Hiển thị các bài đăng có nhãn dân chủ xã hội chủ nghĩa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dân chủ xã hội chủ nghĩa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 19 tháng 5, 2023

NHẬN DIỆN ÂM MƯU THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC ĐỊCH VỀ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Trong những năm qua, hoạt động lợi dụng vấn đề nhân quyền chống Việt Nam đang được các thế lực thù địch cả trong và ngoài nước không ngừng đẩy mạnh với tính chất ngày càng gay gắt, quyết liệt và nguy hiểm. Các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để tác động chuyển hóa nội bộ, gây sức ép về chính trị, kinh tế, ngoại giao nhằm thực hiện mục tiêu “chuyển hóa dân chủ” đối với Việt Nam; kích động biểu tình, phá rối an ninh, trật tự, gây bạo loạn nhằm gây mất ổn định chính trị, xã hội và an ninh, trật tự ở Việt Nam; hậu thuẫn, thúc đẩy hình thành lực lượng, tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm phá vỡ sự ổn định chính trị, xã hội, làm suy yếu tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Chúng lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền đưa ra những thủ đoạn, các luận điệu để xuyên tạc, bóp méo sự thật về dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, như: phủ nhận thành tựu, thực tiễn các giá trị lý luận, quan điểm, đường lối của Đảng về dân chủ xã hội chủ nghĩa với những luận điệu như kích động vấn đề dân tộc thiểu số; xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền trên lĩnh vực tôn giáo, ngăn cản tự do ngôn luận, tự do hội họp; lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, sơ hở, thiếu sót trong quản lý, điều hành đất nước hoặc những vấn đề bức xúc, khiếu kiện kéo dài chưa được giải quyết để lôi kéo, kích động nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh trật tự, xã hội,... Chúng tung hô, cổ vũ, cường điệu hóa các giá trị dân chủ tư sản “kiểu Mỹ” và phương Tây, tuyệt đối hóa quyền con người với luận điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “lợi ích cá nhân cao hơn lợi ích cộng đồng, quốc gia”, tuyệt đối hóa các giá trị của quyền con người; xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền cơ bản của con người, chèn ép “những người bất đồng chính kiến”,… Chúng sử dụng dân chủ, nhân quyền làm điều kiện để gây sức ép, can thiệp vào nội bộ nước ta như tìm cách gắn vấn đề viện trợ, hợp tác kinh tế với các điều kiện dân chủ, nhân quyền trong quan hệ ngoại giao với Việt Nam; đòi nước ta phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, cải cách chính trị, cải cách dân chủ, pháp luật theo kiểu phương Tây. Thông qua các diễn đàn công khai như hội thảo, hội nghị khoa học, những buổi tiếp xúc, đối thoại với các cơ quan chức năng của Việt Nam và yêu cầu ta phải đưa ra các lộ trình thực hiện các điều ước quốc tế về dân chủ, nhân quyền,... Chúng tập hợp lực lượng hình thành các tổ chức dưới danh nghĩa “bảo vệ dân chủ, nhân quyền”, “yêu nước” với những cái tên rất kêu mang tinh thần “dân tộc” như “Hội phụ nữ nhân quyền”, “Nhóm công dân tự do”, “Nhóm tuổi trẻ yêu nước”. Chúng còn thúc đẩy sự ra đời các khuynh hướng dân chủ cực đoan, “xã hội dân sự”, hình thành tổ chức chính trị bất hợp pháp; vận động các tổ chức quốc tế trao “giải thưởng nhân quyền” cho các đối tượng vi phạm pháp luật bị bắt, xử lý ở trong nước,… nhằm cổ suý, khích lệ số đối tượng trong nước hoạt động quyết liệt, tích cực hơn. Vì vậy, nhận diện và đấu tranh, phản bác âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch về dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nhước ta hiện nay có ý nghĩa hết sức quan trọng và cấp thiết.

 


Thứ Hai, 14 tháng 6, 2021

ĐA ĐẢNG KHÔNG PHẢI CỨU CÁNH CHO DÂN CHỦ

Dân chủ chính là quyền của người dân làm chủ vận mệnh của mình, làm chủ xã hội mà mình đang sống trên tất cả các lĩnh vực, trong mọi hoạt động. Dân chủ gắn liền với tiến bộ xã hội và sự phát triển của lịch sử qua các chế độ xã hội và thời đại khác nhau. Dân chủ chỉ xuất hiện khi có nhà nước và mỗi nền dân chủ đều phải gắn với một nhà nước nhất định, được pháp luật của nhà nước đó quy định.

