Hiển thị các bài đăng có nhãn xã hội chủ nghĩa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn xã hội chủ nghĩa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2024

SỰ RA ĐỜI CỦA HỆ THỐNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA NHƯ THẾ NÀO?

 

Sự ra đời của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thành công đã dẫn đến sự ra đời của một kiểu nhà nước mới - Nhà nước xã hội chủ nghĩa và sau đó thành lập Liên bang Cộng hòa chủ nghĩa xã hội Xô viết (Liên Xô) vào năm1922. Thắng lợi của Liên Xô trong chiến tranh thế giới lần thứ hai đã bảo vệ được chế độ xã hội chủ nghĩa, khẳng định tính ưu việt và sức sống của chủ nghĩa xã hội, làm thay đổi căn bản cục diện thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng nhiều nước nổ ra và thắng lợi.

 Sau chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới ra đời bao gồm các nước Liên Xô, Cộng hòa Dân chủ Đức, Bungari, Ba Lan, Hunggari, Rumani, Tiệp Khắc, Anbani, Mông Cổ, Trung Quốc, Triều Tiên, Việt Nam, Cuba. Năm 1960, tại Mátxcơva, Hội nghị 81 Đảng Cộng sản và công nhân của các nước trên thế giới đã ra tuyên bố và khẳng định: Đặc điểm chủ yếu của thời đại chúng ta là hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đang trở thành nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội loài người.      

Từ tháng 11 năm 1917 cho đến tháng 8 năm 1991, hệ thống xã hội chủ nghĩa đã tồn tại hơn 70 năm ở Liên Xô, hơn 40 năm ở các nước Đông Âu (kể từ năm 1945). Chủ nghĩa xã hội hiện thực thế giới đã trải qua một thời kỳ phát triển rực rỡ, có những thành tựu nổi bật là:

Chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa được hình thành, phát triển, đã xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột, từng bước đưa nhân dân lao động lên địa vị làm chủ xã hội. Đảng cộng sản giữ vai trò lãnh đạo toàn xã hội, nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa từng bước được xây dựng, hoàn thiện; đồng thời thúc đẩy phong trào đấu tranh giành quyền tự do, dân chủ trên toàn thế giới.

Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã đạt được sự phát triển mạnh mẽ về tiềm lực kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội trên quy mô lớn với trình độ lực lượng sản xuất hiện đại, bảo đảm ngày càng tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Với sự lớn mạnh toàn diện, chủ nghĩa xã hội hiện thực ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống chính trị thế giới, đóng vai trò quyết định đối với sự sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc và thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.

Về khoa học và công nghiệp quốc phòng chủ nghĩa xã hội hiện thực có bước tiến nhảy vọt, tạo được thế cân bằng về quân sự, phá vỡ thế độc quyền hạt nhân của Mỹ, đủ sức răn đe âm mưu chủ nghĩa đế quốc dùng chiến tranh hạt nhân để hủy diệt, bảo vệ nền hòa bình thế giới.

Thứ Sáu, 23 tháng 2, 2024

NHẬN THỨC ĐÚNG NGUYÊN NHÂN TAN RÃ CỦA LIÊN XÔ VÀ CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐÔNG ÂU TRƯỚC CÁC LUẬN ĐIỆU CỦA THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Sự tan rã của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu diễn ra vào cuối thập niên 1980 – đầu thập niên 1990 được coi là là thảm họa địa chính trị tồi tệ nhất thế kỷ XX, làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin bị thách thức nghiêm trọng từ cả bên ngoài và bên trong, gây xáo trộn mạnh về chính trị - tư tưởng đối với các Đảng Cộng sản, Đảng Công nhân, đội ngũ cán bộ, đảng viên và một bộ phận không nhỏ quần chúng nhân dân, đặc biệt là giới trẻ. Lợi dụng tình hình đó, các thế lực phản động đã ra sức công kích, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội bằng nhiều luận điệu tiêu cực như: chủ nghĩa xã hội là cái thai đẻ non của lịch sử nên tất yếu sụp đổ, chủ nghĩa xã hội không còn phù hợp với thời đại mới nên đã thất bại, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đã chứng minh tính chất sai lầm ảo tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin trong thực tế..v.v. Vì vậy, nhận thức đúng đắn nguyên nhân dẫn đến sự tan rã của Liên Xô và Đông Âu là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

Hai sáu năm đã trôi qua, đến nay chúng ta đã có cái nhìn đầy đủ và đúng đắn về sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu, đó là kết quả tổng hợp của những nguyên nhân khách quan và chủ quan mang lại, trong đó nguyên nhân chủ quan đóng vai trò quyết định.

Thứ nhất, việc duy trì trong một thời gian dài mô hình quản lý tập trung, kế hoạch, bao cấp, đã khiến chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu trở thành xơ cứng, giáo điều, là nguồn gốc tình trạng trì trệ và khủng hoảng kinh tế - xã hội ở các nước này trong thập niên 1980 đến 1990. Trong khi các nước tư bản từ sau cuộc khủng hoảng năng lương thập niên 1970 đã không ngừng cải cách, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, bỏ xa Liên Xô và Đông Âu về nhiều mặt, thì các nhà lãnh đạo ở liên Xô và Đông Âu vẫn chủ quan, kiêu ngạo tự cho mô hình chủ nghĩa xã hội của mình là đúng đắn, không có gì sai sót, không tiến hành sửa chữa, thậm chí còn áp nó đó lên các nước xã hội chủ nghĩa khác.

Thứ hai, khi nhận thức được sự trì trệ, Liên Xô đã lún sâu vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, nên vội vã tiến hành cải tổ một cách ồ ạt trên cả bốn mặt: tự do hóa kinh tế, dân chủ hóa chính trị, phi ý thức hệ tư tưởng và mở cửa ra bên ngoài. Chính đường lối phiêu lưu, mạo hiểm này đã làm bùng nổ và lan tràn đến mức không thể kiểm soát nổi các mâu thuẫn chính trị, kinh tế, xã hội, tôn giáo, sắc tộc, các xu hướng ly tâm, cấp tiến hóa, cực đoan hóa... Đặc biệt, việc vi phạm một cách có hệ thống các nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa xã hội của ban lãnh đạo Liên Xô đứng đầu là Gorbachev trong quá trình cải tổ, nhất là việc "tự nguyện" xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản với toàn xã hội, không chỉ tạo điều kiện cho các lực lượng phản động ngóc đầu dậy chống đối Đảng Cộng sản, mà còn hủy hoại triệt để cơ cấu quyền lực của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, khiến cho xã hội lâm vào rối loạn, mất phương hướng, tan rã là điều không thể tránh khỏi.

          Thứ ba, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động đã tiến hành một cách toàn diện các hoạt động chống phá Liên Xô, Đông Âu và các nước xã hội chủ nghĩa, bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn vừa tinh vi, vừa trắng trợn, kết hợp gây sức ép bên ngoài với thúc đẩy tự chuyển biến ở bên trong như: khơi mào cho một cuộc chạy đua vũ trang tốn kém; liên kết tiến hành bao vây, cô lập phá hoạt kinh tế, ngoại giao; đẩy mạnh cuộc chiến văn hóa-tư tưởng, truyền bá giá trị Mỹ; gây dựng lực lượng đối lập, mua chuộc bộ phận cán bộ lãnh đạo cao cấp... Đặc biệt, chính Mỹ đã bắt tay với các nước thuộc Tổ chức xuất khẩu dầu mỏ tiến hành hoạt động phá giá dầu mỏ, làm cho ngân sách Liên Xô thất thu hàng tỷ đô la từ việc xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt, giáng một đòn nặng nề vào nền kinh tế Liên Xô vốn đang đắm chìm trong khủng hoảng kinh tế - xã hội...

