Hiển thị các bài đăng có nhãn kiên định. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kiên định. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 1 tháng 8, 2023

THANH NIÊN VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH, VỮNG VÀNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII

Kế thừa và phát huy những giá trị to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, Thanh niên Việt Nam nguyện tiếp bước con đường của Đảng, Bác Hồ và thế hệ cha, ông đi trước luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, tiếp tục nhận thức rõ về trách nhiệm của thế hệ trẻ. Xung kích, sáng tạo, cống hiến đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, góp phần đưa đất nước vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng. Trong giai đoạn hiện nay, tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động diễn biến phức tạp khó lường. Những vấn đề toàn cầu, như: bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường, cùng với đó là xung đột vũ trang, sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp biên giới, biển đảo, sự can thiệp tầm ảnh hưởng các nước lớn trên thế giới…. cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội diễn ra rất phức tạp.

Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chính lẽ đó thế hệ trẻ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã nhận thức sâu sắc những giá trị về bài học quý báu sau các sự kiện chính trị xảy ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu vào những năm thập kỷ 90 thế kỷ XX, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã lãnh đạo đất nước đổi mới một cách toàn diện, sâu sắc, có hiệu quả, kiên quyết khắc phục những sai lầm, thiếu sót trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 

Đại hội lần thứ VI của Đảng (năm 1986) đã đánh dấu mốc cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Thực hiện nguyên tắc chỉ đạo sự nghiệp đổi mới được Đảng ta luôn quán triệt: “Đổi mới trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội”. Trong nhận thức và áp dụng về lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng tuân thủ theo các quy luật, nguyên tắc. Không được nóng vội dao động, bi quan, đổi hướng, thay đổi mục tiêu, con đường mà Đảng và nhân dân đã chọn. Đó vừa là mục tiêu, tư tưởng, vừa là sự lựa chọn cách thức, bước đi phù hợp với điều kiện thực tiễn cụ thể của nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng để từng bước hiện thực hóa con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn - con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. 

Các chủ trương, đường lối, quan điểm của con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta của Đảng ta qua các kỳ đại hội thể hiện rõ qua các văn kiện như: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục hiến định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Kết quả công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng từ Đại hội VI của Đảng (tháng 12 - 1986) đến Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hình thành, phát triển. Chính trị - xã hội có bước phát triển, bộ mặt đất nước và đời sống nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền và cả hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII cần phải đưa ra các giải pháp nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động của các cấp bộ Đoàn trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, “Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ”. Qua đó, tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước, nuôi dưỡng hoãi bão, khát vọng vươn lên trong thanh thiếu niên “Chú trọng hơn giáo dục, đạo đức nhân cách năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ…”. Đồng thời, chăm lo, phát triển thanh thiếu niên và phát huy tinh thần xung kích, tình nguyện, sáng tạo của thanh niên tham gia phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội. Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII cần phải tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá, lòng yêu nước, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước; phát huy vai trò của thanh niên trong tham gia phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ, thúc đẩy học tập và sử dụng ngoại ngữ, công nghệ thông tin, tiên phong trong thực hiện chủ trương đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số; tham gia phát triển xã hội bền vững, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của thanh thiếu niên về đảm bảo quốc phòng, an ninh, xung kích tham gia bảo vệ Tổ quốc; chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng và bảo vệ trẻ em, thiếu niên, nhi đồng; nâng cao hiệu quả công tác quốc tế thanh niên; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên; xây dựng tổ chức Đoàn, Hội vững mạnh; nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng, giới thiệu đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét, kết nạp; chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ; tham gia tích cực vào hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tham vấn chính sách.

Để thực tốt các giải pháp hành động này, Các cấp ủy Đảng, thủ trưởng các cấp cần lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức Đoàn đưa ra các mục tiêu, nội dung, giải pháp thực hiện để triển khai một cách có hiệu quả nhất nhằm góp phần thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đã đề ra. Bên cạnh những giải pháp quan trọng, dài hạn tiếp tục được xác định trong  Văn kiện Đại hội XIII của Đảng và có bước phát triển, đã có nhiều nội dung mới, quan trọng trong công tác thanh niên được nhấn mạnh. Đó là “nuôi dưỡng hoài bão, khát vọng vươn lên; nêu cao tinh thần trách nhiệm của thanh niên đối với đất nước, với xã hội”; quan điểm phát triển thế hệ trẻ “lành mạnh, toàn diện, hài hòa cả về trí tuệ, thể chất và giá trị thẩm mỹ” và “Chăm lo nuôi dưỡng, giáo dục, bảo vệ thiếu niên, nhi đồng; dành những điều kiện tốt nhất, sự chăm lo chu đáo nhất cho trẻ em - tương lai của đất nước”.

Đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Lãnh tụ Hồ Chí Minh, sự nghiệp cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã giành được những thắng lợi to lớn mang tính bước ngoặt lịch sử. Qua Đại hội XIII của Đảng lại một lần nữa được khẳng định với các quan điểm, đổi mới toàn diện trong nhận thức. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và tuổi trẻ cả nước bày tỏ ý chí quyết tâm, bằng hành động cụ thể đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vì tương lai tươi sáng của thế hệ trẻ./.

 

 


Thứ Bảy, 6 tháng 5, 2023

KIÊN ĐỊNH, VÂN DỤNG SÁNG TẠO VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

 

Trên hành trình tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã tìm đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày 3-2-1930), bước ngoặt vĩ đại của lịch sử cách mạng Việt Nam.

Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại luôn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của mình. Luôn kiên định, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, kết hợp nhuần nhuyễn giữa giai cấp và dân tộc, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đó là thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; thắng lợi vẻ vang trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Cũng với tinh thần đó, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nước. Hơn 35 năm qua, chúng ta đã giành được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử; khẳng định cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín đất nước trên tầm cao mới.

Đứng trước yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong tình hình mới, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Đảng ta tiếp tục khẳng định, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội...

Có thể nói, đối với dân tộc Việt Nam, cuộc đời, sự nghiệp và những cống hiến vĩ đại của Các Mác luôn được trân trọng nhất; là di sản quý báu, gắn liền với con đường xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước ta.