Chế độ dân chủ mà con người ta có được là kết quả của quá trình phát triển thông qua đấu tranh giai cấp, để giải phóng con người. Chừng nào xã hội còn có giai cấp thì dân chủ trong xã hội đó mang tính giai cấp sâu sắc và phải đặt trong khuôn khổ pháp luật của xã hội đó. Không có thứ dân chủ chung chung phi giai cấp, không có thứ dân chủ nằm ngoài pháp luật... Tất cả những luận điệu phủ nhận vấn đề này đều là lừa bịp, nhằm động cơ đen tối.

Dân chủ chẳng những không thể tách rời mảnh đất hiện thực xã hội, mà còn phụ thuộc rất lớn vào nền tảng kinh tế, văn hóa, xã hội và trình độ dân trí của xã hội đó. Chúng ta không phủ nhận theo lịch sử phát triển của xã hội, sự ra đời của nhà nước tư sản đánh dấu một nấc thang phát triển về dân chủ so với dân chủ trong chế độ phong kiến. Nhưng nền dân chủ trong chế độ tư bản cũng không thể vượt ra ngoài nền tảng kinh tế của xã hội đã sinh ra nó. Do đó toàn bộ thiết chế của nền dân chủ tư sản đều chỉ nhằm đến mục đích cao nhất là bảo vệ sự thống trị của giai cấp tư sản. Bộ máy chính quyền mà nhà nước tư sản lập nên đều hướng đến mục tiêu chống lại tư tưởng tự do, dân chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Với tư cách là một nấc thang phát triển cao hơn xã hội tư bản, dân chủ trong xã hội chế độ XHCN khác hẳn về chất so với dân chủ trong xã hội tư bản. Nền dân chủ XHCN lấy tiêu chí cốt lõi để khẳng định bản chất nhà nước của mình đó là “nhân dân là chủ” và “nhân dân làm chủ”. Theo đó, dân chủ XHCN được thể hiện trên những nội dung cốt lõi là: nền dân chủ của nhân dân lao động, vì nhân dân lao động, thể hiện ở việc bảo vệ quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của nhân dân lao động; thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do được bảo đảm về mặt pháp lý để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Dân chủ XHCN có nội dung toàn diện, thể hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,... trong đó nổi bật là sự tham gia một cách bình đẳng và ngày càng rộng rãi người lao động và công việc quản lý nhà nước và xã hội thông qua hai hình thức, đó là: dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.

Nhìn từ bản chất của hai nền dân chủ, chúng ta thấy rõ ràng dân chủ XHCN ưu việt hơn hẳn. Do đó việc Việt Nam lựa chọn nền dân chủ XHCN là điều không cần phải tranh luận.

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2020

GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐỂ CHỐNG XUỐNG CẤP ĐẠO ĐỨC TRONG ĐẢNG

Trong cơ chế, tính khoa học của bộ máy thì vun bồi nền dân chủ, thực hành dân chủ có ý nghĩa quan trọng bậc nhất. Cùng với cách hiểu “dân chủ là cái chìa khóa vạn năng; là động lực của cách mạng; là dân làm chủ”, cần phải nhận thức đúng đắn, sâu sắc rằng: “Dân chủ là dựa vào lực lượng quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng. Cho nên phong trào chống tham ô, lãng phí quan liêu ắt phải dựa vào lực lượng quần chúng thì mới thành công”. Đây là một điểm nhấn, cốt tủy trong công tác xây dựng Đảng, chống xuống cấp về đạo đức trong Đảng hiện nay. Những năm qua, việc phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, các cơ quan truyền thông và nhân dân trong đấu tranh, ngăn chặn suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên còn hạn chế, hiệu quả chưa cao. Chúng ta thiếu thể chế hóa, cụ thể hóa những đúc kết thành phương châm rất có giá trị của Đảng như “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”; “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Vì vậy, có nhiều điều rất hay nhưng vẫn chỉ nằm ở phương châm, nghị quyết.

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2020

GIẢI PHÁP PHÁT HUY DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Một là, tiếp tục phát huy dân chủ rộng rãi trong Đảng.
Để phát huy dân chủ trong Đảng đòi hỏi các cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải quán triệt sâu sắc, nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn nữa các quan điểm, đường lối của Đảng về phát huy dân chủ; đồng thời, đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận về phát huy quyền làm chủ; giải quyết tốt mối quan hệ hữu cơ giữa “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”; tạo điều kiện cần và đủ để nhân dân làm chủ thực chất, hiệu quả. Tiếp tục bổ sung các quy chế, quy định về dân chủ để thực hiện thống nhất trong toàn Đảng…

KẾT QUẢ THỰC HIỆN PHÁT HUY DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đã nêu lên bốn bài học lớn, trong đó có bài học: “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”. Văn  kiện Đại  hội nhấn mạnh “xóa bỏ nhận thức sai lầm coi công tác quần chúng chỉ là biện pháp để tổ chức, động viên nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách. Đối với những chủ trương có quan hệ trực tiếp tới đời sống nhân dân trên phạm vi cả nước cũng như ở các địa phương phải trưng cầu ý kiến nhân dân trước khi quyết định”. Nội dung phát huy dân chủ tiếp tục được Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng từ khóa VII đến khóa X đề cập rõ nét.

Thứ Ba, 18 tháng 2, 2020

GIẢI PHÁP PHÁT HUY DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Một là, tiếp tục phát huy dân chủ rộng rãi trong Đảng.
Để phát huy dân chủ trong Đảng đòi hỏi các cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải quán triệt sâu sắc, nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn nữa các quan điểm, đường lối của Đảng về phát huy dân chủ; đồng thời, đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận về phát huy quyền làm chủ; giải quyết tốt mối quan hệ hữu cơ giữa “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”; tạo điều kiện cần và đủ để nhân dân làm chủ thực chất, hiệu quả. Tiếp tục bổ sung các quy chế, quy định về dân chủ để thực hiện thống nhất trong toàn Đảng…

KẾT QUẢ THỰC HIỆN PHÁT HUY DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đã nêu lên bốn bài học lớn, trong đó có bài học: “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân  dân  lao  động”.  Văn  kiện Đại  hội nhấn mạnh “xóa bỏ nhận thức sai lầm coi công tác quần chúng chỉ là biện pháp để tổ chức, động viên nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách. Đối với những chủ trương có quan hệ trực tiếp tới đời sống nhân dân trên phạm vi cả nước cũng như ở các địa phương phải trưng cầu ý kiến nhân dân trước khi quyết định”. Nội dung phát huy dân chủ tiếp tục được Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng từ khóa VII đến khóa X đề cập rõ nét.

Thứ Tư, 18 tháng 12, 2019

MỘT SỐ NHẬN THỨC MỚI VỀ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Trên cơ sở coi phát huy dân chủ là một động lực của sự phát triển, Đại hội XII cụ thể hóa nội dung dân chủ là: Bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân. Cụ thể hóa và nâng cao chất lượng các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013. Phát huy dân chủ phải đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và coi trọng đạo đức xã hội. Xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng dân chủ đế làm mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và những hành vi vi phạm quyền dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân. Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phải thực hiện dân chủ, tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền, tạo sự chuyển biến tích cực, đồng bộ, hiệu quả trong hoạt động cả lập pháp, hành pháp, tư pháp. Xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực nhà nước, giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất. Xác định rõ hơn quyền hạn, trách nhiệm của mỗi quyền và cơ chế phối hợp trong việc thực hiện, kiểm soát các quyền ở các cấp chính quyền.

Thứ Năm, 18 tháng 10, 2018

THỰC CHẤT CỦA ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ, ĐA ĐẢNG ĐỐI LẬP LÀ GÌ?


