Hiển thị các bài đăng có nhãn nhận thức mới. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nhận thức mới. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 15 tháng 6, 2023

MỘT SỐ NHẬN THỨC MỚI VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ XÃ HỘI

Đại hội XIII chỉ rõ: các tổ chức xã hội có vai trò tạo sự liên kết, phối hợp hoạt động, giải quyết những vấn đề phát sinh giữa các thành viên; đại diện và bảo vệ lợi ích của các thành viên trong quan hệ với các chủ thể, đối tác khác; cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho các thành viên; phản anh nguyện vọng, lợi ích của các tầng lớp  nhân dân với Nhà nước và tham gia phản biện luật pháp, cơ chế, chính sách của Nhà nước, giám sát các cơ quan và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước trong việc thực thi pháp luật. Để đảm bảo sự phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, Đại hội XIII nêu rõ sự cần thiết nhận thức và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong chính sách xã hội. Coi đây là phương thức để đảm bảo mối quan hệ nhà nước và xã hội thích hợp với điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, tính bền vững trong các chính sách xã hội, nhất là phức lợi xã hội, an sinh xã hội, an ninh con người. Triền khai đồng bộ, toàn diện các mục tiêu kinh tế, tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường, trên cơ sở đó, đổi mới phân bổ nguồn lực hợp lý để nâng cao hiệu quả phát triển xã hội. Xây dựng và thực hiện đồng bộ thể chế, chính sách phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội bền vững, hài hòa.

Trên cơ sở dự báo đúng xu hướng biến đổi cơ cấu, xã hội ở  nước ta trong những năm tới, xây dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp, giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát phân tầng xã hội và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Gắn chính sách phát triển kinh tế với chính sách xã hội, quan tâm lĩnh vực công tác xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Đổi mới cơ chế, huy động phân bổ và đa dạng hóa các nguồn lực thực hiện chính sách xã hội phù hợp với nhu cầu, lợi ích của các tầng lớp dân cư, nhóm xã hội, nhất là với lao động khu vực phi chính thức. Hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp, chính sách đối với người có công trên cơ sở nguồn lực của Nhà nước và xã hội, đảm bảo người có công và gia đình có mức sống từ trung bình khá trở lên trong các địa bàn cư trú. Cân đối ngân sách để tiếp tục thực hiện việc nâng mức trợ cấp xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công, giải quyết căn bản chính sách đối với người có công; nâng cấp các công trình “đền ơn, đáp nghĩa”. Cải cách chính sách tiền lương theo hướng gắn với sự thay đổi của giá cả sức lao động trên thị trường, tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng năng suất lao động, bảo đảm nguyên tắc phân phối theo lao động, tạo động lực nâng cao năng suất và hiệu quả. Chú trọng nâng cao phúc lợi xã hội, an sinh xã hội, cố gắng đảm bảo những nhu cầu cơ bản, thiết yếu của nhân dân về nhà ở, đi lại, giáo dục, y tế, việc làm.

Cùng với đó, việc phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân với các chính sách phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro cho người dân, bảo đảm trợ giúp các nhóm xã hội yếu thế cũng được đề cập như là phương thức để giải quyết tốt hơn mối quan hệ nhà nước và xã hội. Cải cách hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng dựa trên nguyên tắc đóng – hưởng, chia sẻ - bền vững. Triển khai đồng bộ các biện pháp giảm nghèo đa chiều, bền vững, bảo đảm mức sống tối thiểu và các dịch vụ cơ bản. Nâng cao chất lượng xây dựng nông thôn mới, triển khai có hiệu quả chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2020- 2030, thu hẹp khoảng cách giàu – nghèo giữa các vùng, miền, dân tộc. Xây dựng và thực thi có hiệu quả chính sách dân số và phát triển, tập dụng và phát huy lợi thế thời kỳ dân số vàng, đồng thời chuẩn bị điều kiện thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng xây dựng và thực hiện hiệu quả các chính sách về dinh dưỡng, an toàn thực phẩm, bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe, tầm vóc người Việt Nam, bảo đảm toàn dân đều được quản lý, bảo vệ, chăm sóc sức khỏ, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em. Đổi mới cơ chế tài chính y tế, hệ thống quản lý và cung cấp dịch vụ y  tế. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, khắc phục tình trạng quá tải bệnh viện, phát triển hình thức khám chữa bệnh trực tuyến. Nần cao năng lực chủ động phòng, chống dịch bệnh gắn với đổi mới toàn diện hệ thống y tế, nhất là y tế dự phòng. Thực hiện đúng hướng, hiệu quả xã hội hóa trong lĩnh vực y tế; bảo đảm bình đẳng giữa y tế nhà nước và y tế ngoài nhà nước; xây dựng, phát triển mô hình bác sĩ gia đình; phát triển mạnh ngành công nghiệp dược và thiết bị y tế.