Kỷ niệm Ngày sinh của Các Mác chính là dịp để chúng ta cùng nhận thức rõ hơn và biết ơn những cống hiến vĩ đại của Các Mác, đặc biệt là nhận thức sâu sắc giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin để luôn kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo phù hợp với từng điều kiện, từng hoàn cảnh. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, Đảng ta mà mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự thấm nhuần./.

Thứ Hai, 20 tháng 2, 2023

VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế là mối quan hệ biện chứng, tất yếu, khách quan, tác động qua lại lẫn nhau, thúc đẩy và hỗ trợ lẫn nhau. Trong cương lĩnh và văn kiện của Đảng ta, mối quan hệ biện chứng giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế được thể hiện rất rõ. Một trong các bài học được rút ra trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã chỉ rõ mối quan hệ này, cụ thể là: "Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, trong bất cứ hoàn cảnh nào cần kiên định ý chí độc lập, tự chủ và nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực"(1). Văn kiện đại hội Đại hội XI của Đảng cũng nêu rõ đường lối đối ngoại của Việt Nam thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, nội dung cần thực hiện: Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế… Đặc biệt, chú trọng xử lý và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn: quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển… giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Các văn kiện Đại hội XII, XIII đều tiếp tục khẳng định những nội dung nêu trên, cụ thể hoá mối quan hệ độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế cho từng thời kỳ phát triển của đất nước. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đồng thời, văn kiện cũng nhấn mạnh bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Đảng và sự quản lý tập trung của nhà nước với các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế. Đẩy mạnh đối ngoại song phương với nâng tầm đối ngoại đa phương. Chủ động tham gia và phát huy vai trò của Việt Nam tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN, Liên hợp quốc, APEC, hợp tác tiểu vùng Mê Công và các khuôn khổ hợp tác khu vực và quốc tế, trong những vấn đề và các cơ chế quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện cụ thể. Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là với các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác, tạo thế đan xen lợi ích và gia tăng độ tin cậy. Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia.

Đường lối, chính sách đối ngoại xuyên suốt của Đảng ta đều được khẳng định trong các văn kiện, Nghị quyết của Đảng, là mối quan hệ biện chứng giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Mối quan hệ này được cụ thể hoá qua từng giai đoạn phát triển của đất nước, phù hợp điều kiện, bối cảnh phát triển cụ thể trên cơ sở của nguyên tắc lấy lợi ích quốc gia dân tộc là trên hết, bảo đảm hội nhập quốc tế luôn dựa trên nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập vì lợi ích đất nước, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ và văn minh. Quá trình này cũng thể hiện sự phát triển của cả nhận thực và thực tiễn từ chú trọng hội nhập kinh tế đến hội nhập toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, trong đó hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trên các lĩnh vực khác là điều kiện và hỗ trợ cho hội nhập kinh tế. Từ hội nhập đơn tuyến sang đa tuyến trên tất cả các cấp độ song phương, khu vực và toàn cầu. Đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế là chính sách nhất quán trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.


Thứ Năm, 16 tháng 2, 2023

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU: “MỘT ĐẢNG CẦM QUYỀN, ĐẤT NƯỚC RƠI VÀO TRÌ TRỆ”(?!)

Đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã 93 năm, lãnh đạo đất nước vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, trên nhiều diễn đàn, các thế lực thù địch, phản động vẫn “nhắm mắt làm ngơ” và cố tình cho rằng: “Chế độ một đảng khiến Việt Nam rơi vào trì trệ kéo dài nhiều năm”(?!) Do đó, cần nhận diện đúng bản chất của luận điệu xuyên tạc tráo trở này và có những luận cứ đấu tranh phản bác xác đáng.

Nhận diện

Thời gian qua, trên nhiều diễn đàn khác nhau, các thế lực thù địch luôn rêu rao rằng hiện nay Việt Nam vẫn còn là một nước chậm phát triển. Một trong những nguyên nhân là do “Đảng đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước” (?!). Ngoài ra, chúng còn vu cáo rằng Đảng Cộng sản Việt Nam tuy có đạt được một số kết quả trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc nhưng hiện đường lối lãnh đạo của Đảng đã không còn phù hợp nữa, đường lối đổi mới của Việt Nam là “sự chắp vá kiểu đầu Ngô mình Sở” nên không thể có thành công được (?!).

Ở góc độ khác, có thế lực còn khoét sâu vào những hạn chế, khuyết điểm của Việt Nam trong thời gian qua, nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên để công kích Đảng ta, đòi xóa bỏ điều 4 trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về quyền lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng. Luận điệu của chúng là: “Tình trạng khủng hoảng và đói nghèo ở Việt Nam hoàn toàn là hệ quả của chính sách cai trị độc tài dựa theo chủ nghĩa Mác - Lênin mà Đảng Cộng sản Việt Nam áp đặt trên đất nước Việt Nam”(?!). Đây là một sự cáo buộc có tính suy diễn, quy chụp trắng trợn nhằm mục tiêu chống phá Đảng và chế độ ta.

Trong những dịp Đảng, Quốc hội xin ý kiến rộng rãi các tầng lớp nhân dân về dự thảo các văn kiện, nghị quyết, luật…, các hoạt động chống phá lại càng quyết liệt và tinh vi hơn. Dưới hình thức “Thư ngỏ”, nhiều thế lực thù địch bao gồm các lực lượng phản động ở nước ngoài, các phần tử cơ hội chính trị trong nước đã gửi “tâm thư” kêu gọi Đảng ta phải thay đổi để “cứu vớt” đất nước. Thực chất của những luận điệu trên là nhằm xỏa bỏ chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo của Việt Nam với lý lẽ “Từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản vì đó là then chốt của một chế độ dân chủ”; đòi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”. Sâu xa hơn, các thế lực thù địch còn muốn Việt Nam phải từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đi theo sự sắp đặt của các nước phương Tây, tạo ra các mối hằn thù với các nước xã hội chủ nghĩa còn lại. Lập luận của chúng là: “Đánh đổi chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo lấy sự cam kết của một số cường quốc phương Tây, làm đối trọng với Trung Quốc”(?!).

