Hiển thị các bài đăng có nhãn nghị quyết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nghị quyết. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 26 tháng 1, 2024

NHỮNG NHIỆM VỤ CHỦ YẾU VÀ CẤP BÁCH CỦA CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở NƯỚC TA ĐƯỢC XÁC ĐỊNH TRONG NGHỊ QUYẾT SỐ 24-NQ/TW NGÀY 12/3/2003 BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG (KHÓA IX) VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC?

Nghị quyết  đã xác định nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách của công tác dân tộc dân tộc ở nước ta

- Đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số, trọng tâm là đồng bào ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa; trong những năm trước mắt tập trung trợ giúp đồng bào nghèo, các dân tộc đặc biệt khó khăn giải quyết ngay những vấn đề bức xúc như: tình trạng thiếu lương thực, thiếu nước sinh hoạt, nhà ở tạm bợ, không đủ tư liệu sản xuất, dụng cụ sinh hoạt tối thiểu; xây dựng kết cấu hạ tầng khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình; tăng cường các hoạt động văn hóa, thông tin, tuyên truyền hướng về cơ sở; tăng thời lượng và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình bằng các tiếng dân tộc thiểu số; làm tốt công tác nghiên cứu, sưu tầm, giữ gìn và phát huy các giá trị, truyền thống tốt đẹp trong văn hóa của các dân tộc.

Thực hiện chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở và các chương trình giáo dục miền núi, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo, nhất là hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú các cấp; đẩy mạnh việc tổ chức các trường mẫu giáo công lập; mở rộng việc dạy chữ dân tộc. Đa dạng hóa, phát triển nhanh các loại hình đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề ở vùng dân tộc; đưa chương trình dạy nghề vào các trường dân tộc nội trú; tiếp tục thực hiện tốt chính sách ưu tiên, cử tuyển dành cho con em các dân tộc vào học tại các trường đại học và cao đẳng; mở thêm trường dự bị đại học dân tộc ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên. Nghiên cứu tổ chức hệ thống trường chuyên đào tạo, bồi dưỡng trí thức và cán bộ là người dân tộc thiểu số. Tăng cường cơ sở khám, chữa bệnh, cán bộ y tế cho các xã, bản, thôn, ấp; nâng cao hơn nữa chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số; khuyến khích trồng và sử dụng các loại thuốc dân gian.

- Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở các vùng dân tộc thiểu số. Thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở; kiên quyết khắc phục tình trạng quan liêu, xa dân của một số cán bộ; thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ, luân chuyển cán bộ. Đẩy mạnh phát triển đảng viên trong đồng bào dân tộc, khắc phục tình trạng cơ sở không có tổ chức đảng và đảng viên.

- Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, phát huy sức mạnh tại chỗ để sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch; tăng cường công tác đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra những “điểm nóng” về an ninh, trật tự xã hội ở vùng dân tộc và miền núi. Tiếp tục xây dựng, phát triển nhanh các khu kinh tế kết hợp quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa, biên giới.

Thực hiện tốt chính sách tín ngưỡng và tôn giáo ở vùng dân tộc và miền núi; kiên quyết ngăn chặn việc lợi dụng chính sách tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng để hoạt động phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta.

- Đổi mới nội dung, phương thức công tác dân tộc phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân tích cực, chủ động tham gia xây dựng, thực hiện và giám sát việc thực hiện các chính sách, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa phương. Thông qua các chính sách, biện pháp cụ thể, động viên đồng bào các dân tộc phát huy nội lực, ý chí tự lực tự cường, tinh thần vươn lên trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc. 

Thứ Tư, 17 tháng 1, 2024

QUAN ĐIỂM VỀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG NGHỊ QUYẾT SỐ 22-NQ/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ KHÓA VI NGÀY 27/11/1989 VỀ MỘT SỐ CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH LỚN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI MIỀN NÚI?

Nghị quyết đã thể hiện tư tưởng khởi đầu, đột phá cho những thay đổi có tính bước ngoặt trong phát triển kinh tế, xã hội miền núi và vùng dân tộc, cũng như toàn bộ vấn đề dân tộc trong thời kỳ đổi mới.

Một là, phát triển kinh tế - xã hội miền núi là một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển nên kinh tế quốc dân. Một mặt, các địa phương miền núi có trách nhiệm góp phần thực hiện những chủ trương chiến lược phát triển kinh tế, xã hội chung của cả nước. Mặt khác, việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện những chủ trương, chính sách chung ở miền núi phải tính đầy đủ đến những đặc điểm về tự nhiên, lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán của miền núi nói chung và của riêng từng vùng, từng dân tộc, trong việc này cần đặc biệt nhấn mạnh vai trò năng động, sáng tạo của địa phương và cơ sở.

Hai là, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa miền núi là sự nghiệp chung của nhân dân cả nước, trước hết là sự nghiệp của nhân dân các dân tộc miền núi và đồng bào miền xuôi lên định cư ở miền núi. Khai thác và xây dựng miền núi là vì lợi ích trực tiếp của nhân dân miền núi, đồng thời vì lợi ích chung của cả nước.

Ba là, nắm vững chủ trương phát triển có kế hoạch nên kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội; điều chỉnh lại quan hệ sản xuất ở miền núi cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, thật sự tôn trọng quyền tự quyết định của nhân dân trong việc lựa chọn các hình thức kinh tế và cơ chế quản lý thích hợp, lấy hiệu quả làm tiêu chuẩn hàng đầu, nhất thiết không hình thức, máy móc, rập khuôn, áp đặt.

Bốn là, phải phát triển miền núi toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, trong đó trọng tâm là phát triển kinh tế - xã hội gắn với thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng. Quan tâm đúng mức đến việc giải quyết các vấn đề xã hội, cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân.

