Hiển thị các bài đăng có nhãn cải cách. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn cải cách. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2022

CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐÃ VÀ ĐANG ĐỔI MỚI, CẢI CÁCH THÀNH CÔNG, TIẾP TỤC VỮNG BƯỚC ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Ở Trung Quốc, sau hơn 40 năm cải cách mở cửa (1979- 2018) đã thu được những kỳ tích. Năm 2018, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc tăng 33,5 lần, ước khoảng 12.300 tỷ USD, chiếm 15% GDP toàn cầu, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, sau Mỹ. Giai đoạn 1978 - 2017, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm đạt 9,5%, cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng trung bình hằng năm của nền kinh tế thế giới là 2,9%. Trong giai đoạn 2012 - 2016, hằng năm, kinh tế Trung Quốc đóng góp 34% vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Năm 1978, GDP bình quân đầu người ở Trung Quốc mới chỉ ở mức 156 USD, là một trong những nước nghèo nhất thế giới, nhưng đến năm 2017, GDP bình quân đầu người đã đạt 8.800 USD, được xếp vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Số người nghèo ở Trung Quốc giảm từ 770 triệu người năm 1978 xuống còn 30,46 triệu người năm 2017, tức tỷ lệ người nghèo giảm từ 97,5% năm 1978 xuống mức 3,1% năm 2017. Trong tương lai không xa, có thể dự đoán các chỉ số GDP, PPP theo GDP của nước này sẽ vượt Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) cộng lại. Trung Quốc hiện có 317 tỷ phú và hiện đứng thứ hai thế giới sau Mỹ về chỉ số này.

Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới, đã thu được những thành tựu to lớn, toàn diện: Nền kinh tế phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP năm 2020 đạt 342,7 tỉ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỉ USD vào năm 2020. Tỉ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều. Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định, qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: “Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay".

Cải cách kinh tế ở Lào, kết quả bước đầu của chính sách “cập nhật hoá mô hình kinh tế” ở Cuba,… cũng  đã đưa các nước này vượt qua được giai đoạn khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, đập tan mọi âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực thù địch, tạo được những bước đột phá phát triển, là những bằng chứng rõ ràng về sự phục hồi của CNXH, góp phần thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới. “… tương lai của chủ nghĩa xã hội phụ thuộc ở mức độ quyết định vào những cuộc cải cách của chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc và Việt Nam”. Đồng thời, sự trỗi dậy mạnh mẽ của phong trào cánh tả ở nhiều nước Mỹ Latinh trong những thập niên qua là bằng chứng sống động về tính khoa học, cách mạng của sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Thực tế, các thế lực thù địch càng điên cuồng tiến công hòng phủ nhận, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, thì càng chứng tỏ giá trị và sức sống của học thuyết Mác - Lênin. Quy luật tồn tại, phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin đòi hỏi, trong suốt quá trình tồn tại, phát triển của mình phải thường xuyên đấu tranh chống lại các trào lưu tư tưởng phản khoa học, phản động đó. Thay cho lời kết xin trích khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc. Không có lực lượng gì ngăn trở được lịch sử loài người tiến lên. Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển”. Và khẳng định của Đảng ta: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”./.

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2020

THỰC HIỆN CẢI CÁCH QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Cải cách quản trị doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay cần hướng vào hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về tổ chức, mô hình hoạt động của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, đảm bảo kinh doanh lành mạnh theo cơ chế thị trường, như: giảm tối đa tính độc quyền của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước; các doanh nghiệp nhà nước phải được tổ chức lại theo mô hình công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn phù hợp với Luật Doanh nghiệp năm 2014. Hoàn thiện mô hình công ty mẹ - công ty con của các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước. Áp dụng chế độ quản trị tiên tiến phù hợp với kinh tế thị trường, khuyến khích áp dụng hệ thống quản trị doanh nghiệp hiện đại cho các tập đoàn và doanh nghiệp.