Những luận điệu xuyên tạc chế độ một đảng lãnh đạo duy nhất của Việt Nam là mũi dùi chống phá trực diện, tấn công vào vấn đề có tính căn cốt trong nền tảng tư tưởng của Đảng. Mục tiêu của các thế lực là nhằm xóa bỏ chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo, thực hiện chế độ đa đảng lãnh đạo, đa nguyên chính trị nhằm hướng lái sự phát triển của Việt Nam theo quỹ đạo khác. Đây là một thủ đoạn chống phá rất nguy hiểm vì có liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ nên cần phải có luận cứ đấu tranh xác đáng, thuyết phục nhằm nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin, bồi đắp lý tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Luận cứ đấu tranh

Sau hơn 35 năm đổi mới, mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử khiến cho cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của nước ta ngày càng được củng cố và nâng cao. Đánh giá về những thành tựu này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng khẳng định: “việc thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến rõ rệt, hết sức sâu sắc và tích cực ở Việt Nam: kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố”. Những thành tựu đó chính là bằng chứng giàu sức thuyết phục để khẳng định nhờ đường lối lãnh đạo đúng đắn, nhờ chế độ chính trị phù hợp mà Việt Nam không những giải quyết được khủng hoảng toàn diện mà còn đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; gia tăng niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chế độ.

Những thành tựu đó không phải tự nhiên mà có và cũng không phải dễ dàng có được. Đó chính là kết quả của quá trình nhận thức về tính tất yếu của đổi mới đất nước, đồng thời xuất phát từ sự thôi thúc của bản thân Đảng ta với mong muốn ngày càng mang lại sự phát triển phồn vinh cho đất nước, mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Những thành tựu đó là bằng chứng thuyết phục để khẳng định năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - một đảng duy nhất cầm quyền và lãnh đạo cả dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước; đồng thời cũng làm cho nhân dân ngày càng thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, đồng thuận để Đảng trở thành một lực lượng xã hội duy nhất lãnh đạo toàn xã hội. Do đó, không thể cố tình lờ đi những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của Việt Nam qua hơn 35 đổi mới để cáo buộc rằng chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo đã khiến Việt Nam rơi vào tình trạng trì trệ, kém phát triển.

Khi mà xuất phát điểm của chúng ta thấp, Việt Nam lại đang trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, các cơ chế, chính sách quản lý phát triển xã hội đang trong quá trình hoàn thiện nên những hạn chế, thiếu sót là không tránh khỏi. Đó cũng chính là động lực để Đảng ra không ngừng hoàn thiện về chủ trương, đường lối lãnh đạo qua mỗi kỳ Đại hội; không ngừng tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về đường lối đổi mới để lãnh đạo đất nước từng bước vượt qua những khó khăn, thách thức, sớm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo ở Việt Nam không chỉ xuất phát từ đặc thù về tình hình cách mạng của nước ta, về tương quan lực lượng và mối quan hệ giữa giai cấp công nhân nước ta với các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội mà còn xuất phát từ bản chất của Đảng ta - một đảng đại diện cho lợi ích của toàn dân tộc, luôn lấy mục tiêu phát triển đất nước, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Do đó, luận điệu cho rằng “một đảng cầm quyền, đất nước rơi vào yếu thế, lạc hậu do sự lãnh đạo sai lầm của Đảng” là phiến diện, có tính quy chụp, lộ rõ ý đồ chống phá Đảng, chống phá chế độ. Vì thế, chúng ta cần nhận diện rõ bản chất sai trái của luận điệu này để luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, luôn kiên định vào con đường mà Đảng đã lựa chọn. Đó là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Theo: Chiên Lê


Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2023

KIÊN ĐỊNH CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG ĐẢNG, GÓP PHẦN BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thực tế của Đảng Cộng sản Liên Xô đã chứng minh, một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ Liên Xô là do đã từ bỏ các nguyên tắc xây dựng Đảng dẫn đến sự tan rã của Đảng.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, trong các kỳ đại hội Đảng gần đây, vấn đề kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng là quá trình phát triển nhận thức lý luận của Đảng trên cơ sở tổng kết thực tiễn của 36 năm đổi mới theo hướng mở rộng và bao quát hơn những nội dung cần phải kiên định. Kiên định nguyên tắc là cơ sở để chúng ta phân biệt đối tượng, đối tác trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đại hội lần thứ XIII, Đảng ta lần đầu tiên khẳng định: Kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng, bởi những lý do sau đây:

Thứ nhất, về lý luận, nguyên tắc là vấn đề có tính sống còn đối với một tổ chức. Tuân thủ các nguyên tắc thì tổ chức đó vững mạnh, từ bỏ hoặc thực hiện không nghiêm túc các nguyên tắc thì sẽ dẫn đến tổ chức rệu rã và có nguy cơ tan rã.

Trải qua hơn 90 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng ta luôn vận dụng và phát triển sáng tạo những nguyên tắc cơ bản của học thuyết Mác-Lênin về xây dựng Đảng. Tổng kết công tác xây dựng Đảng qua các thời kỳ cách mạng khác nhau, tuy cách diễn đạt về các nguyên tắc xây dựng Đảng có khác nhau một vài điểm nhưng nhìn chung, Đảng ta vẫn luôn khẳng định những nguyên tắc trên cơ sở vận dụng và tuân thủ các nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta phát triển nguyên tắc về nền tảng tư tưởng: “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc”.

Đây là lần đầu tiên Đảng ta xác định: Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là đội tiền phong của giai cấp công nhân mà còn là đội tiền phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Đồng thời, cũng tại đại hội lần này, Đảng ta bổ sung thêm nguyên tắc: “Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Tuân thủ nghiêm ngặt những nguyên tắc chủ yếu nói trên trong quá trình xây dựng Đảng là một trong những yếu tố có tính quyết định bảo đảm cho Đảng ta giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam; là cơ sở khoa học để Đảng ta không ngừng chăm lo xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng luôn xứng đáng vai trò người lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Trên cơ sở những nguyên lý về xây dựng chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân do Lênin nêu ra và thực tiễn hoạt động của Đảng ta, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI thông qua (các nhiệm kỳ XII và XIII thống nhất giữ nguyên Điều lệ) quy định về các nguyên tắc tổ chức và hoạt động như sau: “Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, đồng thời thực hiện các nguyên tắc: Tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Từ đó đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định thực hiện nghiêm 5 nguyên tắc này và đó cũng là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của Đảng ta trong thời gian qua.

Thứ hai, quan điểm chỉ đạo là kiên định nhưng không phải là cứng nhắc, giáo điều và cũng không phải là đổi mới vô nguyên tắc.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.

Trong quá trình thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng, cần thấm nhuần quan điểm chỉ đạo: Kiên định và đổi mới, kế thừa và phát triển, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Kiên trì, kiên định nhưng không trở thành giáo điều, cứng nhắc; đổi mới, kế thừa và phát triển nhưng trên cơ sở giữ vững các nguyên tắc chứ không phải là vô nguyên tắc, dân chủ quá đà, lẫn lộn giữa đối tượng, đối tác.

Thứ ba, về thực tiễn, trong nghiên cứu, học tập, quán triệt thực hiện các nghị quyết của Đảng thì chỉ đạo và tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, chậm được khắc phục nên khi thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng rất cần phải kiên định tuân thủ các nguyên tắc. Nếu ai không tuân thủ sẽ phải chịu trách nhiệm bằng các hình thức kỷ luật của Đảng.

Đánh giá việc thực hiện các nguyên tắc và đổi mới phương thức lãnh đạo, văn kiện Đại hội XIII chỉ ra những ưu điểm sau: “Công tác xây dựng Đảng về chính trị được đặc biệt chú trọng. Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng, đường lối đổi mới và các nguyên tắc xây dựng Đảng”. “Phương thức lãnh đạo của Đảng tiếp tục được đổi mới. Ban hành và thực hiện nhiều quy định bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, đề cao nguyên tắc pháp quyền, phát huy dân chủ, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội”.

Trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng nêu rõ ưu điểm: “Đảng ta luôn vững vàng, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới và những nguyên tắc về xây dựng Đảng”.

Về hạn chế, khuyết điểm trong việc thực hiện nghị quyết của Đảng nói chung, các nguyên tắc xây dựng Đảng nói riêng vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm như Văn kiện Đại hội XIII chỉ ra: “Chỉ đạo và tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, chậm được khắc phục”.

Đánh giá việc thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng, Văn kiện Đại hội XIII nêu: “Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi còn biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm. Kiểm soát quyền lực còn lúng túng, hiệu quả thấp”. “Tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi còn hình thức. Thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là của người đứng đầu chưa tạo được sự lan tỏa sâu rộng”.

Một số cấp ủy, tổ chức đảng đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, thiếu kiểm tra, giám sát để xảy ra nhiều vi phạm, khuyết điểm kéo dài. Đây là điều rất đáng trăn trở vì trong nhiệm kỳ Đại hội XII, cấp ủy các cấp đã kiểm tra 264.091 tổ chức đảng và 1.124.146 đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 15.920 tổ chức đảng và 47.701 đảng viên (trong đó có 23.432 cấp ủy viên). Qua kiểm tra, cấp ủy các cấp đã thi hành kỷ luật 1.329 tổ chức đảng và 69.600 đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 17.610 đảng viên. Riêng Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thi hành kỷ luật 10 tổ chức đảng và 60 đảng viên; Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 169 đảng viên (trong đó có 53 đồng chí là cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý). Các cấp ủy đã giám sát 193.993 tổ chức đảng và 528.652 đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp đã giám sát 124.469 tổ chức đảng và 185.731 đảng viên.

Điều cần lưu ý là rất nhiều vi phạm xảy ra từ nhiệm kỳ trước nhưng đến nay mới bị phát hiện và xử lý. Như vậy trước đó, việc tuân thủ các nguyên tắc xây dựng Đảng chưa thật sự được coi trọng, thậm chí bị buông lỏng. Thực trạng này do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là các nguyên tắc xây dựng Đảng chưa được coi trọng và thực hiện nghiêm túc. Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên có nguyên nhân khách quan, nhưng chủ yếu là nguyên nhân chủ quan: Một số cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới; việc quán triệt các nghị quyết của Đảng ở một số nơi chưa kịp thời, sâu sắc. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa chủ động, sâu sát, thiếu quyết liệt; chưa coi trọng việc tự kiểm tra, xử lý vi phạm. Một số nơi, người đứng đầu chưa phát huy hết trách nhiệm, thiếu bản lĩnh, chưa gương mẫu, còn thụ động, né tránh, trông chờ vào chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên. Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi còn biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm. Kiểm soát quyền lực còn lúng túng, hiệu quả thấp. Sự phối hợp giữa một số cấp ủy với đảng đoàn, ban cán sự đảng có lúc, có nơi thiếu chặt chẽ, hiệu quả chưa cao. Việc phân định trách nhiệm của người đứng đầu trong mối quan hệ với cấp ủy và tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa rõ; chưa phát huy đúng mức vai trò của cá nhân trong tập thể. Việc xây dựng, phát huy vai trò của các cơ quan tham mưu về công tác xây dựng Đảng có lúc, có nơi chưa được quan tâm đúng mức; một bộ phận cán bộ tham mưu chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Trong thời gian tới, để góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 25-10-2018 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” cần thực hiện đồng bộ một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Thứ nhất, kiên định những nguyên tắc xây dựng Đảng gắn với thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 25-10-2018 của Bộ Chính trị. Tăng cường tuyên truyền trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về nội dung các nguyên tắc xây dựng Đảng để từ nhận thức sẽ có hành động đúng và tạo sự lan tỏa theo phương châm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”.

Thứ hai, tập trung xây dựng, thông tin chủ động, chính xác, kịp thời, toàn diện, đúng đối tượng về các hoạt động, sự kiện chính trị, xã hội của đất nước. Nâng cao chất lượng, hiệu quả các chuyên trang, chuyên mục, fanpage, blog, tài khoản mạng xã hội (Zalo, Facebook...) về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Thứ ba, thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình tư tưởng, kịp thời định hướng dư luận xã hội; thực hiện tốt quy chế phát ngôn, cung cấp thông tin chính thống, kịp thời cho báo chí; công khai kết quả kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trên các phương tiện truyền thông; xử lý nghiêm những thông tin phản ánh không đầy đủ, phiến diện, tiêu cực một chiều trên báo chí, mạng xã hội.

Thứ tư, quán triệt, thực hiện nghiêm Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về những điều đảng viên không được làm; Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28-7-2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; Quy định số 69-QĐ/TW ngày 6-7-2022 về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong khai thác, sử dụng internet, mạng xã hội; thường xuyên tuyên truyền đến cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động và các tầng lớp nhân dân nêu cao tinh thần cảnh giác, không tham gia bình luận tiêu cực hoặc chia sẻ những thông tin xấu độc trên không gian mạng.