Về quốc phòng, an ninh, giữ gìn biên cương của Tổ quốc, bảo vệ miền núi là việc chung của cả nước, trước hết là việc thiết thân của nhân dân miền núi. Đội ngũ cán bộ, chiến sĩ quân đội, an ninh bảo vệ miền núi (kể cả bộ đội biên phòng) chủ yếu phải tuyển chọn từ thanh niên miền núi để đào tạo.

Để bảo đảm phát triển miền núi toàn diện và vững chắc, vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải coi trọng công tác xây dựng Đảng, làm cho đảng bộ các địa phương miền núi thật sự thể hiện được trí tuệ của nhân dân các dân tộc miền núi, đại diện cho lợi ích và nguyện vọng chính đáng của đồng bào các dân tộc, gắn bó với nhân dân, xứng đáng là hạt nhân lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền núi và góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước. 

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2022

THANH NIÊN VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH, VỮNG VÀNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII

Kế thừa và phát huy những giá trị to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, Thanh niên Việt Nam nguyện tiếp bước con đường của Đảng, Bác Hồ và thế hệ cha, ông đi trước luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, tiếp tục nhận thức rõ về trách nhiệm của thế hệ trẻ. Xung kích, sáng tạo, cống hiến đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, góp phần đưa đất nước vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng. Trong giai đoạn hiện nay, tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động diễn biến phức tạp khó lường. Những vấn đề toàn cầu, như: bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường, cùng với đó là xung đột vũ trang, sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp biên giới, biển đảo, sự can thiệp tầm ảnh hưởng các nước lớn trên thế giới…. cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội diễn ra rất phức tạp.

Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chính lẽ đó thế hệ trẻ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã nhận thức sâu sắc những giá trị về bài học quý báu sau các sự kiện chính trị xảy ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu vào những năm thập kỷ 90 thế kỷ XX, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã lãnh đạo đất nước đổi mới một cách toàn diện, sâu sắc, có hiệu quả, kiên quyết khắc phục những sai lầm, thiếu sót trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 

Đại hội lần thứ VI của Đảng (năm 1986) đã đánh dấu mốc cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Thực hiện nguyên tắc chỉ đạo sự nghiệp đổi mới được Đảng ta luôn quán triệt: “Đổi mới trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội”. Trong nhận thức và áp dụng về lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng tuân thủ theo các quy luật, nguyên tắc. Không được nóng vội dao động, bi quan, đổi hướng, thay đổi mục tiêu, con đường mà Đảng và nhân dân đã chọn. Đó vừa là mục tiêu, tư tưởng, vừa là sự lựa chọn cách thức, bước đi phù hợp với điều kiện thực tiễn cụ thể của nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng để từng bước hiện thực hóa con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn - con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. 

Các chủ trương, đường lối, quan điểm của con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta của Đảng ta qua các kỳ đại hội thể hiện rõ qua các văn kiện như: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục hiến định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Kết quả công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng từ Đại hội VI của Đảng (tháng 12 - 1986) đến Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hình thành, phát triển. Chính trị - xã hội có bước phát triển, bộ mặt đất nước và đời sống nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền và cả hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII cần phải đưa ra các giải pháp nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động của các cấp bộ Đoàn trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, “Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ”. Qua đó, tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước, nuôi dưỡng hoãi bão, khát vọng vươn lên trong thanh thiếu niên “Chú trọng hơn giáo dục, đạo đức nhân cách năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ…”. Đồng thời, chăm lo, phát triển thanh thiếu niên và phát huy tinh thần xung kích, tình nguyện, sáng tạo của thanh niên tham gia phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội. Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII cần phải tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá, lòng yêu nước, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước; phát huy vai trò của thanh niên trong tham gia phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ, thúc đẩy học tập và sử dụng ngoại ngữ, công nghệ thông tin, tiên phong trong thực hiện chủ trương đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số; tham gia phát triển xã hội bền vững, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của thanh thiếu niên về đảm bảo quốc phòng, an ninh, xung kích tham gia bảo vệ Tổ quốc; chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng và bảo vệ trẻ em, thiếu niên, nhi đồng; nâng cao hiệu quả công tác quốc tế thanh niên; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên; xây dựng tổ chức Đoàn, Hội vững mạnh; nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng, giới thiệu đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét, kết nạp; chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ; tham gia tích cực vào hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tham vấn chính sách.

Để thực tốt các giải pháp hành động này, Các cấp ủy Đảng, thủ trưởng các cấp cần lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức Đoàn đưa ra các mục tiêu, nội dung, giải pháp thực hiện để triển khai một cách có hiệu quả nhất nhằm góp phần thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đã đề ra. Bên cạnh những giải pháp quan trọng, dài hạn tiếp tục được xác định trong  Văn kiện Đại hội XIII của Đảng và có bước phát triển, đã có nhiều nội dung mới, quan trọng trong công tác thanh niên được nhấn mạnh. Đó là “nuôi dưỡng hoài bão, khát vọng vươn lên; nêu cao tinh thần trách nhiệm của thanh niên đối với đất nước, với xã hội”; quan điểm phát triển thế hệ trẻ “lành mạnh, toàn diện, hài hòa cả về trí tuệ, thể chất và giá trị thẩm mỹ” và “Chăm lo nuôi dưỡng, giáo dục, bảo vệ thiếu niên, nhi đồng; dành những điều kiện tốt nhất, sự chăm lo chu đáo nhất cho trẻ em - tương lai của đất nước”.

Đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Lãnh tụ Hồ Chí Minh, sự nghiệp cách mạng Việt Nam hơn 92 năm qua đã giành được những thắng lợi to lớn mang tính bước ngoặt lịch sử. Qua Đại hội XIII của Đảng lại một lần nữa được khẳng định với các quan điểm, đổi mới toàn diện trong nhận thức. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và tuổi trẻ cả nước bày tỏ ý chí quyết tâm, bằng hành động cụ thể đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vì tương lai tươi sáng của thế hệ trẻ./.