Như vậy, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu là kết quả tất yếu từ quá trình tích tụ những sai lầm, khuyết điểm không được sửa chữa, khắc phục đúng đắn trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước này, với các hoạt động chống phá điên cuồng của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đứng đầu là Mỹ, chứ không phải như các luận điệu của các thế lực phản động đã và đang tuyên truyền hiện nay. Sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội, nói cách khác đó là sự thất bại của một cách thức, một hướng đi xây dựng chủ nghĩa xã hội trong tiến trình đi lên chủ nghĩa xã hội của loài người mà thôi, nó phản ánh tính chất quanh co phức tạp, khi tiến, khi lùi của lịch sử. Những bài học thành công trong quá trình đổi mới, cải cách ở Việt Nam, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa còn lại là minh chứng hùng hồn cho sức sống của chủ nghĩa xã hội. Sự phục hồi của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, sự xuất hiện phong trào cánh tả Mỹ latinh và cuộc đấu tranh của nhân loại để thực hiện mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội đã phản ánh xu thế tất yếu của loài người là tiến lên lên chủ nghĩa xã hội, đúng như nhận định của Đảng ta vào thời điểm năm 1991, khi chủ nghĩa xã hội hiện thực rơi vào hoàn cảnh khó khăn nhất: "lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, nhưng loài người cuối cùng nhất định tiến tới chủ nghĩa xã hội, vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử". 

Thứ Sáu, 15 tháng 12, 2023

PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA - CHỦ TRƯƠNG ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG TA

Kinh tế thị trường là thành quả của văn minh nhân loại, được Đảng và Nhà nước Việt Nam vận dụng một cách đúng đắn, khách quan, khoa học, sáng tạo, trở thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó nhấn mạnh vị trí, vai trò của con người chính là động lực và cũng là mục tiêu cao nhất của sự phát triển. Song, các thế lực thù địch cho rằng, không có nền kinh tế nào là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; gán ghép định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường là chủ quan, duy ý chí, không có cơ sở khoa học, không thuyết phục; nếu bỏ cái đuôi định hướng xã hội chủ nghĩa thì nền kinh tế đất nước còn phát triển nhanh hơn, hiệu quả hơn; kinh tế thị trường là của chủ nghĩa tư bản, vận động theo các quy luật của chủ nghĩa tư bản, không thể dung hòa và kết hợp với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, với định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế của các quốc gia vì giữa chúng có sự mâu thuẫn, đối lập. Nếu ghép định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường thì chẳng khác nào râu ông nọ cắm cằm bà kia, ghép nước với lửa, hai củ khoai bỏ trong một rọ… Họ cho rằng, Việt Nam phải chuyển sang kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Thực tế, các thế lực thù địch đang cố tình xuyên tạc bản chất tốt đẹp của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

1. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đây, thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế – xã hội vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên những nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Tức là, có hai nhóm nhân tố cơ bản tồn tại trong nhau, kết hợp với nhau và bổ sung cho nhau. Đó là, nhóm nhân tố của kinh tế thị trường và nhóm nhân tố của xu hướng mới đang vận động, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó, nhóm thứ nhất đóng vai trò động lực thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển nhanh, hiệu quả; nhóm thứ hai đóng vai trò hướng dẫn, chế định sự vận động của nền kinh tế theo những mục tiêu đã xác định, bổ sung những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của thị trường, hoàn thiện mô hình chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta vừa mang những đặc trưng chung của kinh tế thị trường, vừa mang tính đặc thù, đó là định hướng xã hội chủ nghĩa. Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường không phủ nhận các quy luật kinh tế thị trường, mà là cơ sở để xác định sự khác nhau giữa kinh tế thị trường ở nước ta với các nước khác, cụ thể là giải quyết tốt các vấn đề xã hội, nói cách khác là phát triển kinh tế thị trường để thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Điều này khẳng định bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

2. Bên cạnh tính ưu việt của mô hình này, thì kinh tế thị trường vẫn còn tồn tại những hạn chế cố hữu, đó là: gia tăng tình trạng tham nhũng; bội chi ngân sách; cạnh tranh gay gắt, “cá lớn nuốt cá bé”; mâu thuẫn tổng cung và tổng cầu; gia tăng số lượng doanh nghiệp phá sản; gia tăng tình trạng thất nghiệp, lạm phát; bất bình đẳng, gia tăng khoảng cách giàu nghèo; tài nguyên bị cạn kiệt; môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng… Những hạn chế cố hữu này, bản thân kinh tế thị trường không những không thể tự khắc phục được, mà còn gia tăng theo thời gian. Để khắc phục chúng, không có cách nào khác tốt hơn bằng sự định hướng và can thiệp của Nhà nước xã hội chủ nghĩa thông qua đường lối, chủ trương, cơ chế, chính sách, pháp luật và lực lượng vật chất Nhà nước có trong tay để định hướng, điều tiết nền kinh tế. Do vậy, khi thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ khắc phục được những hạn chế cố hữu trên. Đồng thời, bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường, nhân lên tính nhân văn, nhân đạo, ưu việt, cao cả của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Việc các thế lực thù địch bôi nhọ, vu cáo, trắng trợn, xuyên tạc nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đi ngược lại chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và lợi ích nguyện vọng, chính đáng của nhân dân ta. Do đó, chúng ta cần kiên quyết đấu tranh vạch trần bộ mặt phản động của chúng để nhân dân hiểu rõ và cảnh giác. 

Chủ Nhật, 13 tháng 8, 2023

CẦN TIẾP TỤC BẢO VỆ, BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC TỪ THỰC TIỄN PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG, THỰC TIỄN CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Chủ nghĩa xã hội khoa học là lý luận trực tiếp cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức có sức sống trường tồn luôn được bổ sung bởi thực tiễn cách mạng thế giới, nhất là thực tiễn - phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, thực tiễn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Với lý luận khoa học và cách mạng do bản chất nội tại của nó, với những bước tiến thăng trầm của lịch sử, dù tiếp cận chủ nghĩa xã hội là một học thuyết, chủ nghĩa xã hội là một phong trào hay chủ nghĩa xã hội là một chế độ thì nó thống nhất với nhau, gắn bó mật thiết với nhau. Thực tiễn phong trào cách mạng của giai cấp công nhân được biểu hiện ở những mức độ khác nhau, nhưng về căn bản hiện nay, quan hệ giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản về địa vị kinh tế - xã hội là không thay đổi. Điều đó, chứng minh giai cấp công nhân có sứ mệnh thủ tiêu giai cấp tư sản, thiết lập một xã hội mới xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

Từ bản chất nội tại và sức sống của chủ nghĩa xã hội khoa học, vấn đề tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học là nguyên tắc sống còn đối với những người xã hội chủ nghĩa, đúng như V.I.Lênin đã căn dặn chúng ta rằng: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”.

Thực tiễn biến đổi thì chủ nghĩa xã hội khoa học cần phải không ngừng được bổ sung, phát triển, gắn liền với đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bởi vì, “Trước đây, khi còn Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam dường như không có gì phải bàn, nó mặc nhiên coi như đã được khẳng định. Nhưng từ khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt”, thừa cơ, “giậu đổ bìm leo” “…các nhà tư tưởng và lý luận chống cộng và xã hội - dân chủ cũ và mới cả những kẻ hôm qua đã từng là cộng sản hôm nay đang “sám hối” về sự “khờ dại” của mình, ra sức bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, bêu xấu lý tưởng xã hội chủ nghĩa, hết lời ca ngợi chủ nghĩa tư bản. Trong con mắt của họ, thế kỷ XXI là thế kỷ toàn thắng và phồn vinh của chủ nghĩa tư bản trên toàn thế giới”, trực tiếp những luận điểm tập trung chống phá là chúng phủ nhận học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội.

Bảo vệ, bổ sung và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học hiện nay cần gắn liền với phòng chống về suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ đảng viên và nhân dân. Mỗi cán bộ đảng viên cần thật sự có niềm tin khoa học vào chủ nghĩa xã hội khoa học, niềm tin vào phong trào cách mạng và tiềm năng hiện thực của nó. Đẩy mạnh nghiên cứu, học tập, nắm vững lý luận, thường xuyên cập nhật bổ sung những nội dung mới làm phong phú, sâu sắc thêm lý luận phấn đấu “Từ nay đến năm 2030, tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống các quan điểm về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nâng cao năng lực khoa học phục vụ phát triển công tác lý luận, bảo đảm cung cấp các luận cứ khoa học, lý luận vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đồng thời, đấu tranh quyết liệt với những biểu hiện lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, góp phần làm phong phú, sâu sắc thêm chủ nghĩa xã hội khoa học - bộ phận cấu thành lôgic, biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin./.

 




Thứ Tư, 12 tháng 10, 2022

LUẬN ĐIỆU PHẢN NHÂN VĂN CỦA ĐỖ NGÀ

Đã từ lâu, được sự tiếp tay, tiếp sức của các thế lực thù địch, các tổ chức phản quốc lưu vong, Đỗ Ngà từ ngộ nhận, ảo tưởng đến ngông cuồng, điên loạn chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta. Mới đây, trên trang Hung-viet.org đã đăng tải bài viết “Lênin và di sản tàn phá mà ông ta để lại” của Đỗ Ngà với nội dung xuyên tạc, phủ nhận thành quả cách mạng mà Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa đã mang lại cho nhân dân Liên Xô và hòa bình, độc lập, tự do của các dân tộc trên thế giới.

Đỗ Ngà phủ nhận giá trị nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa

Trong những ngày tháng năm lịch sử, khi tất cả những người yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới đang hân hoan chào mừng ngày Chiến thắng phát xít, tri ân những thành quả cách mạng mà chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô mang lại cho nhân loại thì Đỗ Ngà lại đưa ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận những giá trị tốt đẹp đó. Bằng cái nhìn thiển cận, phản nhân văn của mình, y đã xuyên tạc, bôi đen, phủ nhận lịch sử khi cho rằng “Lênin đã gieo rắc thảm họa cho nhân loại”?!. Bên cạnh đó, y còn đưa ra những luận điệu vu khống, bóp méo những chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Đảng Cộng sản Liên Xô (Đảng Bônvêvic) và những người lãnh đạo của Đảng qua các thời kỳ. Mục đích của y là phủ nhận những thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Thế nhưng, thực tế đã chứng minh luận điệu xuyên tạc của y là hoàn toàn sai sự thật.

Chúng ta biết rằng, vì mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng con người những người Cộng sản Liên Xô đã thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp để hiện thực hóa khát vọng ngàn đời của người dân lao động: tư liệu sản xuất thuộc về nhân dân. Trước Cách mạng Tháng Mười năm 1917, hầu như tất cả ngành công nghiệp chủ yếu của Nga nằm trong tay tư bản nước ngoài và tư liệu sản xuất nằm trong tay giai cấp tư sản; giai cấp công nhân, nông dân Nga bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất; đời sống của nhân dân hết sức khổ cực. Trước tình hình đó, V.I.Lênin đã cho rằng: Phương sách duy nhất để làm cho nhân dân lao động hết cùng khổ là thay đổi, từ dưới lên trên chế độ hiện nay trên toàn quốc và lập chế độ xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, nước Nga Xô-viết ra đời, bắt đầu thực thi “Sắc lệnh ruộng đất”: Nông dân đã nhận được miễn phí hơn 150 triệu ha ruộng đất từ giai cấp địa chủ, được xóa tiền nợ. Công nhân tự nguyện, tự giác, liên hợp với nhau, sử dụng kỹ thuật hiện đại để tạo ra năng suất lao động cao hơn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa, sản lượng công nghiệp Liên Xô năm 1940 tăng 12 lần so năm 1913; tỷ trọng công nghiệp đã chiếm ưu thế trong nền kinh tế quốc dân; sản lượng của ngành chế tạo máy tăng 35 lần; sản lượng điện tăng 24 lần; năm 1937 sản lượng công nghiệp của Liên Xô đã vượt lên đứng hàng thứ hai trên thế giới. Thế và lực của Liên Xô tăng lên nhanh chóng trên trường quốc tế.

Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Liên Xô đã giành thắng lợi trong chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (1941-1944), cứu loài người thoát khỏi thảm họa bị diệt vong của chủ nghĩa phát-xít. Nhờ có nền kinh tế kế hoạch mà Liên Xô đã phục hồi, phát triển nhanh chóng sau Chiến tranh, trở thành thành trì vững chắc của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa. Liên Xô có nền khoa học – công nghệ phát triển mạnh mẽ với nhiều ngành khoa học đứng hàng đầu thế giới, điển hình như khoa học vũ trụ, giáo dục, y tế, quốc phòng. Liên Xô trở thành trành trì của cách mạng và là biểu tượng, cổ vũ, động viên các dân tộc trên thế giới đấu tranh chống lại chủ nghĩa thực dân, đế quốc, giành độc lập cho dân tộc.

Âm mưu thâm độc của Đỗ Ngà phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Từ sự xuyên tạc, vu khống những thành quả của cách mạng tháng Mười Nga và thành tựu về kinh tế – xã hội mà Liên Xô đã giành được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Đỗ Ngà đã cố tình xuyên tạc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, phủ nhận giá trị khoa học, cách mạng, nhân văn, nhân đạo của chủ nghĩa Mác – Lênin. Dưới cái nhìn phản nhân văn của mình, y cho rằng là “một di sản vô cùng độc hại”, là sự “gieo rắc thảm họa cho nhân loại” và là “ý thức hệ vô cùng khủng khiếp”!. Đúng là chỉ những kẻ vô nhân đạo, phản nhân văn như Đỗ Ngà mới có thể đưa ra những luận điệu như thế.

Bởi lẽ, chúng ta đều biết: Chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời là bước ngoặt vĩ đại của tư tưởng nhân loại, là vũ khí lý luận của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và những dân tộc bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới. Đây là con đường duy nhất đúng để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Và đây cũng là con đường duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, thực tiễn những diễn biến phức tạp, khó lường ở một số nước trên thế giới hiện nay càng khẳng định giá trị cách mạng, khoa học và nhân văn của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đó cũng là minh chứng để bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, vu khống của Đỗ Ngà.

Với niềm tin, khát vọng cống hiến, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, Nhân dân Việt Nam luôn kiên định vào chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng ta, luôn kiên định niềm tin tất thắng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những luận điệu xuyên tạc của Đỗ Ngà cũng như “đồng loại” của y tất yếu sẽ bị sức mạnh, niềm tin của nhân dân đập tan và vô hiệu hóa./.