Vấn đề đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không phải là vấn đề mới, nó xuất hiện và được bàn luận, đề cập nhiều từ thế kỷ XIX, khi giai cấp tư sản đang độc quyền thống trị xã hội. Lúc đầu, tư tưởng "đa nguyên luận" nhằm mục đích ngăn chặn tình trạng độc quyền, mất dân chủ của giới tài phiệt và một số chính trị gia tư sản, bảo vệ quyền lợi của các tầng lóp dân cư và lợi ích của một số nhóm nhỏ trong xã hội. Tuy nhiên, tư tưởng "đa nguyên luận" không đạt được mục đích của mình là dân chủ hoá xã hội mà chỉ hình thành nên một số đảng phái trong xã hội nhằm phân chia, tranh giành quyền lực lẫn nhau. Đặc biệt, sau Cách mạng tháng Mười Nga, nghĩa là sau khi chính quyền của giai cấp vô sản ra đời, Đảng cộng sản nắm quyền lãnh đạo xã hội ở một số nước, một số người, chủ yếu là các học giả, các chính trị gia tư sản, những người đại diện cho giai cấp tư sản - giai cấp bị mất đi sự độc quyền thống trị xã hội lại rùm beng mạnh mẽ vấn đề đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Theo quan điểm của những người này, đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập "sẽ tạo nên sự đa dạng, phong phú trong ý thức hệ tư tưởng" và "là nhân tố bảo đảm cho một nền dân chủ thực sự".
Phải chăng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập sẽ tạo nên "một nền dân chủ thực sự"?, về mặt hình thức, nhìn vào chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở một số nước thì có vẻ như "dân chủ thực sự", nhưng thực chất thì sao? Chúng ta không phủ nhận những yếu tố tích cực của đa nguyên, đa đảng nhưng thực chất đa nguyên, đa đảng không đồng nhất với dân chủ. Một đảng lãnh đạo không đồng nhất với độc tài lãnh đạo, khône đồng nhất với mất dân chủ. Không nhất thiết cứ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có dân chủ thực sự và không có đa nguyên, đa đảng thì không có dân chủ.
Đa nguyên, đa đảng không phải là "yếu tố duy nhất, nền tảng duy nhất" đảm bảo được dân chủ đích thực mà bản chất của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ là một giá trị xã hội, được hình thành và bảo đảm bởi nhiều yếu tố, trong đó có lực lượng cầm quyền xã hội, cơ chế quản lý xã hội và trình độ làm chủ của người dân... Theo Hồ Chí Minh: "dân chủ là dân làm chủ, dân là chủ". Vì vậy, bất cứ một xã hội nào, nhất nguyên hay đa nguyên, một đảng hay đa đảng nhưng nếu đảng cầm quyền và nhà nước quan tâm đến thể chế bảo đảm quyền lực thực tế của nhân dân, tôn trọng nhân dân, chăm lo cho nhân dân, coi nhân dân là gốc, là chủ thể của quyền lực... được thể hiện trong cương lĩnh, mục tiêu, chương trình hành động, thông qua hệ thống Hiến pháp và pháp luật... thì xã hội đó có dân chủ, người dân được làm chủ và là người chủ đất nước. Dân chủ là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài của nhân dân, là một bậc thang giá trị của nhân loại chứ dân chủ không phải là sản phẩm "của sự kêu gào" của một số phần tử trong xã hội. Đó cũng không phải là sản phẩm tự nhiên mà có và càng không thể hoàn thiện ngay một lúc. Nó phải trải qua quá trình đấu tranh, hoàn thiện và phát triển từng bước.
Thực tế cho thấy, hầu hết các nước tư bản đều thực hiện đa nguyên, đa đảng nhưng quyền dân chủ của nhân dân có được bảo đảm hay không, nhân dân có làm chủ thực sự vận mệnh của mình hay không lại là chuyện khác. Những cuộc lật đổ tranh giành quyền lực giữa các phe phái chính trị ở một số nước Châu Âu như Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungari, Rumani, Cộng hoà liên bang Đức,... của chế độ độc tài ở một số nước Châu Phi, Mỹ la tinh như Somali, Ethitopia, Bôlivia, Chilê..., ở một số nước khư vực Châu Á như Apghanistan, Pakistan, Miến Điện, Thái Lan... kéo dài gần suốt thế kỷ, làm cho hàng triệu người thiệt mạng, hàng chục triệu người bị nghèo đói... Phải chăng, đa nguyên, đa đảng đã mang lại lợi ích cho họ và mang lại "dân chủ thực sự" cho họ. Như vậy, có thể thấy, thực chất của đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập là sự phân chia, tranh giành quyền lực giữa các lực lượng chính trị xã hội; là một hình thức của cuộc đấu tranh giai cấp, cuộc đấu tranh giành và giữ chính quyền, kiểm soát xã hội. 
Thực chất của cái gọi là đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở một số nước không như một số người hiểu rằng đó là một chế độ thực sự dân chủ mà bản chất của nó vẫn là nhất nguyên chính trị.

