Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 15 tháng 4, 2024

MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2021-2030 CỦA CHÍNH PHỦ ĐÃ ĐƯỢC QUỐC HỘI PHÊ DUYỆT LÀ GÌ?

Mục tiêu tổng quát của Đề án là khai thác tiềm năng, lợi thế của các địa phương trong vùng, đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội; giảm nghèo nhanh, bền vững, thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, thu nhập so với bình quân chung của cả nước; giảm dần số xã, thôn đặc biệt khó khăn; quy hoạch, sắp xếp ổn định dân cư, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, liên vùng, kết nối với các vùng phát triển; phát triển toàn diện giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa; cải thiện rõ rệt đời sống của nhân dân; nâng cao số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động là người dân tộc thiểu số; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số đi đôi với xóa bỏ phong tục tập quán lạc hậu; thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em; xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo an ninh biên giới quốc gia; củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc, nâng cao niềm tin của đồng bào các dân tộc đối với Đảng và Nhà nước.

Mục tiêu cụ thể đến năm 2025: Phấn đấu mức thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số tăng trên 2 lần so với năm 2020; tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số mỗi năm giảm trên 3%; 100% xã có đường ô tô đến trung tâm xã được rải nhựa hoặc bê tông; 70% thôn có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa. 100% số trường, lớp học và trạm y tế được xây dựng kiên cố; 99% số hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện khác phù hợp; 90% đồng bào dân tộc thiểu số được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; 100% đồng bào dân tộc thiểu số được xem truyền hình và nghe đài phát thanh; hoàn thành cơ bản công tác định canh, định cư; sắp xếp, bố trí ổn định 90% số hộ di cư không theo quy hoạch. Quy hoạch, sắp xếp, di dời, bố trí 60% số hộ dân tộc thiểu số đang cư trú phân tán, rải rác trong rừng đặc dụng, các khu vực xa xôi, hẻo lánh, nơi có nguy cơ xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở. Giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất cho đồng bào. Tỷ lệ học sinh học mẫu giáo 5 tuổi đến trường trên 98%, học sinh trong độ tuổi học tiểu học trên 97%, học trung học cơ sở trên 95%, học trung học phổ thông trên 60%; người từ 15 tuổi trở lên đọc thông, viết thạo tiếng phổ thông trên 90%.

Tăng cường công tác y tế để đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe hiện đại; tiếp tục khống chế, tiến tới loại bỏ dịch bệnh ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; 98% đồng bào dân tộc thiểu số tham gia bảo hiểm y tế. Trên 80% phụ nữ có thai được khám thai định kỳ, sinh con ở cơ sở y tế hoặc có sự trợ giúp của cán bộ y tế; giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể nhẹ cân xuống dưới 15%; 50% lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu, điều kiện của người dân tộc thiểu số; Bảo tồn và phát triển các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc; 80% thôn có nhà sinh hoạt cộng đồng; 50% thôn có đội văn hóa, văn nghệ (câu lạc bộ) truyền thống hoạt động thường xuyên, có chất lượng. Đào tạo, quy hoạch, xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, nhất là các dân tộc thiểu số tại chỗ. Bảo đảm tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số phù hợp với tỷ lệ dân số là người dân tộc thiểu số ở từng địa phương.

Định hướng mục tiêu đến năm 2030: Thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số bằng 1/2 bình quân chung của cả nước; giảm hộ nghèo xuống dưới 10%; cơ bản không còn các xã, thôn đặc biệt khó khăn; 70% số xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đạt chuẩn nông thôn mới. Chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số, hằng năm thu hút 3% lao động sang làm các ngành, nghề: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch, dịch vụ. Đến 2030, có 40% lao động người dân tộc thiểu số biết làm các ngành, nghề: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch, dịch vụ. Phấn đấu có 80% số hộ nông dân người dân tộc thiểu số làm kinh tế nông - lâm nghiệp hàng hóa; xóa tình trạng nhà ở tạm, dột nát; ngăn chặn tình trạng suy thoái môi trường sinh thái; duy trì, nâng cao tỷ lệ che phủ rừng; trên 85% số xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có đủ cơ sở hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đời sống của người dân; giải quyết căn bản tình trạng di cư không theo kế hoạch trong đồng bào dân tộc thiểu số. Quy hoạch sắp xếp, di dời, bố trí 100% hộ dân tộc thiểu số đang cư trú phân tán, rải rác trong rừng đặc dụng, các khu vực xa xôi, hẻo lánh, nơi có nguy cơ xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở. Cơ bản hoàn thành chỉ tiêu đã đề ra trong Mục tiêu quốc gia về phát triển bền vững đến năm 2030. 

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2024

CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TRÊN LĨNH VỰC KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.

Đảng, Nhà nước xác định ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số. Tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, coi đây là mặt nhiệm vụ trọng tâm tạo nền tảng vững chắc và điều kiện thuận lợi chọ sự phát triển kinh tế - xã, hội ở miền núi, vùng dân tộc thiểụ số. Đầu tư phát triển mạng lưới (đường giao thông, hệ thống truyền tải điện, trường học, trạm xá, xây dựng các trung tâm, thị trấn, chợ đầu mối, xây dựng và nâng cấp hệ: thống thủy lợi, cầu cống, các công trình phục vụ sản xuất và đời sống...

Chăm lo phát triển sản xuất hàng hoá; trên cơ sở thế mạnh về đất đai; thổ nhưỡng, tập quán sản xuất của từng vùng, đẩy mạnh nhịp độ chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát huy các tiềm năng, hình thành các vùng kinh tế nông, lâm nghiệp theo hướng chuyên canh, thâm canh, các vùng nguyên liệu, nông sản có năng suất và chất lượng cao; tích cực đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đưa các giống cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao thay thế cho các giống cũ sản lượng và chất lượng kém và xoá bỏ cây thuốc phiện. Quan tâm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm thông qua các mạng lưới thương nghiệp trong và ngoài nước.

Tập trung xoá đói giảm nghèo, chăm lo cải thiện và từng bước nâng cao đòi sống vật chất, tinh thần của đồng bào. Thực hiện tốt các chương trình dự án kinh tế - xã hội, có chính sách ưu tiên, ưu đãi về vay vốn, cung ứng vật tư cho sản xuất, giao đất, giao rừng, tạo vỉệc làm ổn định, phát triển kỉnh tế rừng, đồi; thực hiện định canh, đinh cư, khắc phục tình trạng du danh, di cư, đốt phá rừng bừa bãi; kết hợp phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên, môi trường, sinh thái; thực hỉện chương trình trồng năm triệu héc-ta rừng.

Ra sức phát huy vai trò của các thành phần kinh tế, các loại hình sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mỏ rộng các hình thức kinh tế trang trại ở miền núi, củng cố các nông, lâm trường quốc doanh, xây dựng các hợp tác xã theo hướng chuyển đổi, từng bước xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ của lực lượng xuất, hình thức, bước đi vững chắc, lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo. Từng bước đầu tư xây dựng các cơ sở công nghiệp, các khu kinh tế quan trọng trên địa bàn miền núi chú trọng thù hút đầu tư trong nước và nước ngoài vào các vùng nhằm khai thác tốt tiềm năng kinh tế và tạo nên những biến đổi kinh tế to lớn ở miền núi vùng dân tộc thiểu số. Vận động đồng bào các dân tộc đầu tư sản xuất, không để tư thương lợi dụng làm lực lượng vận chuyển hàng lậu, gian lận thương mại qua biên giới. 

Thứ Sáu, 2 tháng 2, 2024

PHẢI CHĂNG HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA C.MÁC LÀ SAI LẦM VÀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CHỈ LÀ SỰ ẢO TƯỞNG, KHÔNG BAO GIỜ THỰC HIỆN ĐƯỢC?

Từ khi ra đời đến nay, chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng đã luôn bị kẻ thù chống phá quyết liệt. Đặc biệt sau khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các quốc gia Đông Âu bị sụp đổ, chủ nghĩa Mác - Lênin đã bị xuyên tạc, bóp méo một cách giáo điều hay cơ hội đủ loại. Có thể dễ dàng thấy chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang điên cuồng bài bác và tung hô luận điệu cho rằng: Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội (HTKT-XH) của C.Mác chỉ là một lý thuyết về chủ nghĩa xã hội không tưởng và xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự ảo tưởng và không bao giờ thực hiện được?

Phải thấy rằng sự vận động, phát triển của nhân loại là bằng chứng rõ ràng chứng tỏ rằng, học thuyết HTKT-XH của chủ nghĩa Mác - Lênin là khoa học, đúng đắn và phản ánh chính xác lịch sử vận động, phát triển tiến bộ của toàn thể nhân loại.

Mọi người đều biết, học thuyết HTKT-XH là cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin để tiếp cận nghiên cứu, giải thích, dự báo sự phát triển mang tính lịch sử - tự nhiên của xã hội loài người nói chung, mỗi dân tộc nói riêng, trong đó có sự phát triển của lịch sử Việt Nam. Học thuyết đó đã chỉ rõ: 

- Lịch sử phát triển của loài người là lịch sử phát triển và thay thế nhau của các HTKT-XH, trong đó sự phát triển của các quan hệ sản xuất theo hướng tiến bộ là cơ sở hạ tầng, trên đó xây dựng nên kiến trúc thượng tầng thích hợp. 

- Lịch sử loài người đã và đang trải qua 5 HTKT-XH. Đó là quy luật chung của sự phát triển của xã hội loài người; còn mỗi quốc gia dân tộc có thể bỏ qua một hình thái nào đó trong điều kiện lịch sử của thời đại và dân tộc. Chẳng hạn, Autralia, các quốc gia Mỹ - Latinh đều bỏ qua HTKT-XH phong kiến trong quá trình phát triển của mình. Việt Nam không trải qua HTKT-XH chiếm hữu nô lệ và HTKT-XH TBCN. Việc các quốc gia này bỏ qua một HTKT-XH nào đó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của họ, mà do các điều kiện lịch sử khách quan quy định.

Như vậy, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ đơn thuần “giải phẫu” các HTKT-XH, mà còn phân tích làm nổi bật lên bản chất và những mâu thuẫn cơ bản trong mỗi HTKT-XH và cuối cùng, dự báo sự thay thế giữa các HTKT-XH từ thấp lên cao hoặc tuần tự hoặc nhảy vọt một cách biện chứng, theo quy luật. Một cách lịch sử - tự nhiên, cũng như từ chế độ cộng sản nguyên thủy nhân loại bước lên chế độ chiếm hữu nô lệ rồi chế độ phong kiến tới chủ nghĩa tư bản, thì sau HTKT-XH TBCN ấy phải là một HTKT-XH tiến bộ hơn, đó chính là CSCN. Đó là cái tất yếu lịch sử hợp quy luật mà khoa học mác-xít đã chỉ ra. 

Đặc biệt sau sự kiện chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô đổ vỡ, chủ nghĩa xã hội thế giới lâm vào thoái trào, không ít học giả trong và ngoài nước đã tung hô về “cái chết” của chủ nghĩa Mác - Lênin, “sự cáo chung” của chủ nghĩa cộng sản dựa trên học thuyết Mác. Cùng với sự thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới là một số hạn chế, yếu kém trong quá trình cải cách, đổi mới ở các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, sự phát triển, “điều chỉnh”, “thích nghi” của chủ nghĩa tư bản hiện đại... càng làm cho những luận điệu chống phá, bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, chủ nghĩa xã hội hiện thực nói riêng có “mảnh đất” để phát triển cả về nội dung và hình thức. Họ đưa ra nhiều căn cứ phủ định chủ nghĩa xã hội và cho rằng: chủ nghĩa xã hội chỉ là ảo tưởng không bao giờ thực hiện được.

Hẳn là một suy nghĩ hồ đồ

Trước hết phải thấy rõ là:

Thứ nhất, học thuyết Mác về chủ nghĩa xã hội không phải là “hệ thống tự biện”, vì trong khoa học, để tìm ra bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng thì không chỉ nghiên cứu một sự vật, hiện tượng cụ thể mà phải thông qua nhiều sự vật, hiện tượng từ đó tìm ra các thuộc tính chung nhất của nó. Do đó, bất kỳ nghiên cứu khoa học nào cũng cần đến thuộc tính trừu tượng hóa, khái quát hóa. Nghiên cứu lịch sử phát triển nhân loại, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hay những yếu tố cấu thành của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng không thể không trừu tượng hóa những đối tượng ấy. Vấn đề đặt ra là, sự trừu tượng hóa ấy có phản ánh đúng bản chất, quy luật của hiện thực khách quan không. Nếu phản ánh đúng bản chất, quy luật, chúng ta có cơ sở khoa học để dự báo sự vận động phát triển.

Thứ hai, chủ nghĩa xã hội dựa trên học thuyết Mác ra đời xuất phát từ “mảnh đất hiện thực” khách quan dựa trên những điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể của châu Âu từ khi chủ nghĩa tư bản ra đời và những tiền đề văn hóa, tư tưởng của nhân loại đạt được trong suốt chiều dài lịch sử cùng với sự thiên tài trong kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, C.Mác và Ph.Ăngghen đã tìm ra được quy luật vận động của xã hội loài người, đặc biệt là quy luật vận động của chủ nghĩa tư bản thông qua ba phát hiện vĩ đại: Học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội, học thuyết về giá trị thặng dư và sau này (như V.I.Lênin đã bổ sung) học thuyết về sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân, nghiên cứu “mảnh đất hiện thực” của chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang thời kỳ đế quốc, bộc lộ tất cả các mặt “thối nát” của chúng. Từ đó, các ông đi đến kết luận: “Chủ nghĩa xã hội hiện đại chẳng qua chỉ là sự phản ánh của sự xung đột có thật ấy vào trong tư duy, là sự phản ánh trên ý niệm của sự xung đột ấy, trước hết trong đầu óc của giai cấp trực tiếp chịu đau khổ và sự xung đột ấy, tức là giai cấp công nhân”. Như vậy, chủ nghĩa xã hội: “không cần phải thực hiện một lý tưởng nào cả, mà chỉ cần giải phóng những nhân tố của xã hội mới đã phát triển trong lòng xã hội tư sản cũ đang sụp đổ”.

Như vậy, với học thuyết về HTKT-XH của chủ nghĩa Mác cho chúng ta thấy, chủ nghĩa xã hội (giai đoạn đầu của HTKT-XH cộng sản chủ nghĩa) ra đời là một tất yếu khách quan. Tất yếu này đã được Đảng Bônsêvich Nga do V.I.Lênin đứng đầu lãnh đạo tổ chức Cách mạng tháng Mười thành công, lập nên Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thực tế.

Thứ ba, chủ nghĩa xã hội đã và đang là hiện thực của lịch sử nhân loại.

Sau thắng lợi Cách mạng tháng Mười, dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga đã tiến hành xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Đây là bước ngoặt to lớn đánh dấu chủ nghĩa xã hội từ lý luận trở thành hiện thực. Cách mạng tháng Mười đã chứng minh trên thực tế những dự báo của C.Mác và Ph.Ăngghen về tính tất yếu của ra đời HTKT-XH cộng sản chủ nghĩa là có cơ sở khoa học. Nó cũng mở ra cho nhân loại một xu hướng mới về xây dựng xã hội công bằng, bình đẳng, bác ái, đối lập với chế độ áp bức, bóc lột, bất công tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, sự đỗ vỡ của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô, không có nghĩa là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội với tư cách một học thuyết cách mạng và khoa học duy nhất đúng trong lịch sử tư tưởng nhân loại, một học thuyết đã vạch đường cho sự giải phóng hoàn toàn, triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động, các dân tộc bị áp bức và cho việc xây dựng một xã hội phồn vinh, công bằng, văn minh thực sự - xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Sự đổ vỡ này là do sai lầm của những người lãnh đạo đứng đầu của Đảng cộng sản ở các quốc gia nêu trên; thêm vào đó, là sự phản bội của một số kẻ cơ hội bên trong kết hợp với những kẻ thù địch từ bên ngoài. Chúng ta biết rằng, các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác, như chính C.Mác từng nhấn mạnh, chỉ là “kim chỉ nam” định hướng cho hành động. C.Mác và Ph.Ănghen đã luôn nhấn mạnh, học thuyết của các ông không phải là “khuôn vàng, thước ngọc”, không phải là cái gì đã “xong xuôi hẳn”, C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã nhiều lần khẳng định học thuyết của các ông còn nhiều điều các ông chưa có điều kiện, thời gian, cơ hội nghiên cứu. Theo các ông, phát triển lý luận Mác - Lênin là trách nhiệm của các thế hệ kế tiếp sau, của những người mácxít chân chính, nếu họ không muốn trở nên lạc hậu với thời đại của họ.

Thực tiễn cũng chứng minh quá trình hiện thực hóa chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu rơi vào khủng hoảng, từng bước sụp đổ; đã xuất hiện không ít tư tưởng hoài nghi về mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đứng trước bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam, trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin đã tự vạch ra cho mình mô hình và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện Việt Nam, đồng thời lãnh đạo nhân dân từng bước hiện thực hóa mô hình ấy.

Thực tiễn tổng kết hơn 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tạo những tiền đề quan trọng trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao... Những thành tựu to lớn trên đã chứng tỏ tư duy lý luận về kinh tế của Đảng ta là phản ánh đúng đắn quy luật khách quan và phù hợp với thực tiễn cách mạng của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.

Điều đó cho thấy, chủ nghĩa xã hội không phải là ảo tưởng mà là hiện thực, hiện thực đó đang ngày càng sinh động ở nước ta; hiện thực đó không phải chỉ những người cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam tự nhận, tự thấy mà được các nước, các tổ chức quốc tế thừa nhận. Hiện thực đó đang là tấm gương cho nhiều quốc gia, dân tộc, nhất là những quốc gia có cùng trình độ phát triển kinh tế - xã hội học tập và noi theo./. 

Thứ Tư, 31 tháng 1, 2024

CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TRÊN LĨNH VỰC KINH TẾ Ở VIỆT NAM GỒM NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN NÀO?

Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, coi đây là mặt nhiệm vụ trọng tâm tạo nền tảng vững chắc và điều kiện thuận lợi chọ sự phát triển kinh tế - xã, hội ở miền núi, vùng dân tộc thiểụ số. Đầu tư phát triển mạng lưới (đường giao thông, hệ thống truyền tải điện, trường học, trạm xá, xây dựng các trung tâm, thị trấn, chợ đầu mối, xây dựng và nâng cấp hệ: thống thủy lợi, cầu cống, các công trình phục vụ sản xuất và đời sống...

Chăm lo phát triển sản xuất hàng hoá; trên cơ sở thế mạnh về đất đai; thổ nhưỡng, tập quán sản xuất của từng vùng, đẩy mạnh nhịp độ chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát huy các tiềm năng, hình thành các vùng kinh tế nông, lâm nghiệp theo hướng chuyên canh, thâm canh, các vùng nguyên liệu, nông sản có năng suất và chất lượng cao; tích cực đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đưa các giống cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao thay thế cho các giống cũ sản lượng và chất lượng kém và xoá bỏ cây thuốc phiện. Quan tâm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm thông qua các mạng lưới thương nghiệp trong và ngoài nước.

Tập trung xoá đói giảm nghèo, chăm lo cải thiện và từng bước nâng cao đòi sống vật chất, tinh thần của đồng bào. Thực hiện tốt các chương trình dự án kinh tế - xã hội, có chính sách ưu tiên, ưu đãi về vay vốn, cung ứng vật tư cho sản xuất, giao đất, giao rừng, tạo vỉệc làm ổn định, phát triển kỉnh tế rừng, đồi; thực hiện định canh, đinh cư, khắc phục tình trạng du danh, di cư, đốt phá rừng bừa bãi; kết hợp phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên, môi trường, sinh thái; thực hỉện chương trình trồng năm triệu héc-ta rừng.

Ra sức phát huy vai trò của các thành phần kinh tế, các loại hình sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mỏ rộng các hình thức kinh tế trang trại ở miền núi, củng cố các nông, lâm trường quốc doanh, xây dựng các hợp tác xã theo hướng chuyển đổi, từng bước xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ của lực lượng xuất, hình thức, bước đi vững chắc, lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo.

Từng bước đầu tư xây dựng các cơ sở công nghiệp, các khu kinh tế quan trọng trên địa bàn miền núi chú trọng thù hút đầu tư trong nước và nước ngoài vào các vùng nhằm khai thác tốt tiềm năng kinh tế và tạo nên những biến đổi kinh tế to lớn ở miền núi vùng dân tộc thiểu số. Vận động đồng bào dân tộc đầu tư sản xuất, không để tư thương lợi dụng làm lực lượng vận chuyển hàng lậu, gian lận thương mại qua biên giới. 

Thứ Ba, 12 tháng 12, 2023

BẢN CHẤT CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA TRÊN THẾ GIỚI

Khủng hoảng kinh tế là sự biến động và làm gián đoạn quá trình tái sản xuất xã hội, phá hoại các tỷ lệ cân đối của nền kinh tế.

          Từ đầu thế kỷ XIX khi đại công nghiệp cơ khí xuất hiện, quá trình tái sản xuất của CNTB bị lâm vào những cuộc khủng hoảng kinh tế một cách chu kỳ.

          Khủng hoảng kinh tế tư bản chủ nghiã là khủng hoảng sản xuất “thừa”. Biểu hiện của nó là hàng hoá sản xuất không tiêu thụ được, công nhân bị thất nghiệp, xí nghiệp phải đóng cửa, thị trường xã hội rối loạn. “Thừa” hàng không có nghĩa là đã bão hòa với nhu cầu xã hội mà chỉ thừa so với sức mua của quần chúng lao động.

          Khả năng khủng hoảng kinh tế đã tiềm tàng trong sản xuất hàng hoá giản đơn. Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, khủng hoảng kinh tế trở thành hiện thực. Nguyên nhân cơ bản sâu xa của khủng hoảng kinh tế dưới chủ nghĩa tư bản là mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản: mâu thuẫn giữa tính chất và trình độ xã hội hoá cao của lực lượng sản xuất với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về các tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Những biểu hiện chính của mâu thuẫn đó gồm:

          1. Mâu thuẫn giữa tính có tổ chức, có kế hoạch trong từng xí nghiệp với tính chất tự phát vô chính phủ của sản xuất xã hội nhất là trong giai đoạn tự do cạnh tranh. Trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản hiện đại mặc dù có sự can thiệp, điều chỉnh kinh tế của nhà nước tư bản thông qua các kế hoạch và chương trình kinh tế nhưng nền tảng của nền kinh tế của xã hội tư bản vẫn không thay đổi. Do đó, các tỷ lệ cân đối của nền kinh tế vẫn bị phá vỡ vì nó phục tùng trước hết lợi ích của các tập đoàn tư bản độc quyền. Nhà nước tư sản hiện đại phải phục tùng ý chí của giai cấp tư sản.

          2. Mâu thuẫn giữa xu hướng mở rông sản xuất vô hạn của chủ nghĩa tư bản và sức mua có hạn của quần chúng

3. Mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Đặc điểm của sản xuất TBCN là sự tách rời giữa tư liệu sản xuất và người lao động. Tư liệu sản xuất thì tập trung trong tay giai cấp tư sản còn người công nhân ngoài sức lao động của mình không còn gì để kiếm sống. Sự tách rời 2 yếu tố đó của sản xuất biểu hiện rõ rệt trong khủng hoảng kinh tế. Lúc này tư liệu sản xuất không được sử dụng còn người lao động không có việc làm. 

Thứ Năm, 23 tháng 11, 2023

NHẬN DIỆN MƯU ĐỒ TÔN GIÁO HÓA CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH TRỊ, KINH TẾ, XÃ HỘI

 

Cùng với các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, vấn đề tôn giáo cũng luôn bị các thế lực thù địch lợi dụng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Do vậy, việc nhận diện một số thủ đoạn mà các thế lực thù địch và các phần tử cực đoan thường lợi dụng vấn đề tôn giáo nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam như: lợi dụng truyền đạo trong đồng bào dân tộc thiểu số nhằm hình thành tư tưởng ly khai và chủ nghĩa dân tộc cực đoan; xuyên tạc chính sách tôn giáo nhằm can thiệp vào chính trị nội bộ, mặc cả trong các quan hệ đối ngoại của Việt Nam; tôn giáo hóa các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội; lợi dụng hạn chế trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam; lợi dụng vấn đề đất đai liên quan đến cơ sở tôn giáo; lợi dụng mạng xã hội và diễn đàn quốc tế; lợi dụng các hoạt động từ thiện xã hội có ý nghĩa quan trọng định hướng công tác ngăn ngừa, đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá trên lĩnh vực tôn giáo này

Trước tiên, cần phải nhận thấy rõ mưu đồ, hoạt động tôn giáo hóa các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội nhằm kiếm cớ can thiệp vào chính trị nội bộ, tạo sức ép và mặc cả trong các quan hệ đối ngoại của các thế lực thù địch, phản động.

Những năm qua, lợi dụng những sơ hở, hạn chế trong quản lý kinh tế - xã hội của Việt Nam, các phần tử phản động trong và ngoài nước đã kích động một số chức sắc, nhà tu hành xúi giục đồng bào theo đạo biểu tình, phản đối các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Điển hình như: sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung năm 2016 do Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh gây ra, đã bị chúng kích động, lôi kéo dẫn đến hàng nghìn tín đồ Công giáo tụ tập, biểu tình, ngăn chặn các phương tiện giao thông qua lại, đập phá tài sản công, tấn công lực lượng chức năng...; vụ việc 39 người Việt tử vong trong container ở Vương quốc Anh cũng bị một số chức sắc tôn giáo lợi dụng tuyên truyền, xuyên tạc chính sách của Đảng, Nhà nước, đổ lỗi cho Đảng, Nhà nước gây ra nghèo đói, khiến người dân phải bỏ đất nước ra đi kiếm sống và bỏ mạng nơi xứ người,...

Năm 2018, khi Nhà nước Việt Nam chuẩn bị thông qua một số dự luật như: Dự luật an ninh mạng, Dự luật đặc khu kinh tế - hành chính Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc, một số chức sắc tôn giáo, nhà tu hành bị lợi dụng bởi các thế lực xấu đã kích động người dân tham gia biểu tình phản đối Đảng, Nhà nước.

Đặc biệt, những năm gần đây, tình hình tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến việc thực thi pháp luật về đất đai, xây dựng của chính quyền và người dân xảy ra ở nhiều địa phương. Một số đối tượng cực đoan trong tôn giáo đã lợi dụng vào đó để kích động tín đồ, gây phức tạp về an ninh chính trị.

Năm 2020, ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội, các đối tượng cực đoan, phản động đã xúi giục, thúc ép một số người dân cố tình xâm phạm đất quốc phòng, tổ chức bắt giam cán bộ, chống đối người thi hành công vụ và tấn công lực lượng chức năng khiến 3 cảnh sát hy sinh, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Khi các cá nhân phạm tội bị xử lý theo quy định của pháp luật thì một số chức sắc tôn giáo đã lợi dụng các buổi giảng đạo, lên tiếng phê phán Đảng, Nhà nước và kích động tín đồ biểu tình chống đối.

Mới đây nhất, vụ khủng bố ở Tây Nguyên đã "lòi" ra những âm mưu thâm độc. Khi máu của người dân vô tội, của những cán bộ xã, cán bộ cơ sở đã đổ, thì một bài viết lại xiên xẹo với những câu hỏi bất nhân. Chúng cố tình lấp liếm bản chất hành vi khủng bố man rợ của một số đối tượng. Thậm chí hoang tưởng đến mức coi máu của người dân vô tội là "bi kịch hoàn hảo" dựng lên để làm cho một thế lực nào đó hài lòng. Cái chúng mong có lẽ một đất nước không được bình yên và người dân vô tội phải chết. Một tháng sau vụ khủng bố, một cuộc biểu tình được tổ chức với sự tham gia của một nhóm người trên tay những lá cờ không rõ nguồn gốc. Họ tự tách mình khỏi đồng bào, Tổ quốc, huyễn hoặc về sự can thiệp của ngoại bang và hô hào những yêu sách không thể phi lý hơn.

Qua khai thác ban đầu, các đối tượng tham gia phần nhiều là đối tượng trẻ, thực hiện hành vi do bị xúi giục, kích động qua không gian mạng và bị kích động chia rẽ giữa người Kinh với người dân tộc thiểu số. Nguyên nhân cơ bản là do âm mưu của các thế lực thù địch, các đối tượng FULRO lưu vong kích động một số người dân tộc thiểu số chia rẽ với người Kinh, gây mất trật tự tại địa bàn và gây tiếng vang ở nước ngoài.

Những năm gần đây, ở nước ngoài, các tổ chức FULRO lưu vong như: “Hội những người miền núi” (MFI); “Nhân quyền người Thượng” (MHRO); “Người Thượng thống nhất” (UMP)... ra sức tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam với chiêu bài kích động người dân Tây Nguyên đấu tranh đòi thành lập nhà nước độc lập. Ở trong nước, tàn dư của lực lượng FULRO có dấu hiệu hoạt động trở lại khi chúng lợi dụng các hiện tượng tôn giáo mới như “Hà Mòn”, “Bơ khắp Brâu” để truyền bá mê tín dị đoan và kích động phá hoại, gây phức tạp tình hình an ninh, trật tự xã hội ở một số địa phương.

Một luận điệu mà các thế lực thù địch liên tục sử dụng từ năm này qua năm khác để kích động người dân Tây Nguyên là: Tuyên truyền “đất Tây Nguyên là của người Thượng”, “người Kinh lấy đất của đồng bào trên chính quê hương của mình”… Đây không chỉ là luận điệu cố tình phủ nhận chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước mà còn nhằm chia rẽ mối đoàn kết giữa người Kinh với người dân tộc thiểu số, tạo ra các vụ đòi đất, biểu tình, bạo loạn, ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Chúng triệt để xuyên tạc để hình thành và khoét sâu mâu thuẫn giữa người Kinh với người Thượng, lợi dụng một số cán bộ địa phương có sai lầm, khuyết điểm để kích động đồng bào tụ tập đấu tranh, gây rối, biểu tình. Lợi dụng và xoáy sâu vào vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, đất đai, xem đây là những “ngòi nổ” để kích động tư tưởng “bài Kinh” ly khai, tự trị.

Trên phương diện quốc tế, các tổ chức phản động lưu vong và các đối tượng xấu triệt để lợi dụng Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị để tuyên truyền xuyên tạc. Lợi dụng các diễn đàn quốc tế vu cáo Việt Nam “đàn áp, diệt chủng người dân tộc ở Tây Nguyên”, kêu gọi Mỹ, Liên hiệp quốc can thiệp, gây sức ép ngoại giao với Việt Nam.

Phương thức hoạt động của các tổ chức phản động lưu vong và số đối tượng xấu thường được tiến hành theo các bước như: Tuyên truyền, lôi kéo, mua chuộc, dụ dỗ, đe dọa, kích động người dân đi theo bọn chúng; lợi dụng tôn giáo, lập ra tổ chức tôn giáo phi pháp và thông qua truyền đạo để vận động ly khai; lợi dụng những mâu thuẫn trong nhân dân, những thiếu sót trong thực hiện chính sách dân tộc của Nhà nước ta, tổ chức bạo loạn, biểu tình, khiếu kiện. Đồng thời, vu cáo Nhà nước ta kỳ thị, phân biệt đối xử, đàn áp đối với các dân tộc thiểu số; gieo rắc mâu thuẫn giữa các dân tộc thiểu số với người Kinh, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường hoạt động trên các diễn đàn quốc tế, kể cả các diễn đàn của Liên hiệp quốc để khuếch trương thanh thế, xuyên tạc chính sách dân tộc của Việt Nam.

Có thể nói, các thế lực thù địch đã dùng thủ đoạn “tôn giáo hóa” các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội để chống phá Việt Nam. Các âm mưu, thủ đoạn đó đã tác động tiêu cực đối với xã hội, gây phức tạp về an ninh trật tự tại một số địa bàn, làm giảm sút niềm tin của một bộ phận chức sắc và đồng bào theo đạo đối với Đảng, Nhà nước ta. Nhận thức, nhận diện rõ mưu đồ này giúp chúng ta cảnh giác, chủ động đấu tranh, ngăn chặn nó tái diễn trong tương lai

Thứ Hai, 13 tháng 11, 2023

KHỦNG HOẢNG LUÔN LÀ BẠN ĐỒNG HÀNH CỦA KINH TẾ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA

Bất kỳ khủng hoảng nào cũng chỉ xuất hiện khi bị mất thăng bằng, bị mất cân đối giữa những phần cấu thành sự thống nhất. Trong phạm trù kinh tế thì khủng hoảng xuất hiện khi thăng bằng giữa cầu và cung của hàng hóa hoặc dịch vụ  bị mất. Có bao nhiêu lý thuyết về kinh tế, thì có bấy nhiêu loại khủng hoảng kinh tế. Và gần như tất cả các lý thuyết đều nói là không thể tránh khỏi khủng hoảng kinh tế được. Nó là một phần của hệ thống kinh tế và sẽ chỉ biến mất khi chúng ta xóa bỏ luật lệ kinh tế theo kiểu mẫu thị trường và kế hoạch.

Trường phái tự do chủ nghĩa khẳng định rằng kinh tế có tính chất chu trình, có thời kỳ phát triển và đổ vỡ, bởi vì nhu cầu tiêu dùng và đầu tư có dạng sóng. Còn chủ nghĩa Mác khẳng định rằng khủng hoảng tài chính là thuộc tính cần thiết của chủ nghĩa tư bản, vì mục tiêu chính trong hệ thống của chủ nghĩa tư bản đã khởi sự là phải thu lợi nhuận. Mô tả dưới dạng sơ đồ thì nó thể hiện câu chuyện như sau: mức độ sản xuất hàng hóa tăng lên và vượt nhu cầu tương ứng khả năng thanh toán thực tế, dẫn tới chuyện phải cho vay tiền để mua hàng hóa với mục tiêu tăng cầu. Nợ nần dần dần tích lũy, tiền-hàng hóa không cho vay được nữa và sự sản xuất rút ngắn lại vì không cần thiết. Bắt đầu qúa trình sa thải nhân viên-công nhân với quy mô lớn, tỷ lệ thất nghiệp tăng lên, mức độ sung túc trong cuộc sống và sinh hoạt sụt giảm.

 Chu kỳ như thế này của hệ thống kinh tế chủ nghĩa tư bản là định lý. Những thời kỳ phát triển mạnh mẽ và suy sụp chuyền từ tay nọ sang tay kia. Các nhà bác học đã cố gắng tìm hiểu lý do của những khủng hoảng từ lâu, nhưng chưa có kết qủa. Mỗi trường hợp là một câu chuyện khác nhau.“Theo bản chất của vòng tuần hoàn công nghiệp, thì một khi vòng tuần hoàn đã được người ta phát động, tất nhiên nó sẽ được tiếp tục cứ lặp đi lặp lại mãi theo chu kỳ. Ở thời kỳ tiêu điều, sản xuất giảm xuống đến mức mà nó đã đạt được trong vòng tuần hoàn trước, và đó lại là một nền sản xuất mà bây giờ người ta đã có một cơ sở kỹ thuật đích đáng. Trong thời phồn vinh – tức là thời kỳ trung gian – nền sản xuất tiếp tục phát triển trên cơ sở đó. Trong thời kỳ sản xuất quá thừa và đầu cơ, việc sản xuất đã huy động các lực lượng sản xuất đến mức tối đa, đến mức vượt ra khỏi các giới hạn tư bản chủ nghĩa của quá trình sản xuất”.

Như vậy, Các cuộc khủng hoảng đều diễn ra theo một trình tự đại thể như nhau, cho dù lĩnh vực và quốc gia hứng chịu đầu tiên, mức độ mạnh yếu, phạm vi lan tỏa, độ dài thời gian có thể khác nhau. Tóm lại, khủng hoảng kinh tế lặp đi lặp lại như một quy luật khách quan, vận hành theo một cơ chế đại thể như nhau với một số khác biệt tùy theo bối cảnh từng nước và từng thời kỳ. Cái khác căn bản là ngày nay, dưới tác động của xu thế toàn cầu hóa, tính tùy thuộc giữa các quốc gia quá chặt chẽ, đứng trước hiểm họa chung các nước đều phải cụm lại đối phó. Do đó, khủng hoảng đỡ nghiêm trọng hơn và không đưa tới chiến tranh thế giới.


Thứ Năm, 6 tháng 4, 2023

ADB DỰ BÁO TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM ĐẠT MỨC 6,5 % NĂM 2023

Sáng 4/4, tại Hà Nội, ADB tổ chức công bố báo cáo Triển vọng phát triển châu Á (ADO) tháng 4/2023 - ấn bản kinh tế hàng đầu của định chế tài chính này về tình hình kinh tế của châu lục. Báo cáo đánh giá, kinh tế Việt Nam đã phục hồi ấn tượng trong năm 2022, nhờ sự hỗ trợ của xuất khẩu, đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh và sự phục hồi của tiêu dùng trong nước.

Tuy nhiên, ông Andrew Jeffries, Giám đốc quốc gia ADB tại Việt Nam cho biết, tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong năm 2023 được dự báo sẽ bị ảnh hưởng do suy thoái kinh tế thế giới, chính sách tiền tệ tiếp tục thắt chặt ở các nước phát triển và tác động lan tỏa từ căng thẳng địa chính trị toàn cầu. Song cũng theo chuyên gia của ADB, chính sách hỗ trợ tăng trưởng thông qua việc nới lỏng tiền tệ và khối lượng lớn đầu tư công kỳ vọng được giải ngân trong năm 2023, cùng với việc mở cửa trở lại của Trung Quốc sẽ giúp Việt Nam đương đầu với những bất lợi trên.

Do đó, ADB đưa ra dự báo nền kinh tế Việt Nam được kỳ vọng sẽ tăng trưởng 6,5% vào năm 2023 như mục tiêu Chính phủ đặt ra, và tăng trưởng tăng lên 6,8% trong năm 2024. Theo ADB, suy thoái kinh tế thế giới đã trầm trọng hơn trong quý IV/2022 và nhiều khả năng sẽ tiếp tục trong năm 2023. Nhu cầu toàn cầu sụt giảm dự kiến sẽ tác động tới tăng trưởng công nghiệp của Việt Nam.

Tuy nhiên, sản lượng nông nghiệp dự kiến sẽ tăng 3,2% trong năm nay do nhu cầu trong nước phục hồi và mở cửa trở lại ở Trung Quốc - thị trường chiếm tới 45% kim ngạch xuất khẩu trái cây và rau củ của Việt Nam. Ngoài ra, lượng khách du lịch Trung Quốc bắt đầu quay trở lại từ ngày 15/3 được kỳ vọng sẽ mang lại lợi ích cho ngành du lịch và dịch vụ ở Việt Nam, với dự báo tăng trưởng của ngành đạt 8,0% trong năm nay.

Theo ông Nguyễn Minh Cường, Chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam, đầu tư công sẽ là một động lực then chốt cho việc phục hồi và tăng trưởng kinh tế trong năm 2023 và 2024, giúp thúc đẩy ngành xây dựng và các hoạt động kinh tế liên quan khác. Cùng với việc nhanh chóng chuyển sang chính sách nới lỏng tiền tệ trong tháng 3, giải ngân đầu tư công được kỳ vọng mang lại tác động đa chiều, tạo ra động lực tăng trưởng mạnh mẽ cho nền kinh tế.

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 kéo dài đã làm bộc lộ những vấn đề mang tính cơ cấu, cùng với thị trường vốn trong nước đang chịu áp lực, chuyên gia của ADB cho rằng, về dài hạn, Việt Nam cần duy trì cải cách lĩnh vực tài chính để giảm sự phụ thuộc của nền kinh tế vào nguồn vốn ngân hàng và nâng cao tính minh bạch trên thị trường vốn. Bên cạnh đó, mặc dù chuyển sang chính sách tiền tệ nới lỏng hơn, ADB cũng khuyến nghị Việt Nam vẫn nên tiếp tục ưu tiên ổn định giá cả, do căng thẳng địa chính trị leo thang và việc đẩy nhanh giải ngân đầu tư công vẫn có thể làm gia tăng lạm phát trong năm 2023. Cuối cùng, theo ADB, việc đẩy nhanh tiến độ giải ngân 30 tỷ USD đầu tư công là rất quan trọng, cùng với việc tiếp tục thực hiện chương trình phục hồi kinh tế được thông qua trong tháng 1/2022 sẽ tạo ra tác động đa chiều, tạo động lực mạnh mẽ cho cả nền kinh tế.


Thứ Năm, 1 tháng 12, 2022

MỤC TIÊU ĐẾN 2030, GDP BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI VIỆT NAM ĐẠT KHOẢNG 7.500 USD

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành nghị quyết 29 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Nghị quyết nêu rõ mục tiêu tổng quát đến năm 2030 Việt Nam cơ bản đạt được các tiêu chí của nước công nghiệp, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đời sống của nhân dân được nâng cao.

Xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh với năng lực sản xuất mới, tự chủ, khả năng thích ứng, chống chịu cao, từng bước làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền của các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn...

Về các chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030, nghị quyết nêu rõ mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân khoảng 7%/năm; GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt khoảng 7.500 USD; GNI bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt trên 7.000 USD.

Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế ở mức trên 50%; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu thế giới.

Tỉ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội dưới 20%; tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35 - 40%; tỉ lệ người dân trong độ tuổi lao động được đào tạo kỹ năng số cơ bản đạt trên 80%; đạt khoảng 260 sinh viên trên một vạn dân.

Thuộc nhóm ba nước dẫn đầu ASEAN về năng lực cạnh tranh công nghiệp; tỉ trọng công nghiệp đạt trên 40% GDP; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 30% GDP; tỉ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong các ngành chế biến, chế tạo đạt trên 45%.

Giá trị gia tăng công nghiệp chế tạo, chế biến bình quân đầu người đạt trên 2.000 USD. Tỉ trọng của khu vực dịch vụ đạt trên 50% GDP, trong đó du lịch đạt 14 - 15% GDP.

Hình thành được một số tập đoàn, doanh nghiệp công nghiệp trong nước có quy mô lớn, đa quốc gia, có năng lực cạnh tranh quốc tế trong các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn.

Xây dựng và phát triển được một số cụm liên kết ngành công nghiệp trong nước có quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh quốc tế; làm chủ một số chuỗi giá trị công nghiệp, nông nghiệp.

Xây dựng được ngành công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại.

Tỉ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP. Hoàn thành xây dựng chính phủ số, thuộc nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới và xếp thứ ba trong khu vực ASEAN về chính phủ điện tử, kinh tế số.

Tỉ lệ đô thị hóa đạt trên 50%. Phấn đấu đạt được các chỉ tiêu về sử dụng hiệu quả tài nguyên (đất, nước, khoáng sản), tái sử dụng, tái chế chất thải tương đương với các nước dẫn đầu ASEAN; chỉ số hiệu quả môi trường (EPI) đạt trên 55. Chỉ số phát triển con người (HDI) duy trì trên 0,7.

Về tầm nhìn đến năm 2045, nghị quyết nêu rõ mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, thuộc nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu khu vực châu Á.

* Về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, nghị quyết nêu rõ việc đổi mới tư duy, nhận thức và hành động quyết liệt, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trong đó các nội dung cốt lõi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giai đoạn 2021 - 2030 là thúc đẩy ứng dụng mạnh mẽ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo ra bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của các ngành, lĩnh vực và cả nền kinh tế.

Đồng thời thực hiện chuyển đổi số toàn diện, thực chất, hiệu quả, bền vững; nâng cao năng lực tự chủ về sản xuất, công nghệ và thị trường, bảo vệ và phát huy tốt thị trường trong nước.

Nghị quyết cũng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh, tự lực, tự cường; nâng cao năng lực ngành xây dựng...

Thứ Năm, 13 tháng 10, 2022

ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM “ĐẢNG KHÔNG NÊN LÃNH ĐẠO KINH TẾ”

Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng đến nay đã chứng minh sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta, trong đó có lĩnh vực kinh tế. Vậy mà gần đây lại xuất hiện quan điểm cho rằng “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế”.

Từ lúc chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng, lợi dụng việc góp ý văn kiện, một số người đã “phản biện” quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ nên tập trung lãnh đạo chính trị, không nên lãnh đạo kinh tế”; “Đảng chỉ nên tự khuôn mình trong phạm vi “chính trị”, còn kinh tế là địa hạt của giới kinh doanh”...Hai năm gần đây, do ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch Covid-19, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam chững lại, một số người lại đổ lỗi cho “Đảng Cộng sản Việt Nam không biết lãnh đạo kinh tế”, họ lại tiếp tục “phản biện” trên các mạng xã hội, trả lời báo chí nước ngoài rằng: “Đảng không nên “lấn sân” của Quốc hội, Chính phủ trong lĩnh vực kinh tế” và “khuyến nghị”: “Trong lĩnh vực kinh tế, đã có Quốc hội ban hành pháp luật và giám sát tối cao, đã có Chính phủ quản lý điều hành, không cần Đảng lãnh đạo”... Đó là những quan điểm sai lầm, lợi dụng phản biện để phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân.Thực tiễn đã khẳng định kinh tế và chính trị có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại, quy định và chế ước lẫn nhau. Trên thế giới hiện nay, không có đảng phái chính trị nào không gắn kết với kinh tế. Lênin đã từng chỉ ra rằng, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, là kinh tế cô đọng lại.

Kinh tế quyết định chính trị, chính trị phản ánh kinh tế, nhưng chính trị không thụ động trước kinh tế, mà có vai trò tác động trở lại với kinh tế hoặc tích cực, thúc đẩy kinh tế phát triển, nếu là chính trị đúng đắn, sáng suốt; hoặc tiêu cực, kìm hãm sự phát triển kinh tế và xã hội, nếu là chính trị sai lầm.  Các đảng lớn của các nước tư bản phát triển đều đưa ra đường lối chính trị, dẫn dắt sự phát triển xã hội theo lý tưởng, mục tiêu đã lựa chọn. Trong đường lối chính trị đó đều có đường lối phát triển kinh tế. Thực tiễn tại Việt Nam trong thế kỷ qua cho thấy, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta, trong đó có lĩnh vực kinh tế. Cũng có lúc Đảng ta có sai lầm, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo kinh tế, nhưng trong suốt 92 năm qua, chưa bao giờ Đảng ta xem nhẹ, buông lỏng vấn đề lãnh đạo kinh tế.

Nhờ chú trọng lãnh đạo kinh tế, bảo đảm sự đúng đắn và nhất quán về quan điểm chính trị trong lãnh đạo kinh tế mà Đảng ta đã nhanh chóng sửa chữa được khuyết điểm, giải quyết thành công nhiều nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế quan trọng, nhất là hơn 35 năm qua thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo.

Để “chứng minh” rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam không nên lãnh đạo kinh tế”, một số người xuyên tạc đường lối phát triển kinh tế của Đảng ta, họ cho rằng “không có nền kinh tế nào là nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)”; “KTTT, các quy luật của KTTT và định hướng XHCN là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; ghép định hướng XHCN vào KTTT là sự gán ghép chủ quan, duy ý chí, không có cơ sở khoa học, không thuyết phục, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn”... Có lẽ những người nói trên đã không hiểu hoặc cố tình không hiểu bản chất của cơ chế thị trường và những khuyết tật của KTTT. Nguồn gốc và bản chất của KTTT là kinh tế hàng hóa; các phạm trù giá trị, giá cả, hàng hóa, tiền tệ, các quy luật cạnh tranh, quy luật cung-cầu, quy luật giá trị của kinh tế hàng hóa cũng là các phạm trù và quy luật của KTTT. Các phạm trù, quy luật này có trước chủ nghĩa tư bản (CNTB), được CNTB nắm lấy, sử dụng để phát triển thành KTTT tư bản chủ nghĩa. Trải qua thời gian, KTTT tư bản chủ nghĩa cũng có nhiều biến đổi. Thời kỳ đầu khi mới ra đời, KTTT tư bản chủ nghĩa là KTTT tự do cạnh tranh, chưa có sự can thiệp của nhà nước. Sự điều tiết của “bàn tay vô hình” của thị trường đã đưa đến nhiều hệ quả tiêu cực, đặc biệt là các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ, nảy sinh ra nhiều khuyết tật của cơ chế thị trường, đòi hỏi phải có bàn tay quản lý của nhà nước.

Ngày nay, nền KTTT hiện đại của các nước tư bản phát triển trên thế giới đều là nền KTTT có sự quản lý của nhà nước, vừa có điều tiết bởi “bàn tay vô hình” của thị trường, vừa có điều tiết bằng “bàn tay hữu hình” của nhà nước; trong đó, điều tiết của thị trường là cơ sở, nền tảng và điều tiết của nhà nước trên cơ sở tôn trọng điều tiết của thị trường (công cụ quản lý, điều tiết kinh tế của nhà nước là luật pháp, chính sách và các nguồn lực kinh tế của nhà nước).

Thực tế cho thấy, KTTT có sự quản lý của nhà nước ở các nước trên thế giới không phải hoàn toàn giống nhau, mà có nhiều mô hình khác nhau, tùy thuộc vào mức độ can thiệp và nội dung, định hướng can thiệp của nhà nước.

Có mô hình KTTT tự do ở những nước mức độ can thiệp của nhà nước vào kinh tế thấp; nhà nước chỉ bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản, tự do kinh doanh, bảo đảm trật tự, ổn định xã hội, còn để phạm vi điều tiết của thị trường lớn, điều tiết mọi hoạt động kinh tế. Có mô hình KTTT xã hội, nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để tạo cơ hội như nhau cho mọi người tham gia phát triển và hưởng thành quả phát triển, chống lại độc quyền, phát triển kinh tế theo định hướng xã hội (như ở Đức).

Có mô hình KTTT phúc lợi xã hội, nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để điều tiết thu nhập, phát triển các dịch vụ xã hội công, bảo đảm phúc lợi cho người dân, đặc biệt là những người cần được trợ giúp là trẻ em, người già, người thất nghiệp... (như ở các nước Bắc Âu). Có mô hình KTTT nhà nước phát triển, nhà nước không chỉ tạo thể chế, môi trường cho các chủ thể kinh tế hoạt động, mà còn có chiến lược, chính sách và sử dụng các nguồn lực kinh tế của nhà nước để định hướng và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế (như ở Nhật Bản, Hàn Quốc)...

Phát triển KTTT định hướng XHCN là sự lựa chọn đúng đắn và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm hạn chế những khuyết tật của KTTT. Định hướng XHCN của nền KTTT được bảo đảm bởi vai trò quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, được thể hiện ở hệ thống pháp luật, chính sách, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch để tạo ra môi trường kinh doanh công khai, minh bạch, thuận lợi, tạo động lực phát triển kinh tế nhanh, bền vững; gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội phù hợp với trình độ phát triển kinh tế; thể hiện ở quan hệ phân phối để mọi người đều được hưởng thành quả phát triển đất nước. Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, mô hình kinh tế mà chúng ta xây dựng là mô hình KTTT định hướng XHCN. Đây là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội đã được hiến định trong Hiến pháp, văn bản pháp lý cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp cũng hiến định Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Trong đó có lĩnh vực kinh tế. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng không làm thay các cơ quan Nhà nước. Đảng lãnh đạo kinh tế bằng cách tạo ra bảo đảm chính trị cho hoạt động kinh tế, xác định phương hướng chính trị cho hoạt động kinh tế đúng đắn và lành mạnh . Chăm lo dân sinh, nâng cao dân trí, bảo đảm dân quyền để thực hiện dân chủ và phát huy quyền làm chủ thực chất của nhân dân là định hướng mục tiêu lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để đạt được mục tiêu đó, Đảng chủ trương “phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm”. Lãnh đạo kinh tế của Đảng đã trở thành mắt xích chủ yếu, quan trọng, thiết thực và quyết định nhất trong toàn bộ đường lối lãnh đạo, trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, kinh tế Việt Nam trong thời gian qua đã vượt qua bao gian nan, thử thách, được cả thế giới ngưỡng mộ, đặc biệt là trong thời kỳ phải đối mặt với đại dịch Covid-19. Ngân hàng Standard Chartered mới đây đã đưa ra dự báo, nền kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi mạnh mẽ trong năm 2022, với tốc độ tăng trưởng 6,7%, tăng trưởng năm 2023 là 7% và Việt Nam tiếp tục có triển vọng tích cực trong trung hạn. Trong bản Cập nhật kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 2, Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh khởi đầu năm 2022, nền kinh tế Việt Nam có nhiều tín hiệu tích cực. Fitch Ratings là một trong những tổ chức có cái nhìn lạc quan nhất về kinh tế Việt Nam với dự báo kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng 7,9% trong năm nay và 6,5% vào năm 2023.

Báo chí quốc tế trong thời gian gần đây đã có nhiều bài đánh giá tích cực triển vọng kinh tế Việt Nam nhờ chính sách ứng phó linh hoạt với Covid-19, hoạt động sản xuất, kinh tế đang ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ. Chuyên trang tư vấn đầu tư ở châu Á Vietnam Briefing của công ty Dezan Shira nhận định, các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mới mà Việt Nam tham gia sẽ đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ tăng trưởng kinh tế khi Việt Nam mở cửa biên giới, tăng tốc phục hồi. Các FTA không chỉ giúp phát triển kinh tế, mạng lưới sản xuất, mà còn góp phần nâng cao các tiêu chuẩn lao động. Tờ Reuters cũng có bài viết khẳng định: Nhờ các chính sách linh hoạt của Chính phủ Việt Nam, các hoạt động kinh doanh đã được khôi phục, đặc biệt là từ quý IV năm trước, nhờ đó, ngành dệt may Việt Nam đã hạn chế đáng kể sự gián đoạn chuỗi cung ứng, kỳ vọng tăng mạnh xuất khẩu trong năm nay.

Thực tiễn đã trả lời rõ ràng cho câu hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam có nên lãnh đạo kinh tế hay không. Thực tiễn cũng đã khẳng định những luận điệu tuyên truyền “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế" là xuyên tạc, kích động. Chúng ta cần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ quan điểm sai trái này.

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2022

KẾT HỢP SỨC MẠNH DÂN TỘC VỚI SỨC MẠNH THỜI ĐẠI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Tăng cường, phát huy nội lực trên cơ sở phát huy cao độ sức mạnh, trí tuệ Việt Nam, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Bằng đường lối độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng, bằng bàn tay, khối óc và tinh thần hăng say lao động, sáng tạo mà nhân dân ta đã làm nên kỳ tích mới trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Từng bước khẳng định bản lĩnh chính trị, uy tín, vị thế Việt Nam trong thời đại mới, từ đó làm cho các nước và các dân tộc trên thế giới nhận rõ con đường độc lập, tự chủ, gắn với chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta, nhân dân ta lựa chọn trong điều kiện hiện nay là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo, là nền tảng bền vững cho chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Trước xu thế toàn cầu hóa cuộc chạy đua giữa các quốc gia, dân tộc trở nên ngày càng quyết liệt vì vậy, chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, lại tiếp tục tỏa sáng. Đất nước ta hội nhập với thế giới, với khu vực là để học hỏi, tiếp thu tinh hoa của nhân loại, của thời đại, từ đó làm giàu thêm, phong phú hơn nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam; việc tranh thủ ngoại lực là để khơi dậy nội lực, biến ngoại lực thành nội lực, xây dựng đất nước ta giàu mạnh, nhân dân ta có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, chứ quyết không thể tự đánh mất mình, không để tự mình rơi vào tụt hậu, lệ thuộc.

Hơn bao giờ hết, con đường duy nhất đúng là phải quyết tâm để vươn lên, đưa đất nước phát triển bền vững, nhịp bước nhân loại không chờ đợi bất cứ ai, cuộc cạnh tranh toàn cầu luôn tiềm ẩn nguy cơ “mất còn”, không quốc gia, dân tộc nào là ngoại lệ, làm cho tương quan lực lượng và mối quan hệ giữa các quốc gia, các dân tộc ở các khu vực trên thế giới thường xuyên thay đổi. Việc tăng cường, phát huy nội lực, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam sẽ bảo đảm cho đất nước ta phát triển hài hòa, bền vững, không lệ thuộc vào nước ngoài, dần thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Vì thế, với bản lĩnh, trí tuệ, tiềm năng đất nước và con người Việt Nam, cần phải tập trung xử lý, tháo gỡ những cản trở, ách tắc, khắc phục những hạn chế, yếu kém, nhanh chóng đưa nền kinh tế đất nước thoát khỏi tình trạng suy giảm đã kéo dài, phục hồi và tăng cường nhịp độ tăng trưởng. Tăng cường và tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế; hoàn thành tốt nhiệm vụ đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế để tạo ra một chất lượng mới, trình độ mới, cao hơn, toàn diện hơn cho sự phát triển kinh tế đất nước, phấn đấu trong thời gian gần đạt ngang tầm các nước trong khu vực và các nước tiên tiến trên thế giới.

Thứ Ba, 10 tháng 5, 2022

CẢI TỔ Ồ ẠT VỀ KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, Ý THỨC HỆ, NGOẠI GIAO LÀ MỘT TRONG NGUYÊN NHÂN KHIẾN LIÊN XÔ VÀ ĐÔNG ÂU SỤP ĐỔ

Khi nhận thức được sự trì trệ, Liên Xô đã lún sâu vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, nên vội vã tiến hành cải tổ một cách ồ ạt trên cả bốn mặt: tự do hóa kinh tế, dân chủ hóa chính trị, phi ý thức hệ tư tưởng và mở cửa ra bên ngoài. Chính đường lối phiêu lưu, mạo hiểm này đã làm bùng nổ và lan tràn đến mức không thể kiểm soát nổi các mâu thuẫn chính trị, kinh tế, xã hội, tôn giáo, sắc tộc, các xu hướng ly tâm, cấp tiến hóa, cực đoan hóa... Đặc biệt, việc vi phạm một cách có hệ thống các nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa xã hội của ban lãnh đạo Liên Xô đứng đầu là Gorbachev trong quá trình cải tổ, nhất là việc "tự nguyện" xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản với toàn xã hội, không chỉ tạo điều kiện cho các lực lượng phản động ngóc đầu dậy chống đối Đảng Cộng sản, mà còn hủy hoại triệt để cơ cấu quyền lực của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, khiến cho xã hội lâm vào rối loạn, mất phương hướng, tan rã là điều không thể tránh khỏi.

Thứ Ba, 29 tháng 3, 2022

CHẶNG ĐƯỜNG QUÁ ĐỘ ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội tuy không còn có sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước XHCN như trước nhưng trong giai đoạn mới của thời đại, khi cách mạng khoa học - công nghệ và toàn cầu hóa đời sống thế giới, tất cả các nước đều ở trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, không một nước nào sống biệt lập mà có thể phát triển được.

Sự hợp tác kinh tế với các nước bằng nhiều hình thức sinh động trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau dưới bất kỳ hình thức nào, sẽ tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý, phục vụ cho việc phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là một khả năng thực tế mà chúng ta đã và đang cố gắng tận dụng, đưa nước ta hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

Như vậy, từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên XHCN bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa theo quan điểm của V.I.Lenin-người đã có đóng góp to lớn vào lý luận về sự “phát triển rút ngắn” và Chính sách kinh tế mới (NEP). Nó đã được thực tiễn khảo nghiệm mà ngày nay Đảng ta đang vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta.

Xuất phát từ tình hình như thế, chúng ta có thể tin tưởng vững chắc rằng Việt Nam đang trong tư thế vươn tầm, kiên định con đường đã lựa chọn, đã có đủ sức lực và trí tuệ để tiến bước cùng thế giới, tiến cùng thời đại; phấn đấu hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

KIÊN QUYẾT BẢO VỆ “HÒN ĐÁ TẢNG” CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN

Điều khác biệt căn bản về chất so với các luận thuyết chính trị-xã hội có trong lịch sử, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác là sự thống nhất biện chứng giữa tính khoa học và tính đảng, tính lý luận và thực tiễn.

Trong Chủ nghĩa Mác-Lênin, lý luận về hình thái kinh tế-xã hội là một nội dung then chốt, nền tảng, nhờ nó mà quan niệm duy vật biện chứng về lịch sử không còn là một giả thuyết, mà được chứng minh bằng khoa học; trở thành kim chỉ nam chỉ đạo nhận thức và hành động của các đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế.

Mác và Ăngghen đã xác nhận rằng, học thuyết hình thái kinh tế-xã hội chính là kết quả lớn nhất mà hai ông đã đạt được, nó trở thành kim chỉ nam cho mọi sự nghiên cứu sau này.

Phải chăng vì lẽ đó, những người theo chủ nghĩa cơ hội, xét lại hiện đại dưới mọi màu sắc luôn tập trung công kích, bài xích, phủ nhận lý luận mác-xít về hình thái kinh tế-xã hội với hy vọng từ đó phủ nhận toàn bộ Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Họ lớn tiếng phê phán “sai lầm chủ yếu trong học thuyết về lịch sử của Mác là học thuyết về hình thái kinh tế-xã hội”. Từ đó, họ ra sức lý tưởng hóa mô hình xã hội tư bản hiện đại, tán dương các học thuyết xã hội phi mác-xít, chứng minh “tính hợp lý” của học thuyết của Avin Tốp-lơ với ý đồ dùng nó để thay thế học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Mác; phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Chúng ta không phủ nhận những yếu tố hợp lý trong các học thuyết xã hội ngoài mác-xít, đáng kể là thành tựu cũng như vai trò của khoa học và công nghệ hiện đại, về sự phát triển của lực lượng sản xuất, về đẩy mạnh giáo dục và đào tạo với sự tiếp thu “hạt nhân hợp lý” của nó để nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài...

Song cần thấy rõ hơn những khiếm khuyết, hạn chế của các học thuyết đó, nhất là việc né tránh giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất và các quan hệ xã hội khác với vấn đề giải phóng con người, xóa bỏ áp bức, bóc lột và các vấn đề xã hội khác như chiến tranh và hòa bình...

Không phải ngẫu nhiên mà Thời báo Los Angeles (Mỹ), phát hành sau sự kiện cuộc đảo chính tại Liên Xô ngày 19-8-1991, đã nhận định: Tư tưởng xã hội của Chủ nghĩa Mác vẫn còn ghi dấu ấn không thể xóa bỏ trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận.

Nhiều vấn đề chính trị học, xã hội học, kinh tế học của thế giới đương đại đều được phân tích bằng lăng kính của Chủ nghĩa Mác, thậm chí còn được phân tích, sử dụng từ những khái niệm mác-xít. Cựu Tổng thống Mỹ R.Nixon, trong cuốn “Chớp lấy thời cơ-thách thức mới đối với Hoa Kỳ trong thế giới một siêu cường” cũng phải thừa nhận: “Học thuyết Mác vẫn đang được hâm mộ trong các trường đại học ở Mỹ và Tây Âu”.

Hiểu đúng sự thật, tôn trọng sự thật thì phải thừa nhận rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết duy nhất từ trước đến nay bàn về mục tiêu, con đường, điều kiện, lực lượng và phương thức đấu tranh giải phóng triệt để xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột, bất công, tha hóa, đói nghèo dưới mọi hình thức; đem lại cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Lẽ phải duy nhất là Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ ra những quy luật vận động, phát triển của thế giới khách quan, sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản; đưa giai cấp công nhân và những người dân lao động từ nô lệ lên địa vị làm chủ xã hội.

Bản chất khoa học, cách mạng của học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Chủ nghĩa Mác-Lênin thể hiện ở tính tất yếu khách quan của sự ra đời học thuyết, ở việc khẳng định sản xuất vật chất là cơ sở quyết định sự tồn tại và phát triển lịch sử xã hội loài người, ở quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, ở mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, ở việc khẳng định sự phát triển của các hình thái kinh tế-xã hội là quá trình lịch sử-tự nhiên...

Không thể lấy cách tiếp cận khác, ví như cách tiếp cận lịch sử các nền văn minh, các làn sóng văn minh, hoặc cách tiếp cận của sự phát triển khoa học, công nghệ, kỹ thuật... để thay thế học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Chủ nghĩa Mác-Lênin, mặc dù trong các cách tiếp cận của các học thuyết ngoài mác-xít có một số yếu tố khoa học, chúng ta có thể chắt lọc, tiếp thu, kế thừa trên tinh thần phê phán để phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, làm giàu có Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Điểm nhấn cần nhận thức đúng bản chất khoa học, cách mạng của học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Chủ nghĩa Mác-Lênin là ở chỗ, Mác làm nổi bật vai trò quyết định-xét đến cùng-của nhân tố kinh tế. Tuy nhiên, Mác, Ăng-ghen và Lênin không bao giờ coi kinh tế là nhân tố duy nhất quyết định sự vận động, phát triển của lịch sử.

Về vấn đề này, Ăng-ghen đã khẳng định rõ ràng: “Theo quan niệm duy vật về lịch sử, xét đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực. Cả tôi lẫn Mác chưa bao giờ khẳng định gì hơn thế. Còn nếu có ai đó xuyên tạc luận điểm này theo ý nghĩa nhân tố kinh tế là nhân tố quyết định duy nhất, thì người đó biến lời khẳng định này thành một câu trống rỗng, trừu tượng, vô nghĩa. Tình hình kinh tế là cơ sở hạ tầng, nhưng các yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng... cũng có ảnh hưởng đến quá trình của cuộc đấu tranh lịch sử và trong nhiều trường hợp chiếm ưu thế trong việc quyết định hình thức của cuộc đấu tranh ấy".

Mác chỉ ra vai trò quyết định của sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển xã hội, con người, loài người. Nếu không có hoạt động sản xuất vật chất, thì con người và xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển. Ngoài chức năng đầu tiên và trực tiếp này, con người thông qua lao động sản xuất vật chất còn sản xuất ra chính bản thân mình.

Ăngghen khẳng định: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người... lao động đã sáng tạo ra bản thân con người”.

Đây là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học để chúng ta tiếp tục vận dụng sáng tạo học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Chủ nghĩa Mác vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và chính nó là vũ khí lý luận sắc bén để chúng ta đứng vững trên mặt trận tư tưởng, lý luận; kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu xuyên tạc, phản động, bảo vệ chân lý khoa học của Chủ nghĩa Mác- Lênin trước sự tấn công từ nhiều phía của kẻ thù; kiên quyết giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà chúng ta đạt được sau hơn 35 năm đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng ta./.

Thứ Hai, 28 tháng 3, 2022

KHÔNG GIAN MẠNG VÀ BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa có khái niệm thống nhất về không gian mạng. Quan điểm của Mỹ đề cập trong Chỉ thị số 54 về An ninh quốc gia và Chỉ thị số 23, năm 2008, về An ninh nội địa của Tổng thống Mỹ cho rằng, không gian mạng là mạng lưới kết nối các cơ sở hạ tầng bao gồm internet, các mạng viễn thông, các hệ thống máy tính, các hệ thống xử lý và điều khiển trong ngành công nghiệp trọng yếu; không gian mạng được dùng để mô tả một môi trường ảo, trong đó diễn ra việc trao đổi thông tin và tương tác giữa con người với nhau, không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Bộ Quốc phòng Nhật Bản xác định không gian mạng là không gian ảo, bao gồm cả internet, trong đó thông tin được trao đổi bằng công nghệ thông tin và viễn thông; không gian mạng là “trường”, trong đó các hoạt động tình báo, tấn công và phòng thủ được tiến hành như “trường” trên bộ, trên biển, trên không và trong không gian.

Trung Quốc coi không gian mạng là chiến trường thứ năm và là mặt trận tình báo mới. Trong phát biểu tại hội nghị thành lập Tiểu tổ Lãnh đạo an ninh mạng và thông tin hóa Trung ương ở Bắc Kinh, ngày 27/2/2014, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình cho rằng, internet và an ninh thông tin đã trở thành thách thức mới đối với Trung Quốc vì cả hai đều gắn liền với an ninh quốc gia và ổn định xã hội. 

Luật An ninh mạng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12/6/2018 khẳng định, không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Không gian mạng quốc gia là không gian mạng do Chính phủ xác lập, quản lý và kiểm soát. Trên không gian mạng, Việt Nam có hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia. Hệ thống này gồm hệ thống thông tin quân sự, an ninh, ngoại giao, cơ yếu; hệ thống thông tin lưu trữ, xử lý thông tin thuộc bí mật nhà nước; hệ thống thông tin phục vụ lưu giữ, bảo quản hiện vật, tài liệu có giá trị đặc biệt quan trọng; hệ thống thông tin phục vụ bảo quản vật liệu, chất đặc biệt nguy hiểm đối với con người, môi trường sinh thái; hệ thống thông tin phục vụ bảo quản, chế tạo, quản lý cơ sở vật chất đặc biệt quan trọng khác liên quan đến an ninh quốc gia; hệ thống thông tin quan trọng phục vụ hoạt động của cơ quan, tổ chức ở Trung ương; hệ thống thông tin quốc gia thuộc lĩnh vực năng lượng, tài chính, ngân hàng, viễn thông, giao thông vận tải, tài nguyên và môi trường, hóa chất, y tế, văn hóa, báo chí; hệ thống điều khiển và giám sát tự động tại công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia.

Từ khái niệm bảo vệ an ninh quốc gia được đề cập trong Luật An ninh quốc gia Việt Nam năm 2004 có thể  hiểu, bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Thực tế cho thấy, không gian mạng quốc gia Việt Nam chứa đựng những yếu tố hết sức quan trọng, nếu bị xâm hại sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới lợi ích, an ninh quốc gia. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước vẫn không từ bỏ âm mưu, hoạt động chống phá Việt Nam. Chúng luôn lợi dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật và không gian mạng vào các hoạt động chống phá với các thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm. Trong bối cảnh đó, yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng đặt ra trong tình hình hiện nay là hết sức cấp thiết. Chính vì vậy, Nghị quyết số 51-NQ/TW, ngày 5/9/2019, của Bộ Chính trị, về “Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia” xác định, cần phải tăng cường bảo vệ an toàn, an ninh mạng các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia và các hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh ngăn chặn các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng; khắc phục điểm yếu, lỗ hổng bảo mật, nguy cơ mất an toàn, an ninh mạng, an ninh thông tin.  

Bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng được xác định là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Do đó, để triển khai công tác này, phải phát huy được sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đồng thời, xác định đây là cuộc đấu tranh của toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là nhiệm vụ trọng yếu của cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó, lực lượng công an giữ vai trò nòng cốt, lực lượng an ninh mạng và cảnh sát phòng, chống tội phạm công nghệ cao có trách nhiệm trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên không gian mạng. Đây là quan điểm, tư tưởng cơ bản, xuyên suốt của Đảng, quyết định thắng lợi cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Các nguyên tắc cần quán triệt trong bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng bao gồm: Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn dân tộc; lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng làm nòng cốt. Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia với nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng.

Bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng là bảo vệ chế độ chính trị và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam trên không gian mạng; bảo vệ an ninh về tư tưởng và văn hóa, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng; bảo vệ an ninh trong các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, đối ngoại và các lợi ích khác của quốc gia trên không gian mạng; bảo vệ bí mật nhà nước và các mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia trên không gian mạng; phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại và loại trừ các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia trên không gian mạng.