Theo: PGS, TS LÊ VĂN CƯỜNG, Phó viện trưởng Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2022

THANH NIÊN VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH, VỮNG VÀNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII

Kế thừa và phát huy những giá trị to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, Thanh niên Việt Nam nguyện tiếp bước con đường của Đảng, Bác Hồ và thế hệ cha, ông đi trước luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, tiếp tục nhận thức rõ về trách nhiệm của thế hệ trẻ. Xung kích, sáng tạo, cống hiến đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, góp phần đưa đất nước vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng. Trong giai đoạn hiện nay, tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động diễn biến phức tạp khó lường. Những vấn đề toàn cầu, như: bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường, cùng với đó là xung đột vũ trang, sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp biên giới, biển đảo, sự can thiệp tầm ảnh hưởng các nước lớn trên thế giới…. cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội diễn ra rất phức tạp.

Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chính lẽ đó thế hệ trẻ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã nhận thức sâu sắc những giá trị về bài học quý báu sau các sự kiện chính trị xảy ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu vào những năm thập kỷ 90 thế kỷ XX, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã lãnh đạo đất nước đổi mới một cách toàn diện, sâu sắc, có hiệu quả, kiên quyết khắc phục những sai lầm, thiếu sót trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 

Đại hội lần thứ VI của Đảng (năm 1986) đã đánh dấu mốc cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Thực hiện nguyên tắc chỉ đạo sự nghiệp đổi mới được Đảng ta luôn quán triệt: “Đổi mới trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội”. Trong nhận thức và áp dụng về lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng tuân thủ theo các quy luật, nguyên tắc. Không được nóng vội dao động, bi quan, đổi hướng, thay đổi mục tiêu, con đường mà Đảng và nhân dân đã chọn. Đó vừa là mục tiêu, tư tưởng, vừa là sự lựa chọn cách thức, bước đi phù hợp với điều kiện thực tiễn cụ thể của nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng để từng bước hiện thực hóa con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn - con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. 

Các chủ trương, đường lối, quan điểm của con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta của Đảng ta qua các kỳ đại hội thể hiện rõ qua các văn kiện như: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục hiến định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Kết quả công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng từ Đại hội VI của Đảng (tháng 12 - 1986) đến Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hình thành, phát triển. Chính trị - xã hội có bước phát triển, bộ mặt đất nước và đời sống nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền và cả hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII cần phải đưa ra các giải pháp nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động của các cấp bộ Đoàn trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, “Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ”. Qua đó, tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước, nuôi dưỡng hoãi bão, khát vọng vươn lên trong thanh thiếu niên “Chú trọng hơn giáo dục, đạo đức nhân cách năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ…”. Đồng thời, chăm lo, phát triển thanh thiếu niên và phát huy tinh thần xung kích, tình nguyện, sáng tạo của thanh niên tham gia phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội. Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII cần phải tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá, lòng yêu nước, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước; phát huy vai trò của thanh niên trong tham gia phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ, thúc đẩy học tập và sử dụng ngoại ngữ, công nghệ thông tin, tiên phong trong thực hiện chủ trương đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số; tham gia phát triển xã hội bền vững, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của thanh thiếu niên về đảm bảo quốc phòng, an ninh, xung kích tham gia bảo vệ Tổ quốc; chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng và bảo vệ trẻ em, thiếu niên, nhi đồng; nâng cao hiệu quả công tác quốc tế thanh niên; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên; xây dựng tổ chức Đoàn, Hội vững mạnh; nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng, giới thiệu đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét, kết nạp; chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ; tham gia tích cực vào hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tham vấn chính sách.

Để thực tốt các giải pháp hành động này, Các cấp ủy Đảng, thủ trưởng các cấp cần lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức Đoàn đưa ra các mục tiêu, nội dung, giải pháp thực hiện để triển khai một cách có hiệu quả nhất nhằm góp phần thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đã đề ra. Bên cạnh những giải pháp quan trọng, dài hạn tiếp tục được xác định trong  Văn kiện Đại hội XIII của Đảng và có bước phát triển, đã có nhiều nội dung mới, quan trọng trong công tác thanh niên được nhấn mạnh. Đó là “nuôi dưỡng hoài bão, khát vọng vươn lên; nêu cao tinh thần trách nhiệm của thanh niên đối với đất nước, với xã hội”; quan điểm phát triển thế hệ trẻ “lành mạnh, toàn diện, hài hòa cả về trí tuệ, thể chất và giá trị thẩm mỹ” và “Chăm lo nuôi dưỡng, giáo dục, bảo vệ thiếu niên, nhi đồng; dành những điều kiện tốt nhất, sự chăm lo chu đáo nhất cho trẻ em - tương lai của đất nước”.

Đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Lãnh tụ Hồ Chí Minh, sự nghiệp cách mạng Việt Nam hơn 92 năm qua đã giành được những thắng lợi to lớn mang tính bước ngoặt lịch sử. Qua Đại hội XIII của Đảng lại một lần nữa được khẳng định với các quan điểm, đổi mới toàn diện trong nhận thức. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và tuổi trẻ cả nước bày tỏ ý chí quyết tâm, bằng hành động cụ thể đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vì tương lai tươi sáng của thế hệ trẻ./.

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2022

KIÊN ĐỊNH CHỦ TRƯƠNG, ĐƯỜNG LỐI VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA

Ai đó cho rằng Việt Nam phải tham gia liên minh quân sự vì sức mạnh quốc phòng của ta yếu, lạc hậu là không chính xác, hãy xem lại thực lực của Việt Nam như thế nào mà chúng ta đã dám đánh, quyết đánh và đánh thắng hai đế quốc đầu sỏ là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Mặt khác, những người này nên xem lại lịch sử dân tộc Việt Nam và xem bảng xếp hạng Chỉ số sức mạnh quân sự toàn cầu của trang web Global Firepower đánh giá xếp loại thì Việt Nam nằm trong tốp 25 nước có sức mạnh quân sự lớn nhất thế giới. Năm 2020, Việt Nam ở vị trí 20/137 nước; năm 2021, ở vị trí 24/139 nước. Việt Nam luôn luôn đứng ở vị trí thứ hai (sau Inđônêsia) trong khu vực Đông Nam Á. Điều này đúng với sự khẳng định của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Ai đó cho rằng sức mạnh quân sự Việt Nam hiện nay là “quá yếu”, “lạc hậu” chỉ là cái cớ yêu cầu Đảng, Nhà nước ta tham gia liên minh quân sự với cường quốc, Đó là điều phi lý, không thể chấp nhận.

Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần chăm lo cho sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Trong đó, sức mạnh bên trong, sức mạnh nội sinh của đất nước, của chế độ và của nền kinh tế và tiềm lực quốc gia là nhân tố quyết định. Vì vậy, chủ trương không tham gia liên minh quân sự của Đảng ta là đúng đắn, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam.

Hiện nay, Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược với 17 nước cùng với 13 nước đối tác toàn diện. Việt Nam đã chính thức thiết lập quan hệ đối ngoại quốc phòng với hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ; đặt văn phòng tùy viên quân sự tại Liên hợp quốc và 37 quốc gia khác. Có 49 quốc gia đặt văn phòng tùy viên quân sự tại Việt Nam[1]. Sự thật ấy bác bỏ quan điểm sai trái cho rằng Việt Nam “bị cô lập”, “tự trói buộc chân tay mình”.

Thực tế khẳng định rằng Việt Nam luôn thể hiện là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực; có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, hợp tác và phát triển, thực hiện tiến bộ xã hội. Đây là thái độ, quan điểm và việc làm thiết thực để bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, giữ nước từ khi nước chưa nguy. Ai đó còn yêu cầu phải cắt bỏ “bốn không” thì nên thực hiện “một điều không” là đừng nói nữa. Các người đã sai rồi; không ai tin các người đâu./.

Thứ Tư, 4 tháng 5, 2022

CHỦ ĐỘNG, KIÊN ĐỊNH, VẬN DỤNG SÁNG TẠO CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Thực tiễn quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và nhân dân ta luôn chủ động, kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Sự thành công của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, nhất là những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của 35 năm đổi mới vừa qua đã làm cho quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên, đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Vươn lên trong quá trình phát triển luôn là mục tiêu của các quốc gia. Vì vậy các quốc gia dân tộc luôn tranh thủ mọi điều kiện khai thác các nguồn lực để bứt phá. Trong bối cảnh này, lợi ích quốc gia dân tộc luôn được quan tâm hàng đầu. Cùng vì vậy cạnh tranh phát triển, cạnh tranh trong khai thác các nguồn lực ngày càng quyết liệt, làm cho quan hệ giữa các quốc gia luôn song hành giữa hợp tác phát triển và cạnh tranh quyết liệt, thậm chí có những va đập do các nhân tố lịch sử, do hành động bá quyền dẫn đến xâm hại lợi ích quốc gia. Lợi dụng bối cảnh này các thế lực thù địch và những phần tử thoái hóa biến chất xuyên tạc đường lối phát triển, công kích quan hệ quốc tế…đòi điều chỉnh, thay đổi con đường phát triển, thực chất cũng là nhằm vào chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trong bối cảnh hiện nay, đi liền với các thách thức an ninh truyền thống, có sự xuất hiện của các thách thức an ninh phi truyền thống, tác động không nhỏ đến đến sự phát triển của chúng ta, gây ra những đổ vỡ, những mất mát hoặc thua thiệt khó lường. Các thế lực thù địch, cơ hội lợi dụng điều đó để tiếp tục chống phá, khoét sâu vào những hạn chế, quy về sự sai lầm trong lựa chọn con đường, mô hình phát triển, mục tiêu là làm suy giảm niềm tin của người dân vào Đảng, vào chế độ.

Trong bối cảnh ấy, việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng càng trở nên cấp thiết. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII đã khẳng định rõ cần: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”.

Thứ Hai, 28 tháng 3, 2022

KIÊN ĐỊNH, KIÊN QUYẾT BẢO VỆ NHỮNG GIÁ TRỊ KHOA HỌC, CÁCH MẠNG CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

Lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác cũng như lý tưởng và sức sống mãnh liệt của Cách mạng Tháng Mười Nga là những giá trị vĩnh hằng, có sức sống trường tồn cùng nhân loại bởi “cái ngày vĩ đại ấy càng cách xa chúng ta thì ý nghĩa của cuộc CMVS Nga càng trở nên rõ rệt, chúng ta cũng càng suy nghĩ sâu về toàn bộ kinh nghiệm thực tiễn của công tác của chúng ta”, thấy rõ hơn giá trị và ý nghĩa hiện thực của Cách mạng Tháng Mười Nga; đặc biệt là những cống hiến vĩ đại của Lênin đối với việc khai mở con đường thực hiện tiến bộ xã hội, đưa các dân tộc thuộc địa thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, trở thành chủ nhân xây dựng cuộc sống mới, sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.

Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, phát triển không phải là một đường thẳng mà có lúc sẽ diễn ra quanh co, phức tạp. Sự  ra đời, tồn tại, phát triển và sụp đổ của các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô trong thập kỷ 90 của thế kỷ 20 phần nào đã nói lên sự “dích dắc” đó. Song, không vì thế mà tiến trình lịch sử bị đảo lộn, bị “ngưng đọng”, “thụt lùi”.

Theo quy luật tiến hóa của loài người, lịch sử vẫn tiếp tục vận động và phát triển. Những tổn thất từ sự sụp đổ của một số nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô là đáng tiếc nhưng nó chỉ có thể làm chậm bước tiến của nhân loại trên con đường đi lên CNXH.

Song, nó cũng nói lên rằng, các thế lực thù địch không thể và không bao giờ xóa bỏ được lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga cũng như mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH mà Đảng, Bác Hồ và dân tộc ta đã lựa chọn. Điều này đã được Đảng ta khẳng định: “Lịch sử đang trải qua những bước quanh co, phức tạp, song “loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNXH, vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”.

Vì vậy, khi nói về ý nghĩa thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đó là thắng lợi của lý tưởng cộng sản, của Cách mạng Tháng Mười Nga, thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã chỉ ra một chân lý không thể nào bác bỏ, đó là bất cứ một xã hội nào đã tỏ ra lỗi thời, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, của dân tộc, cản trở tiến bộ xã hội thì tất yếu sẽ bị thay thế bởi một chế độ xã hội khác cao hơn, tiến bộ hơn; đó là xã hội XHCN-giai đoạn đầu của CNCS.

Con đường xóa bỏ sự lạc hậu, lỗi thời, tệ nạn người áp bức, bót lột người là đi theo tấm gương Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.

Sự sụp đổ của chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và các nước Đông Âu đem lại cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc, cần suy ngẫm, rút kinh nghiệm để chỉ đạo sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay: Bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào, người cộng sản đều phải kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga, con đường cách mạng vô sản, luôn độc lập, tự chủ, năng động, sáng tạo, thường xuyên đổi mới, tỉnh táo đi lên CNXH. 

Trong đó, đổi mới nhận thức, bổ sung, phát triển lý luận về đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phù hợp với thời cuộc hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Học tập, tin theo Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cần đổi mới nhận thức, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam. Làm tốt điều này là thiết thực bảo vệ và góp phần tăng thêm sức sống cho chủ nghĩa Mác-Lênin - nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện lịch sử mới.

Có thể nói rằng, lý luận về đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là một sáng tạo trong vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Không thể vì sự sụp đổ của chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và Đông Âu mà ai đó đã vội quy kết, coi nó là “sự phá sản”, “sự sụp đổ” của chủ nghĩa Mác-Lênin, của lý luận về CNXH khoa học hay sự thất bại của lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga.

Đó chỉ là sự ngộ nhận và là quan điểm hoàn toàn sai trái, cần loại bỏ. Trái lại, những gì đã diễn ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu những năm 90 của thế kỷ 20 là minh chứng khẳng định rằng, trong tình hình hiện nay, bất cứ đảng cộng sản nào và bất cứ ai, nếu coi thường chủ nghĩa Mác-Lênin, đi ngược lại lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga, thì tất yếu sẽ mắc phải sai lầm về chính trị, và mọi sai lầm đều phải trả giá đắt: Đảng Cộng sản mất vai trò lãnh đạo; chế độ XHCN sụp đổ, xã hội sẽ rơi vào rối loạn, nhân dân sẽ đau khổ, lầm than. Đó là kết cục đáng tiếc về sự sai lầm, khinh thường chủ nghĩa Mác-Lênin.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ khi mới ra đời cho đến nay, đặc biệt từ Đại hội VII (1991), Đảng đã khẳng định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.

Làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Do vậy, kiên trì, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề có tính nguyên tắc số một đối với Đảng ta, vì điều căn cốt này liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ ta.

Một trong những yêu cầu, giải pháp hàng đầu để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu mà Đại hội XIII của Đảng vạch ra là bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, đặc biệt là nghiên cứu, khai thác những giá trị quý báu của chủ nghĩa Mác-Lênin, toàn bộ di sản mà Người để lại cho nhân loại, đặc biệt là lý luận về xây dựng đảng mác xít kiểu mới, về chính sách kinh tế mới (NEP), về chiến tranh và hòa bình...

Qua đó, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn chủ nghĩa Lênin-ngọn nguồn bí mật đã đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác, trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam và Người đã mở ra con đường mới cho cách mạng Việt Nam-con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

Thứ Ba, 15 tháng 3, 2022

GIẢI PHÁP CƠ BẢN THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO CỦA HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 4 KHÓA XIII VỀ KIÊN ĐỊNH, PHÁT TRIỂN VÀ VẬN DỤNG SÁNG TẠO CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Để thực hiện những quan điểm chỉ đạo của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, cần chú ý đến những giải pháp cơ bản như sau:

Thứ nhất, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Vì bối cảnh thực tiễn đã có nhiều thay đổi, đặt ra nhiều vấn đề mới cần giải quyết nên để tiếp tục kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết cần đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu lớn về những vấn đề cơ bản, nền tảng nhằm tiếp tục khẳng định những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, cần chắt lọc, đề xuất những vấn đề cần bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn nước ta giai đoạn hiện nay. Đây không phải là “xét lại” chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh như một số học giả phi mácxít đã lợi dụng sự phát triển của thực tiễn để mổ xẻ, phê phán, phủ nhận chủ nghĩa Mác; mà là tiếp thu tinh thần biện chứng của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác. Bản thân các ông không coi học thuyết của mình là chìa khóa vạn năng, nhất thành bất biến mà là một học thuyết mở cần được bổ sung, phát triển, cần được “thêm da thêm thịt” bằng thực tiễn sinh động đúng như Ph.Ăngghen đã từng khẳng định: “Lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc”. Do đó, kiên trì nhưng không bảo thủ, giáo điều; bổ sung, phát triển nhưng không xa rời những lý luận nền tảng, những nguyên tắc cơ bản là cách thức cần thiết để kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam giai đoạn hiện nay.

Thứ hai, kiên quyết đấu tranh chống lại những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị.

Bên cạnh việc khẳng định, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; cần tiếp tục đấu tranh chống lại những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Trước hết, cần hệ thống hóa các nội dung đang bị các thế lực chống phá, từ đó xây dựng luận cứ đấu tranh phản bác trên từng vấn đề cụ thể. Đồng thời, chuyển trọng tâm của việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên mặt trận tư tưởng, lý luận truyền thống là chủ yếu sang đấu tranh trên internet và mạng xã hội. Đây là một sự chuyển hướng cần thiết nhằm nắm bắt xu thế tất yếu của thời đại. Đó là sự chống phá ngày càng tinh vi, quyết liệt của các thế lực thù địch trên không gian mạng khiến mạng xã hội trở thành không gian tranh chấp chính trên trận tuyến đặc biệt quan trọng này. Điều này cũng được Đảng ta chỉ rõ ở Đại hội XIII như sau: “Chủ động cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, khách quan, đúng định hướng để phòng, chống “diễn biến hòa bình”, thông tin xấu độc trên internet và mạng xã hội”. Ngoài ra, cần áp dụng những quy định của pháp luật để xử lý nghiêm minh những đối tượng có hành vi xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh dưới bất kỳ hình thức nào.

Thứ ba, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Tùy theo yêu cầu của mỗi cấp học, bậc học, cần đổi mới nội dung chương trình giảng dạy các môn chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh theo hướng “khoa học, sáng tạo, hiện đại và gắn lý luận với thực tiễn”. Nội dung chương trình cần bố trí hợp lý giữa kiến thức lý luận với những vấn đề thực tiễn, tăng cường bồi dưỡng kỹ năng vận dụng những kiến thức lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII nêu rõ: “Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tham khảo kinh nghiệm quốc tế để xây dựng cơ sở khoa học vững chắc cho việc hoạch định, thực thu chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Ngoài ra, cần đẩy mạnh đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại, áp dụng những phương pháp giảng dạy tích cực, đa dạng hóa các hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, ứng dụng khoa học - công nghệ hiện đại để kiểm tra, giám sát nhằm khắc phục những hạn chế trong công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị ở nước ta thời gian qua: “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao bản lĩnh chính trị; khắc phục tình trạng ngài học, lười học lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên”.

Thứ tư, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm, tính sáng tạo trong việc học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Để tiếp tục kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên cần không ngừng tự học tập, tự nghiên cứu để nâng cao trình độ lý luận chính trị; có ý thức khắc phục triệt để bệnh “lười” học tập lý luận chính trị. Ngoài ra, cần quán triệt quan điểm biện chứng và nguyên lý phát triển khi học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là vừa không ngừng củng cố, nâng cao kiến thức để tăng “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” trước những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch song cũng vận dụng sáng tạo, không ngừng bổ sung, phát triển những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể; tránh tư duy dập khuôn, máy móc, giáo điều làm xơ cứng, nghèo nàn những quan điểm, tư tưởng của các bậc tiền bối.

Như vậy, kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nguyên tắc quan trọng, có ý nghĩa sống còn trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay. Do đó, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động. Đây tuy là một nhiệm vụ rất quan trọng với nhiều khó khăn, thử thách nhưng với niềm tin sắt son, bằng sự quyết tâm và tinh thần đồng sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị, chúng ta sẽ vẫn tiếp tục vững vàng trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho Đảng ta, dân tộc ta trên chặng đường đổi mới tiếp theo./.

TÍNH BIỆN CHỨNG TRONG NGUYÊN TẮC VẬN DỤNG VÀ KẾ THỪA VIỆC KIÊN ĐỊNH, PHÁT TRIỂN, VẬN DỤNG SÁNG TẠO CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Trong những thập niên đầu của thế kỷ XX, hành trình bôn ba tìm đường cứu nước đã đưa Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Người khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Do đó, ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam. Không chỉ có vậy, Người còn phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin bằng cách vận dụng sáng tạo vào điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam trong mỗi giai đoạn lịch nhất định. Bằng cách đó, Người đã đưa ra những tư tưởng chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Do đó, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành “kim chỉ nam” cho mọi hoạt động của cách mạng nước ta.

Trong thời gian qua, nhất là từ khi đổi mới đến nay, Đảng ta đã luôn kiên trì, kiên định và nêu cao chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội VI (12/1986), Đảng ta nhấn mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Đến Đại hội VII (6/1991), Đảng bổ sung điểm mới: “Nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh”; đồng thời khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và tư tưởng của Người đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc ta. Từ đây, chủ nghĩa Mác - Lênin cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh được xác định nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991) được thông qua tại Đại hội VII đã xác định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động”. Đây là bước phát triển lớn trong tư duy, nhận thức và hoạt động thực tiễn của Đảng về việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam, đồng thời thể hiện rõ quan điểm nhất quán về mặt tư tưởng: chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là bộ phận cơ bản cấu thành hệ tư tưởng, thế giới quan, phương pháp luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều này không chỉ bảo đảm sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng mà còn thể hiện rõ lập trường kiên định, ý chí quyết tâm của Đảng trong việc bảo vệ tính khoa học, tính cách mạng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu khủng hoảng, sụp đổ những năm đầu của thập kỷ 90.

Kế thừa tinh thần đó, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta cũng khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Điều này tiếp tục được nhấn mạnh hơn ở Đại hội XII (năm 2016): “Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta”.

Với những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của 35 đổi mới đất nước, tại Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta vẫn tiếp tục khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh là “kim chỉ nam” cho mọi hành động của Đảng. Đai hội XIII đã nêu rõ quan điểm chỉ đạo quá trình đổi mới và phát triển ở Việt Nam. Đó là: “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đây được coi là một trong những vấn đề “mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”.

Trên cơ sở kế thừa quan điểm của các kỳ Đại hội qua, tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh đến việc lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng chỉ đạo quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Do đó, cần phải “kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tiếp tục nghiên cứu phát triển, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam”. Có thể nhận thấy, ở Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta đã nêu rõ quan điểm, thái độ với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Sở dĩ trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta đặt ra vấn đề này vì do xuất phát từ cả những nguyên nhân khách quan và chủ quan, cả tình hình quốc tế, khu vực và những diễn biến trong nước. Trên thế giới, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa dân túy đang nổi lên, các vấn đề an ninh phi truyền thống vẫn đang tiếp diễn. Trong nước, sự nghiệp đổi mới tuy được đẩy mạnh toàn diện nhưng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn như: “Sự chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động ngày càng tinh vi hơn; những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và tình hình tham nhũng, lãng phí, tiêu cực... còn diễn biến phức tạp”. Nghiêm trọng hơn, Đảng ta còn chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”. Trong bài phát biểu bế mạc tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, đồng chí Tổng Bí thư chỉ rõ: “Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường”, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc”.

Cũng có thể nhận thấy, ở Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, tính biện chứng được thể hiện rất rõ trong quan điểm của Đảng về kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nếu “kiên định, phát triển” là kiên trì làm theo, đi theo những quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh; làm cho những quan điểm, tư tưởng ấy ngày càng sinh động, có thêm những nội hàm mới thì “vận dụng sáng tạo” là sự chắt lọc những quan điểm của Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam, tránh sự máy móc, sơ cứng. Đây chính là sự kế thừa, quán triệt những chỉ dẫn có tính phương pháp luận của V.I.Lênin trong việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”.

Quan điểm của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vừa cho thấy sự vững vàng về lập trường tư tưởng, vừa cho thấy tính biện chứng trong nguyên tắc vận dụng và kế thừa. Thực tiễn hơn 92 năm ra đời, phát triển của Đảng và hơn 35 năm đổi mới đất nước với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử khiến cho “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay”. Những thành tựu đó đã chứng tỏ sự kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn, vừa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, vừa phù hợp với xu thế khách quan đúng như Đảng ta nhận định: “Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Do đó, để quán triệt quan điểm chỉ đạo của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta đã bổ sung thêm quy định liên quan trực tiếp đến lập trường tư tưởng, thái độ của đảng viên đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm. Đó là đảng viên không được “phản bác, phủ nhận, xuyên tạc, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đây là sự bổ sung kịp thời nhằm khắc phục triệt để những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đảng viên trong giai đoạn hiện nay.