Thứ Năm, 2 tháng 8, 2018

THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH SỬ DỤNG NHẰM XÓA BỎ CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngày nay, các thế lực thù địch trong và ngoài nước không dễ gì có thể dùng lực lượng vũ trang, áp đặt chế độ cai trị của chúng lên đất nước ta như những cuộc chiến tranh xâm lược trước đây. Chúng chỉ có thể thực hiện bằng những chiến lược “mềm”, trước hết là chiến lược "diễn biến hòa bình" (DBHB).
Thực tế cho thấy, một trong những nguyên nhân dẫn đến sự tan rã của Liên Xô, sụp đổ của chế độ XHCN ở các nước Đông Âu là do chủ nghĩa đế quốc đã thực hiện chiến lược “thẩm thấu” tư tưởng “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” của phương Tây vào các nước XHCN. Khi Liên Xô cải tổ hệ thống chính trị-thực hiện chế độ dân chủ đa đảng, các lực lượng thù địch bên trong và bên ngoài đã móc nối với nhau lật đổ vai trò lãnh đạo cầm quyền của Đảng Cộng sản Liên Xô.
Từ những kinh nghiệm lật đổ chế độ XHCN ở Liên Xô, Đông Âu, các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chủ trương thực hiện chiến lược DBHB đối với các nước XHCN nói chung và Việt Nam nói riêng. Một trong những mục tiêu của chiến lược đó là thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" từ bên trong nội bộ. Thủ đoạn mà chúng thực hiện là lợi dụng internet, mạng xã hội tán phát các thông tin xuyên tạc bản chất của chế độ xã hội Việt Nam, thổi phồng những mặt trái của xã hội, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức, từng bước làm suy giảm niềm tin của nhân dân, của cán bộ, đảng viên với chế độ xã hội, với Đảng… chuyển hóa xã hội hiện hữu sang con đường TBCN.
Những năm gần đây, chúng còn chống phá chế độ bằng phương thức đóng vai người “yêu nước” để huy động đám đông, dùng phương thức “bất tuân dân sự” gây rối trật tự công cộng. Như vụ việc lấy cớ phản đối Công ty Formosa Hà Tĩnh gây ô nhiễm môi trường diễn ra ở các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, năm 2014-2015 là một ví dụ. Chế độ dân chủ XHCN là thành quả cách mạng hơn 70 năm của nhân dân Việt Nam với biết bao nhiêu hy sinh xương máu, tài sản, sức lực của đồng bào và chiến sĩ. Chế độ dân chủ XHCN đã trở thành văn hóa lối sống của dân tộc Việt Nam. Vì vậy, nhân dân Việt Nam sẽ không bao giờ khoan nhượng với bất cứ ai, lấy bất cứ lý do gì để phủ nhận thành quả đó.

