Hiển thị các bài đăng có nhãn thiểu số. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thiểu số. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2018

QUYỀN DÂN TỘC TỰ QUYẾT VÀ QUYỀN CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ HIỂU THẾ NÀO CHO ĐÚNG

Khái niệm “quyền dân tộc thiểu số” được chính thức ghi nhận trong hai Công ước quốc tế là Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người của LHQ (UDHR) năm 1948: “Mọi người sinh ra đều được hưởng tất cả các quyền và tự do không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội” (Điều 2) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 1966 ghi: “Tại những nước có nhiều nhóm dân tộc thiểu số, tôn giáo và ngôn ngữ cùng chung sống, thì những cá nhân thuộc các dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ và các thiểu số đó, cùng với những thành viên khác của cộng đồng mình, không thể bị tước bỏ quyền được thụ hưởng nền văn hóa riêng, quyền được thể hiện và thực hành tôn giáo riêng hoặc quyền được sử dụng tiếng nói riêng của họ” (Điều 3). Đây là hai văn kiện pháp lý quốc tế nền tảng, ghi nhận các quyền pháp lý cơ bản của con người về dân sự, chính trị mà quyền dân tộc thiểu số được coi là quyền cơ bản trong nhóm các quyền dân sự, chính trị đó. Điều đó có nghĩa là người dân tộc thiểu số (DTTS) có đầy đủ các quyền về dân sự, chính trị, KT-XH, văn hóa như những người thuộc dân tộc đa số trong xã hội, hoàn toàn bình đẳng và không có sự phân biệt đối xử.
Quyền dân tộc tự quyết và quyền của DTTS tuy có mối quan hệ nhưng nội hàm của chúng hoàn toàn khác nhau. Đối với quyền của DTTS, chủ thể hưởng thụ quyền là các DTTS trong một quốc gia. Quốc gia đó có trách nhiệm bảo đảm cho các DTTS trong quốc gia mình được hưởng thụ quyền dựa trên điều kiện đặc thù của mình. Còn chủ thể quyền dân tộc tự quyết là quốc gia-dân tộc chứ không phải là một DTTS trong quốc gia-dân tộc đó. Pháp luật quốc tế không cho phép một DTTS ở một quốc gia được ly khai, được thành lập một quốc gia độc lập với quốc gia được quốc tế công nhận mà họ là công dân trong quốc gia đó. Trong mỗi quốc gia có nhiều dân tộc khác nhau cùng sinh sống, tất cả các dân tộc này cùng hợp thành một dân tộc chung nhất, đồng nghĩa với nhân dân và mang tên gọi của đất nước mình.
Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, đoàn kết, hòa thuận trong suốt quá trình lịch sử đấu tranh dựng và giữ nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán mục tiêu bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền dân tộc tự quyết của nhân dân Việt Nam theo luật pháp quốc tế. Điều 5, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam; các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc; ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình; Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các DTTS phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”; đồng thời nhấn mạnh: “Tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Mọi hành vi chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều bị nghiêm trị” (Điều 11). Nội dung này đã được thể hiện trong các văn bản pháp luật khác, như: Luật Quốc tịch năm 2008; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính 2015, Bộ luật Hình sự (sửa đổi) năm 2015... Ở Việt Nam, chỉ có khái niệm quyền con người, quyền công dân; đó là quyền của tất cả nhân dân Việt Nam, không phân biệt họ là DTTS hay đa số. Quyền con người thuộc mọi dân tộc thống nhất giữa quyền cá nhân và quyền tập thể cộng đồng dân tộc được đặt chung trong quyền của quốc gia-dân tộc./. 