Thứ Hai, 21 tháng 2, 2022

CẦN NHẬN THỨC ĐÚNG PHƯƠNG THỨC BẢO VỆ TỔ QUỐC GÓP PHẦN BẢO VỆ VỮNG CHẮC NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG HIỆN NAY

Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc ta qua hàng nghìn năm lịch sử. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là quy luật phát triển của cách mạng nước ta, là hai nhiệm vụ chiến lược của đất nước ta hiện nay. Vì vậy phải nhận thức và thực hiện phương thức kết hợp xây dựng và bảo vệ, lấy xây dựng để bảo vệ, đấu tranh không khoan nhượng với quan điểm sai trái bảo vệ vững chắc quan điểm của Đảng.

 Xây dựng chủ nghĩa xã hội là phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội để đất nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, nhân dân có cuộc sống tự do, hạnh phúc, một đất nước dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

 Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ công cuộc đổi mới, bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, bảo vệ nền văn hóa dân tộc, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Quan hệ giữa xây dựng chủ quyền xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là khách quan, tất yếu, thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo tiền đề, điều kiện cho nhau, cùng hướng tới một mục tiêu chung là độc lập, chủ quyền của đất nước, tự do, hạnh phúc của nhân dân.

Có bảo vệ được độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ mới có đất nước để xây dựng; có giữ vững môi trường hòa bình, ổn định mới có thể xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội đất nước;

Có bảo vệ được Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa mới có tiền đề, điều kiện để xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ nhân dân, bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo vệ nền văn hóa dân tộc là nghĩa vụ, trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, những người lãnh đạo, quản lý đất nước.

Đồng thời, ngược lại, có xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao sức mạnh tổng hợp, thế và lực, uy tín quốc tế của đất nước, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân mới có nguồn lực để đầu tư củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước; mới củng cố, tăng cường được sức mạnh của khối đoàn kết dân tộc, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc; tạo được sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế... Đây là những yếu tố có vai trò và ý nghĩa quyết định đối với phương thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Thứ Sáu, 11 tháng 2, 2022

CHỦ TỊCH NƯỚC NGUYỄN XUÂN PHÚC CHỦ TRÌ PHIÊN HỌP THỨ NHẤT BAN CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG ĐỀ ÁN TỔNG KẾT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 8 KHÓA XI

Sáng 10-2, tại Hà Nội, Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án tổng kết Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, tổ chức Phiên họp thứ nhất dưới sự chủ trì của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Trưởng ban Chỉ đạo xây dựng Đề án.

Dự họp có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Phạm Bình Minh, Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ; Đại tướng Phan Văn Giang, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an; Trương Thị Mai, Trưởng ban Tổ chức Trung ương; Phan Đình Trạc, Trưởng ban Nội chính Trung ương; Trần Tuấn Anh, Trưởng ban Kinh tế Trung ương; Đại tướng Lương Cường, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

Cùng dự có các đồng chí Bí thư Trung ương Đảng: Đỗ Văn Chiến, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Nguyễn Trọng Nghĩa, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; Bùi Thị Minh Hoài, Trưởng ban Dân vận Trung ương; Lê Minh Hưng, Chánh văn phòng Trung ương Đảng.

Dự họp còn có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Lê Hoài Trung, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương; Lê Khánh Hải, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước; Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thiếu tướng Lê Tấn Tới, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội.

Theo chương trình làm việc toàn khóa của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Hội nghị Trung ương 8 khoá XIII (tháng 10-2023) sẽ tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khoá XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Ngày 25-10-2021, Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 40-QĐ/TW thành lập Ban Chỉ đạo Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khoá XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, nhằm kiểm điểm, đánh giá toàn diện tình hình và kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khoá XI trong 10 năm qua; đồng thời đánh giá những ưu điểm, kết quả nổi bật, những hạn chế, yếu kém, nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm trong triển khai thực hiện nghị quyết; góp phần nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đến năm 2035 và những năm tiếp theo.

Để việc tổ chức tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI nghiêm túc, thực chất, thiết thực, đúng thời gian, theo nhiệm vụ được phân công, Thường vụ Quân ủy Trung ương chỉ đạo các cơ quan chức năng xây dựng các văn bản trình phiên họp lần thứ nhất, gồm: Quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo; Kế hoạch hoạt động của Ban Chỉ đạo; Hướng dẫn tổng kết Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI; Dự thảo Đề cương tổng kết Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI.

Về phạm vi, phương pháp, việc tổ chức tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khoá XI được thực hiện từ cấp huyện ủy, quận ủy tới tỉnh ủy, thành ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương.

Đối với Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, ngoài nội dung tổng kết theo hướng dẫn chung của Ban Chỉ đạo, nội dung tổng kết Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI gắn với thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.

Nội dung tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI sẽ tập trung đánh giá công tác giáo dục, quán triệt, tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết từ Trung ương đến các địa phương, các cấp, các ngành. Những chuyển biến trong nhận thức về nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng lực lượng vũ trang trong tình hình mới theo quan điểm của Đảng. Việc thể chế hóa nghị quyết thành luật pháp, cơ chế, chính sách; cụ thể hóa thành các chương trình, kế hoạch công tác ở các cấp, các ngành, các địa phương; công tác hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết tình hình thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI.

Phát biểu chỉ đạo tại phiên họp, cùng với đánh giá cao công tác chuẩn bị của Quân ủy Trung ương, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu Quân ủy Trung ương cần nghiên cứu, tiếp thu, tổng hợp các ý kiến tại cuộc họp để tiếp tục hoàn thiện các văn bản, trọng tâm là Dự thảo Đề cương tổng kết Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI.

