Hiển thị các bài đăng có nhãn quá độ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quá độ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 1 tháng 8, 2023

VIỆT NAM QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ TẤT YẾU KHÁCH QUAN

Thời gian vừa qua trên một số trang mạng xã hội xuất hiện bài viết: “Quá độ – nói phét vượt thời gian”, của bọn cơ hội chính trị, chống đối Đảng nhằm xuyên tạc và phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, nhưng sự thật chúng đã nhầm bởi lẽ: Con đường phát triển của mỗi chế độ xã hội nói chung, của chế độ xã hội chủ nghĩa trên thế giới và ở Việt Nam nói riêng là quá trình quanh co phức tạp. Sau sự khủng hoảng, sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên xô, một số nước Đông Âu, Đảng ta khẳng định: Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử. Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định: Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.

Mặc dù Chủ nghĩa tư bản đã có những thay đổi để thích ghi với thực tiễn, song bản chất không bao giờ thay đổi vẫn là chế độ người bóc lột người. Ngày nay chủ nghĩa tư bản hiện đại bước sang giai đoạn cao là chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa, tuy đạt được nhiều thành tựu giải phóng, phát triển lực lượng sản xuất, phát triển khoa học và công nghệ nên đã đạt được năng suất lao động cao. Song chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó, khi dịch Covid – 19 bùng phát lại càng bộc lộ rõ bản chất chế độ chính trị – xã hội là không phải vì nhân dân lao động. Mặt khác, Việt Nam là nước nông nghiệp lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề về mọi mặt. Sau đại thắng mùa xuân 1975, đất nước thống nhất, Đảng lãnh đạo cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Với đường lối đổi mới, hội nhập quốc tế, trong 35 năm qua chúng ta đã đạt được nhiều thành tự to lớn trên tất cả các lĩnh vực, đúng như Đại hội XIII đã đánh giá: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Những thành tựu to lớn ấy khẳng định con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, không thể thay đổi. Do đó, các phần tử cơ hội chính trị có nói gì đi chăng nữa, cũng chỉ là tìm cách xuyên tạc, bôi nhọ con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lực chọn. Mục đích cuối cùng của chúng là muốn chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân nhằm làm suy yếu nội bộ, tạo thời cớ can thiệp để làm đổi màu chế độ chính trị của nước ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Vì thế, mỗi người dân Việt Nam hãy cảnh giác, không bị mắc mưu của những luận điểm xuyên tạc và phản động đó.

 

 


Thứ Hai, 23 tháng 5, 2022

NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VỀ MỤC TIÊU XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Về mục tiêu, từ Đại hội VI (năm 1986) đến nay, dù cách diễn đạt khác nhau, nhưng tựu chung Đảng ta đều xác định rõ được mục tiêu xây dựng CNXH ở nước ta trong thời kỳ quá độ. Cụ thể là: Đại hội VI xác định: Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN trong chặng đường tiếp theo. Đại hội VII (năm 1991) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó xác định: Mục tiêu tổng quát phải đạt tới khi kết thúc thời kỳ quá độ là xây dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của CNXH, với kiến trúc thượng tầng về chính trị và tư tưởng, văn hóa phù hợp, làm cho nước ta trở thành một nước XHCN phồn vinh. Đại hội XI thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), xác định: Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của CNXH với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước XHCN ngày càng phồn vinh, hạnh phúc. Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Đại hội XIII của Đảng đã đề ra: “Đến năm 2025: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”.

Thứ Ba, 29 tháng 3, 2022

CHẶNG ĐƯỜNG QUÁ ĐỘ ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội tuy không còn có sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước XHCN như trước nhưng trong giai đoạn mới của thời đại, khi cách mạng khoa học - công nghệ và toàn cầu hóa đời sống thế giới, tất cả các nước đều ở trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, không một nước nào sống biệt lập mà có thể phát triển được.

Sự hợp tác kinh tế với các nước bằng nhiều hình thức sinh động trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau dưới bất kỳ hình thức nào, sẽ tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý, phục vụ cho việc phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là một khả năng thực tế mà chúng ta đã và đang cố gắng tận dụng, đưa nước ta hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

Như vậy, từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên XHCN bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa theo quan điểm của V.I.Lenin-người đã có đóng góp to lớn vào lý luận về sự “phát triển rút ngắn” và Chính sách kinh tế mới (NEP). Nó đã được thực tiễn khảo nghiệm mà ngày nay Đảng ta đang vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta.

Xuất phát từ tình hình như thế, chúng ta có thể tin tưởng vững chắc rằng Việt Nam đang trong tư thế vươn tầm, kiên định con đường đã lựa chọn, đã có đủ sức lực và trí tuệ để tiến bước cùng thế giới, tiến cùng thời đại; phấn đấu hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRONG TÌNH HÌNH MỚI VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Thực tiễn quá trình cách mạng của nước ta hiện nay cũng chứa đựng những vấn đề không đơn giản. Chúng ta đang ở thời kỳ quá độ lên CNXH, trong đó nền kinh tế và cả xã hội cũng có những vấn đề quá độ đan xen nhau rất khó rạch ròi.

Quá trình mở cửa hội nhập, chủ động làm ăn với các nước tư bản chủ nghĩa lại sử dụng những giải pháp và cách thức phát triển của CNTB để xây dựng CNXH đặt ra nhiều thách thức đối với công tác lý luận và có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch.

Thực tế cho thấy, trước những bước ngoặt của sự nghiệp cách mạng, những khó khăn của đất nước hoặc ở thời điểm quan trọng, nhạy cảm, các thế lực thù địch thường đẩy mạnh chống phá về tư tưởng, còn trong nội bộ có thể xuất hiện những quan điểm lệch lạc.

Vì thế, việc nghiên cứu xác định rõ những luận cứ phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng càng cần được chú trọng hơn; chống cả những quan điểm thù địch diễn ra thường xuyên và nhất là trong các thời điểm trước và sau những sự kiện quan trọng. 

LUẬN ĐIỆU CỦA NHỮNG KẺ “TRỞ CỜ”

Cách mạng Tháng Mười Nga đã mở đầu một thời đại mới-thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Mặc dù cuộc cách mạng có tầm ảnh hưởng rất lớn, có ý nghĩa vạch thời đại nhưng ngay khi đó, các học giả tư sản phương Tây đã lên tiếng xuyên tạc, phủ nhận giá trị của nó. Họ cho rằng Cách mạng Tháng Mười chỉ là “vụ cướp chính quyền”, “cuộc cách mạng mạo danh”, là “sự chệch hướng lịch sử”... Có kẻ còn cáo buộc sự ra đời của các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sau Cách mạng Tháng Mười là “quái thai của lịch sử”...

Nguy hại hơn, không chỉ có những kẻ đứng trên lập trường tư sản mà ngay trong hàng ngũ những người cộng sản Liên Xô cũng lên tiếng phủ nhận, xuyên tạc giá trị của Cách mạng Tháng Mười. Điển hình là A.Yakovlev - Trưởng ban Tuyên huấn Đảng Cộng sản Liên Xô, người có vai trò là một trong những “kiến trúc sư” trong công cuộc cải tổ ở Liên Xô. Trong những năm cải tổ, A.Yakovlev lộ rõ bản chất của một kẻ chống cộng với tuyên bố Cách mạng Tháng Mười Nga là “sai lầm lịch sử”.

Theo ông ta, vì Cách mạng Tháng Mười Nga là “sai lầm lịch sử” nên cần phải xóa bỏ mọi sản phẩm ra đời từ “sai lầm” đó, bao gồm tư tưởng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Nhà nước Liên Xô, Đảng Cộng sản Liên Xô, hệ thống xã hội chủ nghĩa và toàn bộ lịch sử Liên Xô kể từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga, trong đó có cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại. Đây thực chất là luận điệu “lật sử”, “trở cờ” của A.Yakovlev. Ông ta đã phản bội lại lịch sử của dân tộc, phản bội lại cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại mà chính ông ta đã từng tham gia.

Hơn 100 năm đã trôi qua nhưng chủ đề về Cách mạng Tháng Mười Nga chưa bao giờ “hạ nhiệt”. Có không ít kẻ cơ hội chính trị vẫn luôn tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận giá trị, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười. Nhất là khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, họ lại được dịp hả hê, coi đây là cái cớ không gì thuyết phục hơn để tiếp tục xuyên tạc, phủ nhận giá trị của cuộc cách mạng này. Họ cho rằng việc Cách mạng Tháng Mười Nga thành công hướng lái nước Nga theo con đường xã hội chủ nghĩa là trái với quá trình “lịch sử-tự nhiên” mà Karl Marx đã chỉ ra.

Gần đây, trên các diễn đàn mạng xã hội xuất hiện những phần tử phản động, cơ hội chính trị, trong đó có Trần Quốc Quân-kẻ đã viết bài đăng trên BBC lên tiếng coi “Cách mạng Tháng 10 Nga thực chất là một cuộc bẻ ghi đường tàu, khiến một phần nhân loại rẽ sang “đường vòng”. “Đường vòng” mà chúng nhắc đến là chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà nhiều nước đang hướng đến. Từ việc coi Cách mạng Tháng Mười Nga là “sai lầm lịch sử”, các đối tượng này còn lên tiếng phủ nhận những giá trị nhân văn, tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội; đồng nhất sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô, Đông Âu với chủ nghĩa xã hội nói chung; rêu rao rằng cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga là “đẻ non”, “chín ép” và đã đến “hồi kết thúc”...

Bản chất của sự xuyên tạc ấy không chỉ nhắm vào một sự kiện lịch sử cụ thể mà sâu xa hơn nữa là phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, phủ nhận chế độ xã hội chủ nghĩa, hướng lái các quốc gia, dân tộc đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Thực tiễn cách mạng thế giới, nhất là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã cho thấy sự nguy hại lớn của những luận điệu xuyên tạc này vì nó gây ra sự xáo trộn về tư tưởng chính trị, hoài nghi về mục tiêu và phản bội lại lý tưởng cách mạng. Do đó, chúng ta không thể coi thường, xem nhẹ âm mưu, thủ đoạn tinh vi của những kẻ “lật sử”, “trở cờ”!

Thứ Ba, 24 tháng 8, 2021

VIỆT NAM QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ TẤT YẾU KHÁCH QUAN

Thời gian qua trên một số trang mạng xã hội xuất hiện bài viết: “Quá độ – nói phét vượt thời gian”, của bọn cơ hội chính trị, chống đối Đảng, Nhà nước nhằm xuyên tạc và phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nhưng chúng đã sai lầm, bởi lẽ: Con đường phát triển của mỗi chế độ xã hội nói chung, của chế độ xã hội chủ nghĩa trên thế giới và ở Việt Nam nói riêng là quá trình quanh co phức tạp. Sau sự khủng hoảng, sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên xô, một số nước Đông Âu, Đảng ta khẳng định: Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử. Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định: Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.

Mặc dù Chủ nghĩa tư bản đã có những thay đổi để thích ghi với thực tiễn, song bản chất không bao giờ thay đổi vẫn là chế độ người bóc lột người và chế độ đó không phải khát vọng của nhân loại. Ngày nay chủ nghĩa tư bản hiện đại bước sang giai đoạn cao là chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa, tuy đạt được nhiều thành tựu giải phóng, phát triển lực lượng sản xuất, phát triển khoa học và công nghệ nên đã đạt được năng suất lao động cao. Song chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó, khi dịch Covid – 19 bùng phát lại càng bộc lộ rõ bản chất chế độ chính trị – xã hội là không phải vì nhân dân lao động. Mặt khác, Việt Nam là nước nông nghiệp lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề về mọi mặt. Sau đại thắng mùa xuân 1975, đất nước thống nhất, Đảng lãnh đạo cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Với đường lối đổi mới, hội nhập quốc tế, trong 35 năm qua chúng ta đã đạt được nhiều thành tự to lớn trên tất cả các lĩnh vực, đúng như Đại hội XIII đã đánh giá: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Những thành tựu to lớn ấy khẳng định con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, không thể thay đổi. Do đó, các phần tử cơ hội chính trị có nói gì đi chăng nữa, cũng chỉ là tìm cách xuyên tạc, phủ định con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lực chọn. Mục đích cuối cùng của chúng là muốn chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân nhằm làm suy yếu nội bộ, tạo thời cớ can thiệp để làm đổi màu chế độ chính trị của nước ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Vì thế, mỗi người dân Việt Nam cần cảnh giác, không bị mắc mưu của những luận điểm xuyên tạc và phản động đó của chúng.

Thứ Ba, 10 tháng 8, 2021

THẾ GIỚI LUÔN THAY ĐỔI NHƯNG NỘI DUNG THỜI ĐẠI KHÔNG THAY ĐỔI

Kẻ thù tư tưởng của chúng ta công khai tuyên bố rằng, CNXH ở Liên Xô đã sụp đổ thì giá trị của Cách mạng Tháng Mười cũng chấm hết.

Đây đúng là kết luận vội vã và hồ đồ. Đành rằng, thành quả mà Cách mạng Tháng Mười đem lại đã bị đổ vỡ tại ngay quê hương của nó, nhưng đó quyết không phải là sự chấm dứt lý tưởng cao đẹp của Cách mạng Tháng Mười. Lịch sử đã tỏ rõ, không có một cuộc cách mạng nào, kể cả các cuộc cách mạng vĩ đại nhất, lại đủ khả năng kết thúc ngay công việc xóa bỏ xã hội cũ và xây dựng xong ngay xã hội mới. Quá trình chuyển từ xã hội phong kiến lên xã hội TBCN đã phải trải qua hàng trăm năm với nhiều cuộc cách mạng tư sản nổ ra ở Hà Lan, Anh, Pháp... thì hình thái kinh tế-xã hội TBCN mới thực sự thắng thế trước hình thái kinh tế-xã hội phong kiến.

Sự phát triển của xã hội loài người từ sau Cách mạng Tháng Mười đã chứng tỏ rằng, lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười không chỉ là ngọn đèn pha tỏa sáng dẫn đường, mà còn có những đóng góp thực tế to lớn. Cách mạng Tháng Mười là tiếng chuông đánh thức lịch sử, báo hiệu một trang sử mới của thế giới. Thế giới trước Cách mạng Tháng Mười là một thời kỳ u mê, an phận, là thời đại của CNTB. Sự đột phá của Cách mạng Tháng Mười làm cho CNTB bị đổ vỡ một mảnh lớn. Thế giới bừng tỉnh, bung ra với sức mạnh mới với sự hình thành và phát triển của CNXH làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Thành quả của Cách mạng Tháng Mười tạo cho loài người có khả năng kìm giữ sự lộng hành của CNTB, làm thay đổi cả những yếu tố bên trong của CNTB. CNTB không thể sống tự nó nữa mà đã phải cố gắng vì sự tồn tại của nó. Những thay đổi trong chiến lược kinh tế, chính trị để thích nghi, những thay đổi trong các chính sách phúc lợi xã hội, bảo đảm xã hội... ở các nước tư bản phát triển hiện nay đều do kết quả đấu tranh của những người lao động để giành quyền sống, quyền tự do, bình đẳng và sâu xa hơn là được ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười.

Từ những phân tích trên đây, chúng ta càng thống nhất với nhận định rằng, mặc dù tình hình thế giới trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới có nhiều thay đổi, có khi là thay đổi khôn lường, nhưng bản chất của thời đại không thay đổi. Tình hình cụ thể trong từng thời kỳ của thế giới có những biến động, nhưng điều đó không làm thay đổi nội dung của thời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại, có mặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện có nhiều nét mới. Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp vẫn diễn ra dưới nhiều hình thức.

SỰ THAY THẾ MỘT THỜI ĐẠI NÀY BẰNG THỜI ĐẠI KHÁC KHÔNG THỂ DIỄN RA NHANH CHÓNG ĐƯỢC

Lập luận của luận điệu sai trái là, nếu nói thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản (CNTB) lên CNXH, thì nay CNXH sụp đổ rồi, thời đại này đương nhiên là của CNTB; rằng CNXH và chủ nghĩa cộng sản đã tàn lụi thì dù có trăm năm sau cũng không thể gượng dậy được nữa.

Cách nhìn nhận của họ rõ ràng là thiếu kiến thức lịch sử và rất thiển cận. Quá trình chuyển biến và thay thế một thời đại này bằng thời đại khác không thể diễn ra nhanh chóng được, mà phải qua một chặng đường dài. Quá trình đó là một xu thế tất yếu của xã hội loài người, nhưng diễn ra quanh co, phức tạp chứa đựng nhiều biến cố, có cả bước tiến mạnh mẽ và cũng có cả những bước tụt lùi. Sự đổ vỡ của mô hình XHCN ở Đông Âu và Liên Xô đương nhiên là tổn thất nặng nề đối với phong trào cộng sản trên thế giới. Ai cũng biết rằng, sự sụp đổ ấy có nhiều nguyên nhân, nhưng nó không thuộc về bản chất của chế độ XHCN, càng không phải vì thế mà làm mất đi nội dung thời đại. Lịch sử đã cho thấy thời đại tư bản chủ nghĩa (TBCN) thay thế thời đại phong kiến đâu phải dễ dàng. Quá trình chuyển biến đó diễn ra hàng mấy trăm năm, trải qua biết bao phức tạp, bởi sự chống trả quyết liệt của các thế lực phong kiến. Tình hình hiện nay cũng tương tự như vậy. Thế lực đế quốc không từ thủ đoạn nào để mưu toan chặn đứng phong trào cộng sản. Điều đó càng thể hiện tính chất phức tạp của thời đại ngày nay.

Thứ Sáu, 18 tháng 6, 2021

QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHÔNG PHẢI LÀ “NÓI PHÉT VƯỢT THỜI GIAN” NHƯ XUYÊN TẠC!

Bài viết “Quá độ – nói phét vượt thời gian” của Phạm Trần đang trên Danlambao ngày 3/6/2021 là sự bóp méo, xuyên tạc bản chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Trước hết, cần phải khẳng định với Phạm Trần rằng, kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và đó là nguyên tắc; là vấn đề cơ bản, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng xứng đáng với vai trò tiền phong. Xuyên suốt các văn kiện Đảng qua các kỳ Đại hội, nội dung trọng yếu này luôn được khẳng định. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng tiếp tục khẳng định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Ðảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Ðảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Vì thế, những luận điệu đòi “xét lại” nền tảng tư tưởng của Đảng dưới dạng “hiến kế”, “tâm thư”, “góp ý”… theo hướng “tả khuynh” (tìm cách đánh tráo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin bằng những quan điểm vô chính phủ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng…) hay “hữu khuynh” (đòi xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, đòi thay thế những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin bằng những quan điểm, cải cách tư sản…); phủ nhận hoặc đòi xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng; “xét lại” hay xuyên tạc bản chất chủ trương, đường lối của Đảng về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam như Phạm Trần nêu ra… đều là phản động và cơ hội chính trị.

Vì thế, việc đấu tranh để phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nói chung, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nói riêng theo Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa thường xuyên và lâu dài, bởi đó là nội dung cơ bản, có ý nghĩa sống còn của cả hệ thống chính trị.

Thứ hai, việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã được khẳng định từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (1930); tiếp tục được khẳng định trong Văn kiện 13 kỳ Đại hội của Đảng. Vấn đề này cũng được Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

Thực tế, xã hội cộng sản chủ nghĩa với giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội mới hoàn toàn về chất so với các chế độ xã hội trước đó. Vì thế, tất yếu đi lên chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài, nhiều khó khăn, đầy thử thách và đương nhiên trong hành trình ấy, khó tránh khỏi những va vấp tạm thời. Không phải ngẫu nhiên các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác lại nhấn mạnh trong tác phẩm “Phê phán Cương lĩnh Gôta” rằng: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị”. Và với ý nghĩa đó, nói đến thời kỳ quá độ ở Việt Nam một cách phù hợp, hiệu quả, thì tất yếu phải đề cập tới thời kỳ quá độ gián tiếp, đó là bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

Cũng từ thực tế Việt Nam, nội dung độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (được xác định ngay trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, tháng 2/1930 và vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được xác định là trải qua thời kỳ quá độ (từ Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương, tháng 10/1930). Và vì, thời kỳ quá độ ở Việt Nam có điểm xuất phát thấp hơn, cho nên sẽ là lâu dài và khó khăn hơn (đã được khẳng định tại Đại hội II của Đảng, tháng 2/1951). Từ Đại hội VII, tháng 6/1991, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản, từ một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất thấp” và lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cũng luôn phát triển và ngày càng được điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện (từ Đại hội VIII, tháng 7/1996 đến Đại hội XIII của Đảng, tháng 1-2/2021).

Vì thế, việc Phạm Trần cho rằng, sau 60 năm “có chủ trương đi lên chủ nghĩa xã hội” ở Việt Nam và “từ sau 1975 trên cả nước, nhằm tiến lên xã hội chủ nghĩa, nhiều lãnh đạo cộng sản Việt Nam dù đã vất vả “quá độ” trăm chiều mà vẫn chưa biết “ngưỡng cửa Thiên đàng của xã hội chủ nghĩa” ở đâu… không chỉ là sự bóp méo bản chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mà còn nhằm phủ nhận những thành tựu mà nhân dân Việt Nam đã giành được trong hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ ba, thực chất của việc bóp méo, xuyên tạc, phủ nhận thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và việc đòi “xét lại” về chủ trương phát triển kinh tế; thực hiện chính sách giáo dục và đổi mới giáo dục; thực hiện dân chủ và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa… ở Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị những năm qua nói chung và Phạm Trần nói riêng chính là nhằm hướng đến việc đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; xây dựng chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa theo mô hình phương Tây; là nhằm kích động, gây hoang mang trong các tầng lớp nhân dân, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; là nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thúc đẩy sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong bộ phận những cán bộ, đảng viên đã và đang suy thoái, biến chất về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu khách quan của nền kinh tế (từ xuất phát điểm thấp); là sự lựa chọn theo đúng xu hướng phát triển về hình thái kinh tế xã hội theo theo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và việc bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa chính là “bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”. Cho nên, trên hành trình đó phải có các bước trung gian; phải lâu dài và đó là sự thật, chứ không phải Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng chủ nghĩa xã hội còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa” là ngay cả người đừng đầu Đảng còn “mơ hồ” như Phạm Trần quy kết.

Phạm Trần và các thế lực thù địch không thể “xét lại” vai trò lãnh đạo của Đảng; không thể “xét lại” nền tảng tư tưởng của Đảng và càng không thể từ một số hạn chế trong tư duy “cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp” từ thời trước đổi mới và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên mà xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh, về tư tưởng của Người và “yêu cầu đảng phải can đảm nhìn lại cái bóng của mình sau 35 năm đổi mới để thay đổi tư duy cầm quyền độc tài, phi dân chủ và không có tự do như mong muốn của ông Hồ”.

Phạm Trần và các thế lực thù địch cũng không thể phủ nhận những thành tựu về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, thực hiện an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, ưu tiên đầu tư và phát triển cho vùng núi, vùng sâu, vùng xa…của Việt Nam trong hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, nhất là những kết quả đạt được trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện phòng, chống đại dịch Covid -19 và nhất là việc thành lập Quỹ vắc xin Covid- 19 vừa qua, vì những thành tựu này đã được cộng đồng thế giới đánh giá, ghi nhận.

Đồng thời, Phạm Trần và các thế lực thù địch cũng không thể vì một số những hạn chế cần tiếp tục khắc phục trong công tca xây dựng và chỉnh đốn Đảng để xuyên tạc vai trò của lực lượng quân đội nhân dân và công an nhân dân nói riêng và của cả hệ thống chính trị nói chung trong cuộc đấu tranh phòng và chống “diễn biến hòa bình”, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Cuối cùng, cần phải khẳng định với Phạm Trần rằng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đúng là “ý Đảng hợp lòng Dân” và vì thế đừng có mơ đòi “xét lại”; đồng thời cũng đừng có mong ý đồ thâm độc, thủ đoạn “bôi bẩn” của ông tác động được nhân tâm!

Thứ Ba, 29 tháng 12, 2020

NIỀM TIN VỮNG CHẮC VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA

Nước ta quá độ lên CNXH tuy không còn có sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước XHCN như trước, nhưng trong giai đoạn mới của thời đại, khi cách mạng khoa học-công nghệ và toàn cầu hóa đời sống thế giới, tất cả các nước đều ở trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, không một nước nào sống biệt lập mà có thể phát triển được. Sự hợp tác kinh tế với các nước bằng nhiều hình thức sinh động trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau dưới bất kỳ hình thức nào, sẽ tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý, phục vụ cho việc phát triển kinh tế đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của CNXH. Đó cũng là một khả năng thực tế mà chúng ta đã và đang cố gắng tận dụng, đưa nước ta hòa nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Mặt khác, không chỉ có thời cơ mà còn có cả những thách thức, những nguy cơ. Trong hợp tác kinh tế với các nước, nhất là với các nước tư bản phát triển, là những trung tâm kinh tế, kỹ thuật hùng mạnh, họ có thể lợi dụng ưu thế về vốn, kỹ thuật và công nghệ hiện đại để gây sức ép đối với chúng ta, nhất là trong những lúc chúng ta gặp khó khăn, buộc chúng ta phải chấp nhận những điều kiện có lợi cho họ, hòng lái chúng ta đi chệch khỏi định hướng XHCN. Mặc dù hòa bình, hợp tác, phát triển là xu hướng của thời đại nhưng còn một xu hướng khác đối lập là xu hướng cường quyền, áp đặt. Mưu toan của các thế lực cường quyền, hiếu chiến đang thể hiện trong các điểm nóng trên nhiều khu vực của thế giới, đang là những mưu toan độc chiếm các vùng biển đảo, xâm phạm độc lập, chủ quyền của nước khác.

Đó là những thách thức, những nguy cơ mà chúng ta cần có sự nhận thức sâu sắc và tỉnh táo, không một chút mơ hồ, mất cảnh giác, để có những chủ trương, biện pháp ngăn ngừa, đối phó hữu hiệu. Chúng ta thực hiện phương châm vừa hợp tác, vừa đấu tranh trên cơ sở giữ vững những vấn đề có tính nguyên tắc về mục tiêu chiến lược và mềm dẻo linh hoạt về sách lược. Đấu tranh không phải để phá vỡ hợp tác mà để phát triển sự hợp tác. Phải biết khéo tận dụng thời cơ, tranh thủ quan hệ với các nước lớn trong xu hướng đa cực hóa để mở rộng sự hợp tác vừa có lợi, vừa bảo vệ được mình và chuẩn bị sẵn sàng đối phó với những tình huống xấu nhất, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc.

Một vấn đề nữa cũng không kém phần quan trọng là khi nước ta hội nhập vào kinh tế khu vực và kinh tế thế giới, chúng ta cũng chịu sự tác động hai chiều tích cực và tiêu cực đến kinh tế của nước ta. Tác động tích cực khi kinh tế khu vực và kinh tế thế giới ổn định phát triển, tác động tiêu cực khi kinh tế thế giới và kinh tế khu vực rơi vào trì trệ khủng hoảng. Chúng ta cần có chính sách sử dụng tốt mặt tích cực và ngăn ngừa, hạn chế mặt tiêu cực, giữ cho nền kinh tế nước ta ổn định và phát triển. Đây là bài học thực tế đã xử lý trước những tác động tiêu cực của cơn khủng hoảng tài chính-tiền tệ và khủng hoảng kinh tế trong khu vực và thế giới trong thời gian qua.

Như vậy, từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, những thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, những nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên XHCN bỏ qua chế độ TBCN theo quan điểm của V.I.Lênin, người đã có đóng góp to lớn vào lý luận về sự “phát triển rút ngắn” và Chính sách kinh tế mới (NEP). Nó đã được thực tiễn khảo nghiệm mà ngày nay Đảng ta đang vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta.

Xuất phát từ tình hình như thế, chúng ta có thể tin tưởng vững chắc rằng Việt Nam đang trong tư thế vươn tầm, kiên định con đường đã lựa chọn, đã có đủ sức lực và trí tuệ để tiến bước cùng thế giới, tiến cùng thời đại; nhất định thực hiện được mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.


THẾ GIỚI THAY ĐỔI KHÔN LƯỜNG, NỘI DUNG THỜI ĐẠI KHÔNG THAY ĐỔI

Kẻ thù tư tưởng của chúng ta công khai tuyên bố rằng, CNXH ở Liên Xô đã sụp đổ thì giá trị của Cách mạng Tháng Mười cũng chấm hết.

Đây đúng là kết luận vội vã và hồ đồ. Đành rằng, thành quả mà Cách mạng Tháng Mười đem lại đã bị đổ vỡ tại ngay quê hương của nó, nhưng đó quyết không phải là sự chấm dứt lý tưởng cao đẹp của Cách mạng Tháng Mười. Lịch sử đã tỏ rõ, không có một cuộc cách mạng nào, kể cả các cuộc cách mạng vĩ đại nhất, lại đủ khả năng kết thúc ngay công việc xóa bỏ xã hội cũ và xây dựng xong ngay xã hội mới. Quá trình chuyển từ xã hội phong kiến lên xã hội TBCN đã phải trải qua hàng trăm năm với nhiều cuộc cách mạng tư sản nổ ra ở Hà Lan, Anh, Pháp... thì hình thái kinh tế-xã hội TBCN mới thực sự thắng thế trước hình thái kinh tế-xã hội phong kiến.

Sự phát triển của xã hội loài người từ sau Cách mạng Tháng Mười đã chứng tỏ rằng, lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười không chỉ là ngọn đèn pha tỏa sáng dẫn đường, mà còn có những đóng góp thực tế to lớn. Cách mạng Tháng Mười là tiếng chuông đánh thức lịch sử, báo hiệu một trang sử mới của thế giới. Thế giới trước Cách mạng Tháng Mười là một thời kỳ u mê, an phận, là thời đại của CNTB. Sự đột phá của Cách mạng Tháng Mười làm cho CNTB bị đổ vỡ một mảnh lớn. Thế giới bừng tỉnh, bung ra với sức mạnh mới với sự hình thành và phát triển của CNXH làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Thành quả của Cách mạng Tháng Mười tạo cho loài người có khả năng kìm giữ sự lộng hành của CNTB, làm thay đổi cả những yếu tố bên trong của CNTB. CNTB không thể sống tự nó nữa mà đã phải cố gắng vì sự tồn tại của nó. Những thay đổi trong chiến lược kinh tế, chính trị để thích nghi, những thay đổi trong các chính sách phúc lợi xã hội, bảo đảm xã hội... ở các nước tư bản phát triển hiện nay đều do kết quả đấu tranh của những người lao động để giành quyền sống, quyền tự do, bình đẳng và sâu xa hơn là được ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười.

Từ những phân tích trên đây, chúng ta càng thống nhất với nhận định rằng, mặc dù tình hình thế giới trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới có nhiều thay đổi, có khi là thay đổi khôn lường, nhưng bản chất của thời đại không thay đổi. Tình hình cụ thể trong từng thời kỳ của thế giới có những biến động, nhưng điều đó không làm thay đổi nội dung của thời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại, có mặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện có nhiều nét mới. Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp vẫn diễn ra dưới nhiều hình thức.


SỰ THAY THẾ MỘT THỜI ĐẠI NÀY BẰNG THỜI ĐẠI KHÁC KHÔNG THỂ DIỄN RA NHANH CHÓNG ĐƯỢC

Lập luận của luận điệu sai trái là, nếu nói thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản (CNTB) lên CNXH, thì nay CNXH sụp đổ rồi, thời đại này đương nhiên là của CNTB; rằng CNXH và chủ nghĩa cộng sản đã tàn lụi thì dù có trăm năm sau cũng không thể gượng dậy được nữa.

Cách nhìn nhận của họ rõ ràng là thiếu kiến thức lịch sử và rất thiển cận. Quá trình chuyển biến và thay thế một thời đại này bằng thời đại khác không thể diễn ra nhanh chóng được, mà phải qua một chặng đường dài. Quá trình đó là một xu thế tất yếu của xã hội loài người, nhưng diễn ra quanh co, phức tạp chứa đựng nhiều biến cố, có cả bước tiến mạnh mẽ và cũng có cả những bước tụt lùi. Sự đổ vỡ của mô hình XHCN ở Đông Âu và Liên Xô đương nhiên là tổn thất nặng nề đối với phong trào cộng sản trên thế giới. Ai cũng biết rằng, sự sụp đổ ấy có nhiều nguyên nhân, nhưng nó không thuộc về bản chất của chế độ XHCN, càng không phải vì thế mà làm mất đi nội dung thời đại. Lịch sử đã cho thấy thời đại tư bản chủ nghĩa (TBCN) thay thế thời đại phong kiến đâu phải dễ dàng. Quá trình chuyển biến đó diễn ra hàng mấy trăm năm, trải qua biết bao phức tạp, bởi sự chống trả quyết liệt của các thế lực phong kiến. Tình hình hiện nay cũng tương tự như vậy. Thế lực đế quốc không từ thủ đoạn nào để mưu toan chặn đứng phong trào cộng sản. Điều đó càng thể hiện tính chất phức tạp của thời đại ngày nay.

Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2020

CƯƠNG LĨNH XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH Ở NƯỚC TA LÀ CỦA ĐẢNG, CỦA NHÂN DÂN TA XÂY DỰNG XIN ĐỪNG XUYÊN TẠC

Hiện nay, trong khi Đảng ta đang tiến hành tổng kết 10 năm thực hiện Cương lĩnh 2011, thì vẫn có những người mang danh “học giả” rêu rao rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam cần tự giác thay đổi Cương lĩnh 2011, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ một cách kiên quyết nhưng ôn hòa…”. Thực chất những đòi hỏi này cũng chỉ xoay quanh một số người khá quen thuộc, họ đã nhiều lần viết “kiến nghị”, “thư ngỏ” gửi Đảng ta rồi đăng lên mạng xã hội. Thái độ của chúng ta là hoan nghênh mọi ý kiến mang tinh thần xây dựng đất nước, kể cả những ý kiến trái chiều với thái độ gay gắt. Nhưng tôi cho rằng, với những người cứ rao đi, rao lại những luận điệu cũ, hay nói cách khác là “bình mới, rượu cũ”, rồi phát tán tràn lan trên mạng xã hội thì tự họ sẽ trở nên nhàm, cũng sẽ chẳng có người rỗi hơi mà đi nghe họ ca bài ca cũ kỹ ấy. Còn với Đảng ta, việc sẵn sàng lắng nghe mọi ý kiến góp ý không có nghĩa là Đảng ta không phê phán, bác bỏ những “kiến nghị” mà thực chất như yêu sách đòi hỏi thay đổi con đường phát triển và thay đổi chế độ chính trị mà nhân dân ta đã lựa chọn.

Thứ Ba, 26 tháng 11, 2019

TIỀN ĐỀ KHÁCH QUAN ĐỂ NƯỚC TA QUÁ ĐỘ ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI.


Đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta phải trải qua nhiều giai đoạn phát triển khách quan, hợp với quy luật của lịch sử. Đó là quá trình cách mạng đó vì sự nghiệp cao cả là giải phóng con người, vì sự phát triển tự do và toàn diện của con người, vì tiến bộ chung của loài người với những tiền đề khách quan cơ bản là:
- Nội dung thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. chủ nghĩa tư bản là chế độ xã hội đã lỗi thời về mặt lịch sử. Cho dù hiện nay, với những cố gắng để thích nghi với tình hình mới, chủ nghĩa tư bản thế giới vẫn đang có những thành tựu phát triển nhưng vẫn không vượt ra khỏi những mâu thuẫn cơ bản của nó, những mâu thuẫn này không dịu đi mà ngày càng phát triển gay gắt và sâu sắc. Chủ nghĩa tư bản không phải là tương lai của loài người.
- Những nhân tố mới hiện nay đang tạo khả năng cho chúng ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là quá trình quốc tế hoá sản xuất và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng tăng lên, cũng như sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ về khách quan đã tạo ra những khả năng để các nước kém phát triển đi sau có thể tiếp thu và vận dụng vào nước mình những lực lượng sản xuất hiện đại của thế giới và những kinh nghiệm của các nước đi trước, nếu có chính sách đúng đắn.

