Hiển thị các bài đăng có nhãn đào tạo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đào tạo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2024

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.

Chính sách phát triển giáo dục và đào tạo đối với các dân tộc thiểu số và miền núi ở Việt Nam hiện nay tập trung nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực trên các lĩnh vực. Thực hiện có hiệu quả việc xóa mù chữ, nâng cao trình độ học vấn cho thanh niên và cán bộ cơ sở. Có quy hoạch và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị các cấp, đội ngũ các nhà khoa học người dân tộc thiểu số, đáp ứng yêu cầu phát triển mọi mặt của từng vùng, từng dân tộc.

Tăng cường đầu tư cho các trường học. Xây dựng các loại trường, lớp nội trú, bảo đảm đủ giáo viên và chỗ học cho con em các dân tộc thiểu số. Các dân tộc thiểu số có chữ viết được khuyến khích học chữ dân tộc, song song với chữ phổ thông, đồng thời có cơ chế, chính sách quy định cán bộ dân tộc Kinh công tác tại vùng dân tộc thiểu số học tiếng dân tộc thiểu số để làm việc tốt hơn.

Mở rộng hệ đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số trong hệ thống trường đảng, trường đoàn thể, trường hành chính và lực lượng vũ trang theo chương trình đổi mới. Có chính sách ưu tiên, tuyển chọn cán bộ dân tộc thiểu số vào các trường đào tạo bậc đại học, cao đẳng, dạy nghề. Củng cố các trường dự bị đại học, xây dựng các trường đại học khu vực, đại học cộng đồng. Chấn chỉnh lại chính sách cử tuyển, bảo đảm đúng đối tương. Thực hiện miễn giảm học phí cho con em người dân tộc thiểu số học trong các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.

Thực hiện tốt chính sách, chế độ khuyến khích đối với các cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ công tác ở miền núi, nhất là các vùng sâu, vùng xa, vùng cao và thu hút chuyên gia, các nhà khoa học phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp phát triển miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. 

Thứ Hai, 4 tháng 3, 2024

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY GỒM NHỮNG NỘI DUNG NÀO?

Phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số theo chương trình chung quốc gia; xây dựng chính sách giáo dục ở tất cả các cấp học phù hợp với đặc thù dân tộc.

Phát triển trường mầm non, trường phổ thông, trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng, trường dạy nghề, trường dự bị đại học; nghiên cứu hình thức đào tạo đa ngành bậc đại học cho con em các dân tộc thiểu số để đẩy nhanh việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

Quy định các điều kiện và biện pháp cụ thể, phù hợp để hỗ trợ cho học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số; giải quyết chỗ ở, học bổng và cho vay vốn trong thời gian học tập phù hợp với ngành nghề đào tạo và địa bàn cư trú của sinh viên dân tộc thiểu số. Học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số rất ít người, ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn được miễn học phí ở tất cả các cấp học, ngành học.

Đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo nghề cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số phù hợp với đặc điểm từng vùng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập Quốc tế.

Quy định việc hỗ trợ giáo viên giảng dạy tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; đào tạo giáo viên là người dân tộc thiểu số và giáo viên dạy tiếng dân tộc.

Tiếng nói, chữ viết và truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc được đưa vào chương trình giảng dạy trong các trường phổ thông, trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng, trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học phù hợp với địa bàn vùng dân tộc.

Chính quyền địa phương, nơi có con em dân tộc thiểu số thi đỗ vào Đại học, Cao đẳng và sinh viên được cử đi học hệ cử tuyển, có trách nhiệm tiếp nhận và phân công công tác phù hợp với ngành nghề đào tạo sau khi tốt nghiệp.

Các Bộ Giáo dục và Đào tạo, Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Dân tộc căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành những nội dung này. 

Thứ Tư, 17 tháng 8, 2022

HỌC BÁC HỒ TRONG VIỆC PHÁT HIỆN, SỬ DỤNG NHÂN TÀI

Lịch sử nhân loại đã chứng minh nhân tài luôn là yếu tố quyết định sự hưng thịnh của quốc gia. Nhiều nước trrên thế giới coi phát triển nhân tài là quốc sách của mọi quốc sách, là bí quyết để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định, đánh giá cao tầm quan trọng của nhân tài.

1. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều”. Trong quá trình hoạt động cách mạng, Người luôn chú trọng đến việc phát hiện nhân tài, sử dụng nhân tài, trọng dụng nhân tài.

Đối với Hồ Chí Minh, việc tìm nhân tài để kiến thiết đất nước là rất quan trọng. Chính vì điều đó, mà ngay sau khi đất nước giành độc lập, Người đã hết sức chú ý đến việc tìm người có tài, có đức để giúp dân, giúp nước. Cuối năm 1946, Người đăng thông cáo “Tìm người tài đức” trên báo Cứu quốc, kêu gọi đồng bào cả nước ở đâu thấy có người tài giỏi thì xin mách bảo với Chính phủ để Chính phủ sử dụng. Người viết: “Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận”. Người kêu gọi các địa phương phải tìm và giới thiệu người tài đức, những người “có thể làm được những việc ích nước, lợi dân”, “những người hiền năng” để Chính phủ tuyển lựa và trọng dụng. Nhờ có tấm lòng trọng dụng nhân tài như vậy mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập hợp được một lực lượng lớn nhân tài để giúp dân, giúp nước.

Đi đôi với việc phát hiện nhân tài, một vấn đề rất quan trọng mà Bác Hồ yêu cầu đó là người lãnh đạo, quản lý phải biết sử dụng, trọng dụng nhân tài một cách hợp lý, nếu không sẽ làm “thui chột” nhân tài. Theo Bác việc sử dụng, trọng dụng nhân tài là phải làm thường xuyên, liên tục như “người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”. Người cho rằng, trọng dụng nhân tài phải biết tuỳ tài mà dùng người, “tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy. Biết dùng người như vậy, ta sẽ không lo gì thiếu cán bộ”. Phải làm cho cán bộ có gan nói, có gan đề ra ý kiến, có gan phụ trách, có gan làm… người lãnh đạo phải biết cách trọng dụng họ, tạo cho họ điều kiện là việc thuận lợi, bố trí công việc hợp lý và có chế độ đãi nghộ thỏa đáng, đồng thời xã hội phải tôn vinh họ.

Trong thực tiễn, Bác Hồ là một tấm gương mẫu mực về trọng dụng nhân tài. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Bác đã tập hợp được nhiều nhân sĩ, trí thức khác nhau về xuất thân, địa vị xã hội nhưng họ đều là những trí thức có tâm huyết xây dựng nước Việt Nam mới. Thành phần trong Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rất đa dạng, thuộc các tầng lớp khác nhau, trí thức Nho học có các nhân sĩ như cụ Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại, Bùi Bằng Đoàn, Phạm Khắc Hòe...; trí thức Tây học, trí thức cách mạng có Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Giàu, Nguyễn Khánh Toàn, Trần Huy Liệu, Đặng Thai Mai... Họ đều chung một ý chí, đoàn kết, chung tay góp sức xây dựng chế độ mới, bảo vệ độc lập dân tộc. Trong các giai đoạn cách mạng sau này, Người đã thu phục được nhiều nhân sĩ, trí thức tài năng tham gia vào cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc và đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi cuối cùng.

2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định đột phá chiến lược trong phát triển nhân tài: “Chú trọng đào tạo nhân lực chất lượng cao, phát hiện và bồi dưỡng nhân tài; có chính sách vượt trội để thu hút, trọng dụng nhân tài, chuyên gia cả trong và ngoài nước”. Để hiện thực điều đó, trên tinh thần những chỉ dẫn của Bác Hồ, chúng ta cần chú trọng thực hiện một số vấn đề sau đây.

Một là, trong công tác phát hiện và tuyển chọn nhân tài. Đảng và Nhà nước cần ban hành các tiêu chí, quy định, quy chế cụ thể để đánh giá nhân tài; thành lập các hội đồng đánh giá và tuyển chọn học sinh năng khiếu, sinh viên tài năng. Thường xuyên tổ chức các đợt tuyển chọn nghiêm ngặt, dân chủ, công khai những người giỏi trong tất cả các lĩnh vực thông qua các hình thức khác nhau. Thành viên hội đồng đánh giá, tuyển chọn nhân tài phải là những người thực sự có tài, gương mẫu, có uy tín, am hiểu sâu về lĩnh vực cần tuyển chọn nhân tài; làm việc công tâm, khách quan, dân chủ. Cần tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người tài năng có thể tự tiến cử, hoặc tiến cử những người tài năng với Đảng và Nhà nước. Có cơ chế khuyến khích các tổ chức quần chúng bình chọn và phát hiện tài năng thông qua các hình thức thi cử.

Hai là, trong công tác sử dụng và đãi ngộ nhân tài. Cần thực hiện đẩy đủ, nghiêm ngặt trong tuyển dụng nhân tài, thực hiện đồng bộ các khâu từ tiêu chuẩn hóa, dân chủ hóa, trách nhiệm hóa, cấp độ hóa, kiểm nghiệm hóa. Cần sử dụng những hình thức khác nhau, như: thi tuyển, bầu tuyển, tiến tuyển, ứng tuyển, bổ tuyển, tranh tuyển, cử tuyển. Tùy thuộc và từng đối tượng, từng chức danh công việc, từng thời điểm, điều kiện mà cơ quan tuyển dụng sử dụng linh động phù hợp các hình thức đó. Cần tạo môi trường thuận lợi, chú ý đến sở trường, khả năng của nhân tài để bố trí công việc phù hợp, từ đó nhân tài phát huy, cống hiến hết năng lực của mình. Lựa chọn một số người có năng lực, trí tuệ nổi trội để bồi dưỡng họ trở thành những nhân tài trên một số lĩnh vực trọng điểm, mũi nhọn, đồng thời phát triển đội ngũ này trở thành cán bộ lãnh đạo, lãnh đạo cấp cao trong tương lai. Cần xây cơ chế, chính sách ưu tiên, đãi ngộ cho nhân tài qua hệ thống lương, thưởng xứng đáng với sự cống hiến của họ.

Ba là, trong công tác thu hút nhân tài. Cần xây dựng cơ chế, chính sách cụ thể để thu hút nhân tài từ bên ngoài, đặc biệt là những trí thức người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Cần tuyên truyền vận động toàn xã hội thực sự coi trọng đội ngũ trí thức, nhân tài này, coi họ là tài sản quý giá của đất nước. Đề ra chính sách thông thoáng và hấp dẫn phù hợp với tâm tư nguyện vọng của nhân tài là kiều bào, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho những nhân tài kiều bào có nguyện vọng, có điều kiện về thăm quê hương, kinh doanh sản xuất, nghiên cứu khoa học… nhằm cống hiến cho đất nước. Đối với những nhân tài xuất chúng ở các lĩnh vực mà Việt Nam đang cần thì có thể trả lương tương đương hoặc cao hơn mức lương họ đang hưởng để thu hút họ về nước chia sẻ kinh nghiệm, chuyển giao trí tuệ, công nghệ.

Thứ Năm, 3 tháng 3, 2022

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG TRẺ Ở NÔNG THÔN HIỆN NAY

Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục, chất lượng đào tạo nghề cho lao động trẻ ở nông thôn. Thực hiện liên kết đào tạo với các trường đại học, các trung tâm dạy nghề, trung tâm học tập cộng đồng để bổ túc văn hóa, nâng cao dân trí cho lao động trẻ. Thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng, huấn luyện, trao đổi kinh nghiệm trong nuôi trồng, sản xuất nông nghiệp tại các địa phương, giúp họ tiếp cận thông tin khoa học mới, hiện đại. Tích cực đầu tư, thu hút vốn và định hướng cho họ tham gia các chương trình sản xuất, kinh doanh mới. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các chính sách bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của mọi người dân nông thôn nói chung và lao động trẻ nói riêng. Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho lao động trẻ. Bảo đảm lợi ích, tạo môi trường dân chủ, bình đẳng để mỗi lao động trẻ có cơ hội bộc lộ năng lực, thể hiện những sáng kiến, kinh nghiệm trong quá trình lao động sản xuất, xây dựng nông thôn mới.

Thứ Hai, 28 tháng 2, 2022

“KHÔNG CÓ LÝ LUẬN THÌ LÚNG TÚNG NHƯ NHẮM MẮT MÀ ĐI”

Đây là nhận định minh triết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của lý luận được Người viết trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (năm 1947). Lý luận nói chung và LLCT nói riêng trong tư tưởng Hồ Chí Minh là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận; rồi lại đem nó chứng minh với thực tế mới thực sự chắc chắn, chân chính.

Nhiều lần Bác căn dặn mọi người, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên khắc phục tình trạng kém lý luận, khinh lý luận và cũng đừng rơi vào lý luận suông. Những lời chỉ dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh liên quan đến LLCT thật gần gũi, dễ đi vào lòng người bởi chính Bác là tấm gương sáng về học tập, nghiên cứu và vận dụng LLCT để hậu thế noi theo. Người đã bôn ba khắp năm châu bốn biển tìm hiểu thực tế, tiếp xúc với bao học thuyết chính trị mới tìm ra con đường giải phóng dân tộc đúng đắn.

Trở lại thời điểm đầu thế kỷ XX, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các phong trào yêu nước, từ lập trường Cần Vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm của lịch sử đều lần lượt thất bại. Chỉ đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp xúc với lý luận cách mạng của thời đại là Chủ nghĩa Mác-Lênin, Người mới nhận ra con đường cách mạng Việt Nam phải đi, đó là tiến hành cách mạng vô sản giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với tư duy độc lập, sáng tạo không rơi vào lý luận suông, không áp dụng lý luận cứng nhắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã nhiều lần vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đặc thù Việt Nam; đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập, thống nhất đất nước, mang lại đời sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

 Ngày nay, chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Đảng ta kiên trì lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Cho nên việc học tập, nghiên cứu LLCT là để hiểu sâu sắc, đầy đủ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên, người lao động có tư tưởng tiến bộ. Chỉ có trang bị đầy đủ về LLCT mới có thể tạo ra hành động cách mạng tích cực, hiệu quả như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Lý luận sở dĩ quan trọng là vì nó dạy ta hành động”.

Như vậy, việc học tập LLCT trước tiên là để cán bộ, đảng viên nâng cao bản lĩnh chính trị, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Chỉ có nghiên cứu, học tập LLCT thực chất, với động cơ tích cực, trong sáng mới giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên có tư duy khoa học, có phương pháp làm việc biện chứng; từ đó vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, hoàn thành công việc được giao phó.

Với tầm quan trọng của LLCT giải thích vì sao trong các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị nhiều năm qua luôn nhấn mạnh phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng LLCT. Đồng thời, nhận định biểu hiện nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập LLCT, lười học tập LLCT là một trong những biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị.

Thứ Năm, 17 tháng 2, 2022

ĐỘT PHÁ MẠNH VÀO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO ĐỂ XÂY DỰNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÂN ĐỘI

Trước yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; thì vấn đề đặt ra cần: Đột phá mạnh vào nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo để xây dựng nguôn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao trong quân đội.

          Quán triệt sâu sắc quan điểm Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về giáo duc, đào tạo: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu để phát triển đất nước”, các cơ quan, đơn vị, học viện, nhà trường Quân đội cần tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo; Nghị quyết số 86/NQ-ĐUQSTƯ ngày 29/3/2007 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) về công tác giáo dục trong tình hình mới; Chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo trong quân đội giai đoạn 2011-2020 của Bộ Quốc phòng; Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ trong Quân đội giai đoạn 2015 - 2020 và những năm tiếp theo”; Chỉ thị số 89/CT-BQP ngày 09-11-2016 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về một số nhiệm vụ cấp bách nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ.

          Trong đó, tập trung đổi mới nội dung, chương trình theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa và liên thông”, sát mục tiêu, yêu cầu đào tạo, phát huy tính tích cực của người học. Triển khai thực hiện tốt mô hình “Nhà trường thông minh, tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”; tăng cường đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất kỹ thuật, trung tâm mô phỏng, để người học có đủ điều kiện rèn luyện, hình thành các phẩm chất, tâm lý đáp ứng với yêu cầu chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao. Chủ động mở rộng hợp tác quốc tế về giáo dục, đào tạo trong lĩnh vực quân sự, quốc phòngnghiên cứu vận dụng một số mô hình giáo dục tiên tiến trên thế giới phù hợp với thực tiễn công tác giáo dục đào tạo trong Quân đội.

          Đẩy mạnh nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, các đơn vị cần phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao chất lượng huấn luyện; đẩy mạnh triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 765-NQ/QUTW ngày 20/12/2012 của Quân ủy Trung ương về “Nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2013 - 2020 và những năm tiếp theo”. Không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập, thực hiện đúng phương châm, phương hướng huấn luyện. Tập trung huấn luyện cho bộ đội nắm vững tính năng, tác dụng, sử dụng thành thạo các loại vũ khí trang bị hiện có, nhất là vũ khí trang bị hiện đại; tích cực đưa bộ đội vào thực tiễn huấn luyện, diễn tập sát với thực tế chiến đấu.

Thứ Sáu, 11 tháng 2, 2022

NHẬN THỨC MỚI VỀ ĐẨY MẠNH ĐỔI MỚI NỘI DUNG, CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG CHUẨN HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA, SÁT THỰC TIỄN, MỤC TIÊU XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI HIỆN ĐẠI

 Để đáp ứng yêu cầu xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ xây dựng Quân đội hiện đại từ năm 2030 theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ Quân đội, trên cơ sở bám sát phương châm: “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”, các nhà trường Quân đội tiến hành đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình giáo dục, đào tạo, theo hướng: xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật trong Quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy sáng tạo, trình độ, kiến thức quân sự, chính trị, khoa học, ngoại ngữ, tin học đáp ứng với hội nhập, chiến tranh công nghệ cao; phương pháp làm việc khoa học, phong cách, tác phong dân chủ, chính quy, đoàn kết; đạo đức, lối sống lành mạnh, sức khỏe tốt.

Các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng cùng các nhà trường Quân đội kế thừa, phát huy truyền thống Quân đội, nghệ thuật quân sự Việt Nam, nắm chắc tổ chức, biên chế Quân đội, đòi hỏi từ thực tiễn và các chương trình, phương pháp đào tạo tiên tiến trên thế giới; trên cơ sở đó, chủ động có những bước đi thích hợp, bám sát tiêu chí chuẩn hóa, hiện đại hóa, tiếp cận, ứng dụng thành tựu cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Các chương trình đào tạo cần bảo đảm tính lôgic, liên thông từ thấp đến cao, rút ngắn thời gian đào tạo một cách hợp lý, đồng thời bám sát mục tiêu, chuẩn đầu ra của từng đối tượng đào tạo; cập nhật sự phát triển của khoa học và thực tiễn.

Tập trung nghiên cứu, xây dựng hoàn thiện Đề án đổi mới quy trình, chương trình đào tạo cán bộ các cấp trong Quân đội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; trong đó, tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung kịp thời các chương trình đào tạo, bảo đảm phù hợp với sự phát triển của vũ khí, trang bị mới; chú trọng xây dựng một số chương trình đào tạo các chuyên ngành đặc thù, lĩnh vực mũi nhọn, chất lượng cao để làm chủ vũ khí, trang bị, xây dựng nền công nghiệp quốc phòng hiện đại, lưỡng dụng. Đặc biệt, cần đổi mới chương trình, nội dung đào tạo ngoại ngữ, tin học, lấy chất lượng làm tiêu chí hàng đầu; kết hợp với mở rộng hợp tác về dạy học ngoại ngữ ở cả trong, ngoài nước và chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học tại chỗ, bảo đảm phù hợp với nhận thức, trình độ người học, v.v.

 

Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại làm mục tiêu thực hiện. Theo đó, các nhà trường Quân đội cần lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt việc ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin, kỹ thuật mô phỏng vào công tác giảng dạy; sáng tạo trong áp dụng phương pháp dạy học tích cực để phát huy tính chủ động, tự giác, sáng tạo của học viên; đồng thời, coi trọng việc hướng dẫn, rèn luyện kỹ năng thực hành cho người học, nhất là kỹ năng chỉ huy, làm chủ vũ khí, trang bị mới, hiện đại và khả năng tự nghiên cứu, vận dụng linh hoạt, sáng tạo khi thực tiễn có sự thay đổi, phát triển. Đẩy mạnh hoạt động phương pháp, nâng cao chất lượng giảng dạy, kết hợp chặt chẽ giữa trang bị kiến thức mới với truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu.

Thứ Năm, 9 tháng 12, 2021

VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI NGUỒN NHÂN LỰC VÀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG NGUỒN NHÂN LỰC TRUYỀN THÔNG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thứ nhất, mâu thuẫn giữa yêu cầu cấp thiết và cấp bách của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trong bối cảnh chuyển đổi số với sự hạn chế về năng lực chuyên môn nói chung, năng lực công tác đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật, công nghệ số nói riêng.

Thứ hai, thiếu chiến lược tổng thể về đào tạo, bồi dưỡng dưỡng nguồn nhân lực truyền thông bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đáp ứng yêu cầu của chuyển đổi số hiện nay.

Thứ ba, còn nhiều hạn chế trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực truyền thông, chưa đầu tư mạnh vào đào tạo lực lượng kế cận là sinh viên.

Cả 4 nhóm cán bộ nòng cốt hiện đang công tác mới được đào tạo bài bản ở một vài lĩnh vực cụ thể. Đề án 35 của các cơ quan Trung ương và địa phương đã dành ngân sách cho bồi dưỡng nhân lực, nhưng thời lượng các khoá bồi dưỡng còn ngắn, chủ yếu cung cấp thông tin về vấn đề chứ chưa thể đi sâu vào 7 nhóm kiến thức và kỹ năng tối cần thiết đã nêu trên.

Đối tượng bồi dưỡng trình độ đầu vào không đều nhau, phần lớn là không còn trẻ, nên việc tiếp cận với lĩnh vực công nghệ, đặc biệt là thực hiện học tập qua thực tế là khó khăn hơn nhiều so với sinh viên đại học còn trẻ, có kiến thức nền tảng tốt và có khả năng thích ứng nhanh trong môi trường số.Hiện nay ở Việt Nam, nhiều cơ sở đào tạo, trong đó điển hình nhất

Đối tượng đào tạo cho nguồn nhân lực kế cận là các sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh các ngành lý luận, công an, quân đội, báo chí, công nghệ thông tin, báo chí truyền thông nói chung và truyền thông chính sách nói riêng. Trừ chuyên ngành truyền thông chính sách, các ngành đào tạo về công nghệ thông tin, báo chí truyền thông có thị trường rộng mở, sức hút từ các cơ quan báo chí, các doanh nghiệp truyền thông thuộc ngành công nghiệp truyền thông, công nghiệp văn hoá và giải trí là quá lớn. Do nhu cầu thị trường nhân lực nghiêng về cơ quan báo chí và lĩnh vực doanh nghiệp hay kinh tế báo chí truyền thông nên nội dung, vị trí việc làm tương thích sẽ dẫn đến tình trạng số sinh viên ra trường chọn làm việc trong lĩnh vực truyền thông chính sách sẽ ít đi. Năng lực về công nghệ truyền thông chính sách cũng không đạt yêu cầu cao như năng lực ứng dụng công nghệ đối với lĩnh vực báo chí hay doanh nghiệp.

Dù đã có nhiều nỗ lực lớn trong dầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật và công nghệ trong đào tạo công nghệ truyền thông, nhưng hầu hết các cơ sở đào tạo vẫn còn phải đối mặt với tính bắt buộc trong đào tạo thực hành công nghệ truyền thông. Việc đi thực tế, thực tập nghề nghiệp của sinh viên là một thách thức rất lớn bởi trong thực tế chưa có nhiều các thiết chế truyền thông chính sách có đủ điều kiện về nhân lực hướng dẫn, mô hình công nghệ truyền thông chính sách, nền tảng công nghệ truyền thông chính sách tiên tiến, do đó việc tổ chức đào tạo kỹ năng nghề nghiệp là một khó khăn không nhỏ.

Thứ Năm, 13 tháng 5, 2021

NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN HỒ CHÍ MINH

Một là, từ yêu cầu thực tiễn của Tổ quốc, của dân tộc Việt Nam về độc lập, tự do và ấm no, hạnh phúc mà hành động cách mạng. Trong bối cảnh nước mất nhà tan, nhân dân chịu cảnh lầm than, nô lệ, Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh ra đi và tranh đấu, lấy mục tiêu độc lập của dân tộc, tự do của nhân dân, hạnh phúc của đồng bào làm chuẩn mực hành vi, thước đo của hoạt động, tiêu chuẩn của chân lý. Cũng từ mục tiêu cao cả và nhất quán đó, Người đã xử lý, giải quyết vô cùng khéo léo, hài hoà nhiều mối quan hệ. Tiêu biểu là các mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, giữa dân tộc và quốc tế, giữa nội lực và ngoại lực, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa nhân vǎn.                

Hai là, kết hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn, thống nhất hữu cơ giữa lý luận và thực tiễn. Hồ Chí Minh tiếp cận với nhiều hệ tư tưởng, nhiều học thuyết và rút ra những giá trị tốt đẹp, tích cực, tiến bộ, chân chính của mỗi hệ tư tưởng, mỗi học thuyết. Theo Người, học chủ nghĩa Mác - Lênin cốt nắm lấy tinh thần, bản chất và phương pháp để xử lý, giải quyết một cách độc lập, tự chủ, sáng tạo mọi quan hệ với con người và công việc. 

Ba là, nhạy bén nắm bắt, thấu hiểu, tôn trọng quy luật khách quan để hành động phù hợp, đúng đắn và đi đến thành công. Hồ Chí Minh luôn quan tâm và coi trọng quy luật vận động khách quan của mọi việc, từ sự phát triển của thế giới, trong nước đến nhiều lĩnh vực. Người yêu cầu phải nắm vững quy luật phát triển của cách mạng, phải tính toán cẩn thận những điều kiện cụ thể, những biện pháp cụ thể, kế hoạch phải chắc chắn, chớ đem chủ quan của mình thay cho điều kiện thực tế…

Bốn là, giữ vững nguyên tắc chiến lược kết hợp với mềm dẻo trong sách lược, linh hoạt về phương pháp. Hồ Chí Minh sáng tạo và thực hành đầy bản lĩnh phương pháp cách mạng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Chiến lược một khi đã được xác định đúng còn phải có sách lược mềm dẻo, sát hợp. Người chủ trương phải thực hành tốt một số vấn đề: Khoa học kết hợp với nghệ thuật trong việc tạo thời cơ, chớp lấy thời cơ; “Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ, kiên quyết không ngừng thế tiến công”; “Biến đại sự thành tiểu sự, biến tiểu sự thành vô sự”; “Thế và lực trong cách mạng và trong phát triển là ở Đại Đoàn kết”,…

Năm là, nhân dân là lực lượng quý nhất, mạnh nhất, phải luôn dựa vào dân, phục vụ nhân dân.Theo Hồ Chí Minh, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, đấu tranh giành, bảo vệ độc lập tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội đều do nhân dân thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng. Do đó, tất cả mọi nhận thức và hành động phải xuất phát từ dân, từ ý chí, nguyện vọng của dân, vì lợi ích của dân. Trong diễn đạt, nói và viết sao cho giản dị, rõ ràng, chính xác cốt để quần chúng hiểu ngay, hiểu đúng và làm được, làm tốt, làm mau.

Sáu là, cán bộ là gốc, quyết định sự thành bại của mọi công việc,phải dùng cán bộ đúng và khéo. Để cán bộ thực sự là gốc của mọi công việc thì phải đào tạo, huấn luyện cán bộ sao cho đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn cán bộ trong từng thời kỳ, giai đoạn cách mạng. Phải ra sức rèn luyện cán bộ trong đấu tranh, cán bộ phải hết lòng vì dân, vì nước, diệt trừ chủ nghĩa cá nhân, trau dồi đạo đức cách mạng… Phải phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài qua thực tiễn và qua sự tín nhiệm của quần chúng, nhân dân.

Bảy là, quan điểm về phát triển, đổi mới và hướng về cái mới. Hồ Chí Minh có quan niệm đổi mới từ rất sớm, từ khi Đảng chưa ra đời. Hành động sang phương Tây tìm đường cứu nước của Người là bước đánh dấu đầu tiên cho sự đổi mới không chỉ nhận thức mà cả hành động; từ tư duy đến lý luận và thực tiễn. Đổi mới thực sự từ hành động, bằng hành động, thực hiện được các mục tiêu, mục đích: chống giặc ngoại xâm, đánh bại giặc nội xâm, giành lấy hệ giá trị: Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. Đổi mới gắn liền với phát triển, từ độc lập dân tộc tới chủ nghĩa xã hội, một xã hội giàu mạnh, văn minh, hiện đại và gắn liền với hệ giá trị Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Thứ Tư, 12 tháng 5, 2021

ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG, PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC, TẠO ĐỘNG LỰC CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NÒNG CỐT

Công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch thực chất là cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực ý thức hệ. Là cuộc đấu tranh giai cấp cuối cùng trong lịch sử nên cuộc đấu tranh giai cấp này diễn ra rất khó khăn, lâu dài, phức tạp, quyết liệt. Trong cuộc đấu tranh này, giai cấp tư sản quốc tế sử dụng toàn bộ hệ thống chính trị, giới chuyên gia lý luận, mọi phương tiện truyền thông hiệu quả nhất, hiện đại nhất, xây dựng lực lượng những người tham gia tinh nhuệ, được đào tạo bài bản, được vũ trang về tư tưởng và phương tiện sắc bén nhất. Họ còn áp dụng những thành tựu khoa học mới nhất, nhất là các lý thuyết truyền thông hiện đại, các nghiên cứu về tâm lý học để thao túng ý thức công chúng. Các sáng tạo, phát minh công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ số, công nghệ viễn thông được họ phát minh và áp dụng rất hiệu quả, hiệu nghiệm trong cuộc đấu tranh này.

Để đảm bảo giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh quyết liệt này, Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt có trình độ hiểu biết, có năng lực chuyên môn phù hợp, có sự nhạy bén chính trị cao và bản lĩnh chính trị vững vàng, có nhiệt tình và quyết tâm vượt qua khó khăn, thách thức để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đội ngũ chuyên gia, cố vấn trong lĩnh vực này là những người có kiến thức chuyên sâu trong nhiều lĩnh vực, hiểu biết sâu sắc và kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách, pháp luật, kỹ thuật, công nghệ, các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, có nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu và phản bác quan điểm sai trái, thù địch.

Tuy nhiên, trong đội ngũ cán bộ nòng cốt này còn một bộ phận nhỏ có năng lực, hiểu biết hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của công cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời kỳ mới. Đó là, hiểu biết về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách, pháp luật có thể mang tính chuyên sâu nhưng thiếu tính hệ thống, tính cập nhật. Kiến thức một số lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn -những lĩnh vực khoa học trực tiếp làm tiền đề khoa học và tư tưởng, lý luận cho sự ra đời của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng như cho sự phát triển, hoàn thiện không ngừng chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại mới, còn chưa đủ rộng và sâu. Kiến thức, kỹ năng vận dụng logic học, tâm lý học trong việc phản bác quan điểm sai trái, thù địch còn bất cập. Một số cán bộ chuyên gia lớn tuổi tuy kiến thức uyên thâm, kinh nghiệm nhiều, giàu nhiệt huyết nhưng trình độ, năng lực sử dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội, các phương tiện truyền thông mới rất hạn chế… Những nguyên nhân này đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tham gia tác chiến trên không gian mạng. 

Đối diện với kẻ thù tư tưởng được tổ chức khá chu đáo, được trang bị vũ khí lý luận và tư tưởng, khoa học công nghệ và phương tiện hiện đại, có âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, cần xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt có trình độ hiểu biết sâu sắc đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách, pháp luật. Có trình độ, hiểu biết đối với khoa học công nghệ áp dụng trong lĩnh vực truyền thông như công nghệ thông tin, bưu chính viễn thông, công nghệ số, về cách mạng 4.0; các kiến thức về tâm lý học truyền thông và lý thuyết truyền thông hiện đại; các kiến thức về quản trị mạng và xử lý khủng hoảng truyền thông; các kiến thức về pháp luật Việt Nam và quốc tế; các kiến thức và kỹ năng chuyên môn đặc thù của quân đội, công an và ngành thông tin truyền thông… 

Cần tạo lập cơ chế, chính sách tạo động lực để đội ngũ cán bộ nòng cốt nhiệt tình, tận tâm công tác, xây dựng quyết tâm vượt qua khó khăn, gian khổ của cuộc đấu tranh. Hiện tại, Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm xây dựng lực lượng và tổ chức bộ máy lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu, tác chiến trên lĩnh vực này, đã ban hành các văn bản bảo đảm chế độ, chính sách cho những người tham gia. 

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2020

ĐỔI MỚI MỤC TIÊU GIÁO DỤC – KHÂU THEN CHỐT TRONG ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DIỆN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Khâu then chốt trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là đổi mới mục tiêu giáo dục. Đại hội XII đã nâng tầm các quan điểm trong Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4/11/2013 của Hội nghị Trung ương Tám khoá XI, về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo thành Văn kiện Đại hội Đảng. Trong đó, khẳng định: Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Đây là một bước chuyển đổi căn bản của giáo dục Việt Nam, hướng vào đổi mới mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục. Mục tiêu giáo dục truyền thống chủ yếu là coi trọng trang bị kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp. Thực chất giáo dục Việt Nam từ trước đến nay xác định mục tiêu giáo dục chủ yếu vẫn được thực hiện theo cách tiếp cận nội dung. Nghĩa là, giáo dục trang bị cho người học càng nhiều nội dung càng tốt. Điều đó làm cho nội dung dạy học càng ngày càng phình to ra và dẫn đến quá tải trong tất cả các bậc học.

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2020

THÀNH TỰU GIÁO DỤC CỦA VIỆT NAM BÁC BỎ MỌI XUYÊN TẠC

Đã thành thông lệ, sắp đến kỳ Đại hội Đảng, các thế lực thù địch lại ra sức chống phá cách mạng nước ta trên mọi lĩnh vực, trong đó có phủ nhận thành tựu giáo dục, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, đấu tranh bác bỏ luận điệu xuyên tạc của chúng về vấn đề này là việc làm cấp thiết.

Thứ Tư, 11 tháng 9, 2019

SỰ VÔ MINH CỦA KẺ ĐỘI LỐT TRÍ THỨC

Thời gian vừa qua trên trang mạng xã hội Danlambao xuất hiện nhiều bài viết của Phạm Văn đề cập đến vấn đề giáo dục Việt Nam. Mới xem qua các bài viết của Phạm Văn, có người sẽ lầm tưởng rằng, đây là một trí thức “thực thụ”, vì những bài viết này để cập đến nhiều thuật ngữ mang tính chất hàn lâm như: “triết lý”, “triết lý giáo dục”, “triết lý giáo dục Việt Nam”… Nhưng khi đọc kỹ một chút thì mọi người sẽ nhận ra ngay, đây không phải là ngôn từ của một trí thức “thực thụ”, không phải mục đích là vì một nền giáo dục Việt Nam phát triển, mà đó là ngôn từ của một kẻ phản động, đang cố tình xuyên tạc câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”, để bôi nhọ, xúc phạm Người, hòng chống phá sự nghiệp cách mạng của Việt Nam; càng đọc, càng thấy sự vô minh của kẻ đội lốt trí thức. Sự vô minh của Phạm Văn được thể hiện:
Một là, Phạm Văn đã hồ đồ khi cho rằng, mục tiêu giáo dục trong câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh là mơ hồ
Câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho thấy sự quan tâm, động viên, khích lệ đối với người học, vừa đánh giá đúng công sức học tập của các em học sinh đối với sự nghiệp phát triển đất nước; đồng thời cũng chỉ ra mục tiêu của giáo dục Việt Nam nói chung và sự học tập của mỗi người nói riêng là phải xây dựng nên những con người mới phát triển toàn diện, những chủ nhân của đất nước. Chúng ta đều biết rằng, muốn có xã hội mới tốt đẹp thì cần phải có con người mới phát triển toàn diện, con người phát triển vừa là mục tiêu, vừa là chủ thể để xây dựng xã hội mới tốt đẹp. Muốn có con người mới phát triển toàn diện thì cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó giáo dục là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu. Mục tiêu của giáo dục phải hướng vào xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, muốn làm được như vậy, bên cạnh việc phải có một phương hướng giáo dục đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới, phù hợp với đặc điểm tình hình của đất nước, cần phải có đội ngũ những người làm công tác giáo dục có đủ tâm và tầm, phải xác định người học giữ vị trí trung tâm của quá trình giáo dục. Đồng thời, người học phải thấy được trách nhiệm của mình, không nỗ lực, ra sức học tập nâng cao trình độ mọi mặt để dần hoàn thiện bản thân để sau này làm việc, chăm lo cho bản thân, gia đình có cuộc sống ấm no, hạnh phúc; đồng thời, góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Đó là mục tiêu rất nhân văn, cao đẹp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra cho nền giáo dục Việt Nam, cũng như mỗi người học cần hướng tới. Vậy, đó có phải là mục tiêu “mơ hồ”, “nền giáo dục phi tự do, phản dân chủ” như Phạm Văn đã “xảo ngôn” không?
Hai là, Phạm Văn đã lập lờ đánh đồng giữa mục tiêu đưa dân tộc Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu với đưa dân tộc Việt Nam trở thành một “cường quốc” như Anh, Pháp, Mỹ
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra mục tiêu của giáo dục Việt Nam cũng như công sức học tập của các em học sinh là hướng tới xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, dân tộc Việt Nam phát triển, để có thể sánh vai với các cường quốc năm châu. Nghĩa là phát triển đất nước Việt Nam toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục… làm cho vị thế của Việt Nam ngang hàng với các cường quốc trên thế giới. Ấy vậy mà Phạm Văn lại vu khống rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh “mong muốn tương lai dân tộc Việt Nam có thể trở thành một cường quốc như Anh, Pháp, Mỹ…”. Đến đây, chúng ta đã dần thấy rõ bản chất của kẻ vô minh đội lốt trí thức để xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn dân tộc Việt Nam phát triển để sánh vai với các cường quốc năm châu, chứ không phải để đưa Việt Nam phát triển theo cong đường tư bản chủ nghĩa. Theo đó, chúng ta cần kế thừa, tiếp thu những thành tựu về giáo dục của thế giới để vận dụng phù hợp với điều kiện thực tiễn nhằm phát triển nền giáo dục nước nhà, hướng vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Sự nghiệp cách mạng của đất nước ta những năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử, trong đó có giáo dục, đào tạo. Cùng với các lĩnh vực khác, giáo dục, đào tạo đã góp phần quan trọng trong xây dựng con người mới và phát triển đất nước. Tuy nhiên, chúng ta cũng không phủ nhận bên cạnh những thành tựu đạt được trong công tác giáo dục, đào tạo vẫn còn những hạn chế, bất cập cần phải khắc phục.
Để nền giáo dục Việt Nam phát triển, góp phần xây dựng nên những con người mới có đầy đủ phẩm chất, năng lực để hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” có thể sánh vai với các cường quốc năm châu, một mặt phải kiên định và tiếp tục phát triển các giá trị của nền giáo dục Việt Nam, mặt khác, cần tích cực khắc phục những hạn chế, bất cập trong giáo dục, đào tạo thời gian qua, đồng thời tiếp thu, cập nhật các giá trị tiến bộ về giáo dục của thế giới. Cùng với quá trình đó, cần nâng cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh với những kẻ đội lốt trí thức để chống phá nền giáo dục Việt Nam, mà thực chất là chống phá Đảng, Nhà nước ta như Phạm Văn và đồng bọn của chúng./.

Thứ Sáu, 19 tháng 4, 2019

BIỆN PHÁP CHÚ TRỌNG QUAN TÂM CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG TRÍ THỨC QUÂN ĐỘI GẮN VỚI HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH TRỌNG DỤNG, ĐÃI NGỘ HỢP LÝ

Đây là hai mặt thống nhất trong tổng thể quá trình xây dựng, phát triển và phát huy vai trò đội ngũ trí thức quân đội. Vấn đề này cần được tổ chức thực hiện đồng bộ ở cả tầm vĩ mô và vi mô gắn với yêu cầu nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và đặc điểm của từng đơn vị cụ thể. Nghị quyết Trung ương 7 khóa X nhấn mạnh: “Thực hiện chính sách trọng dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức… tạo chuyển biến căn bản trong đào tạo, bồi dưỡng trí thức”.
Trước hết, trên cơ sở quán triệt sâu sắc quan điểm lãnh đạo của Đảng và những chính sách của Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng cần hoàn thiện chiến lược giáo dục đào tạo trong quân đội, tạo bước chuyển căn bản trong đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức quân đội. Từ đó có quy hoạch đội ngũ trí thức phù hợp, hiệu quả. Xây dựng quy hoạch đội ngũ trí thức phải xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong quy hoạch phải luôn bám sát ba quan điểm chỉ đạo và năm nhiệm vụ, giải pháp được xác định trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa X. Đồng thời, tiếp tục chỉ đạo thực hiện tốt Nghị quyết số 86/NQ-ĐUQSTW về công tác giáo dục - đào tạo trong tình hình mới. Thực hiện có hiệu quả việc tuyển chọn và đưa cán bộ, trí thức quân đội đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài.
Đối với các đơn vị trong toàn quân, cần chủ động đa dạng hóa các hình thức bồi dưỡng, giáo dục đội ngũ cán bộ, trí thức; coi trọng bồi dưỡng kinh nghiệm thực tiễn chiến đấu và huấn luyện sẵn sàng chiến đấu cho đội ngũ trí thức trẻ. Trong bồi dưỡng, giáo dục cán bộ, trí thức cần gắn giữa lý luận với thực tiễn huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của quân đội, đơn vị.
Đối với các học viện, nhà trường quân đội, với vai trò là những trung tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức cho quân đội, cần tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết số 86/NQ-ĐUQSTW về công tác giáo dục - đào tạo trong tình hình mới. Cụ thể, các học viện, nhà trường căn cứ vào nội dung, yêu cầu, lĩnh vực đào tạo cần tập trung đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, tích cực hóa hoạt động của người học… nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo trực tiếp góp phần vào sự phát triển của đội ngũ trí thức quân đội cả về số lượng và chất lượng. 

Thứ Hai, 13 tháng 11, 2017

MẤY SUY NGHĨ VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ GIÁO TRONG ĐỔI MỚI GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO HIỆN NAY

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Còn gì vẻ vang hơn nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Người thầy tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất dù là tên tuổi không được đăng trên báo, không được hưởng huân chương, những người thầy giáo tốt là những người anh hùng vô danh”. Nhận thức sâu sắc sứ mệnh cao cả của mình, lớp lớp các thế hệ nhà giáo đã không ngừng tu dưỡng phẩm chất, nâng cao năng lực, cống hiến trí tuệ, công sức và cuộc đời cho sự nghiệp “trồng người”.
Hiện nay, trước thời cơ, vận hội và thách thức mới của dân tộc, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) của Đảng ta về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã xác định: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học... Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học.”. Đội ngũ giảng viên là nhân tố trực tiếp quyết định chất lượng của quá trình đổi mới giáo dục, đào tạo. Tuy nhiên, hiện nay, người giảng viên không đóng vai trò truyền dạy kiến thức, mà trở thành người trực tiếp tổ chức hoạt động giáo dục, đào tạo; chuyển từ vai trò người “truyền thụ kiến thức” trở thành người “dạy cách học. Chức năng chủ yếu của người giáo viên là tổ chức, dẫn dắt, định hướng quá trình học tập của người học và thúc đẩy động cơ, truyền cảm hứng cho người học, làm cho người học tự giác cao độ về việc học tập, tự tìm kiếm kiến thức bằng suy nghĩ, hành động của bản thân. Người giảng viên trở thành người đạo diễn, “bạn đồng hành” “bình đẳng” cùng học trò trong quá trình đi tìm chân lý. Dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giảng viên, người học tự tìm cách chiếm lĩnh tri thức khoa học, tự giác rèn luyện một cách tính tích cực, chủ động, sáng tạo để từng bước phát triển năng lực nghề nghiệp. Công việc của người giảng viên không phải dễ dàng hơn mà càng trở nên khó khăn, phức tạp hơn - đó không chỉ là công việc của nhà giáo mà còn là công việc của nhà khoa học, nhà văn hóa.
  Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, đòi hỏi mỗi giảng viên phải có sự nỗ lực  cao để nâng cao phẩm chất, năng lực của bản thân. Trong thời đại của tri thức và khoa học công nghệ hiện đại, người giảng viên phải năng động, chủ động tiếp thu những kiến thức mới, không ngừng học tập, nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn. Hơn thế nữa, trước những tác động mạnh mẽ của mặt trái cơ chế thị trường, mỗi giảng viên cần phải thường xuyên bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong công tác khoa học, giữ gìn, rèn dũa đạo đức nghề nghiệp. Đồng thời, mỗi giảng viên phải thật sự trở thành những chiến sỹ trên mặt trận tư tưởng văn hóa, có đủ sức mạnh của ý chí, bản lĩnh và nhiệt huyết để vượt qua những khó khăn, thách thức trong công việc cũng như trong cuộc sống. 

 Dù xã hội có nhiều biến động, Nhà giáo vẫn là những người được tôn vinh, kính trọng, nghề giáo vẫn là nghề cao quý trong những nghề cao quý. Điều đó, đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, vươn lên, luôn tìm tòi, sáng tạo, tiếp nối xứng đáng truyền thống của các thế hệ đi trước; góp phần tạo ra những “sản phẩm” có chất lượng tốt, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.