Hiển thị các bài đăng có nhãn thách thức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thách thức. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2022

NẾU VIỆT NAM LIÊN MINH QUÂN SỰ SẼ TIỀM ẨN NHIỀU RỦI RO, THÁCH THỨC

Là một quốc gia có biển, phụ thuộc nhiều vào đường biển, nếu Việt Nam tiến hành liên minh quân sự với một cường quốc ngoài khu vực thì chắc chắn sẽ làm gia tăng bất ổn ở Biển Đông. Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường an ninh và phát triển của đất nước. Vì vậy, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định ở khu vực Biển Đông, tình hữu nghị với các cường quốc là vấn đề mang tầm chiến lược đối với Việt Nam.

Liên minh quân sự với bên ngoài có thể sẽ ảnh hưởng xấu tới quan hệ giữa Việt Nam với các nước, trước hết là với các nước láng giềng, trong đó trực tiếp là ảnh hưởng đến quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc. Trong trường hợp, nếu Việt Nam tiến hành liên minh quân sự với một quốc gia có lợi ích đối lập với Trung Quốc thì dù ta có biện giải như thế nào cũng không làm cho Trung Quốc loại bỏ được những nghi ngại rằng liên minh đó là nhằm vào họ, chống lại họ. Và, với vị thế là một nước lớn, chi phối nhiều hoạt động kinh tế, lại là quốc gia láng giềng “núi liền núi, sông liền sông”,… Trung Quốc sẽ có những phản ứng gây ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh và phát triển của Việt Nam. Điều đó đặt đất nước trước nhiều thách thức, rủi ro, thậm chí rơi vào tình thế nguy hiểm.

Liên minh quân sự tạo cơ hội cho các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam, làm giảm tính hiệu quả của đường lối đối ngoại.Liên minh quân sự sẽ “phá vỡ” chính sách quốc phòng “Bốn không” của Việt Nam hiện nay, đi ngược lại đường lối đối ngoại hoà bình, nhất quán của Đảng, tạo kẽ hở cho các thế lực thù địch tấn công.

Trên bình diện quốc tế, Việt Nam là một quốc gia tầm trung, nhưng trong quan hệ với Trung Quốc, Việt Nam là một nước nhỏ. Quan hệ giữa một nước nhỏ với một nước lớn chỉ có thể được bình thường nếu như nước nhỏ không cảm thấy bị đe doạ bởi nước lớn, và nước lớn thấy sức mạnh của mình được nước nhỏ tôn trọng. Vì vậy, Việt Nam cần tuân thủ nguyên tắc thực hiện đường lối đối ngoại hoà bình, dựa trên Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2022

MỘT SỐ KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Cùng với những thuận lợi, thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam hiện nay cũng đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Đảng ta đánh giá: “Tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Trước hết, nước ta quá độ đi lên CNXH có xuất phát điểm thấp, từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, một xã hội nông nghiệp lạc hậu, chưa trải qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa nên hầu như chưa có những tiền đề cơ bản cho sự ra đời của CNXH; tình hình kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, lực lượng sản xuất rất thấp; có không ít tàn dư của chế độ thực dân, phong kiến để lại. Thêm vào đó, mấy chục năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và chiến tranh biên giới đã để lại hậu quả nặng nề cho đất nước, còn ảnh hưởng lâu dài về sau.

Nước ta vẫn đang đối mặt với những nguy cơ, thách thức: “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Nguy cơ tụt hậu, rơi vào bẫy thu nhập trung bình còn lớn. Có biểu hiện chưa quan tâm đúng mức bảo đảm phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển văn hoá, bảo đảm phúc lợi xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong phát triển kinh tế thị trường; chưa bảo đảm phát triển tổng thể, đồng bộ các vùng, miền, địa phương theo lợi thế so sánh và phát huy điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù”. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đạt một số kết quả tích cực nhưng còn những vấn đề đặt ra. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp”. Điều đó đã làm giảm sút niềm tin của một bộ phận nhân dân vào Đảng và Nhà nước và chính quyền các cấp. Chúng ta tiếp tục phải chủ động phòng, chống những biểu hiện xa rời mục tiêu CNXH, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có thể làm chệch hướng XHCN. Cùng với đó, các thế lực thù địch, phản động đã và đang chống phá cách mạng nước ta cả về nhiều mặt hòng làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý Nhà nước. Chúng tuyên truyền, kích động tư tưởng ly khai, “tự trị” ở các vùng dân tộc thiểu số nhằm phá vỡ sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ nước ta., chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đảng ta chỉ rõ: Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta. Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu cấp thiết, đồng thời là những thách thức rất lớn đối với nước ta trong thời gian tới.

Trong thời kỷ đổi mới, mặc dù đã đạt được những thành tựu quan trọng nhưng: “Nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới do tác động của đại dịch Covid-19 và khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra”. Sức cạnh tranh của nền kinh tế không cao, độ mở ngày càng lớn và đang chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu. Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới còn đặt ra. Cho nên, nước ta cần tranh thủ xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, tiếp tục chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tận dụng các yếu tố tích cực về vốn, công nghệ, xuất khẩu để phát triển kinh tế; gắn tăng trưởng kinh tế với đảm bảo công bằng xã hội.

Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội, một số vấn đề bức xúc nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn chậm được giải quyết. Tình trạng suy thoái đạo đức xã hội với nhiều tệ nạn diễn biến phức tạp như: nghiện hút chất ma túy, mại dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em, lối sống thực dụng, đề cao đồng tiền... Bản sắc văn hóa dân tộc có nguy cơ bị phai nhạt. Tỷ lệ đói nghèo ở vùng dân tộc thiểu số còn cao. Thực trạng giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây là những trở ngại để đất nước có thể phát triển nhanh và bền vững. Cùng với đó là: “Xu hướng già hoá dân số nhanh; tốc độ công nghiệp hoá, đô thị hoá tăng mạnh; đặc biệt biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh gay gắt, phức tạp... ngày càng tác động mạnh đến sự phát triển của đất nước”.

Trên trường quốc tế, thế giới đang trải qua những biến động lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo, đặt ra nhiều thách thức đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay. Phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế mới bước đầu phục hồi. Những nước đi theo con đường XHCN, phong trào Cộng sản và cánh tả còn gặp nhiều khó khăn, bị các thế lực thù địch tiếp tục chống phá. Cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc vẫn diễn biến phức tạp. Các nước đang phát triển, chậm phát triển phải tiến hành cuộc đấu tranh khó khăn, phức tạp chống nghèo nàn, lạc hậu, chống mọi sự can thiệp chính trị cường quyền, áp đặt và xâm lược từ bên ngoài để bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia. Những biến động phức tạp của tình hình thế giới, những khó khăn trong quá trình xây dựng CNXH nước ta, đã tác động đến tư tưởng, tình cảm của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, ảnh hưởng tới công cuộc xây dựng CNXH. Một số cán bộ, đảng viên và nhân dân có tâm trạng hoài nghi, hoang mang, dao động.