TIỀN ĐỀ TRONG NƯỚC ĐỂ NƯỚC TA QUÁ ĐỘ ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

- Việt Nam là nước có số dân tương đối đông, nhân lực dồi dào, tài nguyên đa dạng. Nhân dân ta đã lập nên chính quyền nhà nước dân chủ nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản, đã xây dựng những cơ sở ban đầu về chính trị, kinh tế của chủ nghĩa xã hội. Cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo - một đảng giàu tinh thần cách mạng, sáng tạo, khoa học và trí tuệ, có đường lối đúng đắn và gắn bó với quần chúng.
- Nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã từng chiến đấu, hy sinh không chỉ nhằm mục đích giành lại độc lập dân tộc, mà còn vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Những yêu cầu đó chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đáp ứng được. Vì vậy, quyết tâm của nhân dân sẽ trở thành lực lượng vật chất đủ sức vượt qua mọi khó khăn và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
- Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ VI đến nay đã thu được những kết quả bước đầu khả quan, giữ vững ổn định chính trị; tạo môi trường hợp tác đầu tư; phát triển kinh tế; đời sống nhân dân được cải thiện... điều đó đã củng cố và khẳng định con đường lựa chọn lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn.

QUAN NIỆM VỀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ TỪ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Thời kỳ quá độ là thời kỳ chuyển biến từ xã hội cũ sang xã hội mới- từ xã hội tư bản chủ nghĩa sang xã hội xã hội chủ nghĩa. Xã hội loài người đã và sẽ tuần tự trải qua 5 hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao, trong đó hình thái kinh tế - xã hội CSCN là hình thái cuối cùng,tiến bộ nhất trong lịch sử loài người. Sự chuyển tiếp giữa các hình thái kinh tế - xã hội chính là thời kỳ quá độ. Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, triệt để, toàn diện, từ xã hội cũ sang xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Nó diễn ra từ khi cách mạng vô sản thắng lợi, giai cấp vô sản giành được chính quyền, bắt tay vào việc xây dựng xã hội mới và kết thúc khi xây dựng thành công các cơ sở của xã hội xã hội chủ nghĩa về vật chất - kỹ thuật, kinh tế, văn hóa, tư tưởng. Nói cách khác, kết thúc thời kỳ quá độ khi đã xây dựng xong cả về lực lượng sản xuất lẫn quan hệ sản xuất, cả cơ sở kinh tế lẫn kiến trúc thượng tầng xã hội xã hội chủ nghĩa.

Thứ Sáu, 16 tháng 3, 2018

Một số vấn đề lý luận về thời đại trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta năm 1991

Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh quốc tế có những biến đổi to lớn, sâu sắc.
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang diễn ra mạnh mẽ, cuốn hút tất cả các nước ở mức độ khác nhau. Nền sản xuất vật chất và đời sống xã hội đang trong quá trình quốc tế hóa sâu sắc, ảnh hưởng lớn tới nhịp độ phát triển lịch sử và cuộc sống các dân tộc. Những xu thế đó vừa tạo thời cơ phát triển nhanh cho các nước, vừa đặt ra những thách thức gay gắt, nhất là đối với những nước lạc hậu về kinh tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Sđd, tr.312-313)
- Đánh giá về tương quan giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, Cương lĩnh nêu rõ: “... do duy trì quá lâu những khuyết tật các mô hình cũ của chủ nghĩa xã hội, chậm trễ trong cách mạng khoa học và công nghệ, nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Ở một số nước, Đảng Cộng sản và công nhân không còn nắm vai trò lãnh đạo; chế độ xã hội đã thay đổi. Các thế lực đế quốc lợi dụng những sai lầm và khó khăn đó đẩy mạnh cuộc phản kích quyết liệt nhằm xoá bỏ các nước xã hội chủ nghĩa. Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản đang diễn ra gay gắt.
Trước mắt, chủ nghĩa tư bản còn có tiềm năng phát triển kinh tế, nhờ ứng dụng những thành tựu mới của khoa học và công nghệ, cải tiến phương pháp quản lý, thay đổi cơ cấu sản xuất, điều chỉnh các hình thức sở hữu và chính sách xã hội. Tuy vậy, chủ nghĩa tư bản vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng sâu sắc. Mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân rộng rãi với giai cấp tư sản, giữa các tập đoàn tư bản độc quyền, các công ty xuyên quốc gia, các trung tâm tư bản lớn tiếp tục phát triển. Mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển và các nước đang phát triển ngày càng tăng lên. Chính sự vận động của tất cả mâu thuẫn đó và cuộc đấu tranh của nhân dân lao động các nước sẽ quyết định số phận của chủ nghĩa tư bản.
Các nước độc lập dân tộc và các nước đang phát triển phải tiến hành cuộc đấu tranh rất khó khăn và phức tạp, chống nghèo nàn và lạc hậu, chống chủ nghĩa thực dân mới dưới mọi hình thức, chống sự can thiệp và xâm lược của chủ nghĩa đế quốc nhằm bảo vệ độc lập và chủ quyền dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Sđd, tr.313-314.)
- Nhận định về đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại, Cương lĩnh năm 1991 của Đảng Cộng sản Việt Nam đã ghi:
“Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc gay go, phức tạp của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ nghĩa xã hội đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Sđd, tr.314)

Thứ Hai, 13 tháng 11, 2017

Nhận diện và phê phán quan điểm phủ nhận khả năng và các điều kiện để Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa

a. Nhận diện
- Quan điểm phủ nhận khả năng Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa; cho rằng phải trải qua đủ 5 hình thái kinh tế - xã hội, do đó phải qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
- Quan điểm cho rằng, sau sự biến Liên Xô 1991 Việt Nam không còn đủ điều kiện để quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa – điều kiện về sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa.
- Quan điểm cho rằng, thời đại ngày nay không phải là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội… (phủ nhận nội dung cơ bản của thời đại ngày nay) mà là thời đại của cách mạng khoa học công nghệ, kinh tế trí thức, toàn cầu hóa, của thế giới phẳng… không còn là thế giới phân chia thành 2 cực xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa theo hệ tư tưởng mới.
b. Phê phán
Một là, cần chỉ ra rằng, lịch sử toàn thế giới phải trải qua đủ 5 hình thái kinh tế - xã hội, còn lịch sử của từng quốc gia dân tộc thì không nhất thiết phải như vậy. Thực tế lịch sử đã cho thấy một số quốc gia dân tộc đã bỏ qua một, thậm chí tới 2 hình thái kinh tế - xã hội (thí dụ). Ngay Việt Nam cũng không qua chế độ chiếm hữu nô lệ.
Quan điểm sai lầm nói trên là quan điểm giáo điều, chỉ thấy cái chung mà không thấy cái riêng, thấy cái phổ biến mà không thấy cái đặc thù.
Hai là, cần chỉ ra rằng, Lênin nêu 3 điều kiện để một nước có thể bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tiến lên chủ nghĩa xã hội là: 1/ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; 2/ chính quyền của đa số nhân dân lao động trên cơ sở liên minh công nông; 3/ được sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa.
Trong 3 điều kiện nói trên thì điều kiện (1) và (2) là những điều kiện bên trong, điều kiện (3) là điều kiện bên ngoài. Cả lý luận và thực tiễn cho thấy các điều kiện bên trong bao giờ cũng có vai trò quyết định, điều kiện bên ngoài là quan trọng (chúng ta không coi nhẹ).
Với ý nghĩa ấy Việt Nam có đủ 2 điều kiện bên trong: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trên nền tảng liên minh công - nông - trí do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo (Việt Nam còn có khối đại đoàn kết toàn dân tộc, có chủ nghĩa yêu nước Việt Nam…).
Từ sự biến Liên Xô 1991 Việt Nam không còn nhận được sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa (thiếu điều kiện 3, điều kiện bên ngoài), nhưng thay vào đó là sự phát triển của Việt Nam sau 10 năm đổi mới (1986 - 1996) đã phá vỡ được âm mưu và hành động bao vậy cấm vận của Mỹ, có quan hệ với hầu hết các nước trong đó có đủ các nước lớn (kể cả nước vốn là thù địch) như Mỹ, Pháp, Nhật… và những nước xã hội chủ nghĩa trước đây như Nga, Cộng hòa Séc… Qua đó tiếp nhận thành tựu của nhân loại, đặc biệt lĩnh vực khoa học công nghệ hiện đại.
Ba là, cần chỉ ra rằng, mặc dù chủ nghĩa xã hội thất bại ở Liên Xô và Đông Âu, những nội dung cơ bản của thời đại vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, mở đầu bằng cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga 1917.
Vì 1/ Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn thế giới là cuộc đấu tranh lâu dài, khó khăn, phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng… Vì vậy, ở lĩnh vực này, ở địa bàn khác chủ nghĩa xã hội có thể vấp phải thất bại, cách mạng thoái trào kéo dài hàng chục năm là chuyện khó tránh khỏi. Thí dụ từ cách mạng tư sản Anh 1640 đến cách mạng tư sản Pháp 1789 là 149 năm; cách mạng tư sản Pháp thoái trào từ 1815 - 1848 là 33 năm. Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản đã như vậy, thì chủ nghĩa xã hội càng khó tránh khỏi như vậy. 2/ Thất bại của chủ nghĩa xã hội do nhiều nguyên nhân trong đó có 2 nguyên nhân chủ yếu là sai lầm về đường lối cải tổ của Đảng Cộng sản Liên Xô và cuộc phản kích quyết liệt với thủ đoạn tinh vị (diễn biến hòa bình + bạo loạn lật đổ) của thế lực tư sản phản động ở Mỹ, Tây Âu. 3/ Cần chỉ ra rằng, dù chủ nghĩa xã hội thoái trào nhưng các nước xã hội chủ nghĩa cải cách, đổi mới như Trung Quốc, Việt Nam, Lào vẫn tiếp tục phát triển, Cuba, Triều Tiên chưa có điều kiện cải cách, đổi mới nhưng vẫn trụ vững. Gần đây, Cuba bắt đầu cải cách với phương châm “Tiếp cận mô hình kinh tế mới” một cách thận trọng. 4/ Phong trào cánh tả Mỹ Latinh phát triển mạnh từ 1998 với 4 – 5 nước tuyên bố đi lên chủ nghĩa xã hội, gọi là chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI. 5/ Chủ nghĩa tư bản sau hiện tượng “ở thế thượng phong” nửa đầu thập kỷ 90, thế kỷ XX lại rơi vào suy thoái (1997 - 1998, 2007 - 2008, 2011- nay). 

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2016

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI – HIỆN THỰC SINH ĐỘNG, TƯƠNG LAI TƯƠI SÁNG CỦA NHÂN LOẠI TIẾN BỘ

Sau những biến động chính trị ở Liên Xô và Đông Âu vào cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX, các nhà tư tưởng phương Tây đã mở một chiến dịch tiến công nhằm xuyên tạc, phủ nhận, bôi nhọ chủ nghĩa xã hội (CNXH), lớn tiếng tuyên bố “chủ nghĩa xã hội là quái thai của lịch sử”, là “ý muốn ngông cuồng” của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin. Hiện nay, trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, các thế lực thù địch càng ráo riết tiến công trên mặt trận tư tưởng lý luận hòng làm dao động về lý tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN), gây mơ hồ, ảo tưởng về một chế độ xã hội tư bản tốt đẹp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH mà Đảng, Bác Hồ và dân tộc ta đã lựa chọn. Sự chống phá điên cuồng, quyết liệt đó càng chứng tỏ sức sống của CNXH hiện thực mà các thế lực thù địch không thể ngăn cản được.
1. Sự thật, chủ nghĩa xã hội là khát vọng ngàn đời của nhân loại tiến bộ. Cuối công xã nguyên thủy, khi xã hội đã manh nha phân chia giai cấp, không hài lòng với xã hội đương thời, quần chúng nghèo khổ đã hoài vọng về cuộc sống thời nguyên thuỷ tuy “nghèo về vật chất nhưng giàu tình người”. Khi chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời, giai cấp nô lệ chỉ là “công cụ biết nói”, nhiều cuộc khởi nghĩa của nô lệ đã nổ ra nhằm đòi quyền sống, quyền tự do, xóa bỏ giai cấp chủ nô tàn bạo, nhưng đều bị thất bại. Không có lối thoát, họ đã ước mơ về một đời sống ấm no, bình đẳng trên “thiên đường”, ở thế giới bên kia. Đến thời kì phong kiến, phản kháng lại chế độ hà khắc, nhiều trào lưu tư tưởng XHCN đã phê phán sự tàn bạo, dã man, bất công của xã hội đương thời và mơ ước xây dựng một xã hội tốt đẹp. Tomat Morơ (1478-1535) - nhà tư tưởng XHCN không tưởng đã phê phán gây gắt xã hội đương thời với hình tượng điển hình “cừu ăn thị người” và mơ ước xây dựng một xã hội không có áp bức, bóc lột, bất công. Giăng Mêliê (1664 - 1729) - một linh mục người Pháp trong Di chúc để lại ông đã ông kêu gọi nhân dân hãy đứng lên đấu tranh xóa bỏ bộ máy quan lại, quý tộc, tăng lữ đương thời, là lực lượng “ăn chơi phè phỡn trên lưng người lao động”, nhân dân không cần bộ máy ăn bám đó.
Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời, các nhà tư tưởng XHCN không tưởng đã phê phán gần sát bản chất của xã hội tư sản và dự báo về mô hình một xã hội tương lai tốt đẹp. Sáclơ Phuriê (1772 - 1837) đã coi chủ nghĩa tư bản là một “trạng thái vô chính phủ của công nghiệp” “sự nghèo khổ sinh ra từ chính bản thân sự dồi dào...”. Ông dự đoán, chế độ văn minh tư sản phải chuyển sang một giai đoạn mới của lịch sử loài người, tức giai đoạn của “chế độ xã hội được bảo đảm”. Hăngri Đơ Xanh Ximông (1760 - 1825) mơ ước xây dựng một xã hội trong đó “chế độ sở hữu phải được tổ chức sao cho có lợi nhất cho toàn xã hội về mặt tự do và về mặt kinh tế”. Rôbớt Ôoen (1771 - 1858) coi tư hữu, tôn giáo, hôn nhân tư sản là “ba cái cũi” cần xóa bỏông đã trực tiếp thực nghiệm xây dựng một xã hội tốt đẹp đem lại nhiều lợi ích cho công nhân. Nhưng ông ảo tưởng kêu gọi giai cấp tư sản độ lượng, “mở két bạc” của nó để nuôi dưỡng giai cấp công nhân nên mô hình đó không được hiện thực hóa.
Như vậy, ngay từ khi xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng, nhân loại tiến bộ đã nguyền rủa chế độ xã hội áp bức, bóc lột, bất công và mơ ước về một xã hội tốt đẹp không có người bóc lột người - đó chính là xã hội XHCN, cộng sản chủ nghĩa (CSCN). Đúng như V.I.Lênin khẳng định: “Đã lâu rồi, đã hàng bao thế kỷ nay, thậm chí hàng ngàn năm nay, nhân loại mong ước thủ tiêu “lập tức” mọi sự bóc lột”[1]. Và “...xoá bỏ sự khác nhau giữa người giàu và người nghèo. Đó là một nguyện vọng có tính chất xã hội chủ nghĩa”[2].
2. Không chỉ là khát vọng, chủ nghĩa xã hội là kết quả phát triển tất yếu của xã hội loài người. Từ lập trường của giai cấp vô sản, kế thừa tinh hoa văn hóa nhân loại, gắn nghiên cứu lí luận với hoạt động thực tiễn trong phong trào công nhân, với phẩm chất, trí tuệ tuyệt vời, C.Mác và Ph.Ăngghen với hai phát kiến vĩ đại: chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà cốt lõi của nó là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội đã phát hiện ra quy luật phát triển tất yếu của xã hội loài người là sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội cũ bằng một hình thái kinh tế - xã hội mới cao hơn, “sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”[3]. Từ việc phát hiện ra quy luật phát triển chung của nhân loại, các ông đi sâu nghiên cứu xã hội tư bản chủ nghĩa, phát hiện ra học thuyết giá trị thặng dư, vạch trần bản chất, cơ sở tồn tại của chủ nghĩa tư bản là bóc lột giá trị sức lao động làm thuê của công nhân.
Để bóc lột giá trị thặng dư, giai cấp tư sản đã phát triển các nhân tố của lực lượng sản xuất to lớn, đồ sộ vượt quá mức dung nạp của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn này tất yếu dẫn đến cuộc cách mạng xã hội thay thế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng một phương thức cao hơn, phương thức sản xuất CSCN - hình thái kinh tế - xã hội CSCN. Chủ nghĩa xã hội “không cần phải thực hiện một lý tưởng nào cả, mà chỉ cần giải phóng những nhân tố của xã hội mới đã phát triển trong lòng xã hội tư sản cũ đang sụp đổ”[4]. Từ đó, các ông khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội hiện đại chẳng qua chỉ là sự phản ánh của sự xung đột có thật ấy vào trong tư duy, là sự phản ánh trên ý niệm của sự xung đột ấy, trước hết trong đầu óc của giai cấp trực tiếp chịu đau khổ và sự xung đột ấy, tức là giai cấp công nhân”[5]. Các ông chỉ rõ, giai cấp công nhân là lực lượng duy nhất có sứ mệnh lịch sử cao cả xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng chế độ XHCN, CSCN thông qua cách mạng xã hội chủ nghĩa: “Giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình, nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy chống lại nó, đó là những người công nhân hiện đại”[6]. Từ sự vận động tất yếu của lịch sử, các ông chỉ rõ: “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”[7]. Bằng những phát hiện vĩ đại này, Mác - Ăngghen đã nâng CNXH từ không tưởng trở thành khoa học, trở thành vũ khí tư tưởng, hệ tư tưởng chỉ đạo phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, chuyển phong đấu tranh của giai cấp công nhân từ tự phát lên tự giác, liên tục thu được những thành quả đáng tự hào.
Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác trong điều kiện chủ nghĩa tư bản đã phát triển thành chủ nghĩa đế quốc, V.I.Lênin rút ra kết luận: “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi đến chủ nghĩa xã hội, đó là điều không tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ; vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội”[8].
3. CNXH hiện thực đã ra đời, tồn tại mang bản chất ưu việt hơn hẳn so với tất cả các chế độ xã hội đã tồn tại trong lịch sử. Năm 1871, Công xã Pari nổ ra, tuy chỉ tồn tại trong 72 ngày nhưng bước đầu đã chứng minh khả năng cách mạng của giai cấp công nhân và bản chất tốt đẹp của mô hình xã hội XHCN. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917), đã sáng lập nên một chế độ xã hội mới – xã hội XHCN. Lần đầu tiên trong lịch sử, khát vọng thoát khỏi áp bức, bóc lột, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân loại cần lao đã trở thành hiện thực sinh động trên một đất nước rộng lớn bằng một phần sáu trái đất, “Nước Nga có chuyên lạ đời, biến người nô lệ thành người tự do” và đã mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới.
Nước Nga Xô viết, tiếp sau là Liên Xô  đã sáng tạo nên những giá trị Xô viết vĩ đại để nhân loại tiến bộ noi theo. Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, chính  quyền Xô viết đã ban hành những sắc lệnh nổi tiếng: Sắc lệnh về Hòa bình, Sắc lệnh về Ruộng đất, đồng thời ban hành hàng loạt chính sách tiến bộ như: ngày làm 8 giờ, giáo dục không mất tiền, bình đẳng nam nữ, tự do tín ngưỡng, tách nhà thờ khỏi nhà trường… Trong hơn 70 năm (1917 - 1991) xây dựng và phát triển, từ một nước Nga lạc hậu, Liên Xô đã trở thành một cường quốc kinh tế đứng thứ 2 thế giới (sau Mỹ), sản lượng công nghiệp chiếm 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới ; kinh tế tăng trưởng hàng năm với tốc độ bình quân vài chục phần trăm, đã từng là cường quốc đứng thứ ba thế giới. Chính trị, văn hóa, khoa học giáo dục đều có sự phát triển vượt bậc và ảnh hưởng lớn đến nhiều nước trên thế giới. Liên-Xô trở thành một dân tộc có nền văn hoá cao, phổ cập giáo dục rộng rãi nhất với ¾ dân số có trình độ từ trung học trở lên, trên 30 triệu người làm việc trí óc[9]. Liên-Xô đi tiên phong trong nhiều ngành khoa học như ngành vũ trụ, hạt nhân, sinh học..., có lĩnh vực đã từng vượt Mỹ. Liên-Xô đã giải phóng  hàng trăm dân tộc thiểu số ra khỏi Nước Nga Sa hoàng - nhà tù của các dân tộc, đem đến cho họ cuộc sống mới. Khắc phục những khác biệt về kinh tế -  xã hội; tăng cường sự đoàn kết, hữu nghị, giao lưu hòa hợp và xích lại gần nhau giữa các dân tộc. Đời sống mọi mặt của các dân tộc được nâng cao. Quần chúng công nông được hưởng đầy đủ các quyền chính trị kinh tế văn hóa xã hội bảo vệ sức khoẻ, chữa bệnh và nhiều giá trị khác nữa như  quyền nhà ở, quyền được học hành, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng tôn giáo… .  Đó chính là những giá trị xã hội xã hội chủ nghĩa ưu việt do Liên Xô tạo nên, đã buộc chủ nghĩa tư bản phải tự điều chỉnh, tự tô vẽ lại bộ mặt của mình theo hướng nhân văn hơn, tiến bộ hơn.
Liên Xô đã tích cực, chủ động giúp đỡ  phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc hiệu quả, thiết thực. Chủ nghĩa xã hội hiện thực đứng đầu là Liên Xô đã từng là lực lượng lớn mạnh, có tiềm lực kinh tế, chính trị, quân sự to lớn, đủ sức răn đe, ngăn chặn sự hiếu chiến, xâm lược của chủ nghĩa đế quốc. Với sự ủng hộ nhiệt tình, to lớn của Liên Xô, phong trào giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc phát triển như vũ bão; phong trào cộng sản- công nhân quốc tế, phong trào đấu tranh cho hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới lớn mạnh không ngừng. Liên Xô đã thực sự là thành trì của hoà bình, an ninh quốc tế, góp phần chủ yếu cứu loài người khỏi thảm hoạ phát xít.
Chủ nghĩa xã hội từ một nước phát triển thành một hệ thống thế giới, tạo thế cân bằng với chủ nghĩa tư bản, góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, làm thay đổi sâu sắc bộ mặt hành tinh. Đó hoàn toàn không phải là “giấc mơ”, mà là sức sống của một chế độ xã hội XHCN hiện thực tiến bộ, vì con người.
Thế nhưng, sau 70 năm tồn tại và phát triển, CNXH hiện thực đã sụp đổ ngay trên chính quê hương đã sinh ra nó. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến cơn chấn động chính trị này, trong đó nguyên nhân sâu xa là sự vận dụng giáo điều chủ nghĩa Mác  - Lênin, duy trì quá lâu mô hình kinh tế - xã hội tập trung, quan liêu, bao cấp; nguyên nhân trực tiếp là do sai lầm của những người lãnh đạo đứng đầu của Đảng Cộng sản cùng với sự phản bội của một số kẻ cơ hội bên trong kết hợp với sự chống phá của các thế lực thù địch từ bên ngoài. Bởi thế, sự sụp đổ hệ thống XHCN hoàn toàn không phải là sự sụp đổ của lý tưởng cộng sản, càng không phải là sự phá sản của chủ nghĩa Mác, không phải là sự diệt vong tất yếu của CNXH hiện thực mà là sự đổ vỡ của một mô hình CNXH còn nhiều khuyết tật, không tôn trọng quy luật khách quan… Thực tế, sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô sụp đổ,  nhân dân Nga vẫn  đánh giá cao các giá trị Xô viết, trong một cuộc thăm dò dư luận, tiến hành vào ngày 12 tháng 1 năm 2008, trung tâm Phân tích Levada đã đưa ra các số liệu: 57% số người dân Nga được hỏi ý kiến cho rằng: Cách mạng tháng Mười Nga đã đem lại lợi ích cho nhân dân Nga, 26% người được hỏi tin tưởng: cách mạng đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nước Nga. 31 % cho rằng Cách mạng đem đến sự nhảy vọt cho nền kinh tế và xã hội Nga.
 4. Hiện nay, mặc dù chủ nghĩa tư bản vẫn còn khả năng phát triển nhưng những mâu thuẫn cơ bản vốn có không những không được khắc phục mà còn tăng lên, chủ nghĩa tư bản tất yếu sẽ bị thay thế bằng CNXH, CNCS. Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, giai cấp tư sản với giai cấp công nhân và nhân dân lao động, chủ nghĩa đế quốc với chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa đế quốc với những nước phụ thuộc ngày càng tăng lên. Đặc biệt, sự tích tụ tư bản với một khối lượng khổng lồ đang ngày càng tập trung vào tay một số ít các nhà tư sản, là điều kiện cho phép các nhóm tư bản và cá nhân thu được lợi nhuận kếch sù. Ở nhiều nước tư bản, bình quân tỷ suất chiếm đoạt lợi nhuận là 300%, cá biệt có những nơi lên tới 700% - 800%. Ở Mỹ, 1% người giàu nhất đã làm chủ 40% tài sản, trong khi 80% người dân ở mức thấp nhất làm chủ chỉ có 7% tài sản nước Mỹ[10]. Năm 2011, tại Liên minh châu Âu có 120 triệu người sống trong cảnh nghèo đói. Tổ chức phi chính phủ Oxfam có trụ sở tại Anh, ngày 12 tháng 9 năm 2013 cảnh báo, tới năm 2015, sẽ có thêm 25 triệu người châu Âu rơi vào cảnh đói nghèo[11]. Thực chất sự phát triển của chủ nghĩa tư bản những năm qua chỉ hướng tới phục vụ cho một bộ phận giàu có nhất. Chính điều đó đã làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng gây gắt, làm bùng phát nhiều cuộc đấu tranh quyết liệt của giai cấp công nhân và người lao động chống lại giới chủ tư sản với quy mô rộng khắp. Khởi nguồn là từ “phố Wall” - trung tâm kinh tế tài chính lớn nhất nước Mỹ (nổ ra vào ngày 14 tháng 9 năm 2012), sau đó, lan rộng ra hàng chục thành phố của Mỹ và các nước thuộc Liên minh châu Âu để phản đối các biện pháp khắc khổ và tỉ lệ thất nghiệp, đói nghèo đang ngày càng gia tăng[12]. Sự phản kháng xã hội mạnh mẽ càng làm bộc lộ bản chất của các thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Khẩu hiệu “dân chủ tự do” mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không đảm bảo quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản. Sự thật này một lần nữa chứng minh tính chất phản tiến bộ, phản nhân văn và không bền vững của chủ nghĩa tư bản. Đúng như Mác đã từng nói, chủ nghĩa tư bản đang huỷ hoại chính ngay những nhân tố làm nên sự giàu có của nó là lao động  tài nguyên.
Mặc dù, hiện nay ở nhiều nước tư bản phát triển, đời sống của giai cấp công nhân và người lao động đã được cải thiện, một bộ phận công nhân đã là chủ nhân của một số lượng cổ phiếu nhất định trong công ty và trở thành tầng lớp trung lưu trong xã hội. Đó là kết quả của các cuộc đấu tranh quyết liệt liên tục, bền bỉ của chính bản thân giai cấp công nhân và người lao động chống lại sự áp bức, bóc lột của giới chủ trong suốt nhiều thế kỷ. Nhưng so với tỷ suất bóc lột và những món lợi nhuận kếch xù mà giai cấp tư sản có được thì sự điều chỉnh về chế độ phúc lợi xã hội, an sinh xã hội tiến bộ cho công nhân và người lao động cũng vô cùng nhỏ bé. Suy cho cùng những điều chỉnh của giới chủ theo hướng thỏa mãn ngày càng nhiều hơn những đòi hỏi chính đáng của giai cấp công nhân và người lao động, trước hết cũng là vì lợi ích của chính giai cấp tư sản. Sự điều chỉnh, thích nghi chỉ làm dịu đi những mâu thuẫn xã hội, chứ không làm thay đổi bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa. Mâu thuẫn giữa trình độ xã hội hóa của lực lượng sản xuất với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, được biểu hiện ở mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản vẫn tồn tại và ngày càng gay gắt, tất yếu chế độ tư bản chủ nghĩa sẽ bị CNXH, CNCS thay thế trong tương lai.