BẢN CHẤT CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

Dân chủ là một giá trị xã hội được hình thành từ rất sớm, khi xuất hiện giai cấp và nhà nước, mở đầu là chế độ nô lệ, còn gọi là chế độ “dân chủ chủ nô”. Ở đó chỉ có tầng lớp chủ nô, một bộ phận nhỏ trong xã hội có quyền bầu cử, trong khi đó đại đa số người dân, những nô lệ chỉ như những “công cụ biết nói”. Trải qua thời đại phong kiến, chế độ dân chủ dường như không có nhiều tiến bộ. Các cuộc cách mạng dân chủ tư sản đã đưa đến một bước phát triển cơ bản trong lịch sử chế độ dân chủ của nhân loại.
Để bảo vệ thành quả của cách mạng, đồng thời chống lại tàn dư của giới phong kiến quý tộc, giai cấp tư sản tuyên bố bảo đảm quyền bình đẳng của mọi người trước pháp luật. Có thể nói, bản "Tuyên ngôn độc lập" của Mỹ (1776) và bản "Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp" (1789) đánh dấu thành quả sự phát triển quan trọng chế độ dân chủ của nhân loại.
Tuy nhiên, chế độ dân chủ tư bản chủ nghĩa (TBCN) vẫn hạn hẹp vì sự bất bình đẳng về chế độ sở hữu, vì sự phân hóa giàu-nghèo. Thực tế cho thấy, hiện nay, các cuộc bầu cử ở nhiều nước phát triển, số cử tri đi bầu cử thường thấp. Cuộc bầu cử gần đây nhất của Hoa Kỳ (2016) chỉ “ở mức dưới 70%. Bang có lượng cử tri dự kiến đi bầu cao nhất là Minnesota (75%), thấp nhất là Utah (53,1%). Số cử tri tham gia bầu vào những năm 1980 còn thấp hơn, dao động từ 48% đến 57%”.
Phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, Lênin nhiều lần khẳng định rằng: Chế độ dân chủ… là một hình thức nhà nước, một trong những hình thái của nhà nước. Chế độ dân chủ cũng là nhà nước, do đó, nhà nước mà mất đi thì chế độ dân chủ cũng mất theo. Lênin còn nhấn mạnh rằng: “Dân chủ là tự do, là bình đẳng, là quyết định của đa số; còn có gì cao hơn tự do, bình đẳng, quyết định của đa số nữa”. Chế độ dân chủ được tạo lập sau các cuộc cách mạng do các Đảng Cộng sản lãnh đạo là đỉnh cao, vượt trội so với nền dân chủ TBCN. Không có một hạn chế luật định nào đối với tất cả công dân tham gia bầu cử, ứng cử; nhà nước hình thành từ các cuộc bầu cử tự do trở thành một hình thức dân chủ.
Đối với dân tộc Việt Nam, cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thắng lợi mở ra một thời đại mới cho dân tộc: Thời đại độc lập dân tộc gắn với chế độ dân chủ của dân, do dân, vì dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Trong chế độ này, nhà nước là người bảo vệ các QCD và QCN cho mọi người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói về chế độ dân chủ của Việt Nam một cách giản dị và sâu sắc: “Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân; bao nhiêu quyền hạn đều của dân; công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân; sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân; chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra; đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Nét đặc sắc trong quan niệm về chế độ dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là quyền mà còn gắn liền với nghĩa vụ, trách nhiệm công dân.
Hiện nay, trên thế giới đang tồn tại nhiều hình thức nhà nước dân chủ với những tên gọi khác nhau; chẳng hạn: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (Lào); Cộng hòa XHCN (Việt Nam); Cộng hòa Nhân dân (Trung Hoa)... Ngoài một số ít quốc gia vẫn theo chế độ quân chủ, các nhà nước có chế độ nghị viện, như chế độ Cộng hòa Tổng thống (Hoa Kỳ, Mexico…); Cộng hòa Đại nghị (Áo, Ấn Độ…) đều là những nước dân chủ TBCN. Trong những nước dân chủ này lại có nhiều mô hình dân chủ khác nhau; chẳng hạn: Dân chủ đa đảng, dân chủ một đảng cầm quyền… Bởi vậy, việc người ta lấy một mô hình dân chủ nào đó, chẳng hạn như mô hình phương Tây mà phủ nhận chế độ dân chủ XHCN của Việt Nam là một cách nhìn hạn hẹp, nếu không nói là vì động cơ chính trị thâm độc, muốn xóa bỏ chế độ hiện hữu và thành quả cách mạng của dân tộc Việt Nam.

Thứ Hai, 13 tháng 11, 2017

Nhận diện và phê phán những quan điểm sai trái, xuyên tạc, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