Trong đó, phải nêu bật được những kết quả quan trọng trong quá trình thực hiện nghị quyết; khẳng định nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia-dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội tiếp tục được tổ chức thực hiện hiệu quả; nhận thức của các cấp, các ngành, cán bộ, đảng viên và nhân dân về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ngày càng được nâng lên.

Cùng với đó, đề cương tổng kết phải làm rõ những thành quả đạt được qua 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI, như: Tiếp tục giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh; xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; tiềm lực quốc phòng và an ninh được tăng cường; thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân được củng cố vững chắc; kết hợp hiệu quả quốc phòng với kinh tế; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đạt nhiều thành tựu nổi bật; chủ động, tích cực đấu tranh với các thế lực phản động, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa; khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được tăng cường...

Cùng với nêu bật những kết quả đã đạt được qua 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu nội dung tổng kết phải cập nhật, đánh giá cụ thể, sâu sát đặc điểm tình hình, chỉ rõ những nguy cơ tác động, ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong những năm tới, từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể để thực hiện hiệu quả nghị quyết những năm tiếp theo.

Bên cạnh việc lưu ý cần phân công nhiệm vụ cụ thể đối với các thành viên Ban Chỉ đạo và thành lập, kiện toàn tổ biên tập, Chủ tịch nước nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tổ chức hội nghị toàn quốc để quán triệt, thống nhất nội dung, phương pháp tổng kết ở các cấp. Đồng chí yêu cầu Quân ủy Trung ương tích cực, chủ động đôn đốc, kiểm tra, giúp đỡ các cấp, các ngành, các địa phương tiến hành tổng kết chặt chẽ, thiết thực, hiệu quả, đúng tiến độ, bảo đảm cho việc tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khoá XI tại Hội nghị Trung ương 8 khoá XIII đúng thời gian.

Thứ Hai, 30 tháng 8, 2021

BẢN LĨNH CỦA ĐẢNG ĐỂ TRỪ “GIẶC NỘI XÂM”

Gần một thế kỷ đã qua, mặc dù có lúc mắc sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng, có lúc rơi vào chủ quan duy ý chí, có lúc chưa nắm được quy luật khách quan... nhưng xuyên suốt lịch sử lãnh đạo nhân dân làm cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã luôn biết tự chỉ trích, nhận ra sai lầm, khuyết điểm, tự chỉnh đốn, đổi mới, tự vượt qua mọi trở lực khách quan và chủ quan để làm tròn nhiệm vụ của một đảng tiên phong, một đảng chân chính cách mạng. Về cơ bản, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ được vai trò là đội tiên phong chính trị của giai cấp và dân tộc, tiên phong cả trong lý luận cách mạng, trong đường lối chủ trương, trong quyết sách chính trị, trong chỉ đạo chiến lược và tiên phong gương mẫu trong hành động cách mạng, trong hy sinh anh dũng vì nền độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân.

Thời nào cũng có kẻ thù bên ngoài và bên trong. Thời nào cũng đều có ngoại xâm dưới hình thức này hay hình thức khác và luôn luôn bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi đâu, trong mỗi con người đều tiềm ẩn nội xâm. Nội xâm lúc này là tệ si mê quyền lực, vun vén lợi ích cá nhân, là chạy chức, chạy quyền, chạy tội là lợi dụng mọi sơ hở của cơ chế, chính sách, là lạm quyền, là thói vô trách nhiệm, là ô dù che chắn, là quan liêu, khinh thường kỷ cương phép nước, là cơ hội, tham nhũng, lãng phí, là ăn chơi xa đọa, là thói vô cảm trước vất vả, thiếu thốn, khó khăn của đồng bào, đồng chí... Nội xâm len lỏi vào hàng ngũ Đảng và Nhà nước... vào từng ngõ ngách xóm thôn, phường phố, cơ quan, công sở, vào từng gia đình, vào mọi tầng lớp và đến cả những người được đào tạo, có bằng cấp học vị, được giao chức trọng, quyền cao... Vì vậy, tính tiên phong của Đảng lúc này là phải có dũng khí, có bản lĩnh để dám trừ "giặc nội xâm" ở ngay trong mỗi đảng viên, cán bộ, tính tiên phong lúc này là sáng suốt trong các quyết sách chính trị, trong lãnh đạo, chỉ đạo phát huy sức mạnh tổng hợp, lòng yêu nước của toàn dân tộc, đặc biệt là làm tốt công tác tổ chức, kiểm tra, thực hiện đúng đắn chính sách dùng người. Tính tiên phong lúc này là dũng khí đấu tranh với đồng chí, đồng cấp, với cả cấp trên và cấp dưới vi phạm kỷ luật Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để trừ diệt mọi thói hư, tật xấu và tội lỗi. Tính tiên phong lúc này là làm trong sạch đội ngũ, là giáo dục, thuyết phục và trừng phạt công khai, công minh, bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đang sáng lên niềm tin và khát vọng của mọi người dân Việt Nam dù ở trong nước hay ở nước ngoài. Niềm tin và khát vọng ấy đang đặt lên vai những người vừa vinh dự được bầu vào cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng. Vinh dự càng cao, trách nhiệm càng lớn. Trách nhiệm và vinh dự của những chiến sĩ đi tiên phong trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân, trong cuộc đấu tranh cho hạnh phúc của xã hội. Mác vĩ đại đã dạy chúng ta rằng: “Hạnh phúc xã hội sản sinh ra lý trí chính trị”. Và đến lượt nó, lý trí chính trị của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đang đòi hỏi nâng cao chất lượng “đầu não” và “trái tim” của mỗi chúng ta.

Thứ Tư, 12 tháng 5, 2021

CẦN CÓ GIẢI PHÁP MANG TÍNH CHIẾN LƯỢC, LÂU DÀI

Chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, của chủ nghĩa đế quốc có mầm mống từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, khi mà chủ nghĩa đế quốc thừa nhận rằng đòn tiến công quân sự không thể tiêu diệt được các nước XHCN. Họ nhận thấy rằng, có thể thực hiện một cuộc tấn công hòa bình ngay trong lòng chủ nghĩa xã hội (CNXH) để làm sụp đổ các nước XHCN. Chính vì vậy, chủ nghĩa đế quốc đã nâng “diễn biến hòa bình” từ biện pháp hỗ trợ bổ sung cho hành động quân sự thành chiến lược toàn diện chống CNXH với mục tiêu là thủ tiêu CNXH hiện thực, xóa bỏ các nước XHCN. Để thực hiện mục tiêu này, họ xây dựng một lộ trình gồm các bước, các giai đoạn hết sức cụ thể để đến cuối thế kỷ XX, “chiến thắng không cần chiến tranh”. Trước đây, nhằm mục tiêu xóa bỏ CNXH hiện thực ở Liên Xô, các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây đã thực hiện lộ trình để từng bước làm tan rã về tư tưởng và tổ chức, về đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Liên Xô. Cụ thể là đã sử dụng “tam đoạn thức siêu vi trùng” với ba bước cơ bản: sửa chữa những sai lầm trong quá khứ; làm gay gắt thêm những sai lầm đó; cuối cùng là phá hoại. Kết quả là cuối năm 1991, Góoc - ba - chốp tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản Liên Xô, giải tán Liên bang Cộng hòa XHCN Xô-viết.

Ở nước ta hiện nay, các thế lực thù địch đã và đang thực hiện giai đoạn thâm nhập với những bước cụ thể như: 1) Thông qua các quan hệ hợp tác về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục - đào tạo,…tăng cường lôi kéo, mua chuộc đội ngũ cán bộ chủ chốt.Thủ đoạn này được gọi là “làm xanh hóa những cái đầu đỏ”. 2) Triển khai hoạt động hỗ trợ giáo dục - đào tạo trên diện rộng, trên nhiều lĩnh vực nhằm tạo ra một lớp người “thân” phương Tây, sùng bái chủ nghĩa tư bản, lớp người này dần dần thay thế lớp cán bộ mà phương Tây cho là “bảo thủ” ở Việt Nam. 3) Ra sức truyền bá tư tưởng, lối sống, văn hóa tư sản, đề cao chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân cực đoan, tạo ra một thế hệ mới lai căng, mất gốc, đua đòi, phủ nhận các giá trị truyền thống dân tộc… Có thể nói, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động xây dựng chiến lược và có lộ trình cụ thể để phá hoại sự nghiệp cách mạng của nước ta. 

Trước đây, trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng đường lối chiến lược, sách lược, cụ thể hóa đường lối chiến lược thành các chính sách cụ thể, các bước, các giai đoạn và chỉ đạo việc thực hiện nghệ thuật biết giành thắng lợi từng bước để đi đến thắng lợi cuối cùng. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã nhận thức sâu sắc rằng, đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng là một tất yếu, một quy luật sinh tồn. Do đó, Đảng ta đã có nhiều quan điểm, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, văn bản và tổ chức thực hiện vấn đề cốt yếu, sinh tử này.

Ngay trong thời kỳ 1930-1945, Đảng ta đã tiến hành đấu tranh với các phần tử Tờrốtski trong Đảng thông qua tác phẩm “Tờrốtski và phản cách mạng” của Hà Huy Tập, “Tự chỉ trích” của Nguyễn Văn Cừ. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1945-1975), trong điều kiện chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại âm mưu chống lại chủ nghĩa Mác - Lênin, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Đảng ta đã kiên trì bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin. Tháng 12/1963, Đảng ta ban hành Nghị quyết Trung ương 9 khóa III về “Tình hình thế giới và nhiệm vụ quốc tế của Đảng” để khẳng định lập trường kiên định và kiên quyết bảo vệ sự đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin. Từ năm 1986 đến nay, Đảng ta có nhiều văn bản nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch như: Nghị quyết Trung ương 7 khóa VI về "Một số vấn đề cấp bách về công tác tư tưởng trước tình hình trong nước và quốc tế hiện nay”, Nghị quyết 01 của Ban Chấp hành Trung ương khóa VII về “Công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay”; Nghị quyết 09 của Ban Chấp hành Trung ương khóa VII về “Một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay”; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; gần đây nhất là Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị về “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phê phán quan điểm sai trái, thù địch”. 

Tuy nhiên, việc cụ thể hóa các nghị quyết trên thành chiến lược đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thì chưa được quan tâm xây dựng sớm và tổ chức thực hiện. Chính vì vậy, trong nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, của các nhà nghiên cứu lý luận, các giải pháp đưa ra thiên về những vấn đề cụ thể trước mắt, dù đó là vấn đề cụ thể trước mắt cấp thiết, mà chưa có tính chiến lược, lâu dài để định hướng nhận thức và hành động, tầm nhìn trong thời gian dài, có ý nghĩa chỉ đạo, định hướng không chỉ cho giai đoạn trước mắt mà còn cho lộ trình dài hơi, trong khoảng thời gian một vài thập kỷ.

Thứ Ba, 16 tháng 3, 2021

ĐẨY MẠNH HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

Ngày 9-3, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Chỉ thị của Bộ Chính trị về việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Chỉ thị nhấn mạnh: Việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là công việc thường xuyên, phải được thực hiện một cách nghiêm túc, bài bản, khoa học trong suốt cả nhiệm kỳ. Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của năm 2021, là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng để mỗi cán bộ, đảng viên đều nắm vững và thực hiện đúng đắn, sáng tạo Nghị quyết của Đảng, tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng, sự đồng thuận cao trong nhân dân; cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là nhằm góp phần tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; uốn nắn những nhận thức lệch lạc; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Thứ Hai, 15 tháng 3, 2021

CHỈ THỊ CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ VIỆC NGHIÊN CỨU, HỌC TẬP, QUÁN TRIỆT, TUYÊN TRUYỀN VÀ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII CỦA ĐẢNG

Ngày 9-3, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Chỉ thị của Bộ Chính trị tới các cấp ủy, tổ chức đảng, các cấp, các ngành về việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Xin trân trọng giới thiệu toàn văn Chỉ thị.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã thành công rất tốt đẹp. Đại hội đã thông qua Nghị quyết và các văn kiện Đại hội (sau đây gọi chung là Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng). Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là sự tổng kết sâu sắc lý luận và thực tiễn, kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta; đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025; xác định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2030 và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045; có giá trị định hướng và lãnh đạo, chỉ đạo toàn bộ các hoạt động của Đảng, Nhà nước và xã hội. Để Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng được triển khai thực hiện nghiêm túc, đạt kết quả, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, các cấp, các ngành tập trung thực hiện tốt các nội dung sau:

1. Việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là công việc thường xuyên, phải được thực hiện một cách nghiêm túc, bài bản, khoa học trong suốt cả nhiệm kỳ. Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của năm 2021, là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng để mỗi cán bộ, đảng viên đều nắm vững và thực hiện đúng đắn, sáng tạo Nghị quyết của Đảng, tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng, sự đồng thuận cao trong nhân dân; cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là nhằm góp phần tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; uốn nắn những nhận thức lệch lạc; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

2. Các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, chủ trì và chịu trách nhiệm về chất lượng nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, xây dựng chương trình hành động của cấp ủy.

3. Nội dung nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng bao gồm: Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII; Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về các văn kiện Đại hội XIII của Đảng; Báo cáo chính trị; Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030; Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025; Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng khóa XII.

4. Công tác tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng phải được tiến hành khẩn trương, nghiêm túc, chất lượng; kết hợp tự nghiên cứu với nghe phổ biến, quán triệt; nhấn mạnh, làm rõ những vấn đề mới, cốt lõi; nêu cao trách nhiệm của báo cáo viên, người đứng đầu cấp uỷ trong báo cáo truyền đạt Nghị quyết, cũng như cán bộ, đảng viên trong học tập Nghị quyết, đặc biệt là sự nêu gương của cán bộ chủ chốt các cấp.

- Ban Bí thư Trung ương Đảng chủ trì tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc về nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Các tổ chức đảng có đủ điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật kết nối đường truyền thì mở điểm cầu tới cơ sở. Báo cáo viên là các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư khóa XIII đã trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng các văn kiện Đại hội XIII của Đảng hoặc được phân công theo lĩnh vực. Thời gian hoàn thành trong tháng 3-2021.

- Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, các cơ quan, đơn vị có liên quan tổ chức các hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cho lãnh đạo các cơ quan báo chí, xuất bản; lãnh đạo các hội văn học, nghệ thuật, hội khoa học, kỹ thuật và các văn nghệ sĩ, trí thức; đội ngũ giảng viên lý luận chính trị các học viện, các trường đại học, cao đẳng trong cả nước. Thời gian hoàn thành các hội nghị vào cuối quý II-2021. Hội nghị dành cho báo cáo viên nòng cốt của các cấp ủy trực thuộc Trung ương thực hiện trong quý I.

- Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương chỉ đạo tổ chức các hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cho từng đối tượng cụ thể, từ tỉnh tới cơ sở, những cán bộ, đảng viên chưa được tham gia học tập tại Hội nghị do Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức. Đồng chí bí thư cấp ủy, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trực tiếp làm báo cáo viên. Thời gian hoàn thành các hội nghị trong quý II-2021.

5. Sau đợt nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội, các cấp ủy, tổ chức đảng, các cấp chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội khẩn trương tiến hành xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng gắn với chức năng, nhiệm vụ, phù hợp với đặc điểm tình hình và điều kiện thực tế của địa phương, cơ quan, đơn vị, thể hiện sự quyết tâm, sáng tạo và bảo đảm tính khả thi, thiết thực, hiệu quả. Kết quả thực hiện chương trình hành động là cơ sở quan trọng để kiểm điểm, đánh giá tập thể cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị hằng năm và cả nhiệm kỳ. Thời gian hoàn thành chương trình hành động trong quý II-2021.

6. Công tác tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cần được tiến hành thường xuyên, toàn diện, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, phong phú, sinh động. Nội dung tuyên truyền tập trung về thành công của Đại hội, về những nội dung cốt lõi của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; nhận diện đầy đủ những cơ hội, thuận lợi và khó khăn, thách thức trong những năm tới; chú trọng đấu tranh phản bác các quan điểm lệch lạc, sai trái, thù địch và định hướng dư luận xã hội theo đúng phương châm "lấy xây làm chính", "lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực"; phản ánh kịp thời, đầy đủ, toàn diện việc triển khai thực hiện Nghị quyết tới các tầng lớp nhân dân trong nước và đồng bào ta ở nước ngoài để góp phần củng cố niềm tin, tạo sự đồng thuận trong thực hiện mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

7. Việc tổ chức Hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng phải kết hợp với thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị khác, đặc biệt là công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19, công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026, bảo đảm tính thiết thực, hiệu quả, an toàn.

8. Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng tham mưu Kế hoạch tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc của Ban Bí thư Trung ương Đảng về nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Hướng dẫn việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết; đồng thời theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Chỉ thị này và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư về chất lượng, hiệu quả nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Văn phòng Trung ương Đảng hướng dẫn về kinh phí phục vụ việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Ủy ban Kiểm tra Trung ương xây dựng Kế hoạch kiểm tra, giám sát việc tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Chỉ thị này phổ biến đến chi bộ.