Thứ Tư, 7 tháng 3, 2018

Những vấn đề dân tộc mới nảy sinh ở Việt Nam hiện nay

Vấn đề dân tộc là những việc cần phải giải quyết trong quan hệ giữa các tộc người ở một quốc gia và giữa các quốc gia dân tộc với nhau trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… nhằm thực hiện mục tiêu các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển.
Hiện nay, ở nước ta xuất hiện những vấn đề dân tộc mới, đó là:
Vấn đề đói nghèo và chênh lệch giàu nghèo giữa miền núi và miền xuôi, giữa các dân tộc thiểu số. Công tác giảm nghèo của nước ta đạt được thành tựu quan trọng, song người nghèo chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số. Khoảng cách giàu nghèo, chênh lệch thu nhập, mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng tăng so với mức bình quân của cả nước. Mặc dù chiếm 14% số dân nhưng hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo chiếm tỷ lệ lớn trong tổng hộ nghèo của cả nước, cao gấp 3,44 lần so với tỷ lệ nghèo chung và gấp gần 6 lần tỷ lệ nghèo của dân tộc Kinh. Thu nhập bình quân/người ở các xã đồng bào dân tộc thiểu số chỉ bằng 1/6 thu nhập bình quân/người của cả nước. Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo bình quân ở các xã đặc biệt khó khăn có đông đồng bào dân tộc thiểu sổ sinh sống là trên 45%.  Điều đó ảnh hưởng đến quan hệ giữa các dân tộc, tiềm ẩn những bất ổn định xã hội, quốc phòng, an ninh.
Vấn đề thiếu đất sản xuất ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đến nay, còn 326.909 hộ đồng bào thiếu đất, trong đó số cần hỗ trợ đất sản xuất là 293.934 hộ, số thiếu đất ở là 32.9745 hộ; cứ 5 hộ thì có 1 hộ thiếu hoặc không có đất sản xuất. Thiếu đất đã và đang là một trong các vấn đề bức xúc nhất ở vùng dân tộc thiểu số; là nguồn gốc tạo ra khoảng cách thu nhập, phân hóa giàu nghèo giữa các dân tộc, gia tăng mâu thuẫn giữa các dân tộc.
Tình trạng mai một văn hóa truyền thống. Trang phục truyền thống, nhà sàn, nhà dài, nhiều giá trị văn hóa phi vật thể đặc sắc, tiêu biểu như sử thi, âm nhạc cồng chiêng, lễ bỏ mả, dân ca, dân vũ của các dân tộc... đang mai một. Ngôn ngữ của một số dân tộc ít người, nhất là 5 dân tộc dưới 1.000 người (Pu Péo, La Ha, Ơ-đu, Brâu, Rơ-măm) đang mất dần.
Chất lượng nguồn nhân lực các dân thiểu số rất thấp so với cả nước. Tỷ lệ người lao động dân tộc thiểu số chưa qua đào tạo chiếm tới 98,9 %. Đến năm 2013 còn có 5 dân tộc chưa có người học đại học là Brâu, La Hủ, Lự, Ơ-đu, Si La; hơn 30 dân tộc chưa có người được đào tạo ở trình độ sau đại học[4]. Đây là “điểm nghẽn” lớn nhất đối với đồng bào, nhất là với thanh niên dân tộc.
Tỷ lệ cán bộ là người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị thấp, cơ cấu chưa hợp lý, chất lượng yếu đang là vấn đề bất cập lớn. Còn một số dân tộc chưa có đại biểu trong Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp. Tỷ lệ cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số trong bộ máy chính quyền chỉ khoảng 4%, trong khi tỷ lệ dân tộc thiểu số trong cả nước là 14%. Tỷ lệ đảng viên dân tộc thiểu số Đắk Nông chỉ có 4,4%, Gia Lai: 7,3%, Lâm Đồng: 9,8%.
Thành phần dân tộc, nhóm dân tộc và tên gọi dân tộc cần tiếp tục được nghiên cứu, chuẩn định. Gần đây, có hơn 20 nhóm dân tộc ở nhiều địa phương, đại diện một số dân tộc thiểu số đề nghị Nhà nước xác định lại thành phần, tên gọi dân tộc. Đây là một vấn đề mới, phức tạp đặt ra, cần nghiên cứu, điều tra, phân tích thấu đáo để góp phần ổn định chính trị - xã hội vùng dân tộc; là căn cứ quan trọng thực hiện chính sách bình đẳng dân tộc.
Các tệ nạn xã hội ở vùng dân tộc thiểu số gia tăng, gây những hậu quả xấu đến quan hệ cộng đồng địa phương, làng bản và gia đình. Hiện vùng Tây Bắc có số người nghiện ma túy cao gấp 10 lần so với cả nước. Trong 10 tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV/100.000 dân cao nhất năm 2012, có 7 tỉnh thuộc miền núi phía Bắc. Tệ nạn ma túy và HIV đã làm xáo trộn lớn các mối quan hệ gia đình, xã hội vùng dân tộc thiểu số, làm cho tỷ lệ ly hôn, bạo lực gia đình gia tăng.
Thách thức từ hội nhập quốc tế. Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế tạo sợi dây kết nối quan hệ đồng tộc giữa đồng bào các dân tộc trong và ngoài nước được thuận lợi, dễ dàng hơn; đồng thời, nó tạo điều kiện để các thế lực thù địch sẵn sàng tạo cớ, can thiệp vào công việc nội bộ tộc người và quốc gia, hòng gây bất ổn, chia cắt toàn vẹn lãnh thổ và chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thứ Sáu, 15 tháng 12, 2017