Các mâu thuẫn cơ bản của thời đại vẫn biểu hiện dưới những hình thức và mức độ khác nhau. Hoà bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn nhưng tình hình thế giới có những diễn biến mới, tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường. Những căng thẳng, xung đột dân tộc, tôn giáo, ly khai, chiến tranh cục bộ, tranh chấp lãnh thổ, biển đảo, can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn gia tăng. Chủ nghĩa tư bản đã có những điều chỉnh, thích nghi và còn tiềm năng phát triển, nhưng những mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư bản tư nhân ngày càng trở nên sâu sắc. Suy thoái kinh tế, khủng hoảng chính trị - xã hội tiếp tục xảy ra ở nhiều nơi. Trật tự thế giới đa cực ngày càng rõ hơn. Nhiều nước lớn thực thi chính trị cường quyền, đã và đang chi phối các quan hệ quốc tế. Toàn cầu hóa, hội nhập và cách mạng khoa học công nghệ mở ra cơ hội phát triển cho các nước nhưng cũng tạo ra sự cạnh tranh gay gắt trên tất cả các lĩnh vực giữa các nước. Sự cạnh tranh về kinh tế, thương mại, tranh giành các nguồn tài nguyên, năng lượng, thị trường, công nghệ, nguồn vốn, nguồn nhân lực chất lượng cao... giữa các nước ngày càng mạnh mẽ. Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á tiếp tục phát triển năng động và gia tăng vị thế kinh tế trên thế giới nhưng tiềm ẩn những yếu tố mất ổn định, như tranh chấp chủ quyền biển, đảo, tài nguyên... ngày càng phức tạp.

Mặt khác, thế giới đang đứng trước những vấn đề toàn cầu và an ninh phi truyền thống phức tạp, liên quan đến vận mệnh loài người và tất cả các quốc gia. Đó là các vấn đề: giữ gìn hòa bình, xóa bỏ chiến tranh và bạo lực, khủng hoảng nhân đạo, khủng bố, đói nghèo, bảo vệ môi trường và biến đổi khí hậu toàn cầu, sự bùng nổ dân số, dịch bệnh hiểm nghèo, an ninh lương thực v.v. Vì thế, đòi hỏi các quốc gia, trong đó có Việt Nam, phải có sự hợp tác và trách nhiệm của tất cả các quốc gia, dân tộc trong giải quyết những vấn đề toàn cầu. Có điều, chế độ chính trị và lợi ích của mỗi nước khác nhau đã chi phối đến việc giải quyết tình hình vì lợi ích quốc gia dân tộc.

Như vậy, nước ta đang quá độ đi lên CNXH với nhiều thời cơ, thuận lợi lớn đan xen với không ít khó khăn, thách thức, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, chúng ta cần có nhận thức đúng đắn, kiên định con đường đi lên CNXH, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình đi lên CNXH; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN, thực hiện thắng lợi mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH./.

Thứ Hai, 28 tháng 3, 2022

NHẬN DIỆN NGUY CƠ, THÁCH THỨC CHIẾN TRANH MẠNG HIỆN NAY

Thế giới đã và đang đối mặt với nguy cơ chiến tranh mạng, đó là nguy cơ hiện hữu và trong một thế giới vạn vật kết nối internet, Việt Nam không nằm ngoài vòng xoáy đó. Chính vì vậy, Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 25/10/2013, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” khẳng định, nguy cơ xảy ra khủng bố, chiến tranh mạng, mất an ninh thông tin ngày càng gia tăng. Mục tiêu tấn công của kẻ địch trong trường hợp xảy ra chiến tranh mạng đối với Việt Nam là hệ thống hạ tầng truyền dẫn vật lý (cáp truyền dẫn quốc tế, trục truyền dẫn nội bộ quốc gia); các hạ tầng dịch vụ lõi (router, thiết bị mạng... ); các hệ thống cơ sở dữ liệu, mạng máy tính nội bộ; hệ thống điều khiển tự động hóa của các cơ sở quan trọng về kinh tế, quốc phòng, an ninh, như nhà máy lọc dầu, nhà máy thủy điện, nhiệt điện, giàn khoan, sân bay, hải cảng. Năm 2016 đã xảy ra hàng loạt hoạt động tấn công mạng nhằm vào hệ thống quản lý thông tin của các sân bay quốc tế lớn của Việt Nam, như sân bay quốc tế Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Phú Quốc. Rõ ràng, nếu để xảy ra chiến tranh mạng sẽ dẫn đến những hậu quả nặng nề về nhiều mặt cho đất nước.

NHẬN DIỆN NGUY CƠ, THÁCH THỨC ĐE DỌA ĐẾN AN NINH QUỐC GIA TỪ HOẠT ĐỘNG GIÁN ĐIỆP MẠNG VÀ CÁC LOẠI TỘI PHẠM CÔNG NGHỆ CAO TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG HIỆN NAY

Không gian mạng đã và đang trở thành môi trường để các thế lực thù địch tiến hành các hoạt động gián điệp nhằm vào Việt Nam. Thời gian qua, cơ quan đặc biệt nước ngoài đã tiến hành tuyển lựa công dân Việt Nam qua không gian mạng, có những trường hợp đã được các cơ quan chức năng Việt Nam phát hiện, bóc gỡ. Bên cạnh đó, các cơ quan đặc biệt nước ngoài còn triệt để lợi dụng không gian mạng để tiến hành các hoạt động xâm nhập gián điệp, thu thập tin tình báo chống Việt Nam. Các hoạt động này được tiến hành thông qua các mã độc, phần mềm gián điệp được cài sẵn trong các phần mềm, ứng dụng, các thiết bị số làm quà tặng, bán ra thị trường hoặc có thể cài đặt từ xa thông qua Internet. Theo Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam (VNCERT), hằng năm có hàng triệu mã độc tấn công các máy tính của Việt Nam, với hàng nghìn virus máy tính mới xuất hiện và hàng trăm website của các cơ quan, doanh nghiệp bị tấn công, xâm nhập.

Trên thực tế, không gian mạng còn là nơi tội phạm công nghệ cao tiến hành các hoạt động gây nhiều thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức. Phổ biến là các hoạt động giả danh các cơ quan thực thi pháp luật tiến hành các hoạt động lừa đảo qua mạng; lừa đảo qua phương thức kinh doanh đa cấp qua mạng (sử dụng các khoản lợi nhuận lớn làm “mồi nhử”, lôi kéo số lượng lớn người dân đầu tư vào các dự án “ảo”, sau đó đánh sập hệ thống để chiếm đoạt tài sản); giả mạo website của các ngân hàng để lừa người truy cập, yêu cầu cung cấp thông tin giao dịch trực tuyến, sau đó chiếm đoạt quyền sử dụng tài khoản ngân hàng, chiếm đoạt tài sản; chiếm quyền điều khiển tài khoản mạng xã hội, sau đó lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người thân, bạn bè; tổ chức đánh bạc trên mạng với tổng số tiền lên đến hàng nghìn tỷ đồng; tiến hành các hoạt động “tín dụng đen” trên mạng, “giang hồ mạng”. Hoạt động trên của các đối tượng đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.