Thứ Tư, 3 tháng 2, 2021

BỒI ĐẮP NIỀM TIN, TỰ HÀO VỮNG BƯỚC

Với tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng, trước nhân dân và đất nước, ngày 01/02/2021, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã bế mạc, kết thúc sớm hơn gần hai ngày so với kế hoạch đề ra.

Trong diễn văn bế mạc đại hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Đến giờ phút này, chúng ta có thể vui mừng báo cáo với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân rằng: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng ta đã thành công rất tốt đẹp!”.

Đại hội đã tập trung trí tuệ nghiên cứu, đánh giá, thảo luận, kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, đánh giá tổng quát tiến trình đổi mới, việc thi hành Điều lệ Đảng khóa XII; kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII; làm sáng rõ nhiều vấn đề lý luận từ thực tiễn cùng những thành tựu to lớn, những thách thức mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã vượt qua trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng và sau 35 năm đổi mới đất nước. Đại hội đã bàn và giải quyết nhiều vấn đề đang là đòi hỏi bức thiết trong công tác xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức, cán bộ và đời sống kinh tế-xã hội. Đại hội xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ 5, 10 năm tới và tầm nhìn đến năm 2045 với quyết tâm xây dựng nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo được sự đồng thuận cao trong Đảng và sự ủng hộ lớn của nhân dân, bạn bè quốc tế.

Trên tinh thần phát huy dân chủ, công tâm, khách quan, thực hiện đúng nguyên tắc, đúng quy định bầu cử, đại hội đã sáng suốt bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII với 200 ủy viên (trong đó có 20 ủy viên dự khuyết) là những đồng chí có bản lĩnh, trí tuệ, năng lực, trình độ, trách nhiệm cao trước Đảng, trước dân, đại diện cho hơn 5 triệu đảng viên, cùng cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng giữa hai kỳ đại hội dẫn dắt toàn dân tộc bước vào một chặng đường đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phát triển đất nước vững mạnh, hùng cường.

Đại hội XIII của Đảng thành công rất tốt đẹp, bởi Đảng ta đã đề ra yêu cầu và có kế hoạch chuẩn bị cho đại hội từ rất sớm. Các văn kiện trình đại hội được chuẩn bị công phu, chu đáo, bài bản. Công tác chuẩn bị nhân sự được Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện, thường xuyên, chặt chẽ, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, sự đoàn kết, thống nhất cao. Tổ chức đại hội nghiêm túc, trang trọng, thể hiện không khí dân chủ, đoàn kết, phấn khởi, tin tưởng; các mặt công tác bảo đảm cho đại hội được thực hiện tốt.

Thành công của đại hội đúng dịp kỷ niệm 91 năm Ngày thành lập Đảng càng có ý nghĩa chính trị và giá trị lịch sử to lớn, là minh chứng sâu sắc và rõ nét nhất cho bản lĩnh và trí tuệ của Đảng, của sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng; sự tin tưởng, đóng góp, kỳ vọng của nhân dân đối với Đảng; là niềm cổ vũ mạnh mẽ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tranh thủ thời cơ, thuận lợi, phấn đấu sớm đưa nước ta trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là kết tinh trí tuệ và sức sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Thời gian qua, hướng về Đại hội XIII của Đảng, các cấp, các ngành từ Trung ương tới địa phương đã đẩy mạnh các phong trào thi đua, chủ động khắc phục khó khăn, nỗ lực phấn đấu, có nhiều đổi mới, sáng tạo, lập nhiều thành tích, chiến công mới dâng lên Đảng. Để đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhanh chóng vào cuộc sống, ngay sau đây, các cấp ủy, tổ chức đảng cần phải quán triệt, phổ biến, tuyên truyền sâu sắc về kết quả đại hội, nội dung nghị quyết; xây dựng, triển khai chương trình, kế hoạch hành động phù hợp với đặc điểm tình hình, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị mình. Chủ động, nhạy bén nắm chắc thời cơ, phát huy dân chủ, đoàn kết vượt qua khó khăn, thách thức, khơi dậy ý chí, tiềm năng, nguồn lực trong thực hiện các định hướng, mục tiêu nhiệm vụ được đại hội xác định.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, nhiệm kỳ vừa qua, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng. Quân đội phát huy tốt vai trò nòng cốt trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu nạn, giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, góp phần nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, toàn quân nêu cao quyết tâm chính trị, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội; xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng, binh chủng tiến thẳng lên hiện đại, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu từ năm 2030 xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.


Thứ Tư, 18 tháng 11, 2020

BẾ MẠC KỲ HỌP THỨ X, QUỐC HỘI KHÓA XIV

Chiều 17-11, Quốc hội khóa XIV đã kết thúc kỳ họp thứ 10 sau gần một tháng làm việc với tinh thần khẩn trương, trách nhiệm, nghiêm túc và hiệu quả. Phát biểu bế mạc kỳ họp, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nhấn mạnh, kỳ họp đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra.

Cụ thể, kỳ họp đã: thông qua 07 luật, 13 nghị quyết, cho ý kiến 04 dự án luật; xem xét các báo cáo về kinh tế - xã hội, tài chính, ngân sách, kiến nghị của cử tri, công tác tư pháp, công tác phòng, chống tham nhũng và nhiều báo cáo khác; góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng…

“Kỳ họp đã tiếp tục khẳng định rõ tinh thần đoàn kết dân tộc, nghị lực, quyết tâm cao để đưa đất nước vượt qua giai đoạn khó khăn, nhanh chóng phục hồi kinh tế và phát triển bền vững” – Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nói.