 


Thứ Sáu, 11 tháng 2, 2022

NHẬN THỨC MỚI VỀ ĐẨY MẠNH ĐỔI MỚI NỘI DUNG, CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG CHUẨN HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA, SÁT THỰC TIỄN, MỤC TIÊU XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI HIỆN ĐẠI

 Để đáp ứng yêu cầu xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ xây dựng Quân đội hiện đại từ năm 2030 theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ Quân đội, trên cơ sở bám sát phương châm: “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”, các nhà trường Quân đội tiến hành đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình giáo dục, đào tạo, theo hướng: xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật trong Quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy sáng tạo, trình độ, kiến thức quân sự, chính trị, khoa học, ngoại ngữ, tin học đáp ứng với hội nhập, chiến tranh công nghệ cao; phương pháp làm việc khoa học, phong cách, tác phong dân chủ, chính quy, đoàn kết; đạo đức, lối sống lành mạnh, sức khỏe tốt.

Các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng cùng các nhà trường Quân đội kế thừa, phát huy truyền thống Quân đội, nghệ thuật quân sự Việt Nam, nắm chắc tổ chức, biên chế Quân đội, đòi hỏi từ thực tiễn và các chương trình, phương pháp đào tạo tiên tiến trên thế giới; trên cơ sở đó, chủ động có những bước đi thích hợp, bám sát tiêu chí chuẩn hóa, hiện đại hóa, tiếp cận, ứng dụng thành tựu cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Các chương trình đào tạo cần bảo đảm tính lôgic, liên thông từ thấp đến cao, rút ngắn thời gian đào tạo một cách hợp lý, đồng thời bám sát mục tiêu, chuẩn đầu ra của từng đối tượng đào tạo; cập nhật sự phát triển của khoa học và thực tiễn.

Tập trung nghiên cứu, xây dựng hoàn thiện Đề án đổi mới quy trình, chương trình đào tạo cán bộ các cấp trong Quân đội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; trong đó, tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung kịp thời các chương trình đào tạo, bảo đảm phù hợp với sự phát triển của vũ khí, trang bị mới; chú trọng xây dựng một số chương trình đào tạo các chuyên ngành đặc thù, lĩnh vực mũi nhọn, chất lượng cao để làm chủ vũ khí, trang bị, xây dựng nền công nghiệp quốc phòng hiện đại, lưỡng dụng. Đặc biệt, cần đổi mới chương trình, nội dung đào tạo ngoại ngữ, tin học, lấy chất lượng làm tiêu chí hàng đầu; kết hợp với mở rộng hợp tác về dạy học ngoại ngữ ở cả trong, ngoài nước và chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học tại chỗ, bảo đảm phù hợp với nhận thức, trình độ người học, v.v.

 

Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại làm mục tiêu thực hiện. Theo đó, các nhà trường Quân đội cần lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt việc ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin, kỹ thuật mô phỏng vào công tác giảng dạy; sáng tạo trong áp dụng phương pháp dạy học tích cực để phát huy tính chủ động, tự giác, sáng tạo của học viên; đồng thời, coi trọng việc hướng dẫn, rèn luyện kỹ năng thực hành cho người học, nhất là kỹ năng chỉ huy, làm chủ vũ khí, trang bị mới, hiện đại và khả năng tự nghiên cứu, vận dụng linh hoạt, sáng tạo khi thực tiễn có sự thay đổi, phát triển. Đẩy mạnh hoạt động phương pháp, nâng cao chất lượng giảng dạy, kết hợp chặt chẽ giữa trang bị kiến thức mới với truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu.