NHẬN DIỆN NGUY CƠ, THÁCH THỨC ĐE DỌA ĐẾN AN NINH QUỐC GIA TỪ CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG HIỆN NAY

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động đang triệt để lợi dụng không gian mạng để tiến hành các hoạt động phá hoại nền tảng tư tưởng, nhằm thực hiện âm mưu chiến lược “diễn biến hòa bình”, chống phá Việt Nam. Chúng chủ yếu sử dụng mạng xã hội, phổ biến là Facebook, Youtube để tuyên truyền, phá hoại nền tảng tư tưởng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, từng bước triển khai thực hiện mục tiêu thay đổi chế độ chính trị nước ta. Năm 2020, Bộ Công an đã phát hiện hơn 3.000 trang mạng có nội dung xấu, trong đó có 31 trang mạng, blog, 55 kênh Youtube, 49 trang fanpage, 765 tài khoản facebook, 149 hội nhóm chống đối cực đoan, đăng tải hơn 800.000 bài viết, video, clip có nội dung xấu, độc hại. Trong các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền, phá hoại, phổ biến các quan điểm sai trái, thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Thứ Hai, 14 tháng 2, 2022

TẬN DỤNG THỜI CƠ, ĐƯA ĐẤT NƯỚC ĐI LÊN

Xuân Nhâm Dần 2022 thắp lên cho chúng ta kỳ vọng về một năm mới tươi sáng hơn sau một năm Tân Sửu 2021 đầy gian khó, đau thương, thử thách do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Ngay những ngày đầu xuân, đội tuyển bóng đá nam và đội tuyển bóng đá nữ đã có những chiến tích lịch sử làm nức lòng nhân dân cả nước, nhân lên niềm tin về một năm mới tốt lành, thắng lợi.

Lúc thử thách gian nguy nhất mới thấy hết được sức sống của một quốc gia, dân tộc. Mặc dù trong suốt mấy tháng ròng, nhiều tỉnh, thành phố phải thực hiện giãn cách xã hội khiến kinh tế tăng trưởng âm vào quý III-2021, một điều hiếm lạ trong suốt hơn 35 năm đổi mới.

Nhưng khi Chính phủ kịp thời thực hiện chủ trương rất đúng đắn, phù hợp với sự thay đổi của tình hình, chuyển nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19 sang trạng thái thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả thì kinh tế đất nước lập tức tăng trưởng 5,22% trong quý IV, để rồi mức tăng trưởng cả năm 2021 đạt 2,58%-một kết quả đáng khích lệ trong bối cảnh ngặt nghèo.

Đặc biệt, hiệu quả từ hoạt động ngoại giao vaccine mang đến hiệu quả cao trong công tác phòng, chống dịch Covid-19. Đến nay, Việt Nam nằm vào nhóm nước có số mũi tiêm vaccine nhiều nhất thế giới và tỷ lệ người dân tiêm đủ mũi vaccine đạt tới 73,9%. Đây là kết quả của một chiến lược chống dịch đúng đắn và sẽ là tiền đề thuận lợi cho việc tự tin mở cửa bình thường trở lại. Cùng với đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội và triển khai Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ chương trình này.

Mục tiêu của chương trình là góp phần đưa nền kinh tế sớm vượt qua khó khăn, không lỡ nhịp với tiến trình phục hồi kinh tế toàn cầu, đồng thời tạo nền tảng và điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2021-2025 và các năm tiếp theo.

Để đạt được mục tiêu trên, nghị quyết đã đề ra 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đúng đắn để mở cửa nền kinh tế; bảo đảm an sinh xã hội; hỗ trợ phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh; đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng; cải cách thể chế, cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Trong đó, nhiều chính sách đột phá, rất thiết thực. Từ đó, các dự báo trong nước và quốc tế đều đưa ra cái nhìn lạc quan về kinh tế Việt Nam năm 2022, với mức tăng trưởng có thể lên tới 7%.

Để các chính sách có thể đi ngay vào cuộc sống, tạo hiệu quả trên thực tế thì mỗi cán bộ, công chức, lãnh đạo doanh nghiệp, từng người lao động cần bắt tay ngay vào công việc của năm mới. Có thể thấy, một không khí làm việc miệt mài, hiệu quả, trách nhiệm thể hiện rõ ở mọi cấp, mọi ngành, từ Trung ương đến địa phương và ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Nhiệm vụ trọng tâm trước mắt vẫn phải tiếp tục thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19. Các cấp ủy đảng, chính quyền, địa phương cần chủ động trong mọi tình huống, có phương án ứng phó kịp thời trước những biến chủng mới của đại dịch; tuyệt đối không chủ quan, để rồi bị động, bất ngờ; đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh; chăm lo đời sống nhân dân, không để ai bị bỏ lại phía sau.

Chúng ta ngày càng cảm nhận rõ hơn những giá trị của văn hóa truyền thống đối với tiến trình phát triển của một quốc gia, dân tộc. Lịch sử đã chứng minh, sức sống của một dân tộc không chỉ được đo đếm bằng thước đo kinh tế, trình độ khoa học-công nghệ, quốc phòng, an ninh, mà chiều sâu văn hóa mới là yếu tố bảo đảm cho sự trường tồn. Văn hóa chính là “mã định danh” để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Bản chất của việc gìn giữ và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc chính là nhằm tạo môi trường thuận lợi để xây dựng và phát triển con người-nguồn tài nguyên vô giá của đất nước.

Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Những thành tích xuất sắc của toàn quân trong năm qua đã thể hiện trách nhiệm chính trị rất cao của Quân đội ta trước Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và nhân dân. Bước sang năm Nhâm Dần 2022, toàn quân tiếp tục ra sức thực hiện thắng lợi những chủ trương lớn về quân sự, quốc phòng, xây dựng Quân đội nhân dân, bảo vệ Tổ quốc theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, phát huy cao độ phẩm chất cách mạng, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và truyền thống anh hùng, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, mãi mãi xứng đáng với sự tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Năm Nhâm Dần mang lại kỳ vọng về một sức mạnh đột phá. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần tăng cường hơn nữa khối đoàn kết, quyết tâm hơn nữa, chung sức, đồng lòng, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tận dụng thời cơ, đưa đất nước đi lên.

Thứ Tư, 3 tháng 3, 2021

NHẬN ĐỊNH VỀ CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ

Mặc dù những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch rất phi lý, vô căn cứ, song có lúc, có nơi vẫn có thể tác động tới tư tưởng, tâm lý của một bộ phận cán bộ, nhân dân ta. Thực tế này xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan.

Về bối cảnh, trong một thập niên trở lại đây, chúng ta đã và đang chứng kiến những sự đổi thay, biến động to lớn của tình hình thế giới, tác động đến tất cả các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Mặc dù hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn tiếp tục là xu thế lớn, chi phối đời sống quan hệ quốc tế nhưng chủ nghĩa đơn phương, dân túy, bảo hộ đang trở thành thách thức lớn đối với quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Hòa bình và thịnh vượng toàn cầu liên tục bị đe dọa bởi nguy cơ suy thoái kinh tế, dịch bệnh, xung đột tôn giáo, sắc tộc, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ... Khu vực châu Á - Thái Bình Dương chứng kiến sự cạnh tranh giữa cơ chế hợp tác quốc tế cũ - mới, tiềm ẩn nhiều nhân tố bất ổn. Mối quan hệ giữa các nước lớn, đặc biệt là giữa Mỹ và Trung Quốc, đã chuyển sang giai đoạn gia tăng cạnh tranh chiến lược, đối đầu trên nhiều lĩnh vực. Bối cảnh đó đặt ra nhiều khó khăn, thách thức to lớn đối với Đảng và Nhà nước ta trong việc kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi.

Bên cạnh đó, với sự phát triển như vũ bão của Cuộc cách mạng khoa học Công nghệ lần thứ tư, những tiến bộ kỹ thuật đã làm giảm thiểu một tỷ lệ lớn các chi phí xử lý và truyền đạt thông tin. Ngày nay, mỗi cá nhân có thể trở thành “phóng viên”, nhà bình luận tin tức, người phê phán... chỉ với một chiếc máy tính hay điện thoại thông minh cầm tay có kết nối mạng. Điều này dẫn tới hệ quả là sự bùng nổ thông tin đa chiều và vô hình chung cũng tạo ra môi trường thuận lợi cho các thế lực thù địch lợi dụng, biến các phương tiện thông tin truyền thông hiện đại, như: Internet, mạng xã hội trở thành "vũ khí" chống phá Đảng và Nhà nước ta trên không gian mạng.

Nguyên nhân chủ quan xuất phát từ một số điểm hạn chế và tồn tại trong quá trình lãnh đạo và phát triển đất nước của Đảng, Nhà nước ta. Ngoài ra, công tác thông tin tuyên truyền, giáo dục của chúng ta còn bộc lộ một số hạn chế, trong đó đáng chú ý nhất là thiếu tính chủ động, kịp thời, đồng bộ, nội dung còn thiếu sắc sảo và thuyết phục. Do khả năng dễ dàng tiếp cận thông tin, có tâm lý thích nghe cái lạ, trái chiều, nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân về chủ trương, đường lối của Đảng chưa đầy đủ, có nơi, có chỗ còn hiểu sai, hiểu chưa đúng. Cộng đồng quốc tế và đặc biệt là cộng đồng người Việt Nam tại nước ngoài, do không được tiếp xúc nhanh chóng với thông tin chính thống, dẫn tới việc hiểu không đúng về tình hình đất nước, hoài nghi về chính sách, đường lối của Đảng, Nhà nước. Trong đó, nhiều người Việt Nam ở nước ngoài (thế hệ người Việt sinh ra, lớn lên và học tập tại môi trường nước ngoài, chịu ảnh hưởng của các quan niệm, luận điểm, giá trị, văn hóa của các quốc gia sở tại) không có được hình dung đầy đủ, cụ thể về sự thay đổi, quá trình đổi mới, quyết sách chủ trương, đường lối của đất nước ta qua từng thời kỳ, có sẵn hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, thậm chí còn có biểu hiện phê phán khi đề cập tới “cộng sản”, “chủ nghĩa xã hội”.

MỘT SỐ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Một là, thách thức đối với hệ tư tưởng chính thống.

Do không gian mạng có tính mở với đặc trưng tự do, đa dạng, bình đẳng, nhiều khi bị xoá nhoà ranh giới giữa thực và ảo, giữa vật lý và hiện thực, vì vậy không gian mạng mang đến những thách thức to lớn đối với nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Có thể nói, hiện nay, các hệ tư tưởng, các luận điểm, các học thuyết ngoài mácxít, từ các loại chủ nghĩa khác nhau như chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa vô chính phủ, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa khủng bố mạng… cho đến chủ nghĩa vị kỷ, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa hưởng lạc, cũng như vô số các tôn giáo, tín ngưỡng, thậm chí là mê tín dị đoan, đang xuất hiện một cách tràn lan trên không gian mạng. Lợi dụng triệt để những ưu thế của không gian mạng, một cách trực tiếp hay gián tiếp, các loại hình ý thức hệ đó đã và đang công khai hay ngấm ngầm chĩa mũi nhọn vào lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhiều luận điểm, quan điểm trong các ý thức hệ đó đi ngược lại với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời chứa đựng tính chất độc hại, phản động, bóp méo thế giới quan và xuyên tạc nhân sinh quan, cố tình định hướng giá trị một cách sai lầm cho những người dùng mạng Internet nói riêng và cho người dân Việt Nam nói chung.

Hai là, thách thức đối với mặt trận tư tưởng - văn hoá.

Một hệ tư tưởng nếu không được truyền bá và giáo dục, củng cố và phát triển thường xuyên thì hệ tư tưởng đó sẽ chết. Đảng ta luôn chú trọng mặt trận tư tưởng - văn hoá, luôn ý thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục tư tưởng, song sự phát triển của không gian mạng hiện nay đang đặt ra những thách thức vô cùng to lớn. Các phương tiện truyền thông truyền thống của chúng ta (truyền hình, phát thanh, sách, báo, tạp chí, phim ảnh, bảng tin, khẩu hiệu cổ động…)đã tỏ ra chậm và phần nàohạn chế về tính hiệu quả.Các phương thức truyền thông về tư tưởng, lý luận chủ yếu vẫn là phổ biến nghị quyết, vận động học tập, nghe báo cáo,… trong một không gian và thời gian nhất định, với tính chất bắt buộc, tập trung và thống nhất, chủ yếu vẫn mang tính một chiều từ trên xuống và số lượng đối tượng tiếp nhận thông tin hạn chế. Trong khi đó, không gian mạng với tính chất đa dạng, phi tập trung, tự chủ và tương tác đã tác động mạnh mẽ và thách thức to lớn đến cách giáo dục tư tưởng truyền thống. Không gian mạng với phương thức giao tiếp ngang hàng, tương tác hai chiều và đa chiều, đã tạo ra một bước nhảy vọt về chất trong phương thức tiếp cận thông tin và trao đổi ý kiến, đồng thời cung cấp cho cư dân mạng cơ hội giao tiếp bình đẳng và một nền tảng để chia sẻ quan điểm một cách tự do. Việc tuyên truyền, phổ biến các luận điểm trên không gian mạng có hiệu quả cao, sức lan tỏa rộng và tính thẩm thấu mạnh đã cóảnh hưởng nhất định đến tính định hướng,quyền kiểm soát, quản lý của Đảng, Nhà nướcđối với mặt trận tư tưởng - văn hóa.

Ba là, thách thức đối với niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Không gian mạng đã cải thiện đáng kể khả năng của các cá nhân và tổ chức trong việc công bố, trao đổi,tiếp cận và tiếp thu thông tin, đồng thời nâng cao tính độc lập, tính đa dạng, tính chọn lọc và sự khác biệt của các suy nghĩ. Mọi người có thể tự do bày tỏ ý kiến của mình (một cách ẩn danh), và có thể nhanh chóng trao đổi và chia sẻ thông tin cũng như suy nghĩ của mình với những người khác về mọi vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, lối sống…trên không gian mạng. Không kể sự chống phá có chủ đích của các thế lực thù địch, bản thân sự yếu kém của các công ty công nghệ lớn trong việc bảo mật thông tin, vi phạm quyền riêng tư, buông lỏng tin giả, kích động bạo lực… và sự bất cập của chúng ta trong quản lý, kiểm soát không gian mạng đã tạo môi trường thuận lợi cho việc ngụy tạo, phổ biến lan tràn các luận điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, đặc biệt là trên các mạng xã hội. Mặc dù trong vài năm trở lại đây, chúng ta đã phần nào giành lại thế chủ động trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, song tính bất đối xứng của cuộc chiến tư tưởng vẫn là một hiện tượng thường thấy, là một thách thức không nhỏ. Điều này gây ảnh hưởng xấu và làm suy giảm niềm tin của người dân đối với Đảng, đối với chế độ, đối với mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

THÁCH THỨC CẦN VƯỢT QUA

Đại dịch COVID-19 tiếp tục bùng phát gần đây tại Hải Dương, Quảng Ninh, Hải Phòng và một số tỉnh thành đã cho thấy những nguy cơ thiệt hại lớn nếu dịch bệnh không được kiểm soát tốt. Bên cạnh đó, những thành tích đạt được cũng dễ biến thành tâm thế chủ quan, ngủ quên trên chiến thắng nếu không được phân tích, kế thừa và xử lý một cách bình tĩnh, khoa học.

Văn kiện Đại hội đã chỉ ra những thách thức nội tại như tham nhũng vẫn là nguy cơ đối với sự tồn vong chế độ; một bộ phận đảng viên phai nhạt lý tưởng, tính tiền phong, gương mẫu giảm sút. Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng với hệ thống chính trị, trọng tâm là Nhà nước chậm, có mặt lúng túng. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội còn nhiều vướng mắc, bất cập. Luật pháp, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực còn chồng chéo. Môi trường đầu tư, kinh doanh chưa thực sự thông thoáng, minh bạch, thuận lợi cho doanh nghiệp. Năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. Tăng trưởng xuất khẩu và xuất siêu chủ yếu ở nhóm hàng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tư duy phát triển chưa có nhiều đột phá, như trong giai đoạn 2006-2016 nhiều tổng công ty, tập đoàn nhà nước được kỳ vọng là “quả đấm thép” của nền kinh tế đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng. Kết quả giảm nghèo đa chiều chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao, nhất là đối với đồng bào dân tộc ở vùng sâu vùng xa. Hay nguy cơ chưa giàu đã già, Việt Nam bắt đầu bước vào thời kỳ già hóa dân số từ năm 2011 với tỷ lệ người từ 65 tuổi trở nên (chiếm 9,9%), sẽ trải qua giai đoạn dân số già từ 2026-2054 (chiếm 10-19,9%) và giai đoạn dân số rất già từ 2054-2069 (chiếm 20-29,9%), được xem là nước có thời gian chuyển từ già hóa dân số sang dân số già nhanh nhất thế giới.

Nhiều câu hỏi của bạn bè quốc tế đặt ra và phân tích, liệu Việt Nam có lại là một “con hổ giấy”? Ví dụ như muốn trở thành một quốc gia trỗi dậy, một cường quốc tầm trung thì phải có hệ thống cảng biển, cơ sở hạ tầng và điều kiện năng lượng tốt để phục vụ sản xuất, vận chuyển, xuất khẩu hàng hóa. Những yếu tố này hiện vẫn là hạn chế của Việt Nam. Bên cạnh đó việc duy trì nhịp độ tăng trưởng của Việt Nam trong những năm tới cũng phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện quốc tế bên ngoài như cạnh tranh nước lớn, chuyển dịch chuỗi cung, chuyển dịch trọng tâm địa chính trị và các vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo. Sự phục hồi của Việt Nam cũng phụ thuộc những yếu tố khó kiểm soát như đại dịch COVID-19 hay sự phục hồi của Mỹ và Châu Âu. Việt Nam sẽ phải giải quyết thâm hụt thương mại lớn với Trung Quốc cũng như phải vượt qua nguy cơ bị Mỹ áp thuế và các biện pháp thao túng tiền tệ. Việt Nam hiện vẫn là một nước tương đối nghèo cần phải nâng cao trình độ công nghệ, các chính sách kinh tế cần phải hướng đến đồng đều các lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp. Trong thời gian tới, vì cạnh tranh với các nước ASEAN khác sẽ gia tăng nên Việt Nam cần cải thiện các điều kiện hơn nữa để trở thành “điểm đến công nghệ cao”, đồng thời giảm sự phụ thuộc vào các nhà đầu tư nước ngoài và nâng cao giá trị gia tăng của chính các công ty, cơ sở hạ tầng, cung cấp năng lượng và cảnh quan giáo dục phải bắt kịp sự phát triển kinh tế

Bên cạnh đó, sự chống phá của các thế lực thù địch, sự gia tăng căng thằng tranh chấp biển đảo, biến đổi khí hậu nhất là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng đặt ra những câu hỏi lớn cho bài toán phát triển của Việt Nam.

 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đang thổi bùng lên khát vọng dân tộc, đặt nền tảng quan trọng cho khát vọng 100 năm từ một nước đói nghèo nô lệ, Việt Nam trở thành một quốc gia phát triển, thu nhập cao, người dân có cuộc sống ấm no hạnh phúc. Bên cạnh những thời cơ và vận hội mới, con đường đi về phía trước còn không ít chông gai, thách thức, đòi hỏi sự bình tĩnh, kiên nhẫn, niềm tin, tinh thần đoàn kết, sáng tạo và chung lòng chung sức của toàn Đảng, toàn dân./.

THÀNH TỰU, THỜI CƠ VÀ VẬN HỘI MỚI

Nhìn lại sau hơn 35 năm đổi mới, từ một quốc gia lạc hậu, thiếu đói thường xuyên, Việt Nam đã vươn lên thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển. Tiềm lực và quy mô kinh tế ngày càng tăng lên, quy mô GDP đến năm 2020 ước đạt 268,4 tỉ USD, tăng khoảng 1,4 lần so với năm 2015; GDP bình quân đầu người năm 2020 ước đạt khoảng 2.750 USD/người, gấp khoảng 1,3 lần so với năm 2015. Tỉ trọng chi đầu tư phát triển tăng lên mức 27 - 28%, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh, đạt mức kỷ lục là 39 tỉ USD (năm 2019), tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hoá tăng 1,7 lần. Năng suất lao động đến năm 2020 tăng gần 1,5 lần so với năm 2015, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2016 - 2020 ước đạt 5,8%/năm. Đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao. Từ một quốc gia nông nghiệp lạc hậu Việt Nam đã trở thành một một thị trường mới nổi với trọng tâm là sản xuất thương mại, tham gia vững chắc vào thị trường thế giới qua chính sách thương mại tự do và chào đón các nhà đầu tư nước ngoài. Những năm gần đây, đặc biệt là năm 2020, Chính phủ đã thực hiện tốt việc giảm nợ công, tăng dự trữ ngoại hối và tạo ra môi trưởng thuận lợi hơn cho các doanh nhân khởi nghiệp.

Trên mặt trận ngoại giao, nhiều rào cản bị phá rỡ đã đưa Việt Nam đến gần với thế giới. Việt Nam đã trở thành mắt xích quan trọng trong nhiều liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu, tham gia nhiều thỏa thuận thương mại tự do quan trọng như Hiệp định thương mai tự do Việt Nam liên minh Châu Âu  EVFTA, Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương CPTPP, Hiệp định đối tác toàn diện khu vực RCEP… Từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới, Việt Nam đã khẳng định vị thế mới trên trường quốc tế, trở thành thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức khu vực và quốc tế, thiết lập quan hệ mở rộng với 189 quốc gia thành viên Liên hợp quốc và hơn 500 tổ chức phi chính phủ, xây dựng mạng lưới 30 đối tác chiến lược và đối tác toàn diện, trong đó có 17/20 nước thành viên G20 và toàn bộ các nước ASEAN

Trong lĩnh vực quốc phòng an ninh, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và lợi ích quốc gia – dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững môi trường hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước. Nền quốc phòng toàn dân đang trở nên ngày càng vững mạnh, toàn diện; đã có được những bước phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Việt Nam đã tự nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất và cung cấp nhiều loại vũ khí, nhiều tàu quân sự. Việt Nam từng bước đóng vai trò tham gia tích cực, cử sĩ quan tham gia các phái bộ quân sự, tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.

Bầu không khí xã hội dân chủ, cởi mở hơn; dân trí được nâng cao; con người Việt Nam năng động, sáng tạo hơn, tính tích cực cá nhân, tính tích cực xã hội được phát huy. Những nhân tố mới, giá trị mới của văn hóa, con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế từng bước được định hình trong đời sống, góp phần bồi đắp tinh thần dân tộc, củng cố, phát huy sức mạnh đại đoàn kết trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Quyền tự do sáng tạo, truyền bá văn hóa, văn học, nghệ thuật được tôn trọng; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt tâm linh của nhân dân được pháp luật bảo vệ và được tôn trọng, bảo đảm trên thực tế. Công tác xã hội, thu hút các nguồn lực xã hội để phát triển giáo dục được đẩy mạnh. Mạng lưới cơ sở giáo dục và đào tạo tiếp tục được mở rộng về quy mô, cơ sở vật chất được tăng cường.

Nhiều dự báo cho thấy những thuận lợi như sau đại dịch COVID-19 trọng tâm kinh tế đang chuyển dịch từ Tây sang Đông và Việt Nam đang được hưởng lợi từ sự chuyển dịch đó. Báo cáo tháng 12-2020 của Trung tâm nghiên cứu kinh tế Nhật Bản JCER dự báo quy mô nền kinh tế Việt Nam sẽ vượt qua Đài Loan vào năm 2035 và trở thành nền kinh tế lớn thứ hai Đông Nam Á, chỉ sau Indonexia. Dự báo khác cho rằng năm 2020 Việt Nam với dân số gấp 2 lần Hàn Quốc có tổng quy mô nền kinh tế đạt 300 tỷ USD, so với tổng quy mô nền kinh tế Hàn Quốc là 1,65 nghìn tỷ USD thì khoảng cách vẫn còn lớn. Nhưng nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm duy trì ở mức 7,5% thì dự kiến đến năm 2040, tổng quy mô nền kinh tế Việt Nam có thể bắt kịp hoặc vượt qua Hàn Quốc, trở thành nền kinh tế lớn thứ 6 ở Châu Á.

Trang Asianmediacetre.org.vn ngày 18/1 cho rằng việc gọi nền kinh tế Việt Nam là “con hổ Châu Á” có vẻ sáo rỗng nhưng nếu duy trì mức tăng trưởng 7% trong thập kỷ tới Việt Nam cũng sẽ đi theo quỹ đạo giống như những  “con hổ Châu Á” Hồng Kông, Singaope, Hàn Quốc và Đài Loan trước đây. Theo báo cáo của tổ chức Economist Intelligence Unit (EUI) của Anh, Việt Nam nổi lên như một cơ sở sản xuất chi phí thấp, đánh bại cả Ấn Độ, thậm chí Trung Quốc về các chỉ số, bao gồm chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài, kiểm soát ngoại thương và hối đoái. Trong khi Việt Nam đạt 6 trên thang điểm 10 trong chính sách FDI thì cả Ấn Độ và Trung Quốc đều đạt điểm 5,5, về kiểm soát ngoại thương và hối đoái Việt Nam đạt 7,3 trong khi Trung Quốc là 6,4 và Ấn Độ là 5,5. Tham gia các hiệp định thương mai tự do mang đến cho Việt Nam nhiều lợi thế. Ví dụ như theo hiệp định EVFTA, nhóm hàng sản xuất giày dép sang EU phải chịu mức thuế 30% được giảm xuống 0% từ tháng 8/2020. Thời cơ và dư địa phát triển đang ủng hộ những nỗ lực và quyết tâm của Việt Nam.

Những thành công khá toàn diện trên nhiều mặt, lĩnh vực của sự nghiệp đổi mới không thể tách rời vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng, những năm qua Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng phát triển tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thực hiện toàn diện, đồng bộ. Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn được đẩy mạnh; hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tiếp tục được bổ sung, phát triển. Bộ máy của hệ thống chính trị để tinh gọn tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động được thực hiện với quyết tâm chính trị cao, đạt được kết quả quan trọng, rõ nét. Nhiều quy chế, quy định về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền, phân cấp, tăng cường kiểm tra, giám sát trong công tác cán bộ được rà soát, điều chỉnh, bổ sung và ban hành mới.

Dư luận quốc tế đánh giá cao về Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, cho rằng đây là sự kiện quan trọng không chỉ của Việt Nam mà còn trong cả khu vực. Global Time cho rằng Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ bầu ra ban lãnh đạo mới để tiếp tục chính sách ngoại giao độc lập hóa, đa phương hóa và đa dạng hóa. Quỹ Chính trị Konrad của Đức cho rằng bất kể nhân sự ở các vị trí lãnh đạo cao nhất có thể thay đổi thế nào thì Đảng Cộng sản Việt Nam cũng sẽ tiếp tục lãnh đạo đất nước một cách vững chắc. Việt Nam tiếp tục ổn định chính trị thông qua kết nối đa phương và song phương. Các thỏa thuận thương mại sẽ tiếp tục giúp Việt Nam thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tờ FAZ ngày 23/1 đăng bài viết với nhan đề “Đảng Cộng sản Việt Nam định vị mình thế nào trong tương lai” cho rằng các vị trí lãnh đạo cho thấy sự tiếp nối liên tục. Một thế hệ trưởng thành trong thời kỳ kinh tế mở cửa đang phấn đấu mạnh mẽ hơn bao giờ hết, có nhiều khả năng đương đầu với những thách thức trong việc lãnh đạo đất nước vượt qua đại dịch và những khó khăn sắp tới. Tạp chí “Thế giới đa cực” của Nga ngày 20/1 đăng bài viết có tiêu đề “Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam - cột mốc lịch sử trong đời sống Việt Nam” bày tỏ tin tưởng Đại hội XIII của Đảng sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của Việt Nam theo hướng hiện đại. Tác giả bài viết cho rằng nội dung các dự thảo văn kiện trình Đại hội thể hiện tầm nhìn chiến lược và cách tiếp cận sáng tạo của các cơ quan lãnh đạo của Đảng, cũng như quyết tâm của dân tộc Việt Nam phấn đấu xây dựng đất nước "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn", nhân dân được ấm no, hạnh phúc.

Những thành công, kinh nghiệm và phân tích nêu trên cho thấy tính hiện thực và khả thi của những mục tiêu và giải pháp được đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đề ra, hiệu triệu, tập hợp toàn Đảng, toàn dân sẽ làm nên những kỳ tích như những con rồng, con hổ Châu Á đã làm được trước đó.

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2020

THÁCH THỨC TỪ SỰ CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI SỨ MỆNH LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Hiện nay, một trong những thách thức gay gắt không thể không đề cập, đó là sự chống phá quyết liệt bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta. Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, hiện nay, đất nước ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng trên mọi lĩnh vực, nhất là về kinh tế. Quá trình hội nhập đó, chúng ta vừa hợp tác, vừa đấu tranh, trong điều kiện đối tác và đối tượng đan xen, chuyển hóa không dễ nhận biết. Lợi dụng tình hình đó, các thế lực thù địch với bản chất hiếu chiến, phản động vẫn tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng nước ta trên mọi lĩnh vực, bằng mọi hình thức và thủ đoạn thâm độc hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đặc biệt, chúng ra sức lợi dụng và thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta; do đó, nêu cao cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

NHẬN DIỆN THÁCH THỨC TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG ĐỐI VỚI SỨ MỆNH LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Cần khẳng định rằng, Đảng ta đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng và xác định rõ vị trí then chốt trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, quyết định sự tồn tại, phát triển của Đảng. Vì thế, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã xác định: công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ số một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện. Trên thực tế, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị chuyên đề về công tác xây dựng đảng, nhằm đảm bảo cho tổ chức đảng các cấp luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới. Vậy “nút thắt” của vấn đề, hay nói cách khác là thách thức trong công tác xây dựng đảng nằm ở đâu? Câu trả lời là ở việc tổ chức thực hiện chưa đạt yêu cầu, còn nhiều sai phạm. Chúng ta biết, sức mạnh của Đảng là sự đoàn kết, thống nhất về ý chí và hành động trên cơ sở những nguyên tắc, quy định của Điều lệ Đảng. Thế nhưng, ở không ít nơi, nguyên tắc tập trung dân chủ chưa được thực hiện nghiêm túc, thậm chí bị vi phạm nghiêm trọng dẫn đến mất đoàn kết nội bộ. Nguy hại hơn, có nơi nhân danh nguyên tắc này để đối phó với cấp trên, cô lập và vô hiệu hóa cấp dưới, biến tổ chức đảng nơi họ phụ trách thành “bầu trời riêng”,... để thực hiện mưu đồ cá nhân, “phe nhóm”, “phường hội”, v.v. Việc thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình còn nhiều hạn chế, mang tính hình thức và là khâu yếu trong sinh hoạt đảng, chưa trở thành việc làm thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên. Cùng với đó, công tác kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, đảng viên tiến hành chưa thường xuyên, thiếu chủ động, còn nặng về kiểm tra, xử lý vi phạm, thiếu giải pháp phòng ngừa cũng là nguyên nhân, thách thức trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

NHẬN DIỆN THÁCH THỨC TỪ NẠN QUAN LIÊU, THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ CỦA MỘT SỐ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN ĐỐI VỚI SỨ MỆNH LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Đây không chỉ là thách thức mà còn là nguy cơ lớn khi Đảng ta là đảng duy nhất cầm quyền. Tham nhũng là vấn nạn quốc gia, là “giặc nội xâm” nguy hiểm không kém giặc ngoại xâm như lời Bác Hồ từng chỉ dạy. Vẫn biết tham nhũng là một hiện tượng xã hội mà sự tồn tại của nó luôn gắn liền với nhà nước và rất dễ nảy sinh từ cán bộ “có chức, có quyền”. Tham nhũng xuất hiện với nhiều hình thức, “muôn hình vạn trạng”, từ tiền bạc, tài sản, đất đai, đến tham nhũng chính sách, tham nhũng trong công tác cán bộ, có thể diễn ra ở mọi cấp, mọi lĩnh vực, với nhiều cấp độ, từ tham nhũng lớn đến tham nhũng vặt, v.v. Vì thế, triệt tiêu tham nhũng là việc làm không dễ, nhưng phòng, chống, ngăn chặn, hạn chế tham nhũng cả về mức độ, số lượng vụ việc và tính chất nguy hại của nó thì lại là điều hoàn toàn có thể. Tham nhũng gây ra hậu quả hết sức nghiêm trọng, xói mòn bản chất của Đảng, Nhà nước, làm tha hóa, biến chất đội ngũ cán bộ, đảng viên, giảm sút niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, tạo cớ cho các thế lực thù địch chống phá, phương hại lớn tới sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

NHẬN DIỆN THÁCH THỨC TỪ VẤN ĐỀ “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” ĐỐI VỚI SỨ MỆNH LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

Đây là điều đặc biệt nguy hiểm mà chúng ta phải hết sức cảnh giác, phòng, chống hiệu quả. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nhưng nguyên nhân sâu xa và căn bản nhất là do sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Nghị quyết Trung ương 7 (khóa XII) về Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, cùng với đánh giá đa số cán bộ có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức tổ chức kỷ luật, luôn tu dưỡng, rèn luyện, trình độ, năng lực được nâng lên, phấn đấu, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Cán bộ cấp chiến lược có bản lĩnh chính trị, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; cũng đã thẳng thắn chỉ rõ: còn một bộ phận không nhỏ cán bộ có bản lĩnh chính trị chưa thật sự vững vàng, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Nguy hiểm hơn, gần đây có một số cán bộ, đảng viên biểu hiện rõ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đòi “đa nguyên”, “đa đảng”, từ bỏ chủ nghĩa xã hội. Một số cán bộ có biểu hiện sa sút về đạo đức, lối sống, thiếu gương mẫu, thiếu tinh thần trách nhiệm, nói không đi đôi với làm, xa rời nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, thực dụng, chỉ biết và luôn đặt lợi ích riêng của cá nhân, gia đình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc; đặc quyền, đặc lợi, quan liêu, xa dân, v.v. Để nhận diện và có biện pháp phòng, chống, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ rõ 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tình trạng nêu trên, nếu không được ngăn chặn kịp thời, hiệu quả sẽ làm suy thoái trầm trọng tư tưởng chính trị, phai nhạt niềm tin, lý tưởng, mất sức chiến đấu của đảng viên, tổ chức đảng. Đặc biệt nguy hiểm là, các thế lực thù địch ra sức tận dụng vấn đề này để thực hiện âm mưu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Vì thế, lường trước nguy cơ, chủ động phát hiện, ngăn chặn từ sớm, từ xa mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên là tiền đề để phòng, chống hiệu quả “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tăng cường vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Kinh nghiệm thực tiễn chỉ ra rằng, không thế lực thù địch nào, dù mạnh và hiểm độc đến đâu có thể đánh bại được chúng ta, ngoại trừ chính chúng ta tự làm yếu và tan rã.

NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI SỨ MỆNH LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Những thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam 90 năm qua đã khẳng định vai trò, bản lĩnh, trí tuệ của Đảng trong thực hiện sứ mệnh lịch sử mà dân tộc và nhân dân giao phó. Tiếp nối sự nghiệp vẻ vang đó, hiện nay, Đảng tập trung lãnh đạo nhân dân ta đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, hội nhập quốc tế, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đó là sứ mệnh lịch sử cao cả của Đảng, sự nghiệp vĩ đại của toàn dân, toàn quân trong thời kỳ mới. Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, thay đổi nhanh chóng, khó lường, hội nhập quốc tế sâu rộng, tác động nhiều chiều cả tích cực và tiêu cực đối với nước ta càng đòi hỏi Đảng ta phải hết sức tỉnh táo, khôn khéo, giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, các vấn đề có liên quan trong quá trình hội nhập, hợp tác, phát triển gắn với bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Đặc biệt, cần nhận thức đúng những khó khăn, thách thức và những thời cơ, thuận lợi để có giải pháp vượt qua khó khăn, tận dụng cơ hội, chuyển hóa thách thức thành cơ hội cho phát triển. Ở đây xin đề cập một số thách thức đang hiện hữu, mà nếu chúng ta mất cảnh giác và thiếu biện pháp triệt tiêu thì rất dễ trở thành mối hiểm họa đối với đất nước; nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thứ Năm, 18 tháng 10, 2018

NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM HIỆN NAY

Tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định. Các mâu thuẫn cơ bản vẫn tồn tại dưới những hình thức và mức độ khác nhau, có mặt sâu sắc hơn; đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra gay gắt; những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động ly khai, can thiệp lật đổ, khủng bố, những tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, biển đảo tiếp tục diễn ra với tính chất ngày càng phức tạp. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Đông Nam Á luôn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định. Cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại và xu thế toàn cầu hóa đã và đang tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống, đặt ra nhiều vấn đề mới cần phải giải quyết trong bảo vệ độc lập, chủ quyền. Trong khi đó, ở trong nước, Đảng ta chỉ rõ: “Bốn nguy cơ mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (năm 1994) nêu lên vẫn tồn tại, có diễn biến phức tạp như tham nhũng, lãng phí, “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với những thủ đoạn mới, nhất là triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông trên mạng internet để chống phá ta và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên” đã làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; đe dọa sinh mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa. Các thế lực thù địch, phản động tăng cường thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta bằng thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm; tranh chấp trên Biển Đông diễn biến gay gắt, phức tạp, gây ra nhiều khó khăn, thách thức đối với sự nghiệp bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc.

Trước những thách thức đó, cần phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của cộng đồng các dân tộc Việt Nam nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc. Để thực hiện được điều đó, cần thực hiện đồng thời nhiều giải pháp để biến truyền thống, bản lĩnh, khí phách và trí tuệ của con người Việt Nam thành sức mạnh to lớn nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong điều kiện mới.


Thứ Tư, 23 tháng 11, 2016

THÁCH THỨC VÀ SỨC SỐNG CỦA PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA

Toàn cầu hóa mà cốt lõi là toàn cầu hóa kinh tế đã trở thành một xu thế khách quan của thế giới, tác động và ảnh hưởng sâu sắc đến vận mệnh các quốc gia cũng như diện mạo của thế giới. Là một chủ thể trong thế giới hiện đại, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã và đang chịu sự tác động, chi phối mạnh mẽ của toàn cầu hóa về mọi mặt. Tuy nhiên cũng từ những tác động đó mà phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nói chung, các nước xã hội chủ nghĩa nói riêng đã rút ra được những bài học kinh nghiệm, đề ra được đường hướng phát triển, tạo ra được sức sống mới trong điều kiện hiện nay. 
1. Những thách thức của toàn cầu hóa đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Những thay đổi của cục diện thế giới cùng sự tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa sau “chiến tranh lạnh” đã làm cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế rơi vào khủng hoảng nặng nề. Đó là sự khủng hoảng về lý luận, đường lối phát triển, về cơ cấu giai cấp - xã hội, đặc biệt là cơ cấu giai cấp công nhân - lực lượng xã hội nền tảng cho phong trào này. Phong trào còn chịu sự chống phá của các thế lực thù địch; mất đi một phần sự tín nhiệm, ủng hộ của các lực lượng truyền thống trước đây. Các Đảng Cộng sản bị công kích, chèn ép trong cơ chế đa nguyên chính trị của các chính phủ tư sản, từ đó dẫn đến nhiều thua thiệt trong tranh cử. Toàn cầu hóa tạo ra tình trạng cạnh tranh quyết liệt về việc làm, điều kiện sống... làm nảy sinh mâu thuẫn, dẫn đến phân hóa trong nội bộ giai cấp công nhân ở từng nước cũng như trên phạm vi khu vực và toàn cầu, gây chia rẽ khối đoàn kết thống nhất của giai cấp công nhân. Thực trạng trên đòi hỏi các Đảng Cộng sản muốn tồn tại và phát triển phải tự đổi mới về lý luận, cơ cấu tổ chức, hình thức tập hợp lực lượng cũng như phương thức đấu tranh. Nói cách khác, Đảng Cộng sản phải tự đổi mới từ chính đảng mác xít truyền thống thành chính đảng mác xít hiện đại đáp ứng với yêu cầu của thời kỳ mới. 
2. Sức sống mới của chủ nghĩa xã hội. 
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, các nước xã hội chủ nghĩa không chỉ kiên định trụ vững, mà còn từng bước vượt qua những khó khăn, thách thức, tiếp tục thực hiện cải cách, đổi mới thắng lợi về mọi mặt và nâng cao vị thế quốc tế của mình. Con đường cải cách và đổi mới của các nước xã hội chủ nghĩa đã đóng góp nhiều thành tựu về lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội. Các nước xã hội chủ nghĩa đã, đang và sẽ là những chủ thể quốc tế quan trọng trong quá trình thúc đẩy sự hình thành trật tự thế giới mới sau “chiến tranh lạnh”.Thành tựu cải cách và đổi mới của các nước xã hội chủ nghĩa trong thời gian qua đã chứng tỏ sức sống và khả năng tự đổi mới để đi lên chủ nghĩa xã hội là rất mãnh liệt. Sự khai phá, tìm tòi con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Trung Quốc, Việt Nam và một số nước có một giá trị nhân đạo cao cả, đóng góp cả về mặt lý luận và thực tiễn giúp các Đảng Cộng sản vững niềm tin trong việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Tại Hội thảo quốc tế "Phát triển và sáng tạo: chủ nghĩa xã hội thế giới đầu thế kỷ XXI" được tổ chức ở Bắc Kinh (Trung Quốc, tháng 10-2004), học giả nhiều nước đánh giá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội thông qua kinh tế thị trường mà các nước xã hội chủ nghĩa đang tiến hành đã làm cho các Đảng Cộng sản - công nhân và cả thế giới phải chú ý. Tỷ trọng các nước xã hội chủ nghĩa hiện nay trong nền chính trị và kinh tế quốc tế đã vượt xa thời kỳ Liên Xô đầu thế kỷ XX.