Đáng chú ý, các dự án luật, dự thảo nghị quyết đã được Quốc hội thảo luận, xem xét kỹ lưỡng, toàn diện, thận trọng và thông qua với tỷ lệ tán thành cao; có ý nghĩa quan trọng, tác động đến nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội và cuộc sống của người dân, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra.

Mặt khác, hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại Quốc hội tuy diễn ra trong 2,5 ngày nhưng số lượt hỏi - đáp và tranh luận đã tăng lên đáng kể.

Qua phiên chất vấn cho thấy, các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền đã chủ động triển khai nhiều giải pháp, biện pháp để thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của Quốc hội, tạo chuyển biến thực sự trong các lĩnh vực đã được chất vấn, giám sát…

Ngoài ra, Quốc hội đã tiến hành công tác nhân sự bảo đảm chặt chẽ, đúng quy trình, thủ tục theo luật định và đạt được sự đồng thuận rất cao. Đồng thời, đã quyết định ngày chủ nhật 23-5-2021 là ngày bầu cử ĐBQH khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.

Sau kỳ họp này, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu Chính phủ, các cấp, các ngành cần khẩn trương triển khai thực hiện các luật, nghị quyết mới được Quốc hội thông qua; nhất là cần tích cực, chủ động rà soát, chuẩn bị các điều kiện để bảo đảm lộ trình thực hiện một số nội dung theo đúng quy định của Luật Bảo vệ môi trường và Luật Cư trú.

“Ngay sau bế mạc kỳ họp này, đề nghị các vị ĐBQH báo cáo kết quả kỳ họp, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của người dân, tìm hiểu, nắm bắt thực tiễn đời sống xã hội để kịp thời phản ánh, kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan hữu quan và hoàn thành tốt hơn nữa trọng trách của người đại biểu nhân dân từ nay đến hết nhiệm kỳ khóa XIV” – Chủ tịch Quốc hội yêu cầu.

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2020

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM, NHẬN THỨC SAI TRÁI VỀ PHƯƠNG THỨC “KẾT HỢP ĐỐI NGOẠI VỚI BẢO VỆ TỔ QUỐC GÓP PHẦN BẢO VỆ VỮNG CHẮC NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG

Kết hợp chặt chẽ giữa phương thức đấu tranh phi vũ trang với đấu tranh vũ trang khi cần thiết để “không bị động bất ngờ”; kết hợp xây dựng với bảo vệ, lấy xây dựng để bảo vệ; nhấn mạnh phương thức “phi vũ trang”, bảo vệ Tổ quốc từ xa, đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” và phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; cụ thể hóa quan điểm chủ động bảo vệ Tổ quốc từ thời bình, giữ nước từ lúc nước chưa nguy; phát triển, hoàn thiện quan điểm “tự bảo vệ” trong điều kiện mới. Vì vậy, cần phải nhận thức rõ và đấu tranh kiên quyết với những luận điệu sai trái, bảo vệ vững chắc quan điểm của đảng. Để thực hiện điều nêu trên, cần tập trung vào những nội dung chủ yếu sau đây:

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM, NHẬN THỨC SAI TRÁI VỀ PHƯƠNG THỨC BẢO VỆ TỔ QUỐC GÓP PHẦN BẢO VỆ VỮNG CHẮC NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG

Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc ta qua hàng nghìn năm lịch sử. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là quy luật phát triển của cách mạng nước ta, là hai nhiệm vụ chiến lược của đất nước ta hiện nay. Vì vậy phải nhận thức và thực hiện phương thức kết hợp xây dựng và bảo vệ, lấy xây dựng để bảo vệ, đấu tranh không khoan nhượng với quan điểm sai trái bảo vệ vững chắc quan điểm của Đảng.

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2020

GIỮ LÒNG TU Ố ĐỂ CHỮA “BỆNH VÔ CẢM” TRONG ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ CÁC CẤP

Minh triết phương Đông cho rằng, con người khác con vật ở tính người. Tính người có “bốn mối”, đó là lòng trắc ẩn (biết thương người), lòng từ nhượng (biết nhường người trên), lòng thị phi (biết phải trái) và lòng tu ố (biết xấu hổ, biết ghét điều xấu). Lòng tu ố là biểu hiện tính người, biết phân biệt đúng-sai, thiện-ác, chính-tà; biết cắn rứt lương tâm trước những việc làm không hợp đạo lý; biết tự trọng trước những danh lợi không đúng với bản thân mình. Ngược lại, người không còn giữ được lòng tu ố, ở cấp độ nhẹ thì mắc “bệnh vô cảm”, vô trách nhiệm, “mũ ni che tai” trước hiện thực cuộc sống; ở cấp độ nặng thì không còn liêm sỉ, làm việc xấu, trái đạo lý mà không hề biết thẹn.

Thứ Năm, 23 tháng 8, 2018

VIỆT NAM HIỆN NAY CÓ NHẤT THIẾT PHẢI THỰC HIỆN ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ, ĐA ĐẢNG ĐỐI LẬP?

Hiện nay trước việc quán triệt và thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng, đặc biệt là cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong một bộ phận cán bộ đảng viên và nhân dân của Đảng và nhân dân ta, các thế lực phản động, thù địch cho rằng chế độ một đảng là độc đoán, chuyên quyền nên dẫn đến tham nhũng, lãng phí… Vì vậy, Việt Nam nhất thiết phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì mới có dân chủ, thì đất nước mới phát triển.
Đây là quan điểm hoàn toàn sai trái phản động vì: Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đã cho thấy, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử, là ý nguyện của toàn thể nhân dân. Đảng Cộng sản Việt nam ra đời vừa tuân theo quy luật chung, vừa tuân theo quy luật lịch sử đặc thù của Việt Nam, giải quyết được cuộc khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc. Vào những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu XX, cả nước ta chìm trong lầm than nô lