Hiển thị các bài đăng có nhãn cán bộ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn cán bộ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 4 tháng 3, 2024

CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM GỒM NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN NÀO?

Tăng cường xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đi đôi với củng cố, xây dựng hệ thống chính trị các cấp ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là cấp cơ sở. Cán bộ người dân tộc thiểu số có năng lực và đủ tiêu chuẩn phù hợp quy định của pháp luật, được bổ nhiệm vào các chức danh cán bộ chủ chốt, cán bộ quản lý các cấp. Ở các địa phương vùng dân tộc thiểu số, nhất thiết phải có cán bộ chủ chốt người dân tộc thiểu số. Đảm bảo tỷ lệ hợp lý cán bộ người dân tộc thiểu số, ưu tiên cán bộ nữ, cán bộ trẻ tham gia vào các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp.

Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ cán bộ là người dân tộc thiểu số nhằm hình thành đội ngũ cán bộ lãnh đạo là người dân tộc thiểu số có năng lực, trình độ, trí tuệ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới; xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số cho từng vùng, từng dân tộc. Ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc, nâng cao chất lượng cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo ở các cấp chính quyền, cán bộ quản lý kinh tế. Có chính sách đặc thù trong tuyển dụng, sử dụng, ưu tiên giải quyết việc làm cho học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số sau khi tốt nghiệp. Chú trọng bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ, chiến sĩ là người dân tộc thiểu số trong lực lượng vũ trang gắn với tạo nguồn cán bộ cho cơ sở vùng dân tộc thiểu số.

Sắp xếp lại mục tiêu đào tạo của hệ thống các trường đại học, trường dạy nghề ở miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ để tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và nguồn nhân lực người dân tộc thiểu số. Xây dựng Học viện Dân tộc chuyên đào lạo đội ngũ trí thức, cán bộ vùng dân tộc thiểu số, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Coi trọng việc bồi dưỡng, đào tạo thanh niên sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự làm nguồn cán bộ bổ sung cho cơ sở.

Bổ sung, sửa đổi tiêu chuẩn tuyển dụng, bổ nhiệm và các cơ chế, chính sách đãi ngộ cán bộ công tác ở vùng dân tộc và miền núi, nhất là những cán bộ công tác lâu năm ở miền núi, vùng cao. Trong những năm trước mắt, cần tăng cường lực lượng cán bộ có năng lực, phẩm chất tốt, trí thức trẻ đến công tác ở vùng dân tộc và miền núi, những nơi xung yếu về quốc phòng, an ninh. 

Thứ Hai, 26 tháng 2, 2024

SỰ BIẾN THOÁI HÓA BIẾN CHẤT CỦA CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN CÓ PHẢI DO MỘT ĐẢNG LÃNH ĐẠO?

Một số học giả tư sản lớn tiếng cho rằng: chế độ một đảng lãnh đạo là độc tài, khép kín, mất dân chủ dẫn đến sự độc đoán, chuyên quyền, là nguyên nhân của sự thoái hóa ,biến chất ở một bộ phận cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị của nước ta hiện nay. Thực chất luận điểm trên là phản động, biểu hiện rõ mục tiêu chính trị và sự thù địch đối với chế độ xã hội chủ nghĩa. Luận điểm đó không xuất phát từ động cơ tích cực mà lợi dụng thực trạng xã hội để phủ định vai trò và bản chất của Đảng Cộng sản, cổ súy cho tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, hướng nền chính trị Việt Nam phát triển theo nền chính trị tư sản.

Thực tiễn trong xã hội tư bản chủ nghĩa, các đảng phái chính trị với tên gọi khác nhau (trừ đảng cộng sản chân chính) nhưng bản chất đều là đảng của giai cấp tư sản, bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản. Vì lợi ích của mình, các đảng tư sản cũng đã có sự điều chỉnh sách lược, chiến lược, song dù có cố gắng đến đâu thì cũng không thể xóa bỏ được những ung nhọt của xã hội nảy sinh từ cơ sở xã hội của nó, đó chính là quan hệ sản xuất chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất.

 Đảng Cộng sản Việt Nam được hình thành trên cơ sở tuân theo quy luật chung đồng thời có tính đặc thù do điều kiện lịch sử - xã hội Việt Nam quy định, là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử dân tộc. Kể từ khi ra đời, Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong điều kiện cơ sở vật chất - xã hội nước ta tạo ra những thuận lợi nhất định nhưng cũng dễ làm nảy sinh những khó khăn rất lớn và lâu dài trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đảng ta chỉ rõ: có một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên có biểu hiện thoái hóa, biến chất. Nhưng hiện tượng đó không phải do bản chất của Đảng hay do một đảng lãnh đạo mà phải xem xét từ nguồn gốc tồn tại xã hội. Đảng cũng thẳng thắn nhìn nhận trách nhiệm của mình với tư cách là tổ chức lãnh đạo, giáo dục, quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ đảng viên; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện thoái hóa, biến chất, chỉ rõ những biểu hiện cụ thể của nó; xác định những chủ trương, biện pháp, phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị để đấu tranh ngăn chặn, khắc phục tình trạng suy thoái biến chất, góp phần xây dựng và chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới. 

Thứ Hai, 19 tháng 2, 2024

Ý THỨC CẢNH GIÁC CÁCH MẠNG, TINH THẦN TRÁCH NHIỆM CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN CÓ VAI TRÒ QUAN TRỌNG TRONG ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

 Thực tiễn cho thấy, cuộc đấu tranh chống lại kẻ thù giai cấp và dân tộc trên mặt trận tư tưởng- chính trị và cả ngay trong nội bộ Đảng diễn ra hết sức quyết liệt và phức tạp, nhạy cảm, nhất là trong bối cảnh hiện nay. Cuộc đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ hệ tư tưởng - lý luận, quan điểm, đường lối của Đảng luôn gắn liền với việc bảo vệ các giá trị lợi ích chân chính của quốc gia, dân tộc. Trong lịch sử cũng như hiện tại, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị không bao giờ từ bỏ cuộc đấu tranh tư tưởng chống lại cách mạng Việt Nam với những thủ đoạn, phương thức, hình thức rất tinh vi xảo quyệt, lúc công khai trắng trợn, lúc ngấm ngầm, âm thầm, thậm chí cũng được che đậy dưới nhiều hình thức, núp dưới những vỏ bọc, danh nghĩa, chiêu bài tinh vi. Vì vậy, phải luôn nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức trách nhiệm chính trị, bản lĩnh và lập trường giai cấp; kiên định cuộc đấu tranh, gắn việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Kịp thời phát hiện và khắc phục những yếu kém, lạc hậu trong công tác tư tưởng- lý luận. Đây là đòi hỏi khách quan, là yêu cầu đặt ra đối với mọi tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng.

Trên mặt trận tư tưởng - chính trị, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên tổ chức những đợt tấn công với quy mô lớn, cường độ cao, có tổ chức chặt chẽ, câu kết trong ngoài nhằm chống phá công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước hòng thực ý đồ chuyển hóa chế độ chính trị, tác động thay đổi tư tưởng, tâm lý, làm biến chất đội ngũ cán bộ, đảng viên trở thành “lực lượng chính trị đối lập ở bên trong”, làm ngòi nổ lật đổ, xóa bỏ chế xã hội chủ nghĩa Việt Nam…Do đó, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải gắn liền với việc không ngừng mở rộng dân chủ trong Đảng, trong xã hội, đề cao trách nhiệm và phát huy vai trò của các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân trong cuộc đấu tranh phê bình và tự phê bình, “tự soi, tự sửa” theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 4 các khóa XI và khóa XII để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống trong nội bộ, hạn chế đến mức thấp những nhân tố bất ổn từ bên trong

XÂY DỰNG BỘ MÁY TỔ CHỨC, ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHUYÊN TRÁCH VÀ MÔ HÌNH, PHƯƠNG THỨC, BIỆN PHÁP, CƠ CHẾ ĐẤU TRANH PHÙ HỢP SẼ GÓP PHẦN LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG

Trong quá trình đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận, về mặt tổ chức lực lượng, cơ chế, biện pháp đấu tranh đã bước đầu phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, tính thiết thực, tính chiến đấu, tính khoa học của các công trình phản bác, phê phán luận điểm sai trái, thù địch chưa thật thuyết phục. Mô hình tổ chức bộ máy các Ban Chỉ đạo 35 chưa phát huy hết hiệu lực, hiệu quả, thậm chí chồng chéo; việc trao đổi, chia sẻ thông tin, tài liệu còn nhiều bất cập. Vì vậy, cần tiếp tục rà soát, nghiên cứu, sắp xếp kiện toàn bộ máy chỉ đạo, mô hình và cơ chế phương thức lãnh đạo cuộc đấu tranh phù hợp, hiệu quả và thiết thực hơn. Đặc biệt, không nên coi nặng về số lượng công trình, bài viết, cá nhân, đơn vị tổ chức đấu tranh phản bác mà quan trọng hơn là tìm cơ chế, biện pháp, hình thức tổ chức đấu tranh, tuyên truyền phù hợp, tập trung lực lượng mũi nhọn đấu tranh trong từng thời điểm, với từng loại đối tượng, từng vấn đề cụ thể, không để dàn trải, chồng chéo, trùng dẫm, thậm chí trái chiều nhau. Nghiên cứu ban hành quy định phổ biến, tuyên truyền công khai, rộng rãi các công trình nghiên cứu, bài viết phản bác có chất lượng, hàm lượng khoa học cao, sắc sảo, thuyết phục về lý luận và thực tiễn; mang tính hệ thống, toàn diện về mặt học thuật...