Thứ Ba, 25 tháng 9, 2018

MỤC TIÊU MỚI VỀ CẢI CÁCH CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG ĐÔI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC, LỰC LƯỢNG VŨ TRANG VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP HIỆN NAY

Nghị quyết xác định mục tiêu tổng quát: Xây dựng hệ thống chính sách tiền lương quốc gia một cách khoa học, minh bạch, phù hợp với tình hình thực tiễn đất nưốc, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trưòng định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập quốc tế, xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ; tạo động lực giải phóng sức sản xuất, nâng cao năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực; góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phòng, chống tham nhũng, lãng phí; bảo đảm đòi sống của người hưỏng lương và gia đình người hưỏng lương, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
Nghị quyết xác định mục tiêu cụ thể theo hai giai đoạn:
(1) Từ năm 2018 đến năm 2020
a) Đối với khu vực công
- Tiếp tục điều chỉnh tăng mức lương cơ sỏ theo Nghị quyết của Quốc hội, bảo đảm không thấp hơn chỉ số giá tiêu dùng và phù hợp vổi tốc độ tăng trưỏng kinh tế; không bổ sung các loại phụ cấp mới theo nghề.
- Hoàn thành việc xây dựng và ban hành chế độ tiền lương mới theo nội dung cải cách chính sách tiền lương, gắn vói lộ trình cải cách hành chính, tinh giản biên chế; đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; đổi mới đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị quyết của Trung ương.
b) Đối với khu vực doanh nghiệp
- Thực hiện điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu vùng phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội, khả năng chi trả của doanh nghiệp để đến năm 2020 mức lương tối thiểu bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ.
- Thực hiện thí điểm quản lý lao động, tiền lương đối với doanh nghiệp nhà nước theo các nội dung của Đề án cải cách chính sách tiền lương được phê duyệt.
(2) Từ năm 2021 đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030
a) Đối với khu vực công
- Từ năm 2021, áp dụng chế độ tiền lương mới thông nhất đối với cán bộ, công chức, viên chức, lục lượng vũ trang trong toàn bộ hệ thống chính trị.
- Năm 2021, tiền lương thấp nhất của cán bộ công chức, viên chức bằng mức lương thấp nhất bình quân các vùng của khu vực doanh nghiệp.
- Định kỳ thực hiện nâng mức tiền lương phù hợp với chỉ số giá tiêu dùng, mức tăng trưởng kinh tế và khả năng của ngân sách nhà nước.
- Đến năm 2025, tiền lương thấp nhất của cán bộ, công chức viên chức cao hơn mức lương thấp nhất bình quân các vùng cửa khu vực doanh nghiêp.
- Đến năm 2030, tiền lương thấp nhất của cán bộ, công chức, viên chức bằng hoặc cao hơn mức lương thấp nhất của vùng cao nhất của khu vực doanh nghiệp.
b) Đối với khu vực doanh nghiệp
- Từ năm 2021, Nhà nước định kỳ điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng Tiền lương quốc gia. Các doanh nghiệp được thực hiện chính sách tiền lương trên cơ sở thương lượng, thỏa thuận giữa người sử dụng lao động với người lao động và đại diện tập thể người lao động; Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào chính sách tiền lương của doanh nghiệp.
- Thực hiện quản lý lao động, tiền lương trong doanh nghiệp nhà nước theo phương thức khoán chi phí tiền lương gắn với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đến năm 2025 và tiến tới giao khoán nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vào năm 2030.

Thứ Sáu, 13 tháng 10, 2017

Phơi bày bộ mặt thật của “Kiến nghị cải cách chính trị”

Trước mỗi sự kiện chính trị, lịch sử lớn của dân tộc, đất nước, các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính tri, những kẻ tự xưng là “người bất đồng chính kiến”, những người “đấu tranh dân chủ, nhân quyền”, “chống độc tài đảng trị”... lại tìm cách phát tán các quan điểm chính trị xấu, độc, xuyên tạc, bôi nhọ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm chuyển hóa chế độ sang con đường “dân chủ”, “nhân quyền” ngoại nhập.
Trước ngày khai mạc Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII), nhiều sự kiện chính trị-xã hội “nóng”, nhất là trên lĩnh vực chống tham nhũng đã tạo hiệu ứng dư luận tích cực, như: vụ Trịnh Xân Thanh ra đầu thú; vụ đại án OceanBank với bản án Nguyễn Xuân Sơn bị tử hình, Hà Văn Thắm chịu án chung thân (HĐXX còn kiến nghị điều tra tiếp cựu Tổng Giám đốc OceanBank vì cho rằng ông Nguyễn Xuân Sơn bất hợp tác khi trả lời về những người đã nhận “chăm sóc” từ khoản tiền 246 tỷ đồng); vụ cựu lãnh đạo Ngân hàng Sacombank Trầm Bê cùng hàng loạt người bị bắt do gây thất thoát 6.000 tỷ đồng... 
Cùng với đó, Ủy ban Kiểm tra Trung ương công bố kết luận kiểm tra và đề nghị Trung ương xem xét kỷ luật ông Nguyễn Xuân Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng nhiệm kỳ 2015-2020 cũng như quyết định thi hành kỷ luật một số cán bộ, cựu lãnh đạo có vi phạm nghiêm trọng khác.
Trước quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc chống tham nhũng, trong khi cán bộ, đảng viên và nhân dân vui mừng, phấn khởi thì một số kẻ xấu cho đây là cơ hội để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta. 
Các đối tượng viết bài tán phát trên mạng, luận điệu nham hiểm: “Thực chất cuộc đấu tranh chống tham nhũng chỉ là “thanh trừng phe phái” trong Đảng”... Mới đây, có người vốn là cán bộ đã từng giữ một số cương vị trọng trách, viết bài phát tán trên mạng, gửi cho nhiều hãng thông tấn báo chí phương Tây bản “Kiến nghị cải cách chính trị” với nhiều nội dung sai trái.
Bản “Kiến nghị” ngỏ (!) với Tổng bí thư được BBC rút tít: “đây là bản “kiến nghị tâm huyết”, kêu gọi lãnh đạo Đảng ra quyết định “khép lại quá khứ”, “huy động toàn đảng” và “dựa vào trí tuệ nhân dân cả nước” tiến hành “một cuộc cải cách chính trị không thể trì hoãn”.  Vậy nội dung của những “ kiến nghị” đó ra sao, bản chất tư tưởng chính trị của những kiến nghị đó là gì?
(1) “Giai đoạn một”, bản “kiến nghị” nêu Đảng “tự thay đổi”, “cải cách” “về đường lối, tổ chức và phương thức hoạt động”, trong đó “đảng chuyển sang hoạt động theo phương thức “đảng cầm quyền” trong thể chế chính trị “pháp quyền dân chủ” (nói cách khác là họ muốn xóa bỏ Điều 4, Hiến pháp 2013 về vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam), lấy xã hội dân sự làm “địa bàn hoạt động chủ yếu”... duy trì cải cách nhưng lưu ý không để tạo ra “khoảng trống quyền lực”.
Những ai quan tâm đến những “kiến nghị” trước Đại hội XII của những cá nhân, tổ chức mạng gồm “người bất đồng chính kiến”, trong đó người bị kỷ luật khai trừ hoặc tự bỏ Đảng thì nội dung kiến nghị nói trên hoàn toàn không có gì mới, vẫn là xóa bỏ vai trò lãnh đạo cầm quyền duy nhất của Đảng ta. Sự khác biệt chỉ là câu chữ mềm dẻo kiểu lấy lại tên cũ là Đảng Lao độngViệt Nam - Đảng “tự thay đổi”, không tạo ra “khoảng trống quyền lực” (!). Có thể nói đây thực chất chỉ là thủ đoạn chính trị, hòng lừa mị người dân.