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2022

NHẬN THỨC ĐÚNG NGUYÊN NHÂN TAN RÃ CỦA LIÊN XÔ VÀ CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐÔNG ÂU TRƯỚC CÁC LUẬN ĐIỆU CỦA THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Sự tan rã của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu diễn ra vào cuối thập niên 1980 – đầu thập niên 1990 được coi là là thảm họa địa chính trị tồi tệ nhất thế kỷ XX, làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin bị thách thức nghiêm trọng từ cả bên ngoài và bên trong, gây xáo trộn mạnh về chính trị - tư tưởng đối với các Đảng Cộng sản, Đảng Công nhân, đội ngũ cán bộ, đảng viên và một bộ phận không nhỏ quần chúng nhân dân, đặc biệt là giới trẻ. Lợi dụng tình hình đó, các thế lực phản động đã ra sức công kích, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội bằng nhiều luận điệu tiêu cực như: chủ nghĩa xã hội là cái thai đẻ non của lịch sử nên tất yếu sụp đổ, chủ nghĩa xã hội không còn phù hợp với thời đại mới nên đã thất bại, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đã chứng minh tính chất sai lầm ảo tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin trong thực tế..v.v. Vì vậy, nhận thức đúng đắn nguyên nhân dẫn đến sự tan rã của Liên Xô và Đông Âu là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

Hai sáu năm đã trôi qua, đến nay chúng ta đã có cái nhìn đầy đủ và đúng đắn về sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu, đó là kết quả tổng hợp của những nguyên nhân khách quan và chủ quan mang lại, trong đó nguyên nhân chủ quan đóng vai trò quyết định.

Thứ nhất, việc duy trì trong một thời gian dài mô hình quản lý tập trung, kế hoạch, bao cấp, đã khiến chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu trở thành xơ cứng, giáo điều, là nguồn gốc tình trạng trì trệ và khủng hoảng kinh tế - xã hội ở các nước này trong thập niên 1980 đến 1990. Trong khi các nước tư bản từ sau cuộc khủng hoảng năng lương thập niên 1970 đã không ngừng cải cách, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, bỏ xa Liên Xô và Đông Âu về nhiều mặt, thì các nhà lãnh đạo ở liên Xô và Đông Âu vẫn chủ quan, kiêu ngạo tự cho mô hình chủ nghĩa xã hội của mình là đúng đắn, không có gì sai sót, không tiến hành sửa chữa, thậm chí còn áp nó đó lên các nước xã hội chủ nghĩa khác.

Thứ hai, khi nhận thức được sự trì trệ, Liên Xô đã lún sâu vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, nên vội vã tiến hành cải tổ một cách ồ ạt trên cả bốn mặt: tự do hóa kinh tế, dân chủ hóa chính trị, phi ý thức hệ tư tưởng và mở cửa ra bên ngoài. Chính đường lối phiêu lưu, mạo hiểm này đã làm bùng nổ và lan tràn đến mức không thể kiểm soát nổi các mâu thuẫn chính trị, kinh tế, xã hội, tôn giáo, sắc tộc, các xu hướng ly tâm, cấp tiến hóa, cực đoan hóa... Đặc biệt, việc vi phạm một cách có hệ thống các nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa xã hội của ban lãnh đạo Liên Xô đứng đầu là Gorbachev trong quá trình cải tổ, nhất là việc "tự nguyện" xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản với toàn xã hội, không chỉ tạo điều kiện cho các lực lượng phản động ngóc đầu dậy chống đối Đảng Cộng sản, mà còn hủy hoại triệt để cơ cấu quyền lực của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, khiến cho xã hội lâm vào rối loạn, mất phương hướng, tan rã là điều không thể tránh khỏi.

          Thứ ba, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động đã tiến hành một cách toàn diện các hoạt động chống phá Liên Xô, Đông Âu và các nước xã hội chủ nghĩa, bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn vừa tinh vi, vừa trắng trợn, kết hợp gây sức ép bên ngoài với thúc đẩy tự chuyển biến ở bên trong như: khơi mào cho một cuộc chạy đua vũ trang tốn kém; liên kết tiến hành bao vây, cô lập phá hoạt kinh tế, ngoại giao; đẩy mạnh cuộc chiến văn hóa-tư tưởng, truyền bá giá trị Mỹ; gây dựng lực lượng đối lập, mua chuộc bộ phận cán bộ lãnh đạo cao cấp... Đặc biệt, chính Mỹ đã bắt tay với các nước thuộc Tổ chức xuất khẩu dầu mỏ tiến hành hoạt động phá giá dầu mỏ, làm cho ngân sách Liên Xô thất thu hàng tỷ đô la từ việc xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt, giáng một đòn nặng nề vào nền kinh tế Liên Xô vốn đang đắm chìm trong khủng hoảng kinh tế - xã hội...

Như vậy, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu là kết quả tất yếu từ quá trình tích tụ những sai lầm, khuyết điểm không được sửa chữa, khắc phục đúng đắn trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước này, với các hoạt động chống phá điên cuồng của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đứng đầu là Mỹ, chứ không phải như các luận điệu của các thế lực phản động đã và đang tuyên truyền hiện nay. Sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội, nói cách khác đó là sự thất bại của một cách thức, một hướng đi xây dựng chủ nghĩa xã hội trong tiến trình đi lên chủ nghĩa xã hội của loài người mà thôi, nó phản ánh tính chất quanh co phức tạp, khi tiến, khi lùi của lịch sử. Những bài học thành công trong quá trình đổi mới, cải cách ở Việt Nam, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa còn lại là minh chứng hùng hồn cho sức sống của chủ nghĩa xã hội. Sự phục hồi của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, sự xuất hiện phong trào cánh tả Mỹ latinh và cuộc đấu tranh của nhân loại để thực hiện mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội đã phản ánh xu thế tất yếu của loài người là tiến lên lên chủ nghĩa xã hội, đúng như nhận định của Đảng ta vào thời điểm năm 1991, khi chủ nghĩa xã hội hiện thực rơi vào hoàn cảnh khó khăn nhất: "Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, nhưng loài người cuối cùng nhất định tiến tới chủ nghĩa xã hội, vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử".

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2022

NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN VỀ PHƯƠNG THỨC BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trung thành, vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về phương thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa vào thực tiễn Việt Nam, phương thức bảo vệ Tổ quốc là vấn đề đặc biệt quan trọng trong hệ thống quan điểm lý luận của Đảng về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Xét từ góc độ nội dung, đó chính là những hình thức, biện pháp cụ thể của phương thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn hoạt động bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, những vấn đề: kết hợp xây dựng với bảo vệ; đấu tranh vũ trang, đấu tranh phi vũ trang, kết hợp đấu tranh vũ trang và phi vũ trang, những vấn đề tự bảo vệ,  bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, xử lý các vấn đề liên quan đến đối tác và đối tượng,… là những vấn đề rất cơ bản, là những cách thức, biện pháp cụ thể của phương thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Những phương thức cụ thể đó cần được tiếp tục nghiên cứu, làm rõ trong bối cảnh của tình hình mới. 

Hiện nay, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đứng trước những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức mới: “Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo”, vấn đề xâm phạm chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên, xung đột sắc tộc, tôn giáo, can thiệp lật đổ, khủng bố, chiến tranh cục bộ, chiến tranh mạng tiếp tục diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực. Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau, tác động mạnh đến cục diện thế giới và các khu vực. Các thế lực thù địch có những điều chỉnh mới trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng chống phá chủ nghĩa xã hội, chống phá cách mạng Việt Nam. Chiến lược phức hợp “diễn biến hòa bình”, kết hợp với bạo loạn lật đổ và tạo cớ để sẵn sàng phát động chiến tranh xâm lược được chúng tiến hành một cách ráo riết vừa công khai, trắng trợn, vừa tinh vi, xảo quyệt, vừa ngầm, vừa sâu. Chúng luôn chĩa mũi nhọn vào những vấn đề nhạy cảm như “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do tôn giáo”, “dân tộc” để kích động, chia rẽ, phá hoại công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Sự thay đổi trong chiến lược và phương thức chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu bổ sung, phát triển phương thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Trong đó tập trung:

Một là, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển quan điểm kết hợp chặt chẽ hai phương thức đấu tranh vũ trang và đấu tranh phi vũ trang bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Hai là, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển hình thức, biện pháp đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc.

Ba là, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi chưa nguy.

Bốn là, tiếp tục khẳng định và phát triển quan điểm về chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến.

Năm là, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển quan điểm xây dựng chủ nghĩa xã hội vững mạnh là phương thức hữu hiệu bảo vệ Tổ quốc.

Sáu là, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển về hợp tác và đấu tranh, đối tác và đối tượng trong bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ PHƯƠNG THỨC BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Phương thức đấu tranh bảo vệ tổ quốc là cách tiến hành bảo vệ nhằm đạt  mục đích bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề lý luận, thực tiễn có tầm quan trọng đặc biệt, gắn với quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Từ nghiên cứu tình hình thực tiễn, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định, cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa không những sẽ có tính chất dân tộc mà sẽ đồng thời xảy ra trong tất cả các nước văn minh, tức là, ít nhất ở Anh, Mỹ, Pháp và Đức... Do đó, giai cấp vô sản sau khi nắm chính quyền trong tay tất yếu phải vũ trang bảo vệ những thành quả cách mạng. Bởi lẽ, cách mạng vô sản trong tiến trình phát triển của mình không tránh khỏi sự chống đối của các giai cấp bóc lột đã bị lật đổ. Các giai cấp này dựa vào sự ủng hộ của các lực lượng phản động bên ngoài, với vũ khí trong tay sẽ chống lại chính quyền mới phục hồi trật tự cũ. Trong những điều kiện ấy, giai cấp công nhân phải có tinh thần cảnh giác cách mạng cao và có sự chuẩn bị sẵn sàng về mặt quân sự, tiến hành đấu tranh vũ trang để tiêu diệt kẻ thù, bảo vệ thành quả cách mạng. Tổng kết thực tiễn những bài học đau xót của Công xã Pari, C.Mác viết: “Một Paris lao động, suy nghĩ, chiến đấu, đổ máu nhưng rạng rỡ trong niềm hào hứng sáng tạo lịch sử mà hớn hở mải mê xây dựng xã hội mới, hầu như quên mất bọn ăn thịt người đang ở ngay cửa ngõ nhà mình”.

Trong khi chỉ ra khả năng và thậm chí sự không tránh khỏi cuộc chiến tranh giữa nhà nước vô sản và các lực lượng phản cách mạng trong và ngoài nước, C.Mác khẳng định, giai cấp vô sản có thể tiến hành những cuộc chiến tranh giải phóng, chính nghĩa; đồng thời thừa nhận khả năng của những cuộc chiến tranh phòng thủ của chủ nghĩa xã hội chống lại giai cấp tư sản, kết hợp giữa đấu tranh vũ trang và phi vũ trang bảo vệ thành quả cách mạng. C.Mác cũng khẳng định về sự cần thiết phải có những hành động phối hợp tích cực của những người lao động ở tất cả các nước trong cuộc đấu tranh giải phóng khỏi ách áp bức xã hội và dân tộc, củng cố khối liên minh công - nông trong công cuộc bảo vệ những thành quả của mình. Đây là điều kiện thiết yếu củng cố chính quyền của những người lao động và bảo vệ nó một cách có hiệu quả: “Cần phải làm sao để những người công nhân của các nước khác nhau không chỉ cảm thấy, mà còn hành động như những người anh em và đồng chí trong cuộc đấu tranh để giải phóng mình trong một đội quân thống nhất”.

Trung thành và phát triển sáng tạo tư tưởng vũ trang quần chúng bảo vệ thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa của C.Mác trong điều kiện lịch sử mới; từ thực tiễn công cuộc đấu tranh bảo vệ, bảo vệ nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới từ sau cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, V.I.Lênin đã bổ sung, phát triển những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng nên học thuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nhất là phương thức bảo vệ tổ quốc.

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười thành công, V.I.Lênin đã khẳng định một cách dứt khoát tính tất yếu khách quan giai cấp công nhân và nhân dân lao động phải tiến hành bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Người nêu rõ, chúng ta phải tiến hành “cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là tổ quốc”. V.I.Lênin chỉ ra rằng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một tất yếu khách quan ngay sau khi giai cấp công nhân đã giành được chính quyền nhà nước, tiến hành tổ chức xây dựng xã hội mới. Đối với nước Nga lúc này, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa còn là đòi hỏi cấp bách phải được thực hiện với tư cách là một cuộc chiến tranh - “chiến tranh bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa” trước sự bao vây, uy hiếp và tiến công bằng vũ lực của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động hòng bóp chết Nhà nước xô viết non trẻ. V.I.Lênin tiếp tục nhấn mạnh và cụ thể thêm: “Không cầm vũ khí bảo vệ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa, thì chúng ta không thể tồn tại được. Giai cấp thống trị không bao giờ nhường chính quyền cho giai cấp bị trị. Nhưng giai cấp bị trị phải chứng minh trên thực tế rằng họ không những có khả năng lật đổ bọn bóc lột, mà còn có khả năng tự tổ chức, huy động hết thảy để bảo vệ lấy mình”. Người còn chỉ rõ: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ”.

Như vậy, có thể thấy, tuy chưa trực tiếp đề cập đến thuật ngữ “phương thức” nhưng V.I.Lênin đã đề cập đến một trong những cách thức, biện pháp để bảo vệ tổ quốc chính là phải vũ trang bảo vệ tổ quốc và huy động mọi nguồn lực để bảo vệ tổ quốc, đồng thời phải luôn chú trọng, chăm lo xây dựng, chuẩn bị lực lượng để bảo vệ tổ quốc như Người đã chỉ rõ “Hãy chăm lo đến khả năng quốc phòng của nước ta và của Hồng quân ta như chăm lo đến con ngươi trong mắt mình, và hãy nhớ rằng chúng ta không được phép lơ là một giây phút nào trong việc bảo vệ công nhân và nông dân của ta và bảo vệ những thành quả của họ”. Cùng với đó, V.I.Lênin còn đặc biệt chú trọng việc giai cấp công nhân phải biết tổ chức sự nghiệp bảo vệ tổ quốc và phải “có khả năng tự tổ chức, huy động hết thảy để bảo vệ lấy mình”. Theo đó, V.I.Lênin một mặt ra sức động viên các tầng lớp nhân dân, huy động mọi lực lượng xây dựng xã hội mới; mặt khác giáo dục nêu cao tinh thần cảnh giác, ý thức bảo vệ tổ quốc, xây dựng sức mạnh quốc phòng, xây dựng quân đội công nông vững mạnh. Mặt khác thực hiện những biện pháp mạnh mẽ, kiên quyết bảo vệ Chính quyền xô viết non trẻ, đưa sự nghiệp cách mạng tiếp tục phát triển.

Mặc dù khẳng định phương thức đấu tranh vũ trang để bảo vệ tổ quốc song trong tư tưởng của V.I.Lênin còn chứa đựng vấn đề đấu tranh phi vũ trang, cũng như sự kết hợp giữa đấu tranh vũ trang và đấu tranh phi vũ trang trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Việc tập trung khôi phục và xây dựng kinh tế, thực hiện chính sách kinh tế mới để thúc đẩy phát triển kinh tế; giải quyết các vấn đề xã hội; đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, trình độ văn hóa, lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội cho các tầng lớp nhân dân; vạch trần âm mưu phá hoại của các thế lực đế quốc phản động, nhất là bọn mensêvích; mở rộng các hoạt động đối ngoại… đã thể hiện rõ sự quan tâm của V.I.Lênin đến những hoạt động phi vũ trang để cùng với các hoạt động vũ trang bảo vệ tổ quốc.

CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐÃ VÀ ĐANG ĐỔI MỚI, CẢI CÁCH THÀNH CÔNG, TIẾP TỤC VỮNG BƯỚC ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Ở Trung Quốc, sau hơn 40 năm cải cách mở cửa (1979- 2018) đã thu được những kỳ tích. Năm 2018, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc tăng 33,5 lần, ước khoảng 12.300 tỷ USD, chiếm 15% GDP toàn cầu, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, sau Mỹ. Giai đoạn 1978 - 2017, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm đạt 9,5%, cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng trung bình hằng năm của nền kinh tế thế giới là 2,9%. Trong giai đoạn 2012 - 2016, hằng năm, kinh tế Trung Quốc đóng góp 34% vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Năm 1978, GDP bình quân đầu người ở Trung Quốc mới chỉ ở mức 156 USD, là một trong những nước nghèo nhất thế giới, nhưng đến năm 2017, GDP bình quân đầu người đã đạt 8.800 USD, được xếp vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Số người nghèo ở Trung Quốc giảm từ 770 triệu người năm 1978 xuống còn 30,46 triệu người năm 2017, tức tỷ lệ người nghèo giảm từ 97,5% năm 1978 xuống mức 3,1% năm 2017. Trong tương lai không xa, có thể dự đoán các chỉ số GDP, PPP theo GDP của nước này sẽ vượt Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) cộng lại. Trung Quốc hiện có 317 tỷ phú và hiện đứng thứ hai thế giới sau Mỹ về chỉ số này.

Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới, đã thu được những thành tựu to lớn, toàn diện: Nền kinh tế phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP năm 2020 đạt 342,7 tỉ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỉ USD vào năm 2020. Tỉ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều. Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định, qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: “Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay".

Cải cách kinh tế ở Lào, kết quả bước đầu của chính sách “cập nhật hoá mô hình kinh tế” ở Cuba,… cũng  đã đưa các nước này vượt qua được giai đoạn khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, đập tan mọi âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực thù địch, tạo được những bước đột phá phát triển, là những bằng chứng rõ ràng về sự phục hồi của CNXH, góp phần thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới. “… tương lai của chủ nghĩa xã hội phụ thuộc ở mức độ quyết định vào những cuộc cải cách của chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc và Việt Nam”. Đồng thời, sự trỗi dậy mạnh mẽ của phong trào cánh tả ở nhiều nước Mỹ Latinh trong những thập niên qua là bằng chứng sống động về tính khoa học, cách mạng của sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Thực tế, các thế lực thù địch càng điên cuồng tiến công hòng phủ nhận, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, thì càng chứng tỏ giá trị và sức sống của học thuyết Mác - Lênin. Quy luật tồn tại, phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin đòi hỏi, trong suốt quá trình tồn tại, phát triển của mình phải thường xuyên đấu tranh chống lại các trào lưu tư tưởng phản khoa học, phản động đó. Thay cho lời kết xin trích khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc. Không có lực lượng gì ngăn trở được lịch sử loài người tiến lên. Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển”. Và khẳng định của Đảng ta: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”./.

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

SỰ RA ĐỜI CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HIỆN THỰC LÀ MỘT TẤT YẾU KHÁCH QUAN HỢP QUY LUẬT PHÁT TRIỂN CỦA LỊCH SỬ

Theo Các Mác - Ph.Ăngghen: Lịch sử chẳng qua là sự hoạt động của con người theo đuổi những mục đích của chính mình, nhưng không phải tùy tiện mà tuân theo những qui luật khách quan (Duy vật lịch sử). Động lực chính của sự phát triển lịch sử là do: lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học và đấu tranh cách mạng. Yếu tố xét đến cùng của sự phát triển xã hội là sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất, trong đó con người giữ vai trò quyết định. Quá trình phát triển của lịch sử xã hội loài người là sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn diễn ra như một quá trình lịch sử tự nhiên. Lịch sử xã hội loài người đã và đang trải qua 5 hình thái kinh tế xã hội: Cộng sản nguyên thủy; chiếm hữu nô lệ; chế độ phong kiến; tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Đó là quy luật chung, còn từng quốc gia có thể bỏ qua một vài hình thái kinh tế - xã hội tùy điều kiện lịch sử cụ thể.

Sự ra đời của chủ nghĩa hội hiện thực là tất yếu khách quan và hợp qui luật tiến hóa của lịch sử, được C.Mác và Ph.Ăngghen luận giải khoa học dưới góc độ triết học, góc độ kinh tế và góc độ chính trị xã hội giai cấp, đấu tranh giai cấp, không ai có thể bác bỏ được.

Đến giai đoạn V.I.Lênin: CNTB đã chuyển thành CNĐQ với 5 đặc điểm của nó: Hình thành các tổ chức độc quyền; Tư bản tài chính lũng loạn Nhà nước; Xuất khẩu tư bản; Xuất hiện qui luật phát triển không đều; Đấu tranh chia lại thị trường thế giới, tạo ra tiền đề vật chất và tình thế, thời cơ cho cách mạng XHCN. Chỉ có kẻ nào cố tình nhắm mắt, bịt tai mới không nhìn thấy, nghe thấy khi CNTB chuyển thành CNĐQ thì đã thai nghén 1 xã hội mới trong lòng nó rồi. Từ đó, V.Lênin khẳng định: “Không có một lực lượng nào ngăn trở được mặt trời mọc, không có một lực lượng nào ngăn trở được xã hội loài người tiến lên, cũng không có lực lượng nào ngăn trở được CNXH hiện thực ra đời, phát triển. Sớm hay muộn các dân tộc khác nhau trên hành tinh này chắc chắn sẽ đi lên CNXH” “Mặc cho khó khăn, thách thức, thậm chí có bước thụt lùi, song lịch sử cứ tiến về phía trước, không có kẻ nào có thể bẻ quay bánh xe của lịch sử”. Từ đó, V.I.Lênin đã cùng Đảng Bôn sê vich Nga và nhân dân Nga quyết tâm tổ chức và lãnh đạo thành công cách mạng tháng Mười năm1917, biến chủ nghĩa xã hội từ lý luận thành hiện thực, mở ra chương mới cho lịch sử nước Nga và thời đại mới cho xã hội loài người, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Đó là một sự thật lịch sử vĩ đại không thể chối cãi.

Kế thừa tư tưởng C.Mác - Ph.Ăngghen và V.I.Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Lịch sử xã hội loài người là một quá trình tự nhiên của sự thay thế lần lượt các phương thức sản xuất, phương thức sản xuất là cách làm ra của cải vật chất, tinh thần trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Qui luật phổ quát tiến hóa chung này là một tất yếu thép, được qui định bởi sự vận động không ngừng của lực lượng sản xuất xã hội. Quy luật đó được Hồ Chí Minh diễn giải một cách rễ hiểu như sau: “Cách sản xuất và sức sản xuất phát triển và biến đổi mãi, do đó mà tư tưởng con người, chế độ xã hội…. cũng phát triển và biến đổi. Chúng ta đều biết từ xưa tới nay cách sản xuất từ chỗ dùng cành cây, búa đá phát triển dần đến máy móc, sức điện, sức nguyên tử. Chế độ xã hội cũng phát triển từ Cộng sản nguyên thủy đến chiếm hữu Nô lệ, chế độ Phong kiến đến chế độ Tư bản chủ nghĩa và ngày nay gần một nửa loài người đang tiến lên CNXH, và CNCS. Sự phát triển và tiến bộ đó không ai ngăn cản được”.