5. Quá độ lên CNXH vẫn là một tất yếu khách quan trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại. Trái với dự đoán của nhiều chính khách và phần tử cơ hội sau sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên xô và Đông Âu, các nước XHCN còn lại không những không bị sụp đổ mà còn đổi mới, cải cách thành công và tiếp tục vững bước đi lên CNXH. Thành công của công cuộc cải cách, mở cửa ở Trung Quốc, đổi mới ở Việt Nam, cải cách kinh tế ở Lào, kết quả bước đầu của chính sách “cập nhật hoá mô hình kinh tế” ở Cuba,… đã đưa các nước này không chỉ vượt qua được giai đoạn khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, đập tan mọi âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực thù địch, mà còn tạo được những bước đột phá phát triển, là những bằng chứng rõ ràng về sự phục hồi của CNXH. Đồng thời, sự trỗi dậy mạnh mẽ của phong trào cánh tả ở nhiều nước Mỹ Latinh trong gần hai thập niên qua là bằng chứng sống động về sự bền bỉ của lý tưởng XHCN. Rõ ràng, mặc dù con đường đi lên CNXH đã và đang trải qua những khó khăn, thử thách, nhưng “theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH”[13]. Chủ nghĩa xã hội là hiện thực sinh động, tương lai tươi sáng của nhân loại tiến bộ đang nỗ lực hướng tới...
6.  Đi lên CNXH là khát vọng của toàn thể dân tộc Việt Nam, phù hợp xu thế thời đại. Trước đòi hỏi cấp thiết của lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời, lãnh đạo dân tộc ta làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lật đổ ách thống trị gần 100 năm của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa nhân dân từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước.
Bằng sức mạnh của CNXH, dân tộc ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ đưa miền Bắc đi lên CNXH, Đại thắng Mùa Xuân 1975 đưa cả nước đi lên CNXH. Đến cuối thế kỷ XX, mặc dù trên thế giới CNXH hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, phong trào XHCN đang trong giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, Đảng ta vẫn tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa”. Hiện nay, tình hình thế giới đang có những diễn biến phức tạp, khó lường, sự nghiệp đổi mới đất nước đang đứng trước những thời cơ, vận hội đan xen với những thách thức, khó khăn, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), một lần nữa khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”[14]. 
Nhờ sự kiên định ấy, sau gần 30 đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, được nhân dân tin tưởng, ủng hộ, thế và lực của đất nước ngày càng được nâng cao. Nước ta đã thoát khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình; chính trị xã hội ổn định; quốc phòng an ninh được tăng cường, chủ quyền quốc gia được giữ vững. Tăng trưởng kinh tế bình quân đạt gần 7%/năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, công nghiệp và dịch vụ đã chiếm 83% trong tổng GDP; GDP tăng gấp gần 7 lần và kim ngạch xuất khẩu tăng gấp hơn 200 lần; GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt khoảng 2.200 USD; an sinh xã hội cơ bản được bảo đảm, phúc lợi xã hội và đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Tỉ lệ hộ nghèo giảm mạnh, còn dưới 6%, đã có hơn 98% số hộ gia đình được sử dụng điện lưới quốc gia; tuổi thọ trung bình tăng từ 64,8 tuổi năm 1986 lên khoảng 73,5 tuổi năm 2015. Năm 2000 cả nước đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, tỷ lệ người lớn biết chữ tăng từ 84% năm 1980 lên 98,25% năm 2014. Tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm từ 81% năm 1990 xuống còn khoảng 22,4% năm 2014. Đến nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao, thương mại và đầu tư với hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới; hiện có hơn 18.200 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng số vốn đăng ký 256 tỷ USD, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao… Trong những năm vừa qua, trước tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nước ta đã thực hiện được mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý và bảo đảm an sinh xã hội…[15] .
Tuy nhiên, sự nghiệp đổi mới đất nước vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém; có những yếu kém kéo dài chậm được khắc phục. Đổi mới chưa đồng bộ và toàn diện, kinh tế vĩ mô ổn định nhưng chưa vững chắc, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp; tình trạng suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí… chưa được ngăn chặn đẩy lùi. Tội phạm và tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp; dân chủ XHCN và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy đầy đủ, kỷ cương pháp nước chưa nghiêm, một số mặt công tác xây dựng hệ thống chính trị chuyển biến chậm. Trong lịch sử cách mạng, gặp muôn vàn khó khăn trong thời kì những năm 1930 “cơ sở cách mạng bị khủng bố trắng”, những năm 1945, chính quyền cách mạng non trẻ phải chống lại cả “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”, trong thời kỳ chống Pháp, “châu chấu đá xe”, chống Mỹ- cường quốc số một thế giới, điên cuồng hòng “đưa Việt Nam về thời kỳ đồ đá”,  những năm 1980 , “lụt bắc, lụt nam, máu tràn biên giới” mà chúng ta đã trải qua và đã giành thắng lợi vĩ đại, thì những hạn chế, khó khăn hiện nay chúng ta đang mắc phải chúng ta tin tưởng nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng có thể và sẽ khắc phục được. CNXH không phải là ảo tưởng mà là hiện thực đang ngày càng sinh động ở nước ta. Hiện thực đó không phải chỉ những người cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam tự nhận, tự thấy mà được các nước, các tổ chức quốc tế thừa nhận và ca ngợi. Thô-mát Gian-đơn (Thomas Jandl), TS người Mỹ đã nhiều lần đến Việt Nam, nhận xét: Việt Nam đã rất thành công và đạt nhiều tiến bộ trong giải quyết vấn đề liên quan đến quyền con người như: Chương trình xóa đói giảm nghèo và hoàn thành sớm Mục tiêu Thiên niên kỷ. Nhìn vào tổng thể, có thể nói Việt Nam đã bảo đảm tốt hơn các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cho người dân… Việt Nam được thế giới biết đến như một tấm gương về tiến độ thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ, đặc biệt là mục tiêu xóa đói, giảm nghèo. Thành tựu Đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là to lớn và rất quan trọng, có ý nghĩa không chỉ với quốc gia mà ở mức độ nhất định cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới. “… tương lai của chủ nghĩa xã hội phụ thuộc ở mức độ quyết định vào những cuộc cải cách của chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc và Việt Nam”[16].  Hiện thực ấy cũng là những đòn giáng trả đanh thép giành cho những kẻ cơ hội chính trị đang hàng ngày, hàng giờ kêu gào đòi từ bỏ CNXH. 
Lịch sử phát triển của nhân loại đã minh chứng, tầng lớp chủ nô có tàn bạo đến đâu cũng không duy trì mãi được chế độ nô lệ và phải bị chế độ phong kiến thay thế; tầng lớp địa chủ, quý tộc  có vạn lần tung  hô “quốc vương vạn tuế”  thì chế độ phong kiến cũng bị chế độ tư bản thay thế; và hiện nay giai cấp tư sản có trăm phương ngàn kế tô vẽ chủ nghĩa tư bản vĩnh hằng, thì nó cũng sẽ bị CNXH, CNCS thay thế. Đó là quy luật thép của sự phát triển lịch sử xã hội loài người. Đảng ta, nhân dân ta phấn đấu đi lên CNXH, CNCS là phù hợp với quy luật thép ấy./.



[1] V.I.Lênin: Toàn tập, tập 12, Nxb Tiến bộ, Mátxitcova, 1979, tr.53
[2] V.I.Lênin: Toàn tập, tập 13, Nxb Tiến bộ, Mátxitcova, 1979, t.13, tr.159
[3] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.21
[4] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 17, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr. 445 - 446
[5] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr. 372 - 373
[6] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 605
[7] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 613
[8] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 30, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1981, tr. 140
[9] Nguyễn Anh Thái (chủ biên), Lịch sử thế giới hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006, tr. 258 - 259.
[11] Xem:  http://vov.vn/The-gioi/Gan-1-ty-nguoi-van-con-trong-tinh-trang-doi-ngheo/284316.vov.
[13] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG.H. 2011, tr. 69
[14] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG.H. 2011, tr 70.
[15] Xem: http://baodientu.chinhphu.vn/Diễn văn của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Lễ kỷ niệm Ngày 30/4.
[16]Giáo sư, Tiến sĩ Alếchxăng Lilốp:Việt nam trong thế kỷ XX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.1, tr. 156.