Trong quá trình tổ chức cuộc đấu tranh phải hết sức quan tâm chăm lo lựa chọn, bồi dưỡng, đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ lý luận chuyên nghiệp hoặc kiêm nhiệm có đủ bản lĩnh chính trị, năng lực, trình độ, tâm huyết tham gia cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng- lý luận. Đây là nguồn lực quan trọng bảo đảm tính chiến đấu, tính Đảng, tính khoa học, tính thuyết phục của cuộc đấu tranh này trên cả bình diện vĩ mô và vi mô. Bên cạnh đó, phải chú trọng phát huy cao độ lợi thế, tính chiến đấu của các công cụ thông tin, truyền thông hiện đại của Đảng, Nhà nước và các cơ quan ban, ngành, địa phương, bảo đảm tính kịp thời, đồng bộ, thiết thực, hiệu quả và tính lan tỏa xã hội./. 

Thứ Năm, 11 tháng 1, 2024

COI TRỌNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VÀ CÓ CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH ĐẶC THÙ ĐỂ TẠO ĐỘNG LỰC HOẠT ĐỘNG CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NÒNG CỐT TRONG CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG, CỦA ĐẢNG

Cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái thù địch thực chất là cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực ý thức hệ. Cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực ý thức hệ diễn ra rất khó khăn, lâu dài, phức tạp, quyết liệt. Trong cuộc đấu tranh này, giai cấp tư sản quốc tế, các thế lực đế quốc, phản động đã sử dụng toàn bộ hệ thống chính trị, giới chuyên gia lý luận, tư tưởng, tâm lý chiến, với mọi phương tiện truyền thông hiện đại và hiệu quả nhất với lực lượng tham gia tinh nhuệ được đào tạo bài bản, được trang bị những công cụ phương tiện hiện đại cho thực hiện âm mưu chiến lược “Diễn biến hoà bình”.

Để giành chiến thắng trong cuộc đấu tranh rất quyết liệt này Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt có năng lực chuyên môn phù hợp, có bản lĩnh chính trị vững vàng, sự nhạy bén chính trị cao, có nhiệt tình và quyết tâm vượt qua khó khăn, thách thức. Đã xây dựng được đội ngũ chuyên gia, cố vấn trong lĩnh vực này là những người có kiến thức chuyên sâu trong nhiều lĩnh vực, hiểu biết sâu sắc, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước. Có hiểu biết nhiều lĩnh vực của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và  nhân văn, có nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu phản bác các quan điểm sai trái thù địch. Tuy nhiên trong đội ngũ cán bộ nòng cốt còn một bộ phận nhỏ hạn chế về năng lực chưa đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận trong thời kỳ mới. Một số chuyên gia lớn tuổi tuy kiến thức uyên thâm, kinh nghiệm phong phú, giàu nhiệt huyết nhưng có nhiều hạn chế trong năng lực, trình độ sử dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội và các phương tiện truyền thông mới.

Trước yêu cầu nhiệm vụ đấu tranh trong thời kỳ mới, đòi hỏi Đảng ta phải thực sự quan tâm lãnh đạo lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng từ đào tạo bài bản đội ngũ cán bộ kế cận nòng cốt, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nòng cốt đang làm nhiệm vụ và bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia cố vấn, đồng thời cần bổ sung một số cơ chế chính sách đặc thù tạo động lực hoạt động cho lực lượng cán bộ nòng cốt, cho đội ngũ cố vấn chuyên gia đáp ứng yêu cầu trong cuộc đấu tranh rất khó khăn, phức tạp, quyết liệt và lâu dài. 

Thứ Ba, 9 tháng 1, 2024

QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở NƯỚC TA LÀ GÌ?

Quan điểm Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số là một bộ phận trong tư tưởng xây dựng cán bộ của Đảng, trong đó có những nét đặc thù của đối tượng là người các dân tộc thiểu số, thể hiện trên một số nội dung sau:

Xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, quyết định đến kết quả thực hiện chính sách dân tộc. Chính sách dân tộc phải được bắt đầu từ công tác cán bộ; đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ, đặc biệt cán bộ là người dân tộc thiểu số. Cán bộ dân tộc thiểu số là người tiếp thu và tổ chức tuyên truyền, vận động quần chúng thực hiện các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. 

Công tác xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số cần phải hướng vào củng cố khối đoàn kết giữa các dân tộc, thực hiện nhiệm vụ cách mạng của Đảng. Cán bộ gồm nhiều thành phần, nhiều vùng miền, dân tộc khác nhau, phải đoàn kết để thành một khối vững chắc mới tạo được niềm tin của nhân dân và hoàn thành các nhiệm vụ cách mạng.  

Phương châm trong đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số tránh lý thuyết suông, sáo rỗng, lý luận phải gắn liền với thực hành, thực tiễn. Chương trình giáo dục phải thiết thực, cụ thể, dễ nhớ, phù hợp với khả năng nhận thức và đặc điểm tâm lý văn hóa dân tộc. Gắn đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số với công tác quy hoạch, cất nhắc sử dụng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số.

Có thái độ đúng đắn, cảm thông, chia sẻ những khó khăn của cán bộ và đồng bào dân tộc thiểu số. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng bào chính là lực lượng nòng cốt cho sự phát triển quê hương mình. Vì thế, đồng bào các dân tộc cần quyết tâm học tập nâng cao trình độ để không ngừng tiến bộ, hoàn thành những nhiệm vụ của cách mạng ở ngay chính quê hương mình và góp phần vào sự nghiệp chung của cả nước.  

Quan tâm đến phát triển đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nữ; xóa bỏ sự phân biệt, đối xử không công bằng giữa nam và nữ. Đây là một nhiệm vụ quan trọng mà Đảng và Chính phủ giao phó cho các cấp chính quyền vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Để thực sự phát huy quyền bình đẳng của mình thì phụ nữ dân tộc thiểu số cần phải không ngừng học tập và nỗ lực trong mọi hoạt động, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. 

Thứ Sáu, 5 tháng 1, 2024

BỒI DƯỠNG, NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN NGHIỆP VỤ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN CHUYÊN TRÁCH TRONG ĐẤU TRANH PHẢN BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Những cán bộ, đảng viên chuyên trách trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải là những người có trình độ chuyên sâu về lý luận, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có khả năng lập luận, sâu chuỗi các vấn đề, am hiểu về công nghệ thông tin, trong đó tập trung vào đội ngũ cán bộ là báo cáo viên, biên tập viên hiện công tác trong hệ thống các cơ quan thông tin đại chúng, trong đó có các cơ quan báo chí, truyền thông.

Vấn đề quan trọng mang tính chất quyết định đó là những cán bộ, đảng viên làm nhiệm vụ này phải là những người có nhiệt huyết, ý chí quyết tâm cao trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Định kỳ hằng tháng, hằng năm, các cơ quan có thẩm quyền cần tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái cho đội ngũ cán bộ chuyên trách thực hiện nhiệm vụ này, trong đó chú trọng vào việc nâng cao kỹ năng xử lý các tình huống, kỹ năng tuyên truyền trong lĩnh vực an ninh tư tưởng, kỹ năng lập luận trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên cần chủ động nâng cao ý thức tự giác, kỷ luật khi tiếp xúc thông tin trên các trang mạng xã hội; nghiêm túc thực hiện điều lệ và quy định kỷ luật của Đảng, của tổ chức mà mình là thành viên, đồng thời thể hiện là công dân gương mẫu; luôn có ý thức nắm vững và chấp hành tốt các quy định về quyền thông tin, phạm vi thông tin theo quy định của Hiến pháp và Luật An ninh mạng./. 

Thứ Hai, 25 tháng 9, 2023

PHÁT HUY VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN VÀ NHÂN DÂN TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, dưới tác động tiêu cực của tình hình thế giới đến đời sống xã hội đất nước ta như: Xung đột Nga - Ukraine, dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, chủ nghĩa dân tộc, dân túy, tự do mới, dịch bệnh… và những nảy sinh từ mặt trái của kinh tế thị trường đặt ra cho Đảng, Nhà nước ta nhiều vấn đề mới, hệ trọng cần phải giải quyết. Trong khi đó, các thế lực thù địch vẫn tăng cường liên kết với những phần tử cơ hội chính trị, không ngừng xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng xuyên tạc giá trị, tính khoa học, cách mạng của học thuyết Mác - Lênin, nền tảng tư tưởng của Đảng về chủ nghĩa xã hội. Chúng xuyên tạc mục tiêu, lý tưởng con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Đồng thời, đưa ra các kiến nghị nhiều hình thức vào những dịp Đại hội Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp... đòi đổi mới chính trị theo hình thức đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thực chất là đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng còn lợi dụng vào những khó khăn tồn tại, hạn chế, thiếu sót, sơ hở trong đời sống xã hội, nhất là các vấn đề y tế, giáo dục, giao thông vận tải, tài nguyên môi trường…, gây hoang mang, dao động trong quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước và chính quyền địa phương, thậm chí dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái về tư tưởng chính trị trong chính đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), Đảng cảnh báo: “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc câu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”[1].