CHÍNH SÁCH ĐỊNH CANH ĐỊNH CƯ CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ BIẾN ĐỔI KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Mấy thập kỷ qua, công tác định canh định cư (ĐCĐC) ở vùng Khơ mú và Hmông ở nước ta tập trung vào thành lập các làng định cư tập trung như một chiến lược để ổn định sản xuất, sinh hoạt  và xây dựng cuộc sống mới cho nhân dân. Trên cơ sở đó, một hệ thống kinh tế mới (canh tác ruộng nước, thâm canh nương rẫy, làm vườn, chăn nuôi, kinh tế hàng hóa…) được đưa vào đời sống tộc người cùng với chính sách giao đất giao rừng (bắt đầu từ cuối những năm 1980) nhằm thực hiện ĐCĐC, xóa đói giảm nghèo và nâng cao mức sống người dân. Đồng thời, Nhà nước quan tâm xây dựng cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh phát triển hệ thống giáo dục, y tế và an sinh xã hội để tạo điều kiện cho đồng bào ổn định cuộc sống.
Từ những cư dân nương rẫy truyền thống, chương trình ĐCĐC bắt đầu mở ra hình thức canh tác lúa nước mới mẻ trong văn hóa sản xuất của người Khơ mú và Hmông kể từ những năm 1960. Kết quả điều tra cho thấy, đồng bào Hmông đã nhanh chóng tiếp thu kỹ thuật mới và tích lũy được kinh nghiệm thâm canh lúa nước. Người Khơ mú thích ứng một cách khó khăn với sản xuất lúa nước. Bà con vẫn đang lúng túng trong quy trình và kỹ thuật canh tác.
Canh tác nương rẫy vẫn là nguồn sống chính của người Khơ mú và người Hmông ở miền núi nước ta. ĐCĐC và chính sách giao đất giao rừng đã làm thay đổi phương thức canh tác nương rẫy cổ truyền của họ. Đồng bào chuyển sang canh tác luân canh và thâm canh nương rẫy trên địa bàn được giao. So với người Khơ mú, người Hmông tỏ ra nhạy bén và thích ứng nhanh hơn với nền kinh tế thị trường khi chủ động đưa vào sản xuất trên nương rẫy nhiều loại hoa màu, cây ăn quả và rau xanh để đáp ứng nhu cầu thị trường. Vì vậy, nguồn thu từ nương rẫy của người Hmông đa dạng hơn và có giá trị kinh tế cao hơn.
Bên cạnh đó, từ khi ĐCĐC, do nỗ lực vận động của chính quyền địa phương và sự hỗ trợ của các chương trình dự án, làm vườn và thâm canh vườn đã mở ra đối với người Khơ mú và Hmông. Các hoạt động sống dựa vào rừng của người Khơ mú và người Hmông đã thay đổi từ khi ĐCĐC. Diện tích và chất lượng rừng suy giảm làm cho các hình thức sống dựa vào rừng của đồng bào ngày càng khó khăn. Dù vậy, các hình thức sống dựa vào rừng của người Khơ mú vẫn chiếm vị trí quan trọng trong sinh kế so với người Hmông bởi có tới 98% số hộ điều tra người Khơ mú vẫn duy trì hoạt động hái lượm từ rừng trong khi ở người Hmông là 47%.
Trong chăn nuôi, chính quyền địa phương xác định đây là ngành kinh tế quan trọng để ổn định và cải thiện cuộc sống của người dân khi ĐCĐC. Đồng bào được hỗ trợ giống, vốn, kỹ thuật chăn nuôi, làm chuồng trại. Nhưng người  Hmông tiếp cận kỹ thuật mới nhanh và hiệu quả kinh tế đem lại cao hơn so với người Khơ mú. Trong khi đó, đồng bào Khơ mú vẫn chăn nuôi theo phương thức bán tự nhiên, thả rông gia súc.
Đối với các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp, hiện các hộ người Khơ mú hầu như không có thu nhập từ nghề thủ công thì nhiều hộ Hmông có thu nhập đáng kể từ các nghề thủ công. Số hộ Hmông có đi làm thuê chiếm 24% số hộ điều tra. Điểm khác biệt so với người Khơ mú ở chỗ, người Hmông đi làm thuê có lựa chọn hình thức công việc và mức độ thu nhập. Mặt khác, từ khi đất nước đổi mới, nền kinh tế thị trường từng bước thâm nhập vào đời sống của đồng bào Khơ mú và có bước phát triển ở vùng Hmông. Người Khơ mú bắt đầu làm quen với phương thức mua bán sử dụng tiền mặt và mua bán ở các chợ. Đồng bào Hmông đã có sự hội nhập và thích ứng nhanh hơn với cơ chế thị trường. Một mặt, bà con chủ động mở rộng nuôi trồng những cây con có giá trị kinh tế để phát huy được thế mạnh của họ và đáp ứng nhu cầu thị trường như các loại rau, quả, chuối, gừng, lợn đen, gà đen. Mặt khác, họ tham gia tích cực vào buôn bán, lưu thông hàng hóa. Nhờ đó, đời sống của một bộ phận hộ gia đình Hmông được cải thiện lớn.

Nhìn chung, đời sống kinh tế và sinh kế của người Khơ mú và Hmông trong quá trình ĐCĐC đã có những thay đổi cơ bản nhưng ở các mức độ khác nhau. Một hệ thống kinh tế mới được đưa vào đời sống tộc người để tạo lập cuộc sống ĐCĐC, xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống nhân dân. So với người Khơ mú, người Hmông đã thích ứng và hội nhập nhanh hơn với các hoạt động kinh tế mới.

CHÍNH SÁCH ĐỊNH CANH ĐỊNH CƯ CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ NƯỚC TA

Từ thập niên 60 của thế kỷ XX, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra chính sách định canh định cư đối với các dân tộc thiểu số du canh ở miền núi - một trong những quyết sách nhằm chống lại đói nghèo và phát triển các dân tộc thiểu số. Đặc biệt, chính sách định canh định cư thời kỳ Đổi mới đã tác động mạnh mẽ đến kinh tế, văn hóa, xã hội của các tộc người có lối sống du canh như người Khơ mú và người Hmông.
Trước thời kỳ Đổi mới, công tác định canh định cư chủ yếu là tuyên truyền vận động nhân dân định canh định cư kết hợp với hợp tác hóa nông nghiệp trên cơ sở có sự hỗ trợ nhỏ của Nhà nước. Do điều kiện đất nước khó khăn, những hỗ trợ nhỏ này đã không thực sự tạo ra cơ sở vững chắc cho định canh định cư. Chủ trương, chính sách định canh định cư của Đảng và Nhà nước đã có sự đổi mới bắt đầu từ năm 1989 trở đi. Từ đây, theo Quyết định số 72/HĐBT ngày 13/3/1990 của Hội đồng Bộ trưởng, phương hướng và cách thức tiến hành công tác định canh định cư là: Tập trung đầu tư có trọng điểm, tạo địa bàn sinh sống ổn định cho đồng bào; đẩy mạnh thâm canh nương rẫy, phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa; đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật vào miền núi; phát triển kinh tế hộ gia đình, giao đất, giao rừng cho hộ; bố trí quy hoạch dân cư trên cơ sở tự nguyện; đổi mới các chính sách kinh tế - xã hội để định canh định cư vững chắc; chú trọng phát huy nội lực địa phương và trong nhân dân. Định canh định cư gắn liền với bảo vệ rừng và xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội; tập trung vào định canh định cư tại chỗ kết hợp với xây dựng cơ sở kinh tế mới; thay đổi cơ cấu ngành nghề. Đầu tư cho định canh định cư phải dứt điểm hoàn thành theo từng dự án; sử dụng nguồn vốn tổng hợp trên địa bàn cho định canh định cư theo cơ chế nhà nước cấp vốn ngân sách theo dự án. Đổi mới công tác quản lý định canh định cư từ trung ương đến huyện theo hướng gọn nhẹ, đủ năng lực (Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, 2000, tr. 546 - 547).
Công tác định canh định cư trong thời kỳ mới được tiến hành theo hình thức dự án phát triển thay vì chủ yếu tuyên truyền vận động. Trong giai đoạn này, nhà nước đã có điều kiện bố trí ngân sách cho định canh định cư ngày càng tăng lên. Công tác định canh định cư được thực hiện theo chủ trương lồng ghép các dự án với nhiều chương trình, dự án kinh tế - xã hội khác theo các Nghị quyết, Quyết định quan trọng của Chính phủ như: Quyết định 69/1992 – CT của Hội đồng Bộ trưởng về chương trình phát triển kinh tế xã hội vùng cao phía Bắc; Quyết định 656/1995/TTg về phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên thời kỳ 1996 – 2000 và 2010; Quyết định 133/1998/QĐ – TTG về Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn 1998 – 2000; Quyết định 661/1998/QĐ – TTG về kết hợp chặt chẽ giữa trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng với nhiệm vụ định canh định cư, xóa đói giảm nghèo, giao đất giao rừng; Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg về Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa còn gọi là chương trình 135; Quyết định 134/2004/QĐ-TTg về Chương trình hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn; Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg về việc cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn; Quyết định 33/2007/QĐ/TTg Về chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2007- 2010 và Quyết định số 1342/2009/QĐ – TTg về kế hoạch định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số du canh du cư đến năm 2012; Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP Về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo v.v…

Công tác định canh định cư thời kỳ Đổi mới đã góp phần quan trọng vào mục tiêu xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới ở miền núi. Cơ cấu kinh tế vùng định canh định cư từng bước chuyển dịch từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa, góp phần cải thiện đời sống nhân dân. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội cho định canh định cư được đẩy mạnh ở miền núi. Ý thức về cuộc sống định canh định cư để phát triển kinh tế xã hội trở nên phổ biến trong nhân dân. Mô hình thành lập các làng định cư tập trung được thực hiện như một chiến lược chủ đạo. Trên cơ sở đó, Nhà nước đẩy mạnh thực hiện các chính sách về kinh tế, phát triển văn hóa, đầu tư hạ tầng, dịch vụ xã hội (giáo dục, y tế, tín dụng…) nhằm ổn định và cải thiện mọi mặt đời sống của đồng bào, bảo vệ rừng và bảo đảm quốc phòng an ninh.

Thứ Tư, 6 tháng 12, 2017

Đặc điểm kinh tế truyền thống của các tộc người thiểu số ở nước ta

- Các tộc người có trình độ phát triển kinh tế không đồng đều.
Nhóm tộc người thiểu số còn bảo lưu yếu tố kinh tế nguyên thủy, cư trú ở miền núi vùng cao, vùng sâu, vùng xa; gồm những tộc người nói ngôn ngữ Môn - Khơme ở Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Trường Sơn - Tây Nguyên; nhóm Hmông - Dao, Hán - Tạng ở vùng núi phía Bắc. Hoạt động kinh tế của nhóm này cơ bản là sản xuất nương rẫy du canh; công cụ sản xuất khá thô sơ, năng suất thấp. Săn bắn hái lượm đóng vai trò khá quan trọng trong đời sống kinh tế.
Nhóm tộc người cư trú lâu đời ở chân núi, thung lũng như Tày, Nùng, Thái, Mường...; canh tác lúa nước là chính, kết hợp với sản xuất nương rẫy; sản xuất và sinh hoạt định canh định cư, trình độ thâm canh của khá cao, canh tác bằng sức kéo; trao đổi thương mại diễn ra trong cộng đồng và khu vực.
Nhóm các tộc người là cư dân ở đồng bằng như Việt, Chăm, Khơme, Hoa, có nền văn minh lúa nước lâu đời, kỹ thuật thâm canh cao, kinh nghiệm sản xuất phong phú. Các hoạt động chăn nuôi, thủ công, trao đổi thương mại đều sớm phát triển hơn; đời sống kinh tế đa dạng về cơ cấu ngành nghề, vật nuôi cây trồng.
- Kinh tế truyền thống tộc người mang nặng tính tự cung, tự cấp của nền kinh tế tự nhiên.
Các tộc người sản xuất chủ yếu để đáp ứng nhu cầu tự túc lương thực, thực phẩm và phục vụ đời sống sinh hoạt tại chỗ. Trong các hình thái kinh tế - xã hội tiền tư bản, trình độ sản xuất lạc hậu, cơ sở hạ tầng kinh tế yếu kém nên đồng bào các dân tộc sản xuất trước hết nhằm phục vụ nhu cầu của gia đình, làng bản; tập trung vào sản xuất lương thực, chủ yếu là lúa gạo, hoa màu như ngô, khoai, sắn, kê, rau, đậu… nhằm tự túc lương thực, đảm bảo bữa ăn hàng ngày và một phần tích trữ.
Ở miền núi và vùng dân tộc, dù có giao thương nhưng hoạt động kinh tế còn khép kín, mang tính nội bộ làng bản. Các sản phẩm nông nghiệp của các dân tộc nghèo nàn và chất lượng thấp. Giao thông đi lại khó khăn đã hạn chế việc trao đổi và giao lưu kinh tế. Ở miền xuôi, giao lưu kinh tế đã vượt ra ngoài quy mô làng xã, song cũng chỉ ở mức độ nhất định.
- Kinh tế các tộc người dựa trên nền tảng nông nghiệp nhiệt đới gió mùa.
 Các tộc người sống trên lãnh thổ nước ta đều cùng chung hệ sinh thái nhiệt đới, đời sống kinh tế dựa trên nền tảng nông nghiệp nhiệt đới gió mùa, trồng trọt là chính, chăn nuôi là nghề phụ; hái lượm nổi trội hơn so với săn bắn, đánh cá. Mỗi tộc người đã tích lũy được những tri thức sản xuất nông nghiệp thích hợp với điều kiện tự nhiên khu vực nhiệt đới gió mùa. Có nhiều cây trồng, vật nuôi chính giống nhau, kinh nghiệm sản xuất khá tương đồng; lúa là cây trồng chủ đạo. Đồng bào miền núi thường canh tác lúa nương, sáng tạo ra nền văn hóa nương rẫy. Các tộc người ở vùng chân núi và đồng bằng có nền nông nghiệp lúa nước, văn hóa lúa nước phát triển.
- Đời sống kinh tế mang bản sắc văn hóa tộc người độc đáo.

Bản sắc văn hóa tộc người trong đời sống kinh tế thể hiện đa dạng ở tất cả các hoạt động kinh tế của từng tộc người từ phương thức canh tác, kỹ thuật, biện pháp sản xuất, tri thức, kinh nghiệm, cách thức tổ chức sản xuất, công cụ sản xuất, giống cây trồng vật nuôi, các sản phẩm làm ra… Các nghề và sản phẩm thủ công mang dấu ấn tộc người nổi bật: nghề rèn của người Hmông, nghề dệt của người Thái, nghề đan lát của người Khơ mú... Đời sống kinh tế tộc người còn phản ánh sắc thái tộc người trên các lĩnh vực văn hóa; là nền tảng tồn tại và phát triển của tộc người, phản ánh truyền thống tộc người. 

Thứ Hai, 6 tháng 11, 2017

Thế nào là dân tộc đa số, dân tộc thiểu số, dân tộc thiểu số ít người ở nước ta?

Điều 4, Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ ngày 14 tháng 01 năm 2011 về Công tác dân tộc, đã chỉ rõ:
Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia.
Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vùng dân tộc thiểu số là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 
Dân tộc thiểu số rất ít người là dân tộc có số dân dưới 10.000 người.
Dân tộc thiểu số có khó khăn đặc biệt là những dân tộc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo ba tiêu chí sau: Tỷ lệ hộ nghèo trong đơn vị thôn, bản chiếm trên 50% so với tỷ lệ hộ nghèo của cả nước; các chỉ số phát triển về giáo dục đào tạo, sức khỏe cộng đồng và chất lượng dân số đạt dưới 30% so với mức trung bình của cả nước; cơ sở hạ tầng kỹ thuật thiết yếu chất lượng thấp, mới đáp ứng mức tối thiểu phục vụ đời sống dân cư.

Hiện nay, dân tộc đa số là dân tộc Kinh (Việt), 53 dân tộc còn lại là dân tộc thiểu số. Theo Tổng điều tra năm 2009, dân tộc Kinh có 73.594. 427 người, chiếm 86,2% dân số toàn quốc; 6 dân tộc có số dân gần một triệu trở lên là Tày, Thái, Mường, Khơme, Nùng, Hmông; 16 dân tộc thiểu số ít người có số dân dưới 10.000 là La hủ, La ha, Pà thẻn, Lự, Ngái, Chứt, Lô lô, Mảng, Cờ lao, Bố y, Cống, Si la, Pu péo, Rơ măm, Brâu, Ơ đu.

Thứ Tư, 17 tháng 5, 2017

Tại sao phải kế thừa thiết chế xã hội truyền thống của các dân tộc thiểu số?

Kế thừa và phát huy các yếu tố tốt đẹp của thiết chế xã hội truyền thống các dân tộc trong xây dựng đời sống mới, nông thôn mới hiện nay là vấn đề có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường sinh thái vùng miền núi và dân tộc thiểu số. Bởi vì:
Việc kế thừa thiết chế xã hội truyền thống của các dân tộc là nhằm phát huy các truyền thống tốt đẹp của đồng bào trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở từng bản làng, địa phương, từng tộc người, vùng, miền và quốc gia như: truyền thống cộng đồng, truyền thống đoàn kết, truyền thống dân chủ bản làng, vai trò của luật tục, vai trò của người có uy tín....  Đó chính là xây dựng gia đình văn hóa, làng bản văn hóa mới trên cơ sở kế thừa truyền thống, đổi mới các hoạt động làng bản cổ truyền, đề cao tính tự quản trong xây dựng nếp sống văn hóa mới và trật tự an toàn xã hội, phát huy tính cộng đồng; xóa bỏ các tập tục lạc hậu, những tư tưởng lỗi thời cản trở phát triển kinh tế xã hội.
 Thiết chế truyền thống của các dân tộc là một bộ phận văn hóa tộc người, chứa đựng bản sắc tộc người phong phú và độc đáo. Do đó, việc kế thừa thiết chế xã hội truyền thống cũng chính là bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, xây dựng nền văn hóa các dân tộc tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế, phát triển các dân tộc ở nước ta.
Trong xây dựng thiết chế xã hội mới ở các dân tộc như: gia đình, dòng họ, làng bản, hương ước mới, các tổ chức chính trị - xã hội... phải đảm bảo theo qui định chung cả nước nhưng cần phù hợp với đặc điểm truyền thống, văn hóa của tộc người, địa phương. Có như vậy mới đem lại hiệu quả thiết thực, vững chắc, tạo sự ổn định chính trị - xã hội trên địa bàn và thiết thực phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc.
Phát huy vai trò của các tầng lớp tiêu biểu trong cộng đồng như: già làng, trưởng bản, trưởng tộc, người có uy tín, các chức sắc, chức việc tiến bộ. Họ luôn có ảnh hưởng lớn đến cộng đồng. Vì vậy, chính quyền các cấp cần quan tâm, tạo điều kiện phát huy vai trò của tầng lớp này để họ trở thành lực lượng nòng cốt tại chỗ trong phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng ở vùng dân tộc và miền núi.
Luật tục của các dân tộc giữ vai trò quan trọng trong điều chỉnh, điều hòa quan hệ xã hội, đời sống cộng đồng và môi trường sống. Cho nên, chúng ta kế thừa những giá trị luật tục đã được người dân duy trì hàng trăm năm qua là hết sức cần thiết, nhằm phát huy vai trò của luật tục trong quản lý xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái và trật tự an toàn xã hội ở bản làng, địa phương hiện nay

Thứ Tư, 10 tháng 5, 2017

Đặc điểm thiết chế xã hội truyền thống của các dân tộc ở nước ta

Thiết chế xã hội truyền thống các dân tộc ở nước ta có các đặc điểm sau:
Trình độ phát trin thiết chế xã hi các tc người không đồng đều. Sự chênh lệch về thiết chế xã hội ở các tộc người được phân chia thành các nhóm theo thang bậc khác nhau. Mt s tc người thiu s min núi còn nh hưởng khá đậm nét tàn dư kinh tế, xã hội nguyên thy. Các tc người ca vùng đồng bng có trình độ thiết chế xã hi cao, xã hi được t chc cht chẽ.
Có s đan xen, chng ln các thiết chế xã hi ở các tộc người. Bui đầu dng nước - thi k Văn Lang, Âu Lc, thiết chế nhà nước tng bước xâm nhp vào đời sng các tc người. Thi k Bc thuc, thiết chế xã hội nhà nước ca người Hán ch ph biến đồng bng, tổ chức đến cp xã. Các thôn làng vẫn bo tn sinh động thiết chế xã hội tc người.
S đan xen, chng ln các thiết chế xã hi ch thc s din ra mnh m kể từ khi nước ta bước vào thi k độc lp t ch k t thế k XI tr đi. Thiết chế xã hi địa phương tc người cùng song hành tn ti với thiết chế nhà nước. Trong tng khu vc nht định, các tc người có trình độ phát trin kinh tế xã hi cao hơn đã áp đặt thiết chế xã hi ca mình lên các tc người ph thuc. Mặt khác, các tc người sng xen k vi nhau đãnh hưởng ln nhau v thiết chế xã hi.
Thiết chế xã hi truyền thống phn ánh s phân hóa xã hi rt rõ nét thông qua t chc xã hi, quan h s hu, cơ cu giai tng xã hội, b máy qun lý cng đồng, lut tc quy định Các dân tc Vit, Hoa, Khơ-me, Chăm là nhng dân tc vào trình độ phân hóa xã hi sâu sc hơn c và đã đi đến thành lp nhà nước, xã hội đã phân hóa thành nhiu giai tng khác nhau.
Các tc người Tày, Nùng, Thái, Mường đã vào giai đon xã hi bắt đầu có phân hóa giai cp. Các tc người trình độ phân hóa giàu nghèo như nhóm Hmông - Dao, Tng Miến, Th, Cht... T chc xã hi ca họ thường là các làng bn, chưa xut hin hình thc t chc cao hơn. Vai trò ca già làng, trưởng h, trưởng bn rt ln và được cng đồng tôn trng.

Nhóm tc người còn mang đậm du n nguyên thy thuộc nhóm ngôn ng Môn - Khơme Tây Bc, Trung B và dc Trường Sơn - Tây Nguyên. Quyn s hu đất rng thuc v c cng đồng. Tính cng đồng và tinh thn dân ch rt cao. Vai trò ca ch làng và hi đồng già làng có tính quyết định. Du n mu h khá đậm nét trong hôn nhân, gia đình, dòng h

Biến đổi đời sống kinh tế của các dân tộc thiểu số ở nước ta từ năm 1986 đến nay

Từ năm 1986, đời sống kinh tế của các dân tộc thiểu số có những đổi thay quan trọng trên những vấn đề sau:
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế từng bước được hình thành và xác lập ở vùng miền núi và dân tộc thiểu số.
Đảng, Nhà nước Việt Nam đã quan tâm lớn đến xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế vùng miền núi dân tộc; khuyến khích đầu tư phát triển hạ tầng; xây dựng các cơ sở công nghiệp, các công trình thủy điện, điện lưới. Mạng lưới đường giao thông ngày càng phát triển. Hệ thống thủy lợi được kiên cố hóa, nâng cấp và xây dựng mới. Nhà nước quy hoạch, xây dựng mạng lưới thông tin bưu điện ở các vùng, miền để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Cơ cấu kinh tế lạc hậu ở vùng miền núi dân tộc trước đây đã chuyển dịch sang đa dạng hóa nhằm phát huy thế mạnh và tiềm năng kinh tế của các tộc người, phù hợp với đặc điểm của từng vùng, từng tộc người. Cơ cấu cây trồng vật nuôi có nhiều thay đổi đa dạng, hình thành các vùng trồng cây công nghiệp, cây ăn quả,  vùng chăn nuôi. Sản xuất lâm nghiệp chuyển biến tích cực theo hướng phát triển kinh tế rừng, trồng rừng, khoanh nuôi, chăm sóc bảo vệ rừng. Tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ tăng lên, giảm dần tỷ trọng nông, lâm nghiệp. Nhiều nghề thủ công nghiệp truyền thống được khôi phục, phát triển.
Nhà nước xác định quyền làm chủ đất đai gắn với môi trường sống của các tộc người thông qua giao đất giao rừng; đẩy mạnh công tác định canh định cư, xây dựng vùng kinh tế mới và phân bố lại lao động.
Khoa học kỹ thuật được ứng dụng vào đời sống kinh tế các tộc người thông qua khuyến nông, khuyến lâm. Phân phối lưu thông và trao đổi thương mại có những bước đổi mới và phát triển.

Địa bàn miền núi dân tộc đã, đang thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài trên các lĩnh vực. Vùng biên giới đã hình thành các khu kinh tế cửa khẩu quan trọng. Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm xây dựng các khu kinh tế quốc phòng, gắn phát triển kinh tế với quốc phòng - an ninh. 

Thứ Tư, 3 tháng 5, 2017

Đặc điểm kinh tế truyền thống của các tộc người thiểu số ở Việt Nam

- Các tộc người có trình độ phát triển kinh tế không đồng đều.
Nhóm tộc người thiểu số còn bảo lưu yếu tố kinh tế nguyên thủy, cư trú ở miền núi vùng cao, vùng sâu, vùng xa; gồm những tộc người nói ngôn ngữ Môn - Khơme ở Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Trường Sơn - Tây Nguyên; nhóm Hmông - Dao, Hán - Tạng ở vùng núi phía Bắc. Hoạt động kinh tế của nhóm này cơ bản là sản xuất nương rẫy du canh; công cụ sản xuất khá thô sơ, năng suất thấp. Săn bắn hái lượm đóng vai trò khá quan trọng trong đời sống kinh tế.
Nhóm tộc người cư trú lâu đời ở chân núi, thung lũng như Tày, Nùng, Thái, Mường...; canh tác lúa nước là chính, kết hợp với sản xuất nương rẫy; sản xuất và sinh hoạt định canh định cư, trình độ thâm canh của khá cao, canh tác bằng sức kéo; trao đổi thương mại diễn ra trong cộng đồng và khu vực.
Nhóm các tộc người là cư dân ở đồng bằng như Việt, Chăm, Khơme, Hoa, có nền văn minh lúa nước lâu đời, kỹ thuật thâm canh cao, kinh nghiệm sản xuất phong phú. Các hoạt động chăn nuôi, thủ công, trao đổi thương mại đều sớm phát triển hơn; đời sống kinh tế đa dạng về cơ cấu ngành nghề, vật nuôi cây trồng.
- Kinh tế truyền thống tộc người mang nặng tính tự cung, tự cấp của nền kinh tế tự nhiên.
Các tộc người sản xuất chủ yếu để đáp ứng nhu cầu tự túc lương thực, thực phẩm và phục vụ đời sống sinh hoạt tại chỗ. Trong các hình thái kinh tế - xã hội tiền tư bản, trình độ sản xuất lạc hậu, cơ sở hạ tầng kinh tế yếu kém nên đồng bào các dân tộc sản xuất trước hết nhằm phục vụ nhu cầu của gia đình, làng bản; tập trung vào sản xuất lương thực, chủ yếu là lúa gạo, hoa màu như ngô, khoai, sắn, kê, rau, đậu… nhằm tự túc lương thực, đảm bảo bữa ăn hàng ngày và một phần tích trữ.
Ở miền núi và vùng dân tộc, dù có giao thương nhưng hoạt động kinh tế còn khép kín, mang tính nội bộ làng bản. Các sản phẩm nông nghiệp của các dân tộc nghèo nàn và chất lượng thấp. Giao thông đi lại khó khăn đã hạn chế việc trao đổi và giao lưu kinh tế. Ở miền xuôi, giao lưu kinh tế đã vượt ra ngoài quy mô làng xã, song cũng chỉ ở mức độ nhất định.
- Kinh tế các tộc người dựa trên nền tảng nông nghiệp nhiệt đới gió mùa.
 Các tộc người sống trên lãnh thổ nước ta đều cùng chung hệ sinh thái nhiệt đới, đời sống kinh tế dựa trên nền tảng nông nghiệp nhiệt đới gió mùa, trồng trọt là chính, chăn nuôi là nghề phụ; hái lượm nổi trội hơn so với săn bắn, đánh cá. Mỗi tộc người đã tích lũy được những tri thức sản xuất nông nghiệp thích hợp với điều kiện tự nhiên khu vực nhiệt đới gió mùa. Có nhiều cây trồng, vật nuôi chính giống nhau, kinh nghiệm sản xuất khá tương đồng; lúa là cây trồng chủ đạo. Đồng bào miền núi thường canh tác lúa nương, sáng tạo ra nền văn hóa nương rẫy. Các tộc người ở vùng chân núi và đồng bằng có nền nông nghiệp lúa nước, văn hóa lúa nước phát triển.
- Đời sống kinh tế mang bản sắc văn hóa tộc người độc đáo.
Bản sắc văn hóa tộc người trong đời sống kinh tế thể hiện đa dạng ở tất cả các hoạt động kinh tế của từng tộc người từ phương thức canh tác, kỹ thuật, biện pháp sản xuất, tri thức, kinh nghiệm, cách thức tổ chức sản xuất, công cụ sản xuất, giống cây trồng vật nuôi, các sản phẩm làm ra… Các nghề và sản phẩm thủ công mang dấu ấn tộc người nổi bật: nghề rèn của người Hmông, nghề dệt của người Thái, nghề đan lát của người Khơ mú... Đời sống kinh tế tộc người còn phản ánh sắc thái tộc người trên các lĩnh vực văn hóa; là nền tảng tồn tại và phát triển của tộc người, phản ánh truyền thống tộc người.