(2) “Giai đoạn hai”, ông ta viết: “thực hiện tiếp cải cách… với những thay đổi cần thiết về tổ chức, nhân sự” và đặc biệt là “ban hành dự thảo Hiến pháp mới”, trong đó có “ban hành dự thảo và thông qua luật về các đảng phái chính trị” nhằm làm “cơ sở pháp lý” cho hoạt động của “mọi đảng phái chính trị và đoàn thể xã hội”.
Mới xem qua nội dung của “giai đoạn 2”, người ta có cảm nhận rằng chẳng có gì quan trọng, song đây lại là một mưu đồ chính trị đối lập triệt để và khá căn cơ. Đó là “kiến nghị” thay đổi Hiến pháp, về bản chất là một cuộc đảo chính “mềm”. 
Một khi Hiến pháp hiện hành đã bị xóa bỏ thì không chỉ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng bị xóa bỏ, mà mọi thành tựu, các giá trị Việt Nam hình thành trong lịch sử cách mạng của dân tộc ta trong thế kỷ XX, bao gồm chế độ xã hội, Nhà nước, cơ chế, chính sách và nhân sự trong hệ thống chính trị hiện nay cũng không còn. Điều này tất yếu sẽ dẫn đến những những đảo lộn chính trị - xã hội khôn lường về tất cả các mặt, từ chính trị, kinh tế đến văn hóa xã hội.
(3) “Giai đoạn cuối cùng”, theo tác giả bản “Kiến nghị” bao gồm các hoạt động như thông qua Hiến pháp mới, thực hiện tiếp “mọi bước đi của cải cách”, hoàn thiện “những luật pháp và thể chế kinh tế”. Theo tác giả bản “Kiến nghi”, “thước đo nội dung và tiến triển của cải cách ở giai đoạn này là “thành tựu phát triển kinh tế”và “sự ra đời của thể chế chính trị” (!).
Có thể nói, nội dung của “giai đoạn ba” chẳng có gì đáng phân tích, ngoài sự thiếu tự tin của tác giả khi ông ta đưa ra nội dung về “thước đo” cải cách. Tất nhiên có kẻ cùng hội cùng thuyền đã khen rằng: tác giả là một người trung thực và “tâm huyết” với dân tộc (về “thước đo” của mà họ đã đưa ra)!
Trong phần cuối bản “Kiến nghị”, họ còn giở trò nhấn mạnh nhiều điểm, như: chuyển đổi Đảng Cộng sản Việt Nam “thành đảng của dân tộc”; “chuẩn bị sớm” một chiến lược cải cách để thông qua tại một đại hội đảng bất thường; tổ chức nhóm giúp việc tạm thời để chuẩn bị nội dung “cải cách” và dự liệu cuộc “cải cách” này sẽ diễn ra “trong hòa bình theo tinh thần khép lại quá khứ và không hồi tố”! Có thể nói, trong phần trên, người viết cố thuyết phục cán bộ, đảng viên con đường “cải cách”. Tuy nhiên, thực chất, bản “Kiến nghị” đã đưa ra những quan điểm, nội dung hết sức sai trái, bịp bợm. 
Theo tác giả bản “kiến nghị” này thì từ đây (sau khi cải cách như họ đưa ra), Đảng ta mới trở thành đảng của dân tộc. Thật nực cười! Vậy từ trước tới nay, Đảng ta vì ai hay chỉ vì bản thân Đảng? Thành công trong công cuộc giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng Tổ quốc ngày càng phát triển và có uy tín ngày càng cao trong quan hệ quốc tế đã trả lời câu hỏi đó. Hơn nữa, ông ta viết: “cuộc cải cách sẽ không có “hồi tố”- một từ người ta chỉ dùng trong tố tụng, cho thấy nhận thức rất ấu trĩ, thấp kém. Chỉ cần mấy dòng trên đây đã cho chúng ta thấy: Trí tuệ thấp kém, thủ đoạn chính trị và nhân cách đê tiện của người viết “kiến nghị”.

Không phủ nhận rằng xã hội ta đang đứng trước những vấn đề nảy sinh, như: tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị các cấp là nghiêm trọng, như Nghị quyết TW 4 (khóa XII) đã chỉ ra. Song con đường để vượt qua những thách thức đó chỉ có thể dựa trên khối đại đoàn kết toàn Đảng, toàn dân và niềm tin sắt đá vào con đường XHCN mà Cương lĩnh (Đại hội XI) đã xác định: Đó là xây dựng và phát triển chế độ “Dân chủ XHCN”, “Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”.
Nguồn: cand.com.vn