Bởi ngay từ khi ra đời Chủ nghĩa tư bản đã đầy máu và bùn nhơ ở mỗi lỗ chân lông của nó, cùng với sự phát triển nó đã cắt đứt mọi mối quan hệ của con người với đấng thần linh, dìm lòng mê đạo và máu hiệp sĩ xuống dòng nước lạnh tanh, đặng chỉ để lại mối quan hệ lạnh lùng trả tiền ngay không tình nghĩa. Nên cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản diễn ra ngay từ đầu, từ thấp đến cao, từ tự phát đến tự giác bằng Phong trào Cộng sản và Công nhân quốc tế.

Chủ nghĩa tư bản đã phá sập ngay dưới chân nó cái nền tảng mà chúng dựng nên, chúng đã tạo ra những nhân tố, những tiền đề để cách mạng vô sản nổ ra và giành thắng lợi, “Chúng không những rèn ra vũ khí giết mình mà còn đào luyện ra người sử dụng vũ khí là giai cấp vô sản. Vì vậy, sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản và thắng lợi của chủ nghĩa xã hội đều tất yếu như nhau”.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh những tư tưởng thiên tài của Các Mác - Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn. CNXH từ lý luận thành hiện thực trên 1/6 trái đất tử cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, rồi thành hệ thống thế giới sau năm 1945. Chỉ trong một thời gian ngắn, từ điểm xuất phát thấp, hậu quả chiến tranh nặng nề, bị chủ nghĩa đế quốc bao vây cấm vận. Song, với tính ưu việt của chế độ XHCN và sức mạnh tổng hợp, CNXH hiện thực đã: Giành được nhiều thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực; Tạo ra bước ngoặt trong lịch sử loài người quá độ từ CNTB lên CNXH.  Chứng minh loài người hoàn toàn có đủ khả năng đi lên CNXH dưới sự lãnh đạo của Đảng cách mạng của giai cấp công nhân; đánh tan chủ nghĩa phát xít cứu nhân loại khỏi thảm họa diệt chủng; là chỗ dựa vững chắc cho phong trào cách mạng thế giới. Đập tan những luận điệu xuyên tạc của học giả tư sản và cơ hội xét lại, củng cố niềm tin tất thắng vào CNXH và CNCS. Hiện nay, sau khủng hoảng, sụp đổ, CNXH hiện thực vẫn là thực thể xã hội ưu việt, năng động, phát triển và xu thế tất yếu của xã hội loài người.

TIẾP TỤC BẢO VỆ, BỔ SUNG VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC Ở CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA HIỆN NAY

Chủ nghĩa xã hội khoa học là lý luận trực tiếp cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức có sức sống trường tồn luôn được bổ sung bởi thực tiễn cách mạng thế giới, nhất là thực tiễn - phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, thực tiễn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Với lý luận khoa học và cách mạng do bản chất nội tại của nó, với những bước tiến thăng trầm của lịch sử, dù tiếp cận chủ nghĩa xã hội là một học thuyết, chủ nghĩa xã hội là một phong trào hay chủ nghĩa xã hội là một chế độ thì nó thống nhất với nhau, gắn bó mật thiết với nhau. Thực tiễn phong trào cách mạng của giai cấp công nhân được biểu hiện ở những mức độ khác nhau, nhưng về căn bản hiện nay, quan hệ giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản về địa vị kinh tế - xã hội là không thay đổi. Điều đó, chứng minh giai cấp công nhân có sứ mệnh thủ tiêu giai cấp tư sản, thiết lập một xã hội mới xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

Từ bản chất nội tại và sức sống của chủ nghĩa xã hội khoa học, vấn đề tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học là nguyên tắc sống còn đối với những người xã hội chủ nghĩa, đúng như V.I.Lênin đã căn dặn chúng ta rằng: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”.

Thực tiễn biến đổi thì chủ nghĩa xã hội khoa học cần phải không ngừng được bổ sung, phát triển, gắn liền với đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bởi vì, “Trước đây, khi còn Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam dường như không có gì phải bàn, nó mặc nhiên coi như đã được khẳng định. Nhưng từ khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt”, thừa cơ, “giậu đổ bìm leo” “…các nhà tư tưởng và lý luận chống cộng và xã hội - dân chủ cũ và mới cả những kẻ hôm qua đã từng là cộng sản hôm nay đang “sám hối” về sự “khờ dại” của mình, ra sức bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, bêu xấu lý tưởng xã hội chủ nghĩa, hết lời ca ngợi chủ nghĩa tư bản. Trong con mắt của họ, thế kỷ XXI là thế kỷ toàn thắng và phồn vinh của chủ nghĩa tư bản trên toàn thế giới”, trực tiếp những luận điểm tập trung chống phá là chúng phủ nhận học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội.

Bảo vệ, bổ sung và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học hiện nay cần gắn liền với phòng chống về suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ đảng viên và nhân dân. Mỗi cán bộ đảng viên cần thật sự có niềm tin khoa học vào chủ nghĩa xã hội khoa học, niềm tin vào phong trào cách mạng và tiềm năng hiện thực của nó. Đẩy mạnh nghiên cứu, học tập, nắm vững lý luận, thường xuyên cập nhật bổ sung những nội dung mới làm phong phú, sâu sắc thêm lý luận phấn đấu “Từ nay đến năm 2030, tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống các quan điểm về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nâng cao năng lực khoa học phục vụ phát triển công tác lý luận, bảo đảm cung cấp các luận cứ khoa học, lý luận vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đồng thời, đấu tranh quyết liệt với những biểu hiện lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, góp phần làm phong phú, sâu sắc thêm chủ nghĩa xã hội khoa học - bộ phận cấu thành lôgic, biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin./.

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2022

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VÀO XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa bao gồm những nội dung cơ bản toàn diện về các mặt hoạt động của con người, coi con người là nguồn gốc, động lực của sự phát triển. Tư tưởng đó đã được Đảng ta kế thừa, vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo để phát triển toàn diện con người Việt Nam, đang từng bước trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiện nay xây dựng nguồn lực con người chất lượng cao, ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực và tệ nạn xã hội; từng bước vươn lên khắc phục những hạn chế con người Việt Nam, xây dựng con người Việt Nam thời đại mới gắn kết chặt chẽ giữa truyền thống và hiện đại. Do vậy, cần vận dụng có hiệu quả tư tưởng của Người:

Một là, thực hiện nghiêm túc những di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng con người xã hội chủ nghĩa.

Theo đó, các cấp, các ngành và mỗi người dù ở cương vị, chức trách nào cũng phải đẩy mạnh việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đề cao tinh thần, trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ được giao; đồng thời, cụ thể hóa, thể chế hóa thành những tiêu chuẩn, cụ thể về xây dựng con người phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, địa phương mình; phải luôn xây dựng tinh thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau trong mọi lúc, mọi nơi; nhất là đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp phải thật sự gương mẫu, trong sạch về đạo đức, lối sống, bám sát cơ sở để động viên, giúp đỡ nhân dân, qua đó cũng để lựa chọn, tuyển dụng những người có đức, có tài vào cơ quan công quyền của nhân dân, góp phần đưa quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, Chính phủ đi vào thực tiễn cuộc sống.

Hai là, phải không ngừng chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng quan tâm về mọi mặt đối với con người.

Muốn vậy, đẩy mạnh giáo dục, đào tạo coi đó là quốc sách hàng đầu, là yếu tố quyết định đến việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội, giao lưu hợp tác quốc tế; chú trọng đào tạo ra những con người có trình độ tay nghề cao, công tác ở những ngành, những lĩnh vực mũi nhọn, có khả năng nắm bắt và ứng dụng nhanh vào điều kiện thực tế của đất nước; xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân phù hợp với từng bậc học, chú ý đến việc giáo dục về đạo đức, lối sống cho học sinh; giải quyết thỏa đáng lợi ích cho các giai cấp, tầng lớp trong xã hội thông qua những cơ chế, chính sách đúng đắn, hợp lý đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho các tầng lớp nhân dân, nhất là đối với nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, chịu hậu quả do thiên tai, lũ lụt gây ra. Đối với từng giai cấp cụ thể có những chính sách cụ thể không được cào bằng, đánh đồng quyền lợi giữa các giai cấp với nhau.

Ba là, đẩy mạnh các chương trình, chiến lược hợp tác quốc tế và khu vực để đào tạo những con người phát triển toàn diện về đức - trí - thể - mỹ.

 Thực hiện tốt nội dung trên góp phần tạo ra nguồn lực chất lượng cao cho đất nước. Đảng ta khẳng định: “Tiếp tục đổi mới đồng bộ, mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế, phát triển con người toàn diện, đáp ứng những yêu cầu mới của phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”. Ứng với từng ngành, từng lĩnh vực đó phải xây dựng cho họ có tinh thần phục hưng dân tộc, đóng góp vào việc dựng xây, kiến thiết đất nước, mở rộng đến các đối tượng lao động trong xã hội; đồng thời, Đảng, Nhà nước và các lực lượng có liên quan có cơ chế, chính sách đúng đắn, hợp lý để khuyến khích, động viên người có đức, có tài để họ có thể cống hiến cho đất nước bằng hết những tài năng và tâm huyết của mình.

Bốn là, phải kết hợp giữa “xây” và “chống” trong quá trình xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

Đảng ta khẳng định: “Đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa, làm tha hóa con người. Có giải pháp ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội, khắc phục những mặt hạn chế của con người Việt Nam. Theo đó, cần đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên; phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của các tổ chức chính trị - xã hội; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với tổ chức, cá nhân ở các ngành, các lĩnh vực; nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng cho các tầng lớp nhân dân không để cho các phần tử phản động lợi dụng để chống phá, xuyên tạc sự nghiệp cách mạng của Đảng, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân; tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2022

CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LÀ ĐÚNG ĐẮN VỚI QUY LUẬT

Trong nhận thức lý luận ở Việt Nam hiện nay, phạm trù con đường đi lên CNXH phản ánh những chiến lược, sách lược của Đảng cộng sản Việt Nam để xây dựng CNXH ở Việt Nam. Những biện pháp xây dựng CNXH, đầu tiên được Cương lĩnh 1991 cụ thể hóa thành những nhiệm vụ và phương hướng của cách mạng Việt Nam: “Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, cần xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng do Đảng cộng sản lãnh đạo… phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại… nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội…, phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thiết lập từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa”.

Đại hội IX đã chỉ ra cụ thể tính chất phát triển rút ngắn của Việt Nam, vấn đề bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa và những điểm cần kế thừa, tiếp thu văn minh nhân loại để xây dựng CNXH: “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa nhưng, tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”.  Từ nhận thức lý luận và những thành tựu thực tiễn, Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam (Bổ sung, phát triển 2011) đã nêu lên những nét chủ yếu về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam thông qua tám phương hướng xây dựng CNXH:

Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường.

Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ba là, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.

Bảy là, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”.

Hiện nay, con đường ấy đã được làm rõ trên những nét cơ bản, Văn kiện Đại hội XIII khẳng định: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa”.

Song để thật sự sáng tỏ lý luận về con đường đi lên CNXH và trở thành công cụ đắc lực để xây dựng CNXH ở Việt Nam vẫn còn là một quá trình. Những nội dung, biện pháp cơ bản để xây dựng CNXH mà Đảng ta khẳng định: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện”.

QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ SỰ VẬN DỤNG Ở VIỆT NAM

Dân chủ là một hiện tượng lịch sử xã hội gắn liền với sự tồn tại và phát triển của đời sống con người; dân chủ luôn mang tính lịch sử chính trị - xã hội và luôn phản ánh bản chất của xã hội, giai cấp. Lịch sử phát triển của nhâan loại đã chứng minh rằng dân chủ xuất hiện và phát triển với tính chất là sản phẩm trực tiếp của đấu tranh gii cấp. Trong xã hội có giai cấp, tuyệt đối không thể có thứ dân chủ chung chung, phi giai cấp. Dân chủ tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và trình độ dân trí trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. C.Mác đã chỉ rõ: “Quyền không bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định” ; “bất cứ nền dân chủ nào, xét đến cùng, cũng đều phục vụ sản xuất và xét đến cùng, đều do các quan hệ sản xuất trong một xã hội nhất định quyết định” Theo V.I.Lênin, điều cốt tử nhất khi bàn đến vấn đề dân chủ là phải trả lời được câu hỏi, dân chủ của ai, cho ai và vì ai? Tự do cho ai và vì ai? Từ đó V.I.Lênin đã diễn đạt một cách khái quát về bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa: Chế độ dân chủ vô sản so với bất cứ chế độ dân chủ tư sản nào, cũng dân chủ hơn gấp triệu lần, chính quyền xô viết, so với các cộng hòa tư sản dân chủ nhất, cũng dân chủ hơn gấp triệu lần”. Đồng thời các nhà kinh điển khẳng định: “Trước hết nó tạo ra một chế độ dân chủ mà nhờ đó trực tiếp hay gián tiếp tạo ra quyền thống trị chính trị của giai cấp vô sản”. Đó chính là dân chủ và nhà nước của giai cấp vô sản, dân chủ mang bản chất nhà nước thống trị, thông qua thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa để quản lý xã hội.

Theo V.I.Lênin, nền dân chủ tư sản là nền dân chủ của một thiểu số những kẻ giàu có, dân chủ của giai cấp tư sản, do giai cấp tư sản, vì giai cấp tư sản chứ không phải dân chủ cho đa số nhân dân lao động. Bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa thể hiện trên các phương diện chủ yếu: 1- Là nền dân chủ của nhân dân lao động, vì nhân dân lao động, thể hiện ở việc bảo vệ quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của nhân dân lao động; 2- Dân chủ xã hội chủ nghĩa thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do được bảo đảm về mặt pháp lý để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân; 3- Dân chủ xã hội chủ nghĩa có nội dung toàn diện, thể hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ý thức - tư tưởng, trong đó nổi bật là sự tham gia một cách bình đẳng và ngày càng rộng rãi của những người lao động vào công việc quản lý nhà nước và xã hội thông qua hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.

Kế thừa những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta  cho rằng dân chủ là nhân dân tham gia trực tiếp việc giải quyết các vấn đề quan trọng của nhà nước. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã xác định xây dựng một Nhà nước Việt Nam kiểu mới, đó là nước “Việt Nam dân chủ cộng hòa Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”.  Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”; Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống . Văn kiện Đại hội lần thứ XIII khẳng định: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nội dung “thụ hưởng” được Đảng ta bổ sung, phát triển, nhấn mạnh trong Đại hội lần này, thể hiện tính nhất quán của Đảng ta luôn coi vấn đề lợi ích là động lực để thực hành dân chủ rộng rãi và thực chất trong xã hội.