a. Nhận diện
Một là, phủ nhận tính ưu việt, tính tiến bộ của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, cho rằng nền dân chủ tư sản là dân chủ cao nhất với nhà nước pháp quyền và xã hội công dân cùng cơ chế đa đảng, cơ chế tam quyền phân lập.
Hai là, phủ nhận sự ra đời của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa phải thông qua cách mạng xã hội chủ nghĩa, cho rằng dân chủ tư sản tự nó vượt ngưỡng thành dân chủ cao, triệt để…
Ba là, tách rời, đối lập giữa dân chủ với chuyên chính của một nền dân chủ, trong thực hiện chức năng của nhà nước dân chủ.
Bốn là, phủ nhận khả năng tổ chức và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhà nước xã hội chủ nghĩa (chuyên chính vô sản) trong đó có mục tiêu xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Năm là, dân chủ gắn với nhân quyền, đặt nhân quyền cao hơn chủ quyền quốc gia.
b. Phê phán
Một là, dân chủ tư sản không phải là nền dân chủ cao nhất, dân chủ cuối cùng của lịch sử. Chủ nghĩa Mác - Lênin đánh giá cao sự ra đời của nền dân chủ tư sản, đã biến đổi cách mạng từ nhà nước chuyên chế của cá nhân ông vua thành nhà nước pháp quyền tư sản và xã hội thần dân phong kiến thành xã hội công dân tư sản.
Khi chủ nghĩa tư bản phát triển đến trình độ đại công nghiệp, dưới sự tác động của Nhà nước tư sản (sự thống trị của tư sản công nghiệp) đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển chỉ trong vòng 100 năm đã tạo ra lực lượng sản xuất lớn hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thời đại trước đây cộng lại.
Chủ nghĩa Mác - Lênin không phủ định sạch trơn chủ nghĩa tư bản nói chung và dân chủ tư sản - cốt lõi là nhà nước tư sản nói riêng.
Hai là, phê phán quan điểm cho rằng, dân chủ tư sản đã thay đổi bản chất, không cần nền dân chủ nào (xã hội chủ nghĩa) thay thế, hoặc tự nó dân chủ tư sản sẽ dẫn đến dân chủ xã hội chủ nghĩa không cần cách mạng xã hội chủ nghĩa. Quan điểm trên sai cả trong thực tiễn lịch sử, sai cả về lý luận.
Nền dân chủ tư sản ra đời phải thông qua cách mạng tư sản. Ngay cả cuộc cách mạng tư sản Pháp là cuộc cách mạng tư sản triệt để nhất năm 1789 với việc xử tử Hoàng đế Lui XVI lập nền Cộng hòa I vẫn bị hai dòng họ quý tộc phong kiến Buốc bông và Oacleang chiếm lại chính quyền từ 1815 -  1848 (33 năm), giai cấp tư sản phải tiếp tục cuộc cách mạng lần thứ hai (2/1848) lập lại nền Cộng hòa II.
Ba là, phê phán quan điểm cho rằng dân chủ mâu thuẫn với chuyên chính. Đã dân chủ thì không chuyên chính và đã chuyên chính thì không có dân chủ.
Với quan điểm trên, những người xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ cho rằng, chỉ có trong chế độ tư sản mới có dân chủ; còn trong chế độ xã hội chủ nghĩa chỉ có chuyên chính, độc tài của một giai cấp (giai cấp vô sản), của một Đảng (Đảng Cộng sản) thay thế chuyên chính của cá nhân (ông vua) trong chế độ phong kiến. Rằng từ chuyên chính, loài người đấu tranh lên dân chủ, thì những người cộng sản lại đẩy loài người trở về chuyên chính (chuyên chính của giai cấp, đảng). Họ thường phủ nhận thành quả của các nhà nước xã hội chủ nghĩa, thổi phồng những khuyết điểm, yếu kém của nhà nước xã hội chủ nghĩa để minh họa. Thí dụ ở Liên Xô, họ gọi là “chống sùng bái cá nhân Stalin”, ở Việt Nam họ thổi phồng khuyết điểm cải cách ruộng đất (1956).
Bốn là, phê phán quan điểm phủ nhận khả năng tổ chức, xây dựng của nhà nước xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thực tiễn. Trong chủ nghĩa tư bản, nước Anh công nghiệp hóa 100 năm, Nhật Bản 60 năm, Hàn Quốc 40 năm, Singapore 30 năm tạo sự “thần kỳ Đông Á”.
Trong chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, năm 1925 công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa đến 1941 (sau 16 năm) Liên Xô thành nước công nghiệp hàng đầu châu Âu. Năm 1949 (24 năm trong đó có 4 năm chiến tranh), Liên Xô thử thành công bom nguyên tử, phá thế độc quyền vũ khí nguyên tử của Mỹ. Đến năm 1957 (32 năm) Liên Xô là nước đầu tiên phóng thành công vệ tinh nhân tọa trái đất. Đến năm 1961 (36 năm), Liên Xô là nước đầu tiên đưa con người vào vũ trụ. Liên Xô trở thành 1 trong 2 siêu cường. (30 năm Singapore là 30 năm cuối thế kỷ XX với một nước có 3 - 5 triệu dân. 30 năm của Liên Xô là 30 năm đầu thế kỷ XX với một nước từ 125 triệu - 175 triệu dân)
Bên cạnh phát triển lực lượng sản xuất (khoa học, kỹ thuật), Liên Xô thành công trên các lĩnh vực: 1/ giải quyết việc làm, xóa nạn thất nghiệp; 2/ thực hiện mọi người có nhà ở, phát triển giáo dục, chăm sóc y tế không mất tiền (miễn phí); 3/ người già, trẻ em, phụ nữ, dân tộc thiểu số được quan tâm; 4/ bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, độc lập dân tộc chủ quyền quốc gia và bảo vệ hòa bình thế giới; 5/ Giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc (trong đó có Việt Nam).
Năm là, phê phán quan điểm gắn việc xây dựng chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa với thực thi nhân quyền, mà bản chất nhân quyền theo quan điểm tư sản là “quyền tự do cá nhân tư sản”; rằng nhân quyền cao hơn chủ quyền (quyền cá nhân cao hơn quyền quốc gia dân tộc - điều vô cùng phi lý) từ đó để can thiệp vào công việc nội bộ các quốc gia dưới cái nhãn “bảo vệ những người bất đồng chính kiến”.

Thứ Hai, 16 tháng 10, 2017

Sự ra đời của Nhà nước Xôviết là yếu tố “trụ cột” để thiết lập nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đầu tiên trong lịch sử


       Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước Nga được xây dựng trên cơ sở hệ thống các Xôviết từ Trung ương đến địa phương, liên hệ chặt chẽ với các tổ chức quần chúng lao động. Đại hội Xôviết toàn Nga là cơ quan quyền lực tối cao có quyền lập pháp. Trong thời kỳ giữa các đại hội, quyền lực đó do Ban Chấp hành Trung ương Xôviết toàn Nga đảm nhiệm. Hội đng các ủy viên nhân dân là cơ quan hành pháp chịu trách nhiệm trước Đại hội và Ban Chấp hành Trung ương Xôviết toàn Nga. Ở các địa phương, các Xôviết đại biểu nông dân được hợp nhất với các Xôviết đại biểu công nhân và binh lính thành các cơ quan chính quyền duy nhất. Nét nổi bật của hình thức tổ chức chính quyền mới này là sự hài hòa giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp, dẫn tới sự thống nhất hành động giữa các cơ quan trong Nhà nước Xôviết. Đó là sự thể hiện bản chất dân chủ ưu việt của chế độ Cộng hòa Xôviết so với chế độ đại nghị tư sản đương thời trên thế giới.
      Cùng với việc xây dựng bộ máy nhà nước mới, Chính quyền Xôviết đã ban hành các sắc luật thủ tiêu những trật tự xã hội cũ như chế độ phân biệt đẳng cấp, kỳ thị dân tộc, đặc quyền của nhà thờ v.v... ban bố các quyền tự do và bình đẳng của công dân Xôviết, quyn tự do tín ngưỡng, tôn giáo… Ngay sau khi cách mạng thắng lợi, ngày 02 tháng 11 năm 1917, Chính phủ Xôviết đã công bố bản Tuyên ngôn về quyền của các dân tộc nước Nga. Tuyên ngôn đã xác lập những nguyên tắc pháp lý quan trọng đầu tiên về vấn đề dân tộc trong thể chế dân chủ mới ở nước Nga; xóa bỏ hoàn toàn sự phân biệt, kỳ thị và áp bức dân tộc dưới chế độ Nga Sa hoàng, xác lập những nguyên tắc dân chủ trong quan hệ dân tộc giữa nước Nga với các nước trên thế giới.
      Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước Nga được thiết lập dựa trên nền tảng vững chắc của khối liên minh công - nông, dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích Nga. Đại hội lần thứ III Xôviết đại biểu công nhân, nông dân và binh sĩ toàn Nga đã phê chuẩn bản Tuyên ngôn về quyền lợi của nhân dân lao động và bị bóc lột. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho bản Hiến pháp đầu tiên của nước Nga Xôviết. Đại hội cũng thông qua quyết định lịch sử chuyển nước Cộng hòa Xôviết Nga thành nước Cộng hòa Liên bang Xôviết Nga; xác định những nguyên tắc cơ bản của thể chế Liên bang, Đảng Cộng sản Liên bang Nga trở thành đảng cầm quyền đầu tiên trên thế giới. Trên cơ sở đó, hàng loạt các nước cộng hòa tự trị được thành lập trong năm 1918 như Tuốckêxtan, các vùng Vonga, Uran và Trung Á.
       Đại hội Xôviết toàn Nga lần thứ V, đã thông qua bản Hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Liên bang Nga vào ngày 10/7/1918 (sau gọi là Hiến pháp năm 1918). Đây là Bản Hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên khẳng định về mặt pháp lý thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Mười và bản chất của chế độ mới. Nhà nước và pháp luật là nơi tập trung ý chí, quyền lực và trở thành công cụ, phương tiện làm chủ của nhân dân. Cuối năm 1922, toàn thể lãnh thổ Xôviết được giải phóng và Ngày 30/12/1922, trên cơ sở tự nguyện của các dân tộc, Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xôviết được thành lập (Liên Xô). Đồng thời, Hiến pháp của Nhà nước Liên Xô ra đời (Tháng 01/1924), khẳng định chính thể của nước này và bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở quốc gia rộng lớn này.