Vì vậy, để đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, ngoài việc xác định đúng nội dung, phương thức đấu tranh, thì cần đặc biệt quan tâm đến đối tượng tham gia vào cuộc đấu tranh này mà chủ thể đầu tiên, trước hết và cốt lõi là Đảng Cộng sản Việt Nam, mà cụ thể là các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên của Đảng.

Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền từ Trung ương đến cơ sở cần phải phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo việc quán triệt cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức sâu sắc và đầy đủ, kiên định và tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, nhất là các nghị quyết về xây dựng Đảng. Cấp ủy các cấp phải nêu cao trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý tư tưởng; chủ động nhận diện, làm rõ các luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới. Chủ động, kịp thời cung cấp các thông tin chính thống để định hướng dư luận; nâng cao khả năng “tự bảo vệ” của mỗi cán bộ, đảng viên viên và quần chúng trước những tác động và ảnh hưởng xấu từ bên ngoài, nhất là âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động.

Tăng cường tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu nước, lý tưởng cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân ta. Thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 9/2/2018, của Ban Bí thư (khóa XII) “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay. Chủ động, sáng tạo thông qua nhiều hình thức tuyên truyền phong phú, sáng tạo, giúp cán bộ, đảng viên và quần chúng hiểu và nắm vững hơn nữa bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thấy rõ bản chất phản động của các thế lực thù địch, phản cách mạng. Chú trọng việc biểu dương, nêu gương các điển hình tiên tiến, các mô hình, tập thể, cá nhân tiêu biểu, có sức lan tỏa trong xã hội. Bảo đảm sự thống nhất về ý chí và hành động, sự đoàn kết trong Đảng.

Chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện và thực hiện tốt hơn nữa các chính sách, pháp luật liên quan đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Điển hỉnh như việc và Nhà nước đã và đang hoàn thiện nền dân chủ XHCN, thực hiện tốt quy chế, pháp lệnh dân chủ ở cơ sở; quan tâm thực hiện đúng quyền con người theo các công ước quốc tế và Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam. Quan tâm chăm lo, thực hiện tốt chính sách tôn giáo, dân tộc nhằm tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng gắn liền với đoàn kết toàn dân tộc.

Mỗi đồng chí cán bộ, đảng viên cần nhận thức đúng đắn sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên trước hết là do bản thân các đồng chí đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện, lập trường tư tưởng không vững vàng trước những tác động từ bên ngoài. Chỉ khi nhận thức đầy đủ về mục tiêu, lý tưởng của mình, hiểu được chân lý “Còn Đảng là còn mình” để từng bước khắc phục, đấu tranh với những biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng, xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng, lười học tập, sợ học lý luận, lười suy nghĩ, để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khóa XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.23

Thứ Sáu, 18 tháng 8, 2023

TỪ “BỆNH KIÊU NGẠO CỘNG SẢN” ĐẾN “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” CẦN BÀI TRỪ TRONG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

    V.I.Lênin đã để lại một tư tưởng cực kỳ quan trọng về vấn đề tự bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Người viết: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta”. Theo V.I.Lênin, đó chính là những sai lầm và bệnh kiêu ngạo cộng sản sẽ làm cho chính người cộng sản khó tránh khỏi thất bại.

    Chủ nghĩa xã hội, về bản chất là một xã hội vô cùng cao đẹp, nhưng không phải mọi xã hội tốt đẹp đều tự nhiên có thể đứng vững trước những sóng gió của cả một thế giới cũ. Chủ nghĩa xã hội phải chứng minh được trên một thực tế với bản chất ưu viết ấy, chứng minh được trên thực tế đó là một xã hội đáp ứng được thực tế những đòi hỏi của một xã hội hiện đại, một xã hội có tương lai. Đây là một công việc vô cùng khó khăn, đòi hỏi sự kiểm nghiệm nghiêm ngặt của thực tiễn, chứ không phải trên lý thuyết.

    Những yếu tố cấu thành sức mạnh, thành bản chất của chủ nghĩa xã hội phải tự nó có sức đề kháng, tự nó phải có sức mạnh bảo vệ mình và tự tạo nên sức mạnh của Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Cốt lõi nhất đó là Đảng Cộng sản - sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức; là nền kinh tế; sự ổn định xã hội, văn hóa, quốc phòng… Sự xa rời những nguyên lý xây dựng quốc đội kiểu mới của V.I.Lênin về chế độ chính ủy, chính trị viên; sự trì trệ, giáo điều về chính sách kinh tế - xã hội, bệnh quan liêu mà V.I.Lênin đã cảnh báo; sự sai lầm trong đường lối, chính sách cải tổ,… là nguyên nhân bên trong dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu.

    Bởi những sai lầm ấy tích tụ dần dần, làm cho cơ thể xã hội chủ nghĩa yếu dần, những mầm mống ung thư xuất hiện và lớn dần, không được chạy chữa, giải phẫu kịp thời, đến một lúc quá lớn đã di căn thì sự thất bại là điều khó có thể tránh khỏi, đó còn là chủ quan sai lầm của đội ngũ cán bộ đảng viên

    Chủ nghĩa xã hội hiện thực đã đứng trước những đòn tấn công quân sự vô cùng khắc nghiệt của đủ mọi loại kẻ thù nguy hiểm nhất: các nước đế quốc tấn công nước Nga Xôviết non trẻ sau Cách mạng Tháng Mười; chủ nghĩa phát xít chống Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai; thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam… Tất cả những đòn tấn công quân sự, vũ trang với các nước xã hội chủ nghĩa đều thất bại.

    Tưởng rằng, chủ nghĩa xã hội là vô địch, không ai có thể phá vỡ nổi. Phải chăng tư tưởng chủ quan ấy đã dẫn đến tự chủ quan trong tự bảo vệ. Và cái giá quá đắt cho nó là sự tan vỡ của Liên Xô của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu trước đòn tấn công phi quân sự, phi vũ trang của đế quốc dưới tên gọi là là chiến lược “diễn biến hòa bình”.

    “Tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ là sự suy thoái từ bên trong; là quá trình tự biến đổi về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, làm mất dần các chuẩn mực của người cộng sản, dẫn đến xa rời những nguyên tắc, quan điểm mácxít; suy giảm nghiêm trọng niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đến khi những yếu tố cách mạng, tích cực bị phai nhạt, triệt tiêu, tư tưởng phi xã hội chủ nghĩa tăng dần, thắng thế, lúc đó sẽ dẫn đến sự “tự chuyển hoá” cán bộ, đảng viên từ người tốt trở thành phần tử chống đối Đảng, Nhà nước. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” sẽ gây ra tình trạng mất đoàn kết trong nội bộ các cơ quan, tổ chức; một bộ phận trong đội ngũ trí thức, luật sư, báo chí, văn nghệ sĩ bộc lộ tư tưởng muốn thoát ly khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Nếu không được ngăn chặn kịp thời, triệt để sẽ dẫn đến tổ chức bị suy thoái, tự tan rã. Khi “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” diễn ra ở tầm vĩ mô sẽ dẫn đến sự chuyển hoá từ chế độ xã hội chủ nghĩa sang chế độ tư bản chủ nghĩa.

    “Bệnh kiêu ngạo cộng sản” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đều là những căn bệnh cố hữu có nguồn gốc từ người đảng viên, nó có thể bộc lộ bất cứ ở đâu. Vì vậy, cần phải tu dưỡng, rèn luyện bản thân vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân, người đảng viên phải lắng nghe và giúp đỡ nhân dân, thực hiện “thắng không kiêu, bại không nản”, “lửa thử vàng, gian nan thử sức”./.


Thứ Bảy, 1 tháng 4, 2023

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN CẦN ỨNG XỬ TRÊN MẠNG XÃ HỘI THẾ NÀO TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Ngày 30/3, tại Cục Lễ tân (Bộ Ngoại giao), Chi bộ Cục Lễ tân Nhà nước và Báo Thế giới và Việt Nam đã tổ chức buổi sinh hoạt liên chi bộ về chủ đề “Trách nhiệm của cán bộ, đảng viên về ứng xử trên mạng xã hội trong tình hình mới”.

Buổi sinh hoạt chuyên đề lần này đã khẳng định sự quan tâm, coi trọng của hai chi bộ đối với việc duy trì và đề cao ý nghĩa, tầm quan trọng của hoạt động sinh hoạt chuyên đề. Tại buổi sinh hoạt, đồng chí Phạm Thu Hằng, Phó vụ trưởng phụ trách Vụ Thông tin Báo chí làm báo cáo viên đã nêu rõ một số yêu cầu chung trong tình hình mới hiện nay. Trong đó, cán bộ, đảng viên cần chấp hành nghiêm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước khi sử dụng Internet, mạng xã hội cần bảo đảm an ninh, an toàn thông tin; khai báo thông tin chính danh khi thiết lập và sử dụng các trang thông tin điện tử cá nhân; chủ động sử dụng trang thông tin điện tử cá nhân để tuyên truyền, lan tỏa thông tin tích cực, đấu tranh phản bác thông tin sai trái. Đồng thời, cần chịu trách nhiệm về toàn bộ nội dung thông tin lưu trữ, thông tin, cung cấp hoặc phát tán trên trang của mình. Đặc biệt, không cho mượn, cho thuê, bán, thế chấp trang thông tin điện tử cá nhân của mình; không mượn, thuê, mua nhận thế chấp trang thông tin cá nhân.

Đồng chí Phạm Thu Hằng cũng nêu một số nội dung chính của quy định sử dụng mạng xã hội đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động của Bộ Ngoại giao và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Ngày 28/2/2023, Bộ trưởng Ngoại giao đã ký Quyết định số 396/QĐ-BNG ban hành Quy định về việc sử dụng mạng xã hội đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động của Bộ Ngoại giao và các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.

Việc ban hành Quy định nhằm khuyến khích và bảo đảm việc sử dụng mạng xã hội một cách tích cực, lành mạnh, theo đúng các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các quy chế, quy định của Bộ Ngoại giao; xây dựng chuẩn mực về hành vi, ứng xử trên mạng xã hội, nâng cao ý thức, tạo thói quen tích cực trong các hành vi ứng xử; căn cứ để xử lý các vi phạm chuẩn mực, nguyên tắc trong quá trình sử dụng mạng xã hội trong Bộ Ngoại giao.

Đồng chí Phạm Thu Hằng cũng nêu rõ những điều được và không được làm khi ứng xử trên mạng xã hội trong tình hình mới hiện nay. Đồng thời, đề xuất, kiến nghị đối với cán bộ, đảng viên khi ứng xử trên mạng xã hội. Trong hai tiếng thảo luận, trao đổi sôi nổi của buổi sinh hoạt chuyên đề, các đảng viên tham dự đã đặt nhiều câu hỏi cho báo cáo viên để làm rõ hơn về quy định, cách ứng xử trên mạng xã hội. Các đảng viên đều đánh giá buổi sinh hoạt liên chi bộ lần này có ý nghĩa thiết thực, bổ ích.

 

 


Thứ Năm, 16 tháng 2, 2023

LẬT TẨY NHỮNG LUẬN ĐIỆU CHỐNG PHÁ

Trong quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng, công tác cán bộ của ta luôn phải đối mặt với rất nhiều luận điệu chống phá từ nhiều phía.

Thời gian gần đây, khi một loạt lãnh đạo cấp cao bị kỷ luật, cảnh cáo hoặc cho miễn nhiệm chức vụ, thì các tổ chức phản động lại được dịp tung ra những luận điệu mỉa mai, bôi đen, chống phá, dù cũ mèm nhưng vẫn nguy hiểm, thâm độc.

Những luận điệu cũ kỹ như vậy tràn ngập trang Facebook của tổ chức phản động Việt Tân. Trong một dòng trạng thái đăng ngày 5/2, tổ chức này buông lời bình luận xuyên tạc, đại ý rằng Đảng ta dùng “mưu” và “kế” nhằm loại bỏ nhau để giành quyền lực.

Khi Quốc hội thông qua Nghị quyết miễn nhiệm chức vụ Chủ tịch nước và sau khi diễn ra lễ bàn giao công tác của nguyên Chủ tịch nước cho quyền Chủ tịch nước vào ngày 4/2, trang thoibao.de đặt câu hỏi rằng sắp tới đây Đảng có dám thực hiện đổi mới thực sự, căn bản và triệt để về công tác cán bộ hay không.

Khi Quốc hội cho thôi làm nhiệm vụ đại biểu Quốc hội khoá XV đối với ông Phạm Bình Minh; phê chuẩn miễn nhiệm chức vụ Phó Thủ tướng Thường trực đối với ông Phạm Bình Minh và Phó Thủ tướng với ông Vũ Đức Đam, các bài viết mang tính công kích, xuyên tạc, quy chụp xuất hiện ồ ạt trên các trang báo, trang mạng xã hội thù địch. Đài VOA giật ngay dòng tít quy chụp “Bộ chính trị thanh trừng hai phó thủ tướng”, rồi bàn đến chuyện “khuất tất đằng sau”.

Ngày 1/1, Đài Á Châu Tự Do (RFA) thì bình luận rằng đây là “cuộc xâu xé quyền lực mạnh được yếu thua” và lý giải nguyên nhân là “không có phe cánh, không có hậu thuẫn”. Trong một bài khác, RFA còn “khuyên” rằng Đảng cần làm công tác cán bộ triệt để hơn và đó phải là “việc của toàn dân”.

Và còn rất nhiều những ví dụ tương tự nữa. Có thể thấy, những người đứng đằng sau những tổ chức, tờ báo nói trên luôn tìm mọi cách, tận dụng mọi thời cơ, mọi sự kiện trong công tác cán bộ của ta để lồng vào đó thông điệp bôi bẩn, suy diễn, sặc mùi chống phá.

Không phải vô cớ mà chúng đặc biệt chĩa mũi dùi vào Đảng ta trong công tác nhân sự, công tác cán bộ. Khi công tác này được chú trọng trong quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng, các thế lực xấu cũng tăng cường “kỳ đà cản mũi”. Như Đảng ta luôn khẳng định, công tác cán bộ là “then chốt của then chốt” và việc cán bộ có sai phạm, không làm tròn trách nhiệm, không đủ khả năng đảm đương công việc thì phải “ra”, phải “xuống”, phải “lùi” là điều đương nhiên. Nhưng các phần tử thù địch với Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy vấn đề đương nhiên đó để quy chụp, thổi phồng, suy diễn vô căn cứ.

Một suy diễn điển hình là coi công tác cán bộ là vỏ bọc của “tranh giành quyền lực”, “đấu đá nội bộ”. Tuy nhiên, cái gọi là tranh giành quyền lực theo giọng điệu thế lực thù địch chính là tranh giành giữa các đảng phái, chủ thể chính trị khác nhau vì lợi ích cá nhân. Do đó, khi Đảng ta thực hiện công tác cán bộ, khi bổ nhiệm người này, bãi nhiệm người kia, không thể gọi là tranh giành quyền lực vì đây là thay đổi nhân sự/cán bộ, là điều hết sức bình thường trong mọi tổ chức, mọi bộ máy không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới. Chỉ có thể gọi công tác cán bộ là nhằm loại bỏ người thiếu đức, thiếu tài, chọn người có tâm, có tầm vào đúng vị trí để làm Đảng vững mạnh, tiếp tục phát triển như một cái cây tươi tốt, không còn cành sâu mục.

Lập luận phản bác này không chỉ là do Đảng ta, báo chí cách mạng của ta đưa ra một chiều, mà chính những chuyên gia nghiên cứu về tình hình Việt Nam cũng nhấn mạnh những điều tương tự. Giáo sư Carl Thayer tại Học viện Quốc phòng Australia, nói trong một bài viết ngày 1/1 rằng việc miễn nhiệm hai phó thủ tướng không liên quan đến suy đoán vô căn cứ rằng “đây là kết quả của một cuộc đấu tranh quyền lực trong Đảng Cộng sản Việt Nam để lựa chọn lãnh đạo cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 14 sẽ được tổ chức vào năm 2026”.

Nhìn rộng ra thế giới, có thể thấy việc lãnh đạo cấp cao từ chức, rời ghế là điều bình thường. Ví dụ như nước Anh, trong chưa đầy 2 tháng, đã có tới ba vị thủ tướng. Hai người là bà Theresa May và ông Boris Johnson vì không đáp ứng được kỳ vọng của đảng cầm quyền, của cử tri, phải từ chức trước sức ép dư luận. Điều lạ là với các quốc gia như vậy, không thế lực nào, không tờ báo nào rêu rao rằng họ “thanh trừng” lẫn nhau hay đấu đá quyền lực, mà chỉ tập trung vào nguyên nhân cốt lõi khiến họ phải “xuống”, phải “ra” để nhường chỗ cho người có năng lực hơn. Vậy mà ở Việt Nam, các sự kiện tương tự lại bị lái sang hướng khác để bôi nhọ, hạ thấp. Lý do vì sao lại có “tiêu chuẩn kép” như vậy chắc ai cũng có thể đoán ra.

Sau khi tung những luận điệu suy diễn về việc một số lãnh đạo rời ghế, các thế lực phản động lại tiếp tục đoán già đoán non về ai sẽ “lên”, ai sẽ “vào”, ai sẽ “tiến” dựa trên những lý do không hề liên quan tới năng lực, tư cách. Ví dụ như, người này sẽ “lên” vì có “vây cánh”, người kia sẽ không thể “vào” vì không có hậu thuẫn.

Cần nói rõ rằng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng phải cân nhắc kỹ mọi bước đi trong công tác cán bộ. Bãi nhiệm ai, đề cử ai không phải là việc làm cảm tính, xuôi theo chiều dư luận. Tất cả đều phải đúng quy trình, quy định công khai, minh bạch. Nhưng những thế lực phản động lại không nghĩ thế.

Năm 2022, khi Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng đã ký ban hành Quy định số 80-QĐ/TW về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, một bài bình luận trên đài RFA lại tiếp tục soi mói, suy diễn một số điều trong quy định này. Ví dụ như nói quy định này gây ấn tượng là “nó nhằm hướng dẫn người ta chạy quyền, chạy chức cho đúng chỗ”. Đỉnh điểm suy diễn của bài viết là kết luận rằng quy định 80 “chỉ khuyến khích các ‘nhân sự’ chạy dẻo cả chân lẫn tay”, chứ đời kiếp nào giúp công khai, minh bạch và hiệu quả được cơ chế tuyển dụng người cho bộ máy nhà nước?”

Có thể thấy ngay rằng luận điệu suy diễn này hết sức phiến diện và mang tính “vơ đũa cả nắm”. Không phủ nhận vẫn còn tình trạng chạy chức, chạy quyền, lợi ích nhóm, nhưng không thể vì những vụ việc mang tính thiểu số đó mà đánh đồng với toàn bộ hệ thống cán bộ, phủ nhận hoàn toàn thành quả công tác cán bộ của ta.

Trái với những suy diễn vô căn cứ, mục đích của công tác cán bộ không phải là xây dựng “vây cánh” hay bè phái, mà là để tạo ra một tập thể lãnh đạo có trách nhiệm, mang lại “lãi” cho nhân dân, đất nước, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Cán bộ là tiền vốn của đoàn thể. Có vốn mới làm ra lãi”.

Theo: Thùy Dương

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN NÊN HỌC CÁCH SỐNG CHAN HÒA

Hiện một bộ phận cán bộ, đảng viên (kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý và cao cấp) suy thoái, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, vô nguyên tắc... Thực trạng này cho thấy phải đẩy mạnh học Bác về tính chan hòa, gần gũi và tính nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo.

1. Bác Hồ là một người sống rất chan hòa với mọi người, kể cả khi Người trở thành người đứng đầu Đảng, đứng đầu quốc gia. Chuyện kể rằng, khi Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc còn ở căn cứ Việt Bắc, Bác đến dự lễ bế giảng của trường. Xuống thăm nhà bếp, Bác thấy làm cỗ có vẻ linh đình, Bác nói với đồng chí phụ trách trường: “Này, bế mạc, chứ không phải “bế bụng” đâu nhé! Kháng chiến còn khó khăn lắm các chú ạ”. Đến bữa ăn, thấy mâm cơm chỉ có một bát, một đôi đũa, Bác hỏi: “Thế Bác ăn với ai?”. Đồng chí phụ trách gãi đầu gãi tai: “Dạ, xin để Bác ăn riêng cho tiện”. Bác ngắt lời: “Không tiện gì cả. Thế ra các chú cho Bác ăn trên ngồi trốc à?”. Và Bác yêu cầu bê các món ăn của cán bộ, nhân viên nhà trường lên cho Bác xem, rồi Bác bảo kê thêm bàn ghế cho mọi người cùng ngồi ăn với Bác. Bố trí xong xuôi cả rồi, Bác mới vui vẻ bảo mọi người: “Ngồi cả vào đây ăn chung với Bác, ăn một mình thì Bác ăn sao được?”.

Khi Bác lên nói chuyện với các học viên, đồng chí phụ trách trường giới thiệu: “Bác Hồ sẽ huấn thị cho chúng ta”. Bác cười mà bảo rằng: “Tôi nói chuyện với các đồng chí thôi, chứ có “huấn thị” gì đâu”. Buổi tối, Bác ở lại trường để làm việc. Các đồng chí mang đến cho Bác một chiếc đèn rất sáng. Khoảng 9-10 giờ tối, Bác cầm đèn đó xuống Văn phòng trường và bảo rằng: “Đèn này to, tốn dầu lắm! Bác còn làm việc khuya, một chiếc đèn con thôi cũng đủ. Các đồng chí đổi cho Bác chiếc đèn khác”. Sáng sớm hôm sau, trước khi Bác chia tay trường, đồng chí phụ trách hỏi Bác có điều gì căn dặn thêm về công việc của trường, Người nói: “Tôi chỉ mong các đồng chí đừng quan tâm đến tôi quá mà phải quan tâm đến mọi người hơn” (theo tác giả Nguyễn Văn Khoan, Tấm gương Bác - Ngọc quý của mọi nhà, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2018, tr.25-26).

Câu chuyện trên cho thấy Bác Hồ không chỉ giản dị, tiết kiệm mà thực sự rất chan hòa với mọi người. Bấy giờ, Bác đã là người lãnh đạo cao nhất của đất nước, có những tiêu chuẩn riêng nhưng vẫn thể hiện sự sâu sát, gần gũi với cán bộ cấp dưới, không tự tách biệt mình trong sinh hoạt, trong công tác. Những câu chuyện tương tự như thế về Bác Hồ còn rất nhiều, đều đáng để cho mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta học tập, thực hành mọi lúc, mọi nơi.

2. Hiện nay, có một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thể hiện tinh thần đó của Bác trong công tác, trong sinh hoạt. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã nêu: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...”. Hẳn những người đó khó thể hiện được sự chan hòa, thân ái, hòa đồng với cán bộ, đảng viên, nhân viên ngay trong đơn vị hay với người dân ở nơi cư trú.

Biểu hiện thường thấy là một số cán bộ lãnh đạo khi nhận vị trí công tác mới thì cho tu sửa phòng làm việc, đổi xe mới, có khi sử dụng xe vượt quá quy định cho phép; tự duyệt hoặc tác động để được duyệt nhiều khoản thù lao, phụ cấp, công tác phí…, thành ra có thu nhập cao hơn hẳn người lao động trong đơn vị; khi đi công tác với nhiều người thì vẫn thích đi xe riêng, ở phòng khách sạn sang trọng. Khi ăn uống thì thích ngồi mâm riêng của những lãnh đạo; ít quan tâm đến cán bộ, nhân viên cấp thấp; ít tổ chức gặp gỡ với cán bộ, nhân viên, không kịp thời lắng nghe các ý kiến phản ánh từ cấp dưới; xây dựng nhà cửa xa hoa, cách biệt với người dân ở nơi cư trú… Những điều đó có lúc có nơi gây nên sự phản cảm, thậm chí bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Để phát huy việc học Bác về tính chan hòa, gần gũi, cũng như để việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng có chiều sâu, bên cạnh công tác tuyên truyền, giáo dục sâu rộng hơn nữa những câu chuyện cụ thể của Bác Hồ, cần có những quy định cụ thể về tính nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo. Từng cơ quan, đơn vị, từng tổ chức đảng cần có quy chế chặt chẽ, trong đó phải hạn chế các đặc quyền, đặc lợi dành cho cán bộ lãnh đạo, từ chế độ đi lại, làm việc… cho đến thù lao, thu nhập. Mỗi cơ quan nên định kỳ tổ chức gặp gỡ với cán bộ, nhân viên, như tổ chức các cuộc đối thoại, các sinh hoạt nhân Ngày Gia đình Việt Nam, ngày lễ, tết, ngày truyền thống ngành… để mọi người có thể có khoảng thời gian chan hòa bên nhau, chia sẻ và thấu hiểu nhau hơn, nhất là tạo cơ hội cho những nhân viên cấp thấp có dịp gặp gỡ lãnh đạo.

Ngoài ra, cần có biện pháp giám sát chặt chẽ hơn nữa đối với quá trình sinh sống ở nơi cư trú của cán bộ, đảng viên, để tránh việc cán bộ không tham gia họp hành tổ dân phố, không ủng hộ các hoạt động cộng đồng, không gương mẫu chấp hành các chủ trương chung, không hòa đồng với lối xóm… Những điều đó nên được ghi rõ vào bản nhận xét đảng viên cuối năm của tổ chức đảng ở nơi cư trú.

Theo: Văn Tâm - SGGP

KÊ KHAI TÀI SẢN: CHỚ ĐỂ CHÁY NHÀ MỚI RA MẶT CHUỘT

“Thu nhập không trung thực” là một trong 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống được Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến," "tự chuyển hóa" trong nội bộ” chỉ mặt, điểm tên. Đây cũng là vấn đề được Đảng ta rất quan tâm lãnh đạo chấn chỉnh, khắc phục; được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm.

Căn bệnh đã di căn

Chắc hẳn nhiều người vẫn còn nhớ cựu Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai rơi vào vòng lao lý với nhiều sai phạm, trong đó có việc kê khai tài sản không trung thực. Trước khi bị xử lý, cán bộ này thuộc diện phải kê khai tài sản và đều đặn thực hiện qua mỗi năm. Ấy nhưng, khi cơ quan điều tra vào cuộc mới phát hiện hành vi tham nhũng, nhận hối lộ với số tiền lên tới hàng chục tỷ đồng; tài sản kê khai và tài sản thực chênh nhau một cách bất thường.

Những câu chuyện tương tự như trường hợp nêu trên không hề hiếm. Hàng loạt quan chức hầu tòa trong thời gian qua thì có ngần ấy cán bộ phạm phải việc kê khai tài sản, thu nhập không trung thực; biển thủ, trục lợi khối tài sản khổng lồ của Nhà nước, của nhân dân thành của riêng. Nhiều người lý giải, sở dĩ những cán bộ này không trung thực bởi đây là phần việc “bất khả thi”, vì không thể lý giải nguồn gốc tài sản. Mặt khác, làm vậy thì chẳng khác gì câu chuyện “lạy ông tôi ở bụi này”.

Đáng nói là hiện nay, dù đã có khá đầy đủ, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vấn đề kê khai tài sản, thu nhập và công tác quản lý, kiểm soát sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ thuộc diện phải kê khai nhưng vấn nạn kê khai giả dối, thiếu trung thực vẫn diễn ra ở nhiều nơi. Điều đó cho thấy, cốt tử của vấn đề nằm ở phẩm chất, đạo đức của cán bộ kê khai tài sản, thu nhập. Họ đã thực sự bị suy thoái, biến chất, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Theo báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Năm 2022, các bộ, ngành, địa phương xác minh tài sản, thu nhập với người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập được lựa chọn ngẫu nhiên cho thấy: Có 7.662 người được xác minh tài sản, thu nhập, 4.934 cơ quan, tổ chức, đơn vị đã được kiểm tra việc thực hiện và có 74 người kê khai chưa đúng quy định, đã được chấn chỉnh, kiểm điểm, xử lý theo quy định. Như vậy, nếu cấp có thẩm quyền tiến hành xác minh kê khai tài sản, thu nhập thì tất yếu sẽ lòi ra những cá nhân kê khai không đúng, không trung thực. Trong khi phần việc này chỉ được tiến hành ngẫu nhiên trong số vài phần trăm cán bộ, càng cho thấy việc kê khai tài sản, thu nhập không trung thực đã và đang là vấn nạn đáng báo động.

Sự nguy hại từ kê khai tài sản, thu nhập không trung thực của cán bộ trước hết gây ra việc thất thoát khối lượng tài sản khổng lồ của Nhà nước, nhưng lớn hơn là gây mất niềm tin của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ. Thế mới có chuyện, người dân kháo nhau về tài sản cán bộ giống như những tảng băng trôi. Tài sản được kê khai chỉ là phần nổi, còn phần chìm lớn hơn gấp nhiều lần. Thế mới có chuyện, dân không tin những cán bộ giàu lên một cách chính đáng, mà thường suy diễn, quy chụp cán bộ giàu là bởi tham nhũng mà có. Nhiều người dân cũng mặc định đã là cán bộ lãnh đạo cấp cao thì tất yếu phải giàu có hơn quần chúng. Và nếu thấy cán bộ gặp hoàn cảnh khó khăn thì quy chụp rằng cán bộ ấy đang cố tình mị dân, giả nghèo giả khổ, chứ chắc hẳn tài sản thực đã được chia năm xẻ bảy, lấp liếm, trá hình bằng nhiều hình hài khác nhau.

Cũng bởi tâm lý xã hội ấy mà không ít cán bộ giàu có thật sự lại sinh ra tâm lý e ngại khi kê khai tài sản. Họ thậm chí giấu giếm đi sự giàu có chính đáng để tránh “miệng lưỡi thế gian” không cần thiết. Đây cũng là một thực tế cần được nhận diện, phê bình, khắc phục. Bởi lẽ, cán bộ cũng là con người, là công dân của một đất nước. Ngoài thực hiện các nhiệm vụ theo chức trách, nhiệm vụ tổ chức giao, cán bộ còn tham gia các hoạt động xã hội khác, trong đó có hoạt động phát triển kinh tế. Việc cán bộ có tài-đức, làm kinh tế đúng pháp luật, gặt hái thành công, trở nên giàu có chính đáng là rất đỗi bình thường. Thực tế cho thấy, có không ít cán bộ, đảng viên năng động trong công tác và trong phát triển kinh tế tư nhân đã mang lại động lực tích cực cho đồng nghiệp, bà con xóm giềng và nhân dân ở địa phương nơi họ công tác, sinh sống. Cũng có không ít mô hình phát triển kinh tế, phong trào tăng gia sản xuất, kinh doanh hiệu quả ở các địa phương được hình thành, được thúc đẩy và truyền cảm hứng từ chính những người cán bộ, đảng viên có tư duy năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với cộng đồng.

Gắn chặt “kê” với “kiểm”

Phải nhận rõ một thực tế là chúng ta đang duy trì nền nếp việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, thế nhưng tổ chức và cơ quan chức năng chưa thật sự coi trọng việc xác minh, kiểm kê, kiểm soát việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ. Đến hẹn lại lên, cán bộ điền vào những mẫu phiếu có sẵn về nguồn thu và những phát sinh tài sản, nhưng chưa có cơ quan, tổ chức nào (cả trong nội bộ) thực hiện chức năng thẩm định, kiểm kê, kiểm soát một cách thường xuyên nhằm xác minh kịp thời tính trung thực của nó. Thành thử, tích tiểu thành đại, đến khi khối tài sản của cán bộ trở nên bất thường thì mới sinh ra hoài nghi, lật ngược vấn đề rồi đi đến xử lý kiểu “mất bò mới lo làm chuồng”. Trong nhiều tình huống khác, đến khi cán bộ rơi vào vòng lao lý, vi phạm pháp luật Nhà nước thì cháy nhà mới ra mặt chuột.

Dư luận cho rằng: Nếu việc xác minh, kiểm kê, kiểm soát được thực hiện đồng thời với việc kê khai tài sản, thu nhập thì chắc chắn việc cán bộ kê khai gian dối, thiếu trung thực sẽ được khắc phục cơ bản; những tài sản bất minh, không rõ nguồn gốc cũng được phát hiện từ sớm, giúp kịp thời phê bình, uốn nắn cán bộ, ngăn chặn tiêu cực lớn. Ngược lại, nếu chỉ đơn thuần coi trọng việc kê khai mà chưa chú trọng đến công tác xác minh, kiểm kê, kiểm soát tài sản, thu nhập thì coi như chúng ta chỉ làm nửa vời, thiếu tròn khâu và đây là kẽ hở cho những gian dối, thiếu trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ.

Nhiều ý kiến cho rằng, việc cần làm hiện nay là nên triển khai một đợt xác minh, kiểm kê, kiểm soát rộng khắp ở mọi đối tượng cán bộ, trước hết là những người đứng đầu, cán bộ chủ trì, chủ chốt. Cần tiến hành đồng bộ trong toàn hệ thống chính trị và xem đây là một việc hết sức bình thường của tổ chức, chứ không chờ đến khi có dấu hiệu vi phạm mới xúc tiến, triển khai. Nguyên tắc xác minh, kiểm kê, kiểm soát tài sản cần vận hành từ trên xuống dưới; cấp trên kiểm soát tài sản của cấp dưới; tổ chức kiểm tra, kiểm soát tài sản của cá nhân... Đây chính là một bước xốc lại chất lượng của việc kê khai tài sản, thu nhập nhằm biết được toàn cảnh thực trạng tài sản của cán bộ, tạo cơ sở vững chắc cho các bước triển khai tiếp theo.

Thực tế cho thấy, không ít bộ, ngành, địa phương đã xác minh tài sản, thu nhập với người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập được lựa chọn ngẫu nhiên; có địa phương tiến hành việc bốc thăm để kiểm kê, kiểm soát việc kê khai tài sản, thu nhập thì đã thu được kết quả thấy rõ. Những cán bộ không trung thực sớm bị phát hiện; có cá nhân bị mất chức, bị điều chuyển công tác, miễn nhiệm, xử lý kỷ luật. Đây là cách làm đúng đắn, hợp lòng dân, là cơ sở để cơ quan chức năng Trung ương nghiên cứu, nhân rộng, vận hành trong toàn hệ thống. Bởi thế, đông đảo người dân cho rằng, về lâu dài, việc xác minh, kiểm tra, kiểm soát tài sản tất yếu phải tiến tới thực hiện đồng bộ chứ không thể bốc thăm, hay lựa chọn ngẫu nhiên. Trước mắt, cần quan tâm thực hiện triệt để, đồng bộ ở đối tượng người đứng đầu và cán bộ phụ trách những lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực. Từ đó sẽ tạo ra tác động rất lớn để cơ quan chức năng có những đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm, giúp đội ngũ công chức, viên chức không dám tiêu cực.

Sờ gáy “tài sản chìm”

Việc xác minh, kiểm kê, kiểm soát kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ cần quan tâm sâu sát, kỹ lưỡng cả "tài sản nổi" và "tài sản chìm" của từng cá nhân. Đây là phần việc cần thiết, bởi nhiều năm trước, chúng ta thường nhận diện, đánh giá cán bộ giàu có qua những căn biệt thự, xe sang, cuộc sống sung túc, đầy đủ... Thế nhưng, với mức sống hiện tại, những câu chuyện ấy không còn là tâm điểm dư luận. Một phần vì chất lượng đời sống xã hội đi lên, cả người dân, nhất là chủ doanh nghiệp cũng đã có cuộc sống dư dả, đầy đủ. Trong khi những cán bộ vốn "biến hình" thu vén cá nhân, có tài sản bất minh lại đủ hiểu "sức mạnh cuồng phong" của cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do Trung ương lĩnh xướng. Bởi thế, họ tìm mọi cách điều chỉnh, thích nghi, tạo hình hài cuộc sống phù hợp. Họ không thể hiện sự giàu có, thậm chí còn giả nghèo giả khổ. Trong khi đó, khối tài sản của không ít cán bộ rất lớn, được phân tán, biến hình ở nhiều nơi-đó được xem là “tài sản chìm”.

Chính vì vậy, cơ quan chức năng cần có giải pháp, biện pháp phù hợp để kiểm soát, xác thực kê khai; chú trọng phối hợp, liên thông giữa các cơ quan trong khâu xác minh; tăng cường các biện pháp xử lý mạnh mẽ, đủ sức răn đe đối với các tài sản bất minh, không chứng minh được nguồn gốc. Đặc biệt, cần sớm thực hiện “số hóa kê khai tài sản”. Tại Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XV, Quốc hội yêu cầu Chính phủ, Thanh tra Chính phủ tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức. Sau năm 2025, thực hiện chuyển đổi số 100% công tác kiểm soát tài sản, thu nhập bằng việc sử dụng công nghệ số, dữ liệu số. Đây được xem là bước tiến mới cả về lý luận và thực tiễn công tác kiểm soát tài sản, thu nhập, góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực. Bởi lẽ, khi số hóa các dữ liệu liên quan đến việc kê khai sẽ giúp lưu trữ tốt hơn và các cơ quan chức năng dễ dàng tìm kiếm, truy xuất các thông tin liên quan đến tài sản, thu nhập của cán bộ khi có yêu cầu.

Tuy nhiên, việc số hóa cũng chỉ là một giải pháp để kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, cần đồng thời thực hiện hiệu quả các giải pháp khác; quan trọng là hoàn thiện các chính sách, pháp luật trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội; chú trọng đẩy mạnh lộ trình vận hành, duy trì xã hội “không tiền mặt”; hạn chế việc sử dụng tiền mặt trong các giao dịch toàn xã hội, nhất là những giao dịch có giá trị lớn như mua nhà, bất động sản, xe ô tô, chứng khoán và các hoạt động đầu tư, cổ phần, góp vốn... của cán bộ. Đa dạng các kênh chính thống tiếp nhận thông tin của quần chúng, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội, khu dân cư nơi cán bộ, đảng viên cư trú. Đặc biệt là phải có biện pháp quản lý sự minh bạch nguồn gốc tài sản trong sở hữu và giao dịch toàn xã hội chứ không chỉ dừng lại ở việc kiểm soát tài sản, thu nhập đối với từng cán bộ, đảng viên.

Việc kê khai tài sản hiện nay được tiến hành chủ yếu theo “mùa vụ”, đến dịp, đợt thì đồng loạt kê khai, nhưng giải pháp này xem ra chưa phát huy cao nhất trách nhiệm và tính tự giác của cán bộ. Bởi thế, cần có thêm những quy định cụ thể khác mang lại hiệu quả sát thực, ví như việc biến động tài sản, thu nhập theo định mức cụ thể bắt buộc cán bộ phải kê khai bổ sung, báo cáo kịp thời với tổ chức chứ không chờ đến cuối năm, hoặc khi có yêu cầu của cơ quan chức năng. Trong khi đó, nhiều ý kiến đề xuất việc công khai kết quả kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ ở nơi sinh sống và làm việc một cách phù hợp. Chỉ có như vậy thì đồng nghiệp, cấp dưới và quần chúng mới nắm bắt thực chất thu nhập, biến động tài sản của cán bộ để giám sát hiệu quả.

Theo: Nguyễn Tấn Tuân

Thứ Hai, 9 tháng 1, 2023

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM THỰC THI CÔNG VỤ HIỆN NAY

Một là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, công chức về trách nhiệm, bổn phận, nghĩa vụ trong thi hành công vụ, về trách nhiệm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Vì vậy, các cấp ủy đảng cần triển khai thực hiện nghiêm các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khoá XII, ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 09/02/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về “tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tu tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”.

Hai là, chú trọng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp nhằm bảo đảm sự liêm chính và trách nhiệm của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ. Trước hết là sự tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức để xây dựng uy tín của người cán bộ, công chức cũng như năng lực thực thi công vụ. Đây là yêu cầu đòi hỏi mỗi cán bộ, công chức thường xuyên, tự giác thực hiện, phải coi tu dưỡng, rèn luyện đạo đức là nhu cầu “tự thân” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã yêu cầu: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác học tập, ra sức tu dưỡng, rèn luyện để không ngừng nâng cao trình độ nhận thức, trở thành những con người có văn hóa, có liêm sỉ”.

Ba là, nâng cao trình độ, năng lực thực thi công vụ. Năng lực thực thi công vụ được cấu thành bởi ba yếu tố: kiến thức (những tri thức có được qua đào tạo), kỹ năng (phương pháp, cách thức thực hiện công việc) và thái độ (tinh thần, ý thức trách nhiệm).

Nâng cao năng lực thực thi công vụ trước hết là nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ, công chức để bảo đảm tính chuyên nghiệp, khả năng làm việc trong môi trường hội nhập. Cùng với đó là bồi dưỡng các kỹ năng cần có trong thi hành công vụ và tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng đối với cán bộ, công chức để phát huy tinh thần trách nhiệm, thái độ tích cực, cầu thị trong thi hành công vụ.

Bốn là, thực hiện nghiêm túc trách nhiệm nêu gương. Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên: “Không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng. Mẫu mực về đạo đức, lối sống. Thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; trung thực, giản dị, thẳng thắn, chân thành”. Vì vậy, mỗi cán bộ, công chức phải trở thành tấm gương thực sự về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật, lề lối làm việc, tác phong công tác, chức trách, nhiệm vụ được giao.

Năm là, coi trọng công tác đánh giá cán bộ, công chức. Cần phải đánh giá cán bộ theo hướng: Xuyên suốt, liên tục, đa chiều, theo tiêu chí, bằng sản phẩm, thông qua khảo sát, công khai kết quả và so sánh với chức danh tương đương đã được xác định trong Nghị quyết số 26 NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

TRÁCH NHIỆM THỰC THI CÔNG VỤ - “SỨC ĐỀ KHÁNG” CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRƯỚC ÂM MƯU CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng tinh thần trách nhiệm của người cán bộ. Người giải thích: “Tinh thần trách nhiệm là gì? Là khi Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công. Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy, v.v. là không có tinh thần trách nhiệm”.

Trong Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 về việc ban hành quy chế công chức cũng thể hiện rõ yêu cầu của Người về trách nhiệm của công chức: “Công chức Việt Nam phải phục vụ nhân dân, trung thành với Chính phủ, tôn trọng kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm và tránh làm những việc có hại đến thanh danh công chức hay đến sự hoạt động của bộ máy Nhà nước”.

Hiện nay, Nhà nước ta đã ban hành các quy định của pháp luật về trách nhiệm thực thi công vụ của cán bộ, công chức qua đó xác định rõ trách nhiệm, bổn phận của công chức trước Nhân dân, trước Nhà nước; trong đó, điển hình là Luật cán bộ, công chức đã thông qua các quy định về nghĩa vụ công chức, về những việc công chức không được làm, cụ thể là: Cán bộ, công chức phải thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước; chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao; chấp hành quyết định của cấp trên. Đồng thời, công chức không được: Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc hoặc tham gia đình công; sử dụng tài sản của Nhà nước và của nhân dân trái pháp luật; lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn; sử dụng thông tin liên quan đến công vụ để vụ lợi; phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức.

Nếu cán bộ, công chức có hành vi thiếu trách nhiệm trong thực thi công vụ sẽ phải chịu trách nhiệm kỷ luật (theo quy định của Luật Cán bộ, công chức), hoặc phải bồi thường (theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước), thậm chí chịu trách nhiệm hình sự (theo quy định của Bộ luật hình sự).

Như vậy, có thể thấy, các quy định của pháp luật về trách nhiệm công vụ của cán bộ, công chức khá đầy đủ, rõ ràng. Đó là hành lang pháp lý quan trọng để cán bộ, công chức thực hiện nghiêm trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trong thi hành công vụ, hoàn thành bổn phận của mình trước Nhân dân.

Tuy nhiên, hiện nay có một bộ phận cán bộ, công chức còn tình trạng làm việc một cách cầm chừng, làm cho xong, cho hoàn thành công việc để cốt sao không phạm phải khuyết điểm, hay còn tình trạng “vô cảm”, “thờ ơ” của cán bộ, công chức trong giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII nhận định: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước”.

Trước thực trạng đó, nâng cao trách nhiệm thực thi nhiệm vụ, công vụ là yêu cầu cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Đó cũng là “liều thuốc” để tăng sức đề kháng của cán bộ, công chức trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch bởi: Trách nhiệm trong thực thi công vụ giúp củng cố niềm tin của cán bộ, công chức vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, sự quản lý của Nhà nước, tin tưởng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Niềm tin đó giúp cán bộ, công chức khắc phục tình trạng “vô cảm”, “thờ ơ”, “nhũng nhiễu” trong giải quyết công việc; là nền tảng để mỗi cán bộ, công chức tận tâm, tận lực với công việc.

Hơn thế nữa, nâng cao trách nhiệm thi hành công vụ là nâng cao khả năng nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch, tạo cho mỗi cán bộ, công chức có khả năng “miễn dịch” để có thái độ đúng đắn trong phản bác các quan điểm sai trái, các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động. Cán bộ, công chức nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công vụ cho thấy sự vững bền của chiếc cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Thông qua công việc đảm nhiệm, mỗi cán bộ, công chức “hiện thực hóa” chủ trương, chính sách, pháp luật đến Nhân dân và qua đó tạo niềm tin, “tiếp sức” cho nhân dân cùng chung tay bảo vệ Đảng, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, lợi ích quốc gia, dân tộc.

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2022

XÂY DỰNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Hiện nay, đất nước đang bước vào thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu, rộng. Tình hình mới đặt ra rất nhiều yêu cầu mới về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

Đã vậy, thực tế công tác xây dựng Đảng cho thấy còn “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””(1). Tình hình này đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ phải từng bước xây dựng được chuẩn mực đạo đức cách mạng và chuẩn mực ứng xử đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

Theo từ điển Tiếng Việt, chuẩn là “cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, để hướng theo đó mà làm cho đúng”, chuẩn mực là “chuẩn”(2). Chuẩn mực khác với nguyên tắc - “là điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”, hoặc nên tránh, không nên làm(3). Chuẩn mực cũng khác với quy tắc - “là những điều quy định mọi người phải tuân theo trong một hoạt động chung nào đó”(4).

Có thể hiểu chuẩn mực đạo đức cách mạng là những tiêu chuẩn đạo đức cách mạng và những tiêu chuẩn ứng xử đạo đức cách mạng có tính khuôn mẫu, mực thước được toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta công nhận dùng làm căn cứ, cơ sở để đánh giá và điều chỉnh hành vi ứng xử của cán bộ, đảng viên, là căn cứ để xác định việc nên làm và việc không nên làm, giúp cán bộ, đảng viên với tư cách chủ thể đạo đức có căn cứ, cơ sở điều chỉnh hành vi ứng xử đạo đức của mình hướng tới chân - thiện - mỹ và phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng. Khi còn sống, Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng khái niệm tư cách đạo đức của cán bộ, đảng viên - về thực chất cũng là chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên.

Chúng tôi cho rằng, những chuẩn mực đạo đức cách mạng mà Hồ Chủ tịch xây dựng vẫn còn nguyên giá trị trong giai đoạn hiện nay. Do vậy, xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên cũng là xây dựng những chuẩn mực đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là:

1. Trung với Tổ quốc, hiếu với nhân dân. Trung với Tổ quốc và hiếu với nhân dân là những chuẩn mực đạo đức đầu tiên cao nhất của người cán bộ cách mạng. Tuy nhiên: “ngày xưa trung là trung với vua. Hiếu là hiếu với cha mẹ mình thôi”; còn ngày nay, “trung là trung với Tổ quốc, hiếu là hiếu với nhân dân”(5). Trung với Tổ quốc là trung thành với lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc, của Ðảng, với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam, trung thành với đường lối đổi mới của Đảng. Tiêu chuẩn này cũng đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải quán triệt tinh thần “lợi ích của cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng... Nghĩa là phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, lên trước hết. Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc.

Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau”(6).

Hiếu với dân là không chỉ yêu thương cha mẹ mình, “mà còn phải thương cha mẹ người, phải cho mọi người đều biết thương cha mẹ”(7). Trung, Hiếu trong chuẩn mực đạo đức cách mạng gắn bó mật thiết với nhau và nhằm phục vụ mục tiêu độc lập dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân.

2. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

Cần, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai”(8); “Cần không phải là làm xổi. Nếu làm cố chết cố sống trong một ngày, một tuần, hay một tháng, đến nỗi sinh ốm đau, phải bỏ việc. Như vậy không phải là cần. Cần là luôn luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm cả đời. Nhưng không làm quá trớn. Phải biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng của mình, để làm việc cho lâu dài”(9). Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng yêu cầu Cần phải gắn với kế hoạch, nghĩa là phải tính toán cẩn thận, sắp đặt gọn gàng khi làm việc thì Cần mới có hiệu quả, lười biếng là kẻ thù to nhất của Cần. Người căn dặn: “Công việc bất kỳ to nhỏ, đều có điều nên làm trước, điều nên làm sau. Nếu không có kế hoạch, điều nên làm trước mà để lại sau, điều nên làm sau mà đưa làm trước, như thế thì sẽ hao tổn thì giờ, mất công nhiều mà kết quả ít”(10). Như vậy thì Cần cũng vô nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng yêu cầu “Cần và chuyên phải đi đôi với nhau. Chuyên nghĩa là dẻo dai, bền bỉ. Nếu không chuyên, nếu một ngày cần mà mười ngày không cần, thì cũng vô ích”(11).

Kiệm, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “Là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi. CẦN với KIỆM, phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người.

CẦN mà không KIỆM, “thì làm chừng nào xào chừng ấy”. Cũng như một cái thùng không có đáy; nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không.

KIỆM mà không CẦN, thì không tăng thêm, không phát triển được. Mà vật gì đã không tiến tức phải thoái. Cũng như cái thùng chỉ đựng một ít nước, không tiếp tục đổ thêm vào, lâu ngày chắc nước đó sẽ hao bớt dần, cho đến khi khô kiệt”(12). Kiệm đòi hỏi không chỉ tiết kiệm của cải, tiền bạc, nguyên vật liệu mà còn phải tiết kiệm cả thời giờ, tiết kiệm sức dân, sức người. “Thời giờ cũng cần phải tiết kiệm như của cải.

Của cải nếu hết, còn có thể làm thêm. Khi thời giờ đã qua rồi, không bao giờ kéo nó trở lại được...

Muốn tiết kiệm thời giờ, thì việc gì ta cũng phải làm cho nhanh chóng, mau lẹ. Không nên chậm rãi. Không nên “nay lần mai lữa”.

Tiết kiệm thời giờ là Kiệm, và cũng là Cần”(13).

Nhưng để Kiệm có kết quả thì phải khéo tổ chức công việc. Điều cần lưu ý là điểm mới trong quan niệm về Kiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn.

Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm.

Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm.

Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ”(14).

Liêm, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “là trong sạch, không tham lam”(15). “Chữ LIÊM phải đi đôi với chữ KIỆM. Cũng như chữ KIỆM phải đi đôi với chữ CẦN.

Có KIỆM mới LIÊM được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam.

Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là BẤT LIÊM.

Người cán bộ, cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư”(16), người buôn gian, bán lậu, người nhân lúc khó khăn mà bắt chẹt dân,v.v. đều là bất liêm. Người “Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm, là tham vật úy lạo. Gặp giặc mà rút ra, không dám đánh là tham sinh úy tử. Đều làm trái với chữ LIÊM”(17). Do vậy, cán bộ chẳng những phải thực hành CẦN, KIỆM mà còn phải thực hành chữ LIÊM trước để làm kiểu mẫu cho dân.

Chính, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà.

CẦN, KIỆM, LIÊM, là gốc rễ của CHÍNH. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải CHÍNH mới là người hoàn toàn...

Làm việc CHÍNH, là người THIỆN.

Làm việc TÀ, là người ÁC.

Siêng năng (cần), tần tiện (kiệm), trong sạch (liêm), CHÍNH là THIỆN.

Lười biếng, xa xỉ, tham lam, là tà, là ác”(18).

Chí công vô tư, là làm bất cứ việc gì cũng phải nghĩ về Tổ quốc, Dân tộc, Đảng trước hết. Người cán bộ, đảng viên “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc”(19). Nếu “Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ngày càng ít, mà những tính tốt... ngày càng thêm”(20). Những tính tốt ấy là Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm.

Với chuẩn mực ứng xử của người cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu:

1) Đối với mình, không được tự kiêu, tự đại; luôn luôn cầu tiến bộ; luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình; “Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý”(21). “Nếu chính mình tham ô bảo người ta liêm khiết có được không? Không được. Mình trước hết phải siêng năng, trong sạch thì mới bảo người ta trong sạch, siêng năng được”(22).

2) Đối với người, “Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới. Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới. Phải thực hành chữ Bác-Ái”(23).

3) Đối với việc, “Phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà.

Đã phụ trách việc gì, thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi, đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm. Bất kỳ việc to, việc nhỏ, phải có sáng kiến, phải có kế hoạch, phải cẩn thận, phải quyết làm cho thành công. Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh. Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm.

Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình), dù là việc nhỏ”(24). Như vậy, người cán bộ, đảng viên luôn phải đặt lợi ích của Tổ quốc, dân tộc, của Đảng lên trên hết.

Để xây dựng được những chuẩn mực đạo đức này cho cán bộ, đảng viên cần thực hiện các giải pháp cơ bản sau:

Mỗi cán bộ, đảng viên căn cứ vào vị trí, chức năng nhiệm vụ cụ thể của mình phải cụ thể hóa được các tiêu chí trung với nước, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và thái độ ứng xử với mình, với người và với việc cho phù hợp.

Phát huy vai trò của nhân dân, trong xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Bởi lẽ, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn “so với số nhân dân thì số đảng viên chỉ là tối thiểu, hàng trăm người dân mới có một người đảng viên. Nếu không có nhân dân giúp sức, thì Đảng không làm được việc gì hết… Rời xa dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại”(25). Hơn nữa, nếu chúng ta lôi cuốn được nhân dân tham gia kiểm tra, giám sát, phòng, chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên thì việc xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên sẽ hiệu quả hơn.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng với chủ trương “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các quy định, quy chế nhằm giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát”(26) và bảo đảm đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

Phát huy tinh thần tích cực, chủ động và thực hiện nghiêm túc quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương trong xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng. Mỗi đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa những tấm gương sáng về đạo đức cách mạng. Đồng thời, tăng cường đấu tranh chống các quan điểm, hành vi phản đạo đức, phi đạo đức. Cổ vũ, biểu dương các gương sáng đạo đức tạo ảnh hưởng sâu, rộng trong Đảng và ngoài xã hội. Thực hiện tốt các giải pháp này sẽ từng bước xây dựng được chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

GS, TS TRẦN VĂN PHÒNG