Thứ Tư, 18 tháng 12, 2019

MỘT SỐ NHẬN THỨC MỚI VỀ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Trên cơ sở coi phát huy dân chủ là một động lực của sự phát triển, Đại hội XII cụ thể hóa nội dung dân chủ là: Bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân. Cụ thể hóa và nâng cao chất lượng các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013. Phát huy dân chủ phải đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và coi trọng đạo đức xã hội. Xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng dân chủ đế làm mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và những hành vi vi phạm quyền dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân. Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phải thực hiện dân chủ, tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền, tạo sự chuyển biến tích cực, đồng bộ, hiệu quả trong hoạt động cả lập pháp, hành pháp, tư pháp. Xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực nhà nước, giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất. Xác định rõ hơn quyền hạn, trách nhiệm của mỗi quyền và cơ chế phối hợp trong việc thực hiện, kiểm soát các quyền ở các cấp chính quyền.

NHẬN THỨC MỚI VỀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VẤN ĐỀ LỢI ÍCH DÂN TỘC.

Qua các kỳ đại hội, đến Đại hội XII, nhận thức của Đảng về vấn đề lợi ích dân tộc đã đẩy lên một bước quan điểm đề cao lợi ích dân tộc chính đáng. Điều này được thể hiện ngay trong phần tổng kết các bài học kinh nghiệm sau 30 năm đổi mới, lần đầu tiên Đảng ta đưa vấn đề "phải đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết" là một trong những bài học kinh nghiệm của Đảng. Đây có thể xem là bước đột phá trong nhận thức lý luận về đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng. Bởi lẽ, nếu nhìn lại lịch sử cách mạng nước ta từ khi có Đảng lãnh đạo, nhất là trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội trước năm 1986, không phải lúc nào vấn đề lợi ích dân tộc đặt lên trên hết và không phải lúc nào vấn đề lợi ích dân tộc cũng được hiểu một cách thấu đáo đến mức coi đó là một trong những bài học kinh nghiệm của Đảng. Ở Đại hội XII, vấn đề “đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết” còn được khẳng định rõ và trở thành nguyên tắc trong phương châm chiến lược đối ngoại lâu dài và nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Đại hội XII xác định rõ 4 quan điểm đối ngoại, trong đó quan điểm đầu tiên là: Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi. Quan điểm trên đây của Đảng xuất phát từ những cơ sở nhận thức sâu sắc về nội dung, tính chất thời đại, về tình hình thế giới và khu vực, một lần nữa thể hiện rõ thái độ của Đảng, nhận thức của Đảng về tầm quan trọng của vấn đề lợi ích dân tộc và việc xử lý nó trong mối quan hệ với thế giới. Trong khi khẳng định thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta nhận rõ tính chất phức tạp và rất lâu dài của quá trình chuyển biến xã hội, nên cần có nhận thức đúng, thấy rõ những động thái, đặc trưng, xu hướng và tính chất thời đại trong giai đoạn hiện nay và tương lai. Về môi trường quốc tế, Đảng ta đã nhận rõ việc các nước không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển, cùng tồn tại hòa bình, hợp tác và đấu tranh vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Trên cơ sở đó, Đại hội XII xác định: Tiếp tục đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu. Chú trọng phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị, truyền thống với các nước láng giềng, thúc đẩy quan hệ với các đối tác lớn, đối tác quan trọng. Ở đây có thể nhận thấy điểm khác biệt trong quan điểm của Đại hội XII về quan hệ quốc tế là không phân định cụ thể mối quan hệ với từng nước mà phân định mối quan hệ theo khu vực (láng giềng nói chung) hoặc phân định theo tính chất, cấp độ quan hệ (đối tác lớn, quan trọng).
Với cách nhìn nhận này, không chỉ một lần nữa Đại hội XII của Đảng đã khẳng định tính đúng đắn và sự trung thành của Đảng với Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng năm 1930, mà còn thể hiện sự chính xác trong tư duy của Đảng về vấn đề dân tộc và quốc tế, dân tộc và giai cấp trong bối cảnh thế giới phức tạp khôn lường hiện nay. Trong lịch sử Đảng ta, không phải lúc nào Đảng ta cũng có được những nhận thức hoàn toàn đúng đắn và xử lý đúng mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc và lợi ích bộ phận, giai cấp, giữa dân tộc và quốc tế.

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

NHẬN THỨC MỚI VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ HIỆN NAY

          Trước những yêu cầu, đòi hỏi thường xuyên của công cuộc cải cách, đổi mới, trước những tác động, nhất là tác động của cơ chế thị trường, mở cửa và hội nhập…, một trong những vấn đề được các đảng cộng sản đặc biệt quan tâm là công tác xây dựng đảng nhằm không ngừng nâng cao trình độ năng lực cầm quyền của đảng, mặt khác tăng cường đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, thoái hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đảng Cộng sản Trung Quốc khẳng định: “Không ngừng nâng cao trình độ lãnh đạo và trình độ cầm quyền của Đảng, nâng cao năng lực chống tham nhũng, ngừa biến chất và chống đỡ rủi ro, là bài toán lớn mà Đảng phải giải quyết để củng cố địa vị cầm quyền, thực hiện sứ mệnh cầm quyền” [Đảng Cộng sản Trung Quốc (2013), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII Đảng Cộng sản Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.91]. Để thực hiện nhiệm vụ đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc xác định: toàn Đảng cần tăng cường tinh thần nhiệt huyết và tinh thần trách nhiệm; nắm chắc đường hướng chính là tăng cường xây dựng năng lực cầm quyền, xây dựng tính tiên tiến và tính trong sạch của Đảng; kiên trì giải phóng tư tưởng, cải cách sáng tạo, kiên trì Đảng quản lý Đảng, quản lý Đảng phải nghiêm; tăng cường toàn diện xây dựng tư tưởng, xây dựng tổ chức, xây dựng tác phong, xây dựng liêm chính chống tham nhũng, xây dựng chế độ của Đảng; tăng cường tự làm sạch, tự hoàn thiện, tự đổi mới, tự nâng cao năng lực; xây dựng đảng cầm quyền mácxít theo kiểu học tập, kiểu phục vụ, kiểu sáng tạo; bảo đảm Đảng luôn là hạt nhân lãnh đạo kiên cường của sự nghiệp xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc.
          Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi công tác xây dựng Đảng là vấn đề “then chốt”, quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng. Hiện nay, Đảng đang đúng trước nhiều khó khăn, thách thức, công tác xây dựng Đảng được đặt ra là một vấn đề “cấp bách”, nhiều Nghị quyết bàn về công tác xây dựng Đảng đã ra đời như: Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI: Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng Đảng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Để đảm đương được vai trò lãnh đạo trong giai đoạn cách mạng tới: Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo. Giữ vững truyền thống đoàn kết thống nhất trong Đảng, tăng cường dân chủ và kỷ luật trong hoạt động của Đảng. Thường xuyên tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và mọi hành động chia rẽ, bè phái. Đảng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, có phẩm chất, năng lực, có sức chiến đấu cao theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; quan tâm bồi dưỡng, đào tạo lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc [Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.89-90]. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào dân để xây dựng Đảng, “chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” [Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.89]. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, đổi mới phong cách làm việc của cán bộ, gia tăng trách nhiệm cá nhân nhất là cá nhân người đứng đầu. Nhận diện rõ và ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, suy thoái về đạo đức lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng. 
          Đảng Nhân dân Cách mạng Lào cho rằng, phải xây dựng Đảng là Đảng đoàn kết thống nhất, có ý chí và hành động mạnh mẽ, quản lý chặt chẽ, có kỷ luật nghiêm minh; là Đảng trong sạch, kiên quyết trong phòng chống tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực trong bộ máy Đảng, Nhà nước và trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên. Đảng Cộng sản Cuba khi bàn về công tác xây dựng đảng cầm quyền trong điều kiện hiện nay, về vai trò của lãnh đạo của Đảng và nhà nước trong thời gian tới, Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Cuba (khóa VI) chỉ rõ: Điều quan trọng nhất trong đời sống chính trị của Đảng hiện nay là phải thay đổi tư duy, kiên quyết loại bỏ chủ nghĩa giáo điều và các quan điểm lỗi thời; Đảng chỉ nên tập trung vào những nhiệm vụ chính trị của mình, theo nguyên tắc là Đảng lãnh đạo và kiểm tra, chứ không phải là quản lý; cần chú trọng nhiều hơn vào công tác giáo dục chính trị tư tưởng đối với các đối tượng xã hội khác nhau. Trong việc củng cố vai trò của Đảng thì việc khắc phục những sai lầm và yếu kém hiện nay trong công tác chính sách cán bộ là mang tính quyết định; đổi mới phong cách làm việc của cán bộ, gia tăng trách nhiệm cá nhân, nâng cao tính sáng tạo, củng cố mối quan hệ chặt chẽ với quần chúng, đấu tranh chống lại những vi phạm, ý thức vô kỷ luật và biểu hiện tham nhũng, xóa bỏ phương thức lãnh đạo quan liêu, nâng cao tính gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên.