Hiển thị các bài đăng có nhãn thế lực. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thế lực. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 11 tháng 1, 2021

LỘ DIỆN BỘ MẶT PHẢN ĐỘNG CỦA TẬP ĐOÀN PÔN PỐT

Từ lâu, nhân dân Việt Nam và Campuchia đã xây dựng tình hữu nghị, đoàn kết cùng chống kẻ thù chung, đặc biệt đã kề vai sát cánh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược để giành độc lập, tự do cho dân tộc. Tuy nhiên, do bị các thế lực phản động, thù địch nước ngoài kích động, lợi dụng, từ những năm cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ (1970 -1975), quân Pôn Pốt đã tiến hành một số vụ tiến công, bắt cóc giết hại cán bộ, bộ đội Việt Nam hoạt động ở chiến trường Campuchia, đồng thời gây chia rẽ nội bộ những người cộng sản Campuchia. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 1973, quân Pôn Pốt gây ra 102 vụ, sát hại và làm bị thương 103 bộ đội Việt Nam, cướp hàng chục tấn lương thực và vũ khí.

Thực hiện âm mưu chiến lược phá hoại mối quan hệ liên minh đoàn kết chiến đấu giữa 3 nước Campuchia - Việt Nam - Lào nói chung và giữa hai nước Việt Nam - Campuchia nói riêng, tháng 4-1975, sau khi lên nắm quyền, tập đoàn Pôn Pốt đã phản bội lại sự nghiệp cách mạng của nhân dân Campuchia và phá hoại truyền thống đoàn kết, hữu nghị của nhân dân hai nước, thực hiện chính sách diệt chủng ở Campuchia và xâm lược biên giới Tây Nam của Việt Nam.

Cụ thể, ở trong nước, chúng phạm sai lầm đặc biệt nghiêm trọng, thực thi chính sách diệt chủng tàn khốc, cưỡng bức lao động khổ sai, tra tấn hành hạ dã man người dân Campuchia; biến trường học, nhà chùa thành nhà tù, khắp mọi nơi đầy những hố chôn người tập thể… Chỉ trong 3 năm 8 tháng và 20 ngày (từ tháng 4-1975 đến cuối năm 1978), chế độ Pôn Pốt đã giết hại gần 3 triệu người dân Campuchia vô tội, xóa bỏ mọi cơ sở xã hội, xóa bỏ thành thị, xóa bỏ sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp, xóa bỏ quan hệ tiền tệ, buôn bán và đẩy Campuchia đứng trước thảm họa diệt vong. Chế độ hà khắc ban hành đã trùm lên đất nước Campuchia đau thương: Không tự do đi lại, không tự do hội họp, không tự do ngôn luận, không tự do tín ngưỡng, không tự do học hành, không tự do hôn nhân, không bệnh viện, không tiêu tiền, không buôn bán, không chùa chiền...

Được các thế lực phản động nước ngoài hậu thuẫn, tập đoàn phản động Pôn Pốt chủ trương phá nát mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị truyền thống lâu đời giữa Việt Nam và Campuchia; ra sức vu khống Việt Nam, kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi; kích động xét lại quan hệ hai nước, đòi hoạch định lại biên giới Việt Nam- Campuchia, vô cớ coi Việt Nam là kẻ thù số 1 và tiến hành hàng loạt những cuộc xâm lấn biên giới, giết hại dân thường. Năm 1975, khi đất nước Việt Nam vừa thống nhất, Pôn Pốt đã cho quân xâm lược các đảo, biên giới đất liền Tây Nam nước ta. Ngày 3-5-1975, chúng đánh chiếm đảo Phú Quốc; ngày 10-5-1975, chúng lại tiếp tục đánh chiếm đảo Thổ Chu, bắt và giết hơn 500 dân thường. Trên đất liền, chúng khiêu khích bộ đội biên phòng ta, cho dân di dời cột mốc biên giới ở một số điểm thuộc các tỉnh Tây Ninh, Kon Tum, Đắk Lắk. Tháng 10-1975, chúng xâm nhập khu vực Pa Chàm (Lổ Cồ), xâm canh các khu vực Mộc Bài, Khuốc, Vạt Sa, Tà Nốt, Tà Bạt. Cuối năm 1975 đầu năm 1976, quân Pôn Pốt bất ngờ tiến hành một số vụ xâm nhập vào sâu lãnh thổ Việt Nam, có nơi trên 10km như ở vùng sông Sa Thầy (Gia Lai, Kon Tum), gây ra tội ác với nhân dân Việt Nam.

Tháng 1-1976, Đại hội lần thứ IV của Đảng Cộng sản Campuchia (do Pôn Pốt làm Bí thư) xác định: “Tai họa nhất cần phải chú ý là Việt Nam…”. Trong thời gian này, được sự giúp đỡ từ bên ngoài, Pôn Pốt càng đẩy mạnh các hoạt động quân sự phá hoại ta ở vùng biên giới Tây Nam. Cuối tháng 2 đầu tháng 3 năm 1976, quân Pôn Pốt khiêu khích hai đồn biên phòng số 7 và số 8 ở Bu Prăng (Đắk Lắk). Cuối năm 1976, chúng tăng cường các hoạt động khiêu khích, lấn chiếm ở vùng biên giới Tây Nam nước ta. Trên địa bàn Quân khu 7, chúng gây ra 280 vụ khiêu khích, lấn chiếm 20 điểm trên biên giới. Ở địa bàn Quân khu 5 và Quân khu 9, các vụ xâm lấn ngày càng tăng với tính chất ngày càng nghiêm trọng hơn.

Đi đôi với hành động xâm lược, tập đoàn Pôn Pốt ra sức tuyên truyền, bôi nhọ hình ảnh Việt Nam, kích động tâm lý chống Việt Nam, coi Việt Nam là “kẻ thù truyền kiếp”, “kẻ thù số 1”. Lấy cớ làm sạch nội bộ, chúng tiến hành phân loại dân, thực hiện nhiều cuộc thanh trừng đẫm máu, trong đó tập trung vào số cán bộ trước đây được đào tạo ở Việt Nam.

Cùng với các hoạt động khiêu khích, xâm lược thô bạo đến biên giới Tây Nam của Việt Nam, trong 2 năm (từ 30-4-1975 đến 30-4-1977), Pôn Pốt đã ráo riết chuẩn bị chiến tranh. Chúng phân chia lại đơn vị hành chính, tổ chức bộ máy chính quyền thôn, xã, huyện, tỉnh theo kiểu quân sự, thanh trừng những người chống đối, kích động tâm lý chống Việt Nam; xây dựng lực lượng, phát triển quân chủ lực từ 7 sư đoàn khi mới giải phóng lên 12 sư đoàn quân chính quy với đầy đủ thành phần binh chủng, hàng vạn quân địa phương, trong đó điều động 41% quân số và trang thiết bị áp sát biên giới Việt Nam. Trong hai tháng 3 và 4-1977, quân Pôn Pốt liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân diễn tập dọc biên giới với nước ta dưới danh nghĩa “phòng thủ khu vực”, “bảo đảm an ninh nội địa”, nhưng thực chất đó là các cuộc điều quân ra biên giới. Pôn Pốt tuyên bố: “Mâu thuẫn Việt Nam- Campuchia là mâu thuẫn chiến lược sống còn, không thể điều hòa được, cũng không thể giải quyết bằng thương lượng mà phải dùng biện pháp quân sự”. Cuối tháng 4-1977, Pôn Pốt điều động 5 sư đoàn và hàng trăm khẩu pháo, xe tăng áp sát biên giới Việt Nam, thực hiện âm mưu xâm lược quy mô lớn vào lãnh thổ vùng biên giới Tây Nam của nước ta.

Đêm ngày 30-4-1977, lợi dụng lúc quân và dân ta kỷ niệm 2 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, tập đoàn Pôn Pốt đã mở cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới tỉnh An Giang, chính thức bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam của Việt Nam.

Thứ Ba, 8 tháng 5, 2018

KHÔNG ĐỂ BẤT KỲ THẾ LỰC NÀO CÓ THỂ PHÁ HOẠI ĐẤT NƯỚC TA

Nhân dân Việt Nam đã đi qua hai cuộc chiến tranh để bảo vệ và giải phóng, thống nhất đất nước mình nên càng thấu hiểu thế nào là tự do độc lập, thế nào là toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ. Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước ở Việt Nam do Đảng Cộng sản khởi xướng và lãnh đạo suốt 30 năm qua đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Vị thế của đất nước Việt Nam ngày càng được nâng cao, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, Đảng và nhân dân ta luôn mong muốn một không khí hòa bình để xây dựng một cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, nhưng các thế lực thù địch không để chúng ta yên. Vì vậy, việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, vạch trần các âm mưu, thủ đoạn các thế lực thù địch là một nhiệm vụ tất yếu, cần phải làm thật tốt.Để thực hiện được điều đó, cần nhận rõ các dạng quan điểm sai trái, những luận điệu thù địch để có những đối sách phù hợp. Tập trung xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, làm tốt công tác tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và toàn dân bằng cách tuyên truyền, tổ chức, giáo dục hướng tới sự thống nhất tư tưởng và thống nhất hành động trong toàn xã hội. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - một thứ giặc nội xâm nguy hại để giữ vững niềm tin của nhân dân, bảo vệ pháp luật, bảo vệ Đảng, chế độ XHCN.
Hơn 88 năm qua, Đảng ta luôn coi trọng công tác đấu tranh chống những quan điểm sai trái, những luận điệu thù địch chống phá cách mạng. Đây là nhiệm vụ đặc biệt, cần có sự phối hợp đồng bộ, chỉ đạo chặt chẽ, huy động năng lực và trí tuệ của đội ngũ cán bộ trong toàn hệ thống chính trị nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh trong nhận thức tình cảm, tư tưởng của nhân dân.
Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cũng chính là sự khẳng định lập trường của Đảng và Nhà nước ta trước những biến động phức tạp trên thế giới và trong nước, từ đó củng cố nhận thức chính trị, giữ vững thế trận lòng dân, đưa sự nghiệp cách mạng tới thắng lợi hoàn toàn. Cùng với đó là phối hợp làm tốt công tác vận động quần chúng, tăng cường và nâng cao hiệu quả đầu tư, thực hiện tốt phong trào chung sức xây dựng nông thôn mới, tích cực xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bồi đắp sự đồng thuận xã hội trong cộng đồng dân tộc, củng cố và tăng cường thế trận lòng dân vững chắc. Góp phần bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ lực lượng vũ trang và nhân dân, tăng cường sức đề kháng làm thất bại mọi âm mưu “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa quân đội”... của các thế lực thù địch./.

Thứ Năm, 19 tháng 4, 2018

CẦN CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, THÙ ĐỊCH CỦA CÁC PHẦN TỬ PHẢN ĐỘNG

Vừa qua trên trang (Dân Làm Báo VN) có đăng tải bài viết của tác giả Le Nguyen với tiêu đề: " Giải thiêng huyền thoại Hồ là đập tan luận điệu bảo vệ tài sản Mao-Hồ". Mục đích nhằm bôi nhọ lãnh tụ, nói xấu cán bộ cấp cao của Đảng, phá hoại mối quan hệ đoàn kết, bang giao Việt – Trung.
Trước hết, ta cần khẳng định đây là chiêu bài "rượu cũ, bình mới" của những kẻ phản động, tay sai, bán nước hại dân. Những thứ lập luận rẻ tiền của chúng chẳng lừa bịp được ai kể cả đối với những người dân bình thường trên đất nước Việt Nam. Nhân đây cũng xin trao đổi, ý kiến với tác giả Le Nguyen và những người đang cố tình phủ nhận lịch sử, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam rằng: "tà" không thắng "chính"; phản động, phi nghĩa không bao giờ đồng hành cùng cách mạng và chính nghĩa; lịch sử không thể phủ nhận, xuyên tạc hoặc đảo ngược.
Thứ hai, một số nội dung tác giả Le Nguyen đưa ra tuy là những dấu ấn lịch sử của dân tộc nhưng rõ ràng là thiếu căn cứ khoa học và cơ sở thực tiễn. Điều đáng nói là tác giả Le Nguyen cũng thừa nhận rằng sự kiên định và những biện pháp tự vệ của những người cộng sản đã "ít nhiều đã tác động đến một số bạn bè và các bạn ấy vì cảm mến tôi nên đã nhắn tin trao đổi ý kiến chân thành, khuyên tôi dừng lại đừng viết về sự thật Hồ Chí Minh nữa. Viết chẳng có ích lợi gì, lại bị người ta mắng nhiếc, chửi bới"... Điều đó chứng tỏ Le Nguyen và "cộng sự" đã thẳng thắn thừa nhận rằng mình là những kẻ "xảo biện" cùi mòn, luẩn quẩn, cố gắng nặn ra những cái không có thật để mưu sinh. Hay nói cách khác, hành động của Le Nguyen và đồng bọn đã tự phơi bày sự phản động, phi khoa học của lý luận phi vô sản trước tượng đài vững chắc, vinh quang của chủ nghĩa Mác – Lênin.
Cuối cùng, tác giả bài viết mong các bạn đọc thấy rõ bản chất thâm thù cách mạng và động cơ chính trị phản động của Le Nguyen để bình tĩnh, sáng suốt không để những luận điệu sai trái của các phần tử phản động lừa bịp, lôi kéo. Đồng thời,  cũng khuyên Le Nguyen và các "cộng sự" hãy thức tỉnh khi chưa quá muộn. Bởi người Việt có câu "đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh người chạy lại". Nếu còn nhận thức mang trong mình dòng giống "con Lạc cháu Hồng" thì tốt nhất hãy im lặng, để chút gì đó gọi là để phúc cho cháu, con ngày mai.

Thứ Hai, 8 tháng 1, 2018

“Xung khắc nội bộ” – Luận điệu chống phá quy định 102-QĐ/TW của Đảng

Quy định 102 xác định rõ nội dung các vi phạm và mức độ xử lý đối với cán bộ, đảng viên. Việc ban hành quy định không chỉ căn cứ Cương lĩnh, Điều lệ của Đảng, căn cứ Hiến pháp, pháp luật mà còn các giá trị truyền thống đạo đức của dân tộc. 
Quy định 102 là một quy định nội bộ Đảng nhằm giữ vững phẩm chất chính trị, đạo đức của cán bộ, đảng viên. Thế nhưng, ngay sau khi quy định được ban hành, trên không gian mạng đã có những bài viết chỉ trích, những comment - bình luận cố ý hiểu sai lệch, xuyên tạc. Chẳng hạn, có người viết rằng, quy định này thể hiện sự “xung khắc nội bộ” về “xã hội dân sự”.
Họ viện dẫn Quy định 102 rằng, những đảng viên nào đòi thực hiện “thể chế xã hội dân sự”, “thể chế tam quyền phân lập” và “đa nguyên đa đảng” sẽ bị khai trừ ra khỏi Đảng…, từ đó tập trung phê phán, đả kích. Vậy nội dung, thực chất của Quy định 102 như thế nào? Vì lý do gì một số người lại cố tình xuyên tạc quy định này?  

Quy định 102 ra đời xuất phát từ yêu cầu cấp thiết trong thực tiễn, đó là tình trạng suy thoái về “chính trị, tư tưởng, đạo đức”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà Hội nghị TW 4 (khóa XII) đã chỉ ra là nghiêm trọng.
Theo Quy định 102, xử lý kỷ luật những cán bộ, đảng viên vi phạm sau: “a) Cố ý nói, viết có nội dung xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc sự thật, phủ nhận vai trò lãnh đạo và thành quả cách mạng của Đảng và dân tộc; b) Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên tắc tập trung dân chủ, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, “xã hội dân sự”, “đa nguyên, đa đảng”.
Quy định như trên là rất rõ ràng, cụ thể, việc ý kiến nói quy định này là “xung khắc nội bộ” là đã cố tình xuyên tạc bản chất. Trước hết, họ đã cố tình cắt xén bối cảnh của quy định. Bối cảnh của nội dung này nằm trong mệnh đề “Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” (vấn đề này được quy định tại Điều 4, Hiến pháp 2013).
Thứ hai, họ cố tình tách cụm từ “xã hội dân sự” ra khỏi mệnh đề thể chế “tam quyền phân lập”, “xã hội dân sự”, “đa nguyên, đa đảng” (điều này được quy định tại khoản 3, Điều 2 quy định về nguyên tắc phân công phối hợp của cơ quan quyền lực Nhà nước).
Cho dù những ý kiến, bình luận chỉ trích “xung khắc nội bộ” về “xã hội dân sự” cố tình xuyên tạc, đả kích đến đâu cũng không thể làm sai lệch bản chất, nguyên tắc và mục đích mà Quy định 102/TW đặt ra.
Đó là đảm bảo sự tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, căn cứ Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, việc quy định xử lý sai phạm của đảng viên nhằm mục đích xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, vì sự tiến bộ của Đảng và tiến bộ của đất nước, hoàn toàn không có tính chất cá nhân, không “xung khắc nội bộ” như luận điệu kẻ địch rêu rao.

Chủ Nhật, 8 tháng 10, 2017

NHẬN DIỆN NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI DO CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TÁC ĐỘNG, TUYÊN TRUYỀN

- Tấn công vào nền tảng tư tưởng của chúng ta -  chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Các nhà tư tưởng chống cộng, chống CNXH phê phán, đả kích tới tấp vào chủ nghĩa Mác-Lênin hòng làm lung lay nền tảng tư tưởng của chúng ta và đẩy chúng ta đi chệch quỹ đạo của CNXH. Các thế lực thù địch tung ra đủ thứ lý luận nhằm bác bỏ chủ nghĩa Cộng sản như: du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử, chỉ đưa đến tai họa vì chủ nghĩa Mác-Lênin là tư tưởng ngoại lai, xa lạ với truyền thống dân tộc. Họ còn cho rằng lý luận Mác-Lênin chỉ giải quyết vấn đề đấu tranh giai cấp, còn tư tưởng Hồ Chí Minh giải quyết đấu tranh dân tộc thuần túy, không thể áp đặt học thuyết Mác-Lênin vào Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh kinh tế thị trường.
- Phủ định nền tảng tư tưởng: phủ định học thuyết Mác-Lênin, cho là học thuyết Mác-Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, chỉ phù hợp với một chừng mực nào đó với trình độ, lực lượng sản xuất và văn hóa Nga, không phù hợp với thế kỷ này, với nước ta, từ đó chúng cho rằng chủ nghĩa Mác-Lênin lỗi thời ở Việt Nam.
Gần đây chúng chuyển sang luận điệu "Việt Nam đang bế tắc không chỉ về kinh tế mà còn về tinh thần. Không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác nữa, ngay cả Bộ Chính trị". Đồng thời chúng xuyên tạc chủ nghĩa Mác- Lênin, đưa ra các luận điệu "đấu tranh giai cấp", "tập trung dân chủ" là cổ vũ cho bạo lực, cho chiến tranh, cho độc quyền, độc đoán, thủ tiêu dân chủ, không phù hợp với xu thế thời đại, do đó không thể thúc đẩy xã hội phát triển.
- Phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin với học thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh "nồi da nấu thịt" suốt mấy chục năm. Cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là người dân tộc chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm phương tiện; đưa chủ nghĩa Mác- Lênin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử...
- Phủ định các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, cho rằng hình thái kinh tế xã hội chỉ là một lý thuyết về CNXH không tưởng, không bao giờ thực hiện được, sự sụp đổ CNXH ở Đông Âu, Liên Xô là một tất yếu, dự báo trước. Cho rằng CNXH đặt xã hội lên trên cá nhân chỉ là đề cao một số người đang nắm quyền trong xã hội đó.
- Tấn công vào đường lối của Đảng, các thế lực thù địch cho rằng không thể làm trái quy luật bỏ qua chế độ tư bản mà là phát triển CNTB dưới sự lãnh đạo của Đảng, giải quyết các vấn đề xã hội ở chừng mực nào đó, theo chủ nghĩa xã hội dân chủ. Nêu định hướng XHCN sẽ không thực hiện được đại đoàn kết dân tộc, sẽ bị cô lập trên trường quốc tế, nên gác định hướng XHCN lại. Chúng rêu rao rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn con đường sai, không thể có CNXH. Không ít kẻ đã lớn tiếng rằng "CNXH chính là bước quá độ từ CNTB tiến tới CNTB, những ước mơ của CNXH thì chính CNTB đã thực hiện rồi, rằng người ta có thể dễ dàng tìm thấy ở CNTB những lời giải đáp đầy đủ cho mọi vấn đề được đặt ra trong đời sống loài người. Tóm lại, người ta muốn nói những người Mác xít bàn về CNXH chẳng khác nào bàn về hư vô".
- Tấn công vào vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN, trong thời kỳ đầu đổi mới xuất hiện một số ấn phẩm có nội dung phê phán, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, ở nước ngoài, các nhóm phản động người Việt lưu vong như Diễn đàn, Thông luận cùng với "12 điều kiến nghị của một công dân" của Bùi Tín, đã truyền qua đài BBC, RFI, chuyển về nước đòi "đổi mới triệt để", "cải tổ Đảng", "xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng". Nhân dịp Quốc hội phát động toàn dân góp ý kiến vào dự thảo Hiến pháp, chúng đòi xóa bỏ điều 4 của Hiến pháp, đổ lỗi tình trạng khủng hoảng và đói nghèo ở nước ta là hậu quả của chính sách cai trị độc tài dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin mà Đảng cs áp đặt trên đất nước Việt Nam. Các thế lực chống cộng tập trung đánh vào các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đặc biệt là vào nguyên tắc tập trung dân chủ. Bằng việc vu cáo Đảng cs chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, "độc đoán, đảng trị", thực hiện sự chuyên chính của một đảng, sự thống trị quan liêu của giới thượng lưu, chúng đối lập Đảng với Nhà nước, đối lập Đảng, Nhà nước với nhân dân.

Thứ Hai, 11 tháng 9, 2017

CẦN NHẬN RÕ MỤC ĐÍCH CỦA ÂM MƯU PHI CHÍNH TRỊ HÓA QUÂN ĐỘI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang hàng ngày, hàng giờ chống phá các nước xã hội chủ nghĩa thì chúng xác định nhiệm vụ quan trọng nhất là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với lực lượng vũ trang, công cụ bạo lực của các Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện nhiệm vụ này chúng tiến hành âm mưu phi chính trị hóa quân đội, làm cho quân đội của các nước xã hội chủ nghĩa mất phương hướng chiến đấu, không xác định được đâu là đối tượng, đâu là đối tác. Từ đó để chúng đi đến xóa bỏ, tiến tới tiêu diệt Đảng Cộng sản và cuối cùng là xóa bỏ hoàn toàn chế độ xã hội chủ nghĩa, đưa các nước này quay lại chế độ tư bản chủ nghĩa.
Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, Quân đội được Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta tổ chức, giáo dục, rèn luyện là công cụ bạo lực sắc bén bảo vệ Đảng, Nhà nước nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, là quân đội của dân do dân và vì dân. Từ khi được thành lập đến nay, quân đội ta càng đánh càng mạnh, càng chiến đấu càng trưởng thành. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Quân đội ta luôn là lực lượng trung thành tuyệt đối bảo vệ Đảng Nhà nước nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Trước thực tế hiển nhiên như vậy kẻ thù của chúng ta rất cay cú luôn tìm mọi cách để chống phá làm tan rã Quân đội ta thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình” mà cụ thể là âm mưu “phi chính trị hóa quân đội”.
Vậy cần nhận rõ mục đích của âm mưu phi chính trị hoá quân đội để mỗi chúng ta những người cộng sản nâng cao cảnh giác cách mạng, nhận diện và đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn chống phá của chúng.
“Phi chính trị hóa” quân đội cũng là một cái đích và gắn liền một cách hữu cơ với “diễn biến hòa bình”. Một khi “diễn biến hòa bình” đã được thực hiện thì đương nhiên vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội không còn nữa. Bản chất của “Phi chính trị hóa” quân đội là làm cho quân đội vô sản trở nên mất phương hướng chiến đấu, qua đó chúng thâu tóm và biến nó thành một quân đội tư sản. Cái mà các thế lực thù địch rêu rao rằng, quân đội phải trung lập, phải đứng ngoài chính trị chỉ là cái “bánh vẽ” để lòe bịp.
Quân đội bao giờ cũng là một tổ chức vũ trang, gắn liền với một tập đoàn người, một giai cấp, một nhà nước, một kiểu chế độ chính trị nhất định. Không có quân đội nào đứng ngoài chính trị và vô chính trị. Quân đội được sinh ra là để thực hiện mục tiêu chính trị của giai cấp đã tổ chức ra nó. Lĩnh vực mà quân đội hoạt động - lĩnh vực đấu tranh vũ trang - cũng xuất phát từ mục tiêu chính trị và phục vụ cho mục đích chính trị. Đến lượt nó, bản thân quân đội cũng là một lực lượng chính trị, cái khác là ở chỗ, đó là lực lượng chính trị được tổ chức, chỉ huy chặt chẽ, được vũ trang đầy đủ mà thôi.
Do đó, nếu quân đội không chiến đấu vì mục tiêu chính trị này thì thay vào đó sẽ là một mục tiêu chính trị khác; không đặt dưới sự lãnh đạo của một chính đảng vô sản, tất yếu sẽ chịu sự lãnh đạo của đường lối chính trị tư sản.
Như thế, bản chất của cái gọi là “phi chính trị hóa” quân đội không gì khác hơn là làm biến chất quân đội của chúng ta, nhằm làm cho một quân đội của dân, do dân, vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành một quân đội tư sản, chống lại quyền lợi của nhân dân lao động, bảo vệ quyền lợi của các thế lực thù địch.

Thứ Hai, 3 tháng 7, 2017

Đấu tranh với những hoạt động lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị và văn bản pháp luật nhằm đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền con người trên các lĩnh vực; trong đó, có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Thực hiện những nghị quyết, chỉ thị đó, Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc về đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện phát triển như hiện nay. Theo thống kê sơ bộ, tính đến đầu năm 2017, có 40 tổ chức tôn giáo thuộc 14 tôn giáo khác nhau được Nhà nước công nhận và cấp phép hoạt động với hơn 25 triệu tín đồ, 53 nghìn chức sắc, hơn 133 nghìn chức việc, 28 nghìn cơ sở thờ tự. Các tôn giáo đã có hệ thống đào tạo quy mô trong cả nước, trong đó, Phật giáo có 04 học viện, 01 trường cao đẳng và hàng chục trường trung cấp Phật học, gần 17.000 cơ sở thờ tự; Công giáo có 01 học viện, hàng chục trường đào tạo và hơn 7.000 cơ sở thờ tự; Cao Đài có 01 học viện, hơn 1.200 thánh thất, thánh tịnh; Tin lành có 01 Trường Thánh kinh thần học, hơn 500 cơ sở thờ tự và trường đào tạo tín đồ, v.v. Hầu hết các tổ chức tôn giáo đã có báo, tạp chí, bản tin riêng; Nhà nước đã cho phép xuất bản kinh sách bằng các tiếng dân tộc, như: Kinh thánh bằng tiếng Ba-na, Ê-đê, Gia-rai; in Kinh Phật bằng tiếng Khơ-me, v.v. Cùng với đó, Chính phủ hết sức quan tâm, xem xét, phê duyệt việc đăng ký các điểm nhóm Tin lành. Hiện nay, khu vực Tây Nguyên và Bình Phước có gần 500 nghìn tín đồ, thuộc 31 tổ chức, hệ phái, nhóm Tin lành; trong đó, có hơn 400 nghìn người đang sinh hoạt tại 240 chi hội và 1.300 điểm nhóm đã đăng ký với chính quyền địa phương. Khu vực Tây Bắc có gần 200 nghìn tín đồ, chủ yếu là người Mông, sinh hoạt ở hơn 1.300 điểm nhóm. Đồng bào theo đạo Tin lành có thể sinh hoạt tôn giáo tại gia đình hoặc sinh hoạt tập trung theo điểm nhóm.
Hoạt động hợp tác quốc tế trên lĩnh vực tôn giáo được chú trọng, đẩy mạnh. Chính phủ đã tạo điều kiện để các tôn giáo mở rộng quan hệ quốc tế rộng rãi. Đã có nhiều đoàn tôn giáo quốc tế đến thăm, làm việc tại Việt Nam và nhiều đoàn chức sắc tôn giáo trong nước đi thăm, làm việc và học tập ở nước ngoài. Việt Nam đã tổ chức thành công nhiều sự kiện tôn giáo lớn, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, như: Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc (Vesak) năm 2008 và 2014; Hội nghị Nữ giới Phật giáo thế giới lần thứ XI (năm 2009), Đại lễ 100 năm Tin lành đến Việt Nam (năm 2011), Diễn đàn Thượng đỉnh Phật giáo ASEAN năm 2016, v.v.
Với chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam, những năm qua, hầu hết tín đồ, chức sắc, chức việc các tôn giáo luôn yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, sống “tốt đời, đẹp đạo”, “ích nước, lợi dân”, tích cực tham gia phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an ninh, trật tự,… góp phần làm nên những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới đất nước.
Thực tế đó cho thấy, tại Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân được tôn trọng và bảo đảm. Đó là sự thật khách quan, không thể phủ nhận. Điều này đã được cộng đồng quốc tế, trong đó có nhiều chính khách nước ngoài chứng kiến và ghi nhận. 
Những năm qua, các cơ quan chức năng đã triển khai nhiều biện pháp đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Trong đó đã bắt giữ, truy tố, xử lý đúng pháp luật nhiều đối tượng lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để tổ chức các hoạt động chống phá Nhà nước. Các cơ quan của Chính phủ và Quốc hội cũng đã và đang tiến hành rà soát hệ thống văn bản luật về tôn giáo, xác định nội dung cần sửa đổi, bổ sung phù hợp với thực tế. Nổi bật là việc ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; trách nhiệm của tổ chức và cá nhân trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo,… tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng như quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của người dân và đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước. Các phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên tuyên truyền nâng cao nhận thức cho quần chúng, tín đồ về chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo và ý thức cảnh giác của nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch.
Trong những năm tới, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, trong xu thế thúc đẩy hòa bình, hợp tác giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu; hoạt động lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo vẫn là chiêu bài được các thế lực thù địch, đối tượng chống đối chế độ triệt để lợi dụng nhằm gây mất ổn định chính trị, xã hội, can thiệp vào nội bộ nước ta. Để nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, ngăn chặn hoạt động lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, đòi hỏi công tác này luôn phải đặt dưới sự lãnh đạo Đảng; sự quản lý, điều hành của Nhà nước; tiếp tục hoàn thiện các chính sách, văn bản pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Thường xuyên nâng cao nhận thức cho nhân dân, tín đồ, chức sắc về chính sách của Đảng, Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo; vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, từ đó nâng cao ý thức, trách nhiệm cho nhân dân, tín đồ, chức sắc trong việc tham gia vào công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động này. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và đấu tranh đối ngoại; tận dụng các kênh, nhất là truyền thông, nhằm làm cho cộng đồng hiểu đúng chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và thành tựu đã đạt được trong đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta, góp phần đấu tranh có hiệu quả với các luận điệu xuyên tạc, vu cáo về nhân quyền, tôn giáo ở Việt Nam.
Đấu tranh với các thế lực thù địch lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới đất nước là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài. Điều đó đòi hỏi sự kiên quyết, kiên trì, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, của toàn dân, trong đó có đồng bào tôn giáo.


Thứ Năm, 11 tháng 5, 2017

Độc lập, tự chủ - đường lối xuyên suốt cách mạng Việt Nam

Hàng năm, cứ vào dịp kỷ niệm Ngày chiến thắng 30-4, bọn phản động lưu vong và các thế lực thù địch lại nhao nhao tung ra các luận điệu xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Trong đó, phủ nhận đường lối cách mạng độc lập, tự chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam là một trọng tâm mà họ hướng vào. Đây là một luận điệu hiểm độc, cần kiên quyết đấu tranh bác bỏ.
Các thế lực thù địch với bản chất hiếu chiến xâm lược không từ bỏ dã tâm chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; bao vây, cấm vận về kinh tế, cô lập về ngoại giao,... hòng làm cho đất nước ta kiệt quệ, đi đến sụp đổ. Nhưng, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Nhân dân ta luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đoàn kết, ra sức khắc phục khó khăn, tiến hành công cuộc đổi mới ngày càng giành những thắng lợi to lớn. Thành tựu nổi bật và cơ bản nhất là chúng ta đã giữ vững được độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; từng bước phá thế bao vây cô lập của kẻ thù, ngăn chặn và đẩy lùi mọi mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch, tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng đất nước, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Trước những diễn biến hết sức phức tạp trên Biển Đông, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã kiên quyết và kiên trì đấu tranh trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế để giữ vững chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, v.v. Nhờ đó, thế và lực, sức mạnh tổng hợp, uy tín quốc tế của Việt Nam không ngừng được nâng cao; lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ càng được tăng cường.

Rõ ràng, những luận điệu xuyên tạc mục tiêu độc lập, tự do và đường lối độc lập, tự chủ của Đảng trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay là vô căn cứ và hết sức lố bịch. Trái với luận điệu kệch cỡm của các “nhà dân chủ” cho rằng: đường lối của Đảng do nước ngoài áp đặt. Thực tiễn 87 năm qua chứng minh: đường lối của Đảng ta bắt nguồn từ truyền thống văn hóa của dân tộc, xuất phát từ nhu cầu lịch sử của đất nước, lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, nên tập hợp được tất cả sức mạnh của đồng bào trong nước, kiều bào nước ngoài, cũng như sự ủng hộ của bạn bè quốc tế. Thắng lợi của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đưa đất nước thoát khỏi ách xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trở thành một quốc gia độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ,… ngày càng có vai trò và uy tín cao trên trường quốc tế. Thắng lợi đó, cùng với những thành tựu của 30 năm đổi mới vừa qua, càng làm cho nhân dân ta tin tưởng và quyết tâm theo Đảng, ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đó là minh chứng thuyết phục nhất, sự bác bỏ hùng hồn nhất đối với các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Thứ Năm, 20 tháng 4, 2017

Nhận diện rõ chiêu bài mới của "diễn biến hòa bình"

Từ chỗ phủ nhận sự hiện diện của chiến lược “Diễn biến hòa bình”, coi đó là “con ngáo ộp” mà Đảng Cộng sản Việt Nam “hù dọa” nhân dân; gần đây, những người thiếu thiện chí với sự lãnh đạo của Đảng lại khẳng định: “Việt Nam không cần chống diễn biến hòa bình nữa”(!). Thế là từ phủ nhận, nay lại thừa nhận, nhưng để dễ bề lừa gạt dư luận và làm cho mọi người mất cảnh giác, họ nói rằng: “Chiến lược này đã kết thúc sứ mệnh, do các “cựu thù” đã thành đối tác toàn diện hay đối tác chiến lược của Việt Nam”(!).
Luận điểm này được tuyên truyền rộng rãi trên các trang mạng xã hội và các phương tiện truyền thông phương Tây, nhất là sau các sự kiện: Việt Nam và Mỹ tuyên bố thiết lập quan hệ đối tác toàn diện (tháng 7-2013) trong chuyến thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang; Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Mỹ B. Ô-ba-ma lần lượt đến Hoa Kỳ và Việt Nam trong các chuyến thăm chính thức (tháng 7-2015 và tháng 5-2016). Thêm nữa, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng…” cũng được người ta che giấu mối liên hệ giữa “diễn biến hòa bình” với “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, để xuyên tạc rằng: “Hiện nay, Đảng không còn yêu cầu chống diễn biến hòa bình nữa, mà tập trung vào chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên”(!).

Có thể khẳng định ngay rằng, sự thay đổi thái độ nói trên chỉ là thủ đoạn mới, nhằm thực thi chiến lược “Diễn biến hòa bình” trong bối cảnh mới ở Việt Nam có hiệu quả hơn. Thủ đoạn đó rất tinh vi và vô cùng nguy hiểm, bởi nó sẽ tạo nên sự mơ hồ, mất cảnh giác trong cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, nhất là những người không biết tường tận về bản chất, thủ đoạn của chiến lược này. Trên cơ sở đó, họ có thể đạt được mục đích cuối cùng là thủ tiêu chủ nghĩa xã hội, như chính cựu Tổng thống Mỹ R. Ních-xơn tuyên bố trong cuốn sách “1999 - chiến thắng không cần chiến tranh”. Vì thế, trong khi “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”, chúng ta phải thường xuyên đề cao cảnh giác, kiên trì thực hiện phương châm “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”, kiên quyết làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Thứ Năm, 13 tháng 10, 2016

Lợi dụng tệ tham nhũng để chống phá cách mạng Việt Nam - thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch

     Tham nhũng đang là một vấn nạn chung của toàn cầu, không riêng một quốc gia nào. Để phòng, chống tệ nạn này, Đảng, Nhà nước ta có quyết tâm chính trị rất cao, triển khai quyết liệt, đảm bảo cho Luật Phòng, chống tham nhũng (năm 2005) đi vào đời sống xã hội, góp phần cảnh tỉnh, răn đe, loại dần tệ nạn này. Song trớ trêu thay, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội không thấy rõ điều đó, mà còn lợi dụng vấn đề này để chống phá sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước của nhân dân ta.
     Những người thường xuyên tiếp xúc internet hẳn không xa lạ với những thông tin, bài viết có nội dung đề cập đến hiện tượng tham nhũng ở Việt Nam được đăng tải trên các blog, facebook, wesite,… của một số hội, nhóm “xã hội dân sự” và các cá nhân tự xưng là những nhà hoạt động “dân chủ, nhân quyền”, “vì dân”, “vì nước”, v.v. Nhìn vào những thông tin, bài viết của các hội, nhóm, cá nhân trên, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy nó thường mang nặng sự suy diễn chủ quan, tô vẽ, thổi phồng, thậm chí xuyên tạc trắng trợn tình hình tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Để lôi kéo người dân “tin tưởng” vào các luận điệu xuyên tạc, các hội, nhóm, nhà hoạt động “dân chủ, nhân quyền” thường lợi dụng những vụ án tham nhũng liên quan đến cán bộ, đảng viên đã xảy ra hoặc những sự việc tiêu cực trong xã hội để suy diễn, quy kết “do tham nhũng” và thổi phồng cho đó là tình trạng “phổ biến”, “bản chất” của chế độ xã hội chủ nghĩa, một “căn bệnh” do cơ chế độc đảng lãnh đạo, do “năng lực quản lý yếu kém” của Nhà nước, v.v. Chúng suy diễn rằng, có sự “bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí” của lãnh đạo, chính quyền các cấp nên nó mới lộng hành như vậy. Nguy hiểm hơn, để truyền tải rộng rãi các thông tin xuyên tạc tới người dân, chúng còn lập riêng một số website, blog để đăng tải bài viết, hình ảnh xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ về đời tư, sự minh bạch của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta.
     Mục đích trên của chúng nhằm vẽ lên một bức tranh xám xịt về thực trạng xã hội Việt Nam dưới chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Từ đó gây hoài nghi trong nhân dân vào các cấp lãnh đạo, hệ thống chính quyền từ Trung ương đến cơ sở, làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, tạo “hoài nghi” về quyết tâm chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Đồng thời, phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, chia rẽ cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân và sự đồng thuận trong xã hội. Đi đôi với luận điệu xuyên tạc trên của các nhà hoạt động “dân chủ, nhân quyền” là những lời hô hào, xúi giục nhân dân “đoàn kết”, “đứng lên đấu tranh đòi tự do, dân chủ”; kêu gọi Đảng Cộng sản Việt Nam phải thay đổi: “Cương lĩnh”, “thể chế chính trị”, “mô hình lãnh đạo”, thực hiện “đa nguyên, đa đảng”, v.v.
     Cùng với các hội, nhóm “xã hội dân sự”, nhà hoạt động “dân chủ, nhân quyền”, còn phải kể đến một số tổ chức mang danh quốc tế. Họ luôn tự cho mình cái quyền đi “phán xét” tình hình tham nhũng ở các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam và thường kỳ đưa ra cái gọi là “Báo cáo tham nhũng toàn cầu”. Đáng chú ý, khi đề cập đến thực trạng tham nhũng ở Việt Nam, các bản “báo cáo” này thường dựa trên những quan điểm chủ quan, thiếu cơ sở, mang tính phiến diện, phản ánh sai lệch tình hình; đưa ra những đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện “quyền tự do” cho người dân để “nâng cao hiệu quả” chống tham nhũng và kêu gọi “cho phép các tổ chức xã hội dân sự” tham gia vào công tác phòng, chống tham nhũng, v.v.
     Như vậy đã rõ, các tổ chức hội, nhóm, cá nhân trên đang cố tình muốn sử dụng vấn đề tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam làm “công cụ”, “ngọn cờ tiên phong” để thực hiện ý đồ xấu, chống phá Việt Nam. Thực chất, đó chỉ là những tổ chức, cá nhân có quan điểm, tư tưởng phiến diện, lệch lạc được các thế lực thù địch, phản động “hậu thuẫn”, cổ vũ, đội lốt “trách nhiệm” với “vận mệnh” của dân tộc, của đất nước để chống lại công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay. Đây rõ ràng là chiêu trò, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” nhằm gây “nhiễu loạn” chính trị - xã hội, nhằm xóa bỏ Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
     Như chúng ta biết, tham nhũng là một hiện tượng xã hội, gắn liền với sự ra đời và tồn tại của nhà nước. Nó hiện hữu ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, kể cả ở nước nghèo và nước giàu, quốc gia phát triển, đang phát triển hoặc kém phát triển; không phân biệt do một đảng hay do đa đảng lãnh đạo.
     Ở Việt Nam, ngay từ khi xây dựng chính quyền cách mạng (năm 1945), Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ đã nhận diện, thẳng thắn chỉ ra các hiện tượng tham ô tài sản, nhận hối lộ, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, v.v. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ”. Người cho đó là: “Kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta”. Tham nhũng còn gây ra tác hại làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với bộ máy và công chức, viên chức nhà nước, triệt tiêu động lực cơ bản nhất của sự phát triển. Người luôn nghiêm khắc nhắc nhở mọi tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên: Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”“… một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.        Quán triệt tinh thần đó, trong văn kiện của Đảng tại các kỳ đại hội đều cảnh báo về tệ nạn này, nhất là trong thời kỳ đổi mới. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khóa VII) của Đảng nêu: “Nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội là một trong bốn nguy cơ trước mắt của đất nước”. Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) của Đảng đánh giá: “Tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp xảy ra trên nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành,… gây bức xúc trong xã hội và là thách thức lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước,…”. Nhiều văn bản, như: Chỉ thị 64-CT/TW của Ban Bí thư (khóa VI), Chỉ thị 15-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VII) “Về lãnh đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng”; Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”; Chỉ thị 50-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng”,… đã đi vào cuộc sống, trở thành phương thuốc hữu hiệu ngăn chặn, đẩy lùi tệ tham nhũng. Khi Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 được ban hành, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khóa XII) đã ra Nghị quyết 1039/2006/NQ-UBTVQH11, ngày 28-8-2006, về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và Nghị quyết 294A/2007/NQ-UBTVQH12, ngày 27-9-2007, về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 13/2007/QĐ-TTg, ngày 24-01-2007, về việc thành lập, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và quy chế hoạt động của Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Các cơ quan bảo vệ pháp luật, như: Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao,… đã thành lập những đơn vị chuyên trách về phòng, chống tham nhũng.
     Cùng với các chủ trương, văn bản pháp luật phòng, chống tham nhũng, Đảng, Nhà nước ta đã có những hành động cụ thể nhằm vạch mặt, kiên quyết xử lý những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất và có hành vi tham nhũng. Theo thống kê của Thanh tra Chính phủ, năm 2015, ngành Thanh tra đã phát hiện 100 vụ, 172 đối tượng có hành vi tham nhũng và liên quan đến tham nhũng với số tiền 40,7 tỷ đồng. Cơ quan điều tra các cấp đã thụ lý điều tra 351 vụ án, 813 bị can phạm tội về tham nhũng, khởi tố mới 178 vụ, 317 bị can; thu hồi, nộp ngân sách nhà nước trên 103 tỷ đồng và 2.887 m2 đất. Viện kiểm sát các cấp thụ lý giải quyết 323 vụ/806 bị can về các tội danh tham nhũng, truy tố 310 vụ/697 bị can; tòa án nhân dân các cấp đã xét xử sơ thẩm 260 vụ, 577 bị cáo về tội danh này. Riêng quý II năm 2016, có 04 trường hợp người đứng đầu bị kết luận là thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng, đã xử lý kỷ luật 02 người, xử lý hình sự 02 người; phát hiện 07 vụ, 08 đối tượng có hành vi tham nhũng và liên quan đến tham nhũng. Cơ quan cảnh sát điều tra đã thụ lý điều tra 148 vụ, 354 đối tượng tham nhũng và liên quan đến tham nhũng, v.v.
     Thời gian qua, những người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam tiếp tục khẳng định và quyết tâm đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Gần đây, tại phiên họp Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã kết luận: “Cần tập trung chỉ đạo xử lý một số vụ án tham nhũng kinh tế đặc biệt nghiêm trọng, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm; tài liệu, chứng cứ chắc đến đâu xử lý đến đó, sau đó điều tra xử lý tiếp nhằm tạo sự lan tỏa và chuyển biến tích cực trong phát hiện, xử lý tham nhũng”. Trong báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trình bày tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV nêu rõ: “kỷ luật, kỷ cương trong bộ máy hành chính và trong xã hội chưa nghiêm; năng lực, phẩm chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu. Tình trạng tham nhũng còn nghiêm trọng, xảy ra nhiều vụ tham nhũng lớn trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, đầu tư, xây dựng, đất đai,...”. Tiếp xúc với cử tri thành phố Hải Phòng, ngày 03-8-2016, Thủ tướng đã cảm ơn các ý kiến tâm huyết, thẳng thắn của cử tri về các vấn đề còn khó khăn, tồn tại của đất nước và khẳng định quyết tâm phòng, chống tham nhũng của Chính phủ; đồng thời nhấn mạnh “không có vùng cấm trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng”.
     Như vậy, Đảng, Nhà nước ta không phủ nhận tham nhũng đã và đang tồn tại ở Việt Nam; là vấn đề nhức nhối, gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng đối với xã hội, trực tiếp phá hoại công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Đặc biệt, “tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội, suy thoái đạo đức, lối sống,… chưa được ngăn chặn, đẩy lùi” đã làm giảm sút niềm tin của nhân dân, làm sai lệch các chủ trương, chính sách của Đảng, dẫn đến nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Để ngăn chặn tệ nạn này, Đảng, Nhà nước, Chính phủ luôn thể hiện rõ quan điểm và quyết tâm không bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí; kiên quyết đấu tranh loại trừ những cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham ô, tham nhũng và loại trừ tệ nạn này ra khỏi đời sống xã hội, không để tham nhũng cản trở công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Thực tế trên là bằng chứng xác thực nhất bác bỏ những luận điệu tuyên truyền phiến diện, chủ quan, lệch lạc, thù địch đang cố tình lợi dụng vấn đề tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam để thực hiện mục đích, ý đồ xấu./.
Nguồn: http://tapchiqptd.vn/

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2016

CẦN NHẬN RÕ LUẬN ĐIỆU: "VIỆT NAM KHÔNG CẢI TỔ SẼ SỤP ĐỔ"

     Lâu nay các thế lực thù địch của cách mạng Việt Nam luôn rêu rao cái gọi là “Việt Nam phải cải tổ”, “Không cải tổ sẽ sụp đổ”.Dường như họ đang cố gắng đem những “cái mang tính hiện tượng” để quy về “cái bản chất”, nêu lên một giả định của sự cải tổ ở Việt Nam, trong khi bản thân họđã thực sự hiểu bản chất của quá trình cải tổ hay chưa?
      Cải tổ, đổi mới - nguyên tắc thể hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội. 
     Tuy không trùng khít về nội hàm khái niệm song tựu trung lại đổi mới, cải cách, cải tổ đều có hệ mục tiêu về lý luận và mục tiêu thực tiễn.
     Vấn đề đặt ra là cải tổ để làm gì? Đối với Việt Nam chúng ta, một quốc gia luôn vận dụng trung thành, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, coi cải cách, cải tổ, đổi mới là nguyên tắc sống còn của chế độ xã hội chủ nghĩa và là đòi hỏi khách quan để phát triển đất nước. Đổi mới toàn diện, đồng bộ, có lộ trình, “đổi mới nhưng không đổi màu”, đổi mới để xác lập hệ thống quan điểm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội và để xã hội xã hội chủ nghĩa từng bước được xác lập vững chắc làchủ trương nhất quán.
Mục tiêu của cải cách, cải tổ, đổi mới không phải quốc gia nào, giai cấp thống trị nào cũng giống nhau và không phải đất nước nào đổi mới, cải tổ cũng thành công, thậm chí còn bị trả giá đắt cho tính vô nguyên tắc, tùy tiện trong cải cách, cải tổ.Vào những năm 80, 90 thế kỷ XX, ở Liên Xô do nhận thức thiếu đúng đắn về điểm xuất phát của cải tổ, việc lấy cải tổ chính trị làm xuất phát  đã làm nảy sinh các làn sóng “tính công khai”, “phê bình và tự phê bình trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”, “dân chủ hóa toàn diện đời sống xã hội”, những thành tựu lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội Liên Xô sau 70 năm bị đánh đổ từ sai lầm này.
     Sự thành công của cuộc cải cách mở cửa ở Trung Quốc (khởi xướng năm 1978); hay công cuộc đổi mới của Việt Nam từ năm 1986, đã đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Văn hóa - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi; Việt Nam được xem là điểm đến an toàn, hấp dẫn đối với bè bạn quốc tế. 
     Đừng lấy “cái hiện tượng” để quy về “cái bản chất”
    Trong khi các phần tử cơ hội chính trị nêu lên những hiện tượng để cố thuyết giảng về sự bất đồng, mâu thuẫn ở Việt Nam càng chứng tỏ ông không có cái nhìn biện chứng và khách quan. Vốn dĩ, sự xuất hiện các mặt đối lập, các mâu thuẫn ở các sự vật, hiện tượng, kể cả các hiện tượng xã hội là tất yếu khách quan;Trong một quốc gia sự tồn tại những khác biệt, những hiện tượng sai trái là điều dễ hiểu; vấn đề làphải nhận biết mâu thuẫn trong xã hội đó là cơ bản hay không cơ bản, chủ yếu hay thứ yếu, bên trong hay bên ngoài… Vấn đề không phải là sợ có mâu thuẫn mà là ở chỗ giải quyết mâu thuẫn đúng đắn, triệt để nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
     Họ đang vô tình hay hữu ý lờ đi sự biến động, xung đột, mâu thuẫn ở các nước trên thế giới trong khi đề cập đến những hiện tượng ở Việt Nam?
     Không đâu xa, Thái Lan một quốc gia gần Việt Nam đã trải qua hơn 20 cuộc đảo chính, kể từ năm 1932 đến nay, trong đó có 11 cuộc đảo chính thành công. Các vụ xả súng ở Connecticut, Oregon, California (Mỹ), Pari (Pháp) hay những bất ổn ở Lybia, Ai Cập, Syria, hiện tượng nhà nước Hồi giáo IS tự xưng đã nói lên trong các xã hội đó còn đầy rẫy những bất công, mâu thuẫn không thể điều hòa. Đó là chưa kể đến mâu thuẫn giữa giới giàu có, người nghèo khổ, tỉ lệ thất nghiệp ở các nước tư bản phát triển.Bất ổn chính trị đồng nghĩa với các mâu thuẫn, tranh chấp quyền lực, hoạt động của các băng đảng, tổ chức chính trị, ổ nhóm phạm tội xuyên quốc gia, quốc tế…Các quốc gia này mặc dù đang cố gắng để giải quyết mâu thuẫn nhưng dường như khó đem lại kết quả vì nỗ lực giải quyết mâu thuẫn của chính giới đang vướng vào vòng luẩn quẩn lập trường giai cấp.
     Trong khi đó, trên tinh thần “thượng tôn pháp luật”, cùng với sự khoan dung, độ lượng, với các hành vi sai trái Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn giải quyết có lý có tình”, hướng tới mục tiêu cao nhất là tạo nên sự đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc để chung tay xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Những thiếu sót, hạn chế chế trong quản lý xã hội,trong thực thi công vụ luôn được phát hiện khắc phục sửa chữa kịp thời; điển hình như vụ việc của ông Đoàn Văn Vươn, các cá nhân, tổ chức sai phạm đều nghiêm túc nhận khuyết điểm và chủ động khắc phục; hay sai phạm trong xây dựng tại toàn nhà 8B Lê Trực, trách nhiệm trong kiểm tra, giám sát được làm rõ và kiên quyết xử lý.
     Một khía cạnh nữa chứng tỏ các phần tử cơ hội chính trị có cái nhìn phiến diện, muốn đưa “cái hiện tượng thành cái bản chất” khi họ cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước không quan tâm đến quyền làm chủ của nhân dân. Điều này hoàn toàn trái với trong hiện thực Việt Nam. Thử hỏi rằng nếu Đảng, Nhà nước Việt Nam không tôn trọng, lắng nghe nhân dân, các tầng lớp trí thức, các nhà quản lý thì làm sao có hơn 15 triệu lượt góp ý kiến cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992; và hàng triệu lượt ý kiến của Đảng viên, người không phải là đảng viên đóng góp vào dự thảo văn kiện đại hội XII của Đảng. Đó là chưa nói đến cấp địa phương như thành phố Hồ Chí Minh chỉ sau 1 tháng công bố toàn văn Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố đến các tầng lớp nhân dân để lấy ý kiến đóng góp, đã có hơn 15.646 ý kiến góp ý và 189 bài viết trên các báo, đài Trung ương và Thành phố.Đến đây, chúng ta càng hiểu hơn cái “mẹo” của các thế lực thù địch, chống phá cách mạng Việt Nam đó là luôn đem những cái có tính hiện tượng quy thành bản chất, mà thiếu đi cái nhìn khách quan, toàn diện đối với sự phát triển của một quốc gia dân tộc./.

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2016

CÓ THỂ TIỆM TIẾN TỪ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI ĐƯỢC KHÔNG?


Hiện nay trên nhiều văn đàn, diễn đàn và các trang mạng xã hội có một số quan điểm, thậm chí có cả quan điểm của một số người là đảng viên, trí thức ở các trung tâm khoa học lớn, họ cho rằng: “Trên cơ sở sự phát triển của cách mạng khoa học, công nghệ, sự điều chỉnh thích nghi của chủ nghĩa tư bản và sự tham gia của một bộ phận công nhân vào quản lý sản xuất, kinh doanh thì chủ nghĩa tư bản sẽ dần tiệm tiến lên chủ nghĩa xã hội mà không cần phải tiến hành đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội. Như vậy thế giới sẽ giữ được môi trường hòa bình để phát triển, sẽ không xảy ra đổ máu vô ích...”. Vậy một câu hỏi đặt ra là liệu điều đó có thể xảy ra không?
Là những người cộng sản hơn ai hết chúng ta đều có thể khẳng định rằng, điều đó sẽ không thể xảy ra. Khi đi vào nghiên cứu mổ sẻ và phân tích giai cấp tư sản, chủ nghĩa tư bản các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin đã vạch trần bản chất của giai cấp tư sản, chế độ tư bản chủ nghĩa. Đây là chế độ mà lợi ích của chúng luôn gắn liền với sự áp bức, bóc lộ giai cấp công nhân, nhân dân lao động thông qua giá trị thặng dư. Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin cũng đã chỉ ra rằng với bản chất của giai cấp tư sản vì lợi nhuận của nó nó có thể làm tất cả bất chấp mọi thủ đoạn. Thực tế cũng đã chứng minh trong suốt quá trình hình thành và tồn tại, phát triển của giai cấp tư sản, chế độ tư bản thì luôn gắn liền với việc áp bức, bóc lột giai cấp công nhân, nhân dân lao động. Chủ nghĩa đế quốc vì lợi ích của mình chúng đã tiến hành những cuộc chiến tranh thế giới để mục đích phân chia thị trường gây ra bao đau khổ cho nhân dân lao động.
Mặc dù hiện nay cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, chủ nghĩa tư bản có điều chỉnh thích nghi, một bộ phận công nhân ở một số nước tư bản có cổ phần được tham gia quản lý sản xuất, tuy nhiên khoa học càng phát triển thì mức độ bóc lột càng cao. Sự điều chỉnh thích nghi cho công nhân tham gia cổ phần và quản lý sản xuất chỉ là vỏ bọc để điều hòa mâu thuẫn giai cấp mà thôi. Tìm hiểu kỹ cho ta thấy tỷ lệ công nhân được tham gia cổ phần trong các doanh nghiệp của các nhà tư sản chỉ chiếm một tỷ lệ hết sức khiêm tốn so với khối tài sản kếch sù của các nhà tư sản. Do vậy mức độ được phân chia lợi nhuận mà người công nhân được hưởng cũng chỉ được một phần rất ít ỏi mà thôi. Theo nhiều số liệu nghiên cứu thì hiện nay ở các nước tư bản phát triển tỷ lệ người giàu chỉ chiếm 10% dân số nhưng đã chiếm đến 90% lượng tài sản. Ngược lại số đông 90% dân số kia chỉ sở hữu 10% lượng tài sản còn lại. Ở góc độ khác ở các nước tư bản phát triển lực lượng giữ vai trò lãnh đạo xã hội thì vẫn là giai cấp tư sản chứ không phải là các giai cấp khác.

Từ những phân tích một cách cơ bản khái quát trên cho thấy sẽ không bao giờ có sự tiệm tiến từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Các quan điểm đã nêu ở trên là hoàn toàn ngộ nhận, sai lầm, dù vô tình hay cố ý các quan điểm trên cũng tiếp tay cho sự thống trị của giai cấp tư sản bảo vệ cho sự tồn tại của chế độ tư bản. Đồng thời với đó là xóa nhòa mâu thuẫn giai cấp, làm triệt tiêu động lực đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các lực lượng tiến bộ trong giai đoạn hiện nay./