ sở công nghiệp, các công trình thủy điện, điện lưới. Mạng lưới đường giao thông ngày càng phát triển. Hệ thống thủy lợi được kiên cố hóa, nâng cấp và xây dựng mới. Nhà nước quy hoạch, xây dựng mạng lưới thông tin bưu điện ở các vùng, miền để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Cơ cấu kinh tế lạc hậu ở vùng miền núi dân tộc trước đây đã chuyển dịch sang đa dạng hóa nhằm phát huy thế mạnh và tiềm năng kinh tế của các tộc người, phù hợp với đặc điểm của từng vùng, từng tộc người. Cơ cấu cây trồng vật nuôi có nhiều thay đổi đa dạng, hình thành các vùng trồng cây công nghiệp, cây ăn quả,  vùng chăn nuôi. Sản xuất lâm nghiệp chuyển biến tích cực theo hướng phát triển kinh tế rừng, trồng rừng, khoanh nuôi, chăm sóc bảo vệ rừng. Tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ tăng lên, giảm dần tỷ trọng nông, lâm nghiệp. Nhiều nghề thủ công nghiệp truyền thống được khôi phục, phát triển.
Nhà nước xác định quyền làm chủ đất đai gắn với môi trường sống của các tộc người thông qua giao đất giao rừng; đẩy mạnh công tác định canh định cư, xây dựng vùng kinh tế mới và phân bố lại lao động.
Khoa học kỹ thuật được ứng dụng vào đời sống kinh tế các tộc người thông qua khuyến nông, khuyến lâm. Phân phối lưu thông và trao đổi thương mại có những bước đổi mới và phát triển.

Địa bàn miền núi dân tộc đã, đang thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài trên các lĩnh vực. Vùng biên giới đã hình thành các khu kinh tế cửa khẩu quan trọng. Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm xây dựng các khu kinh tế quốc phòng, gắn phát triển kinh tế với quốc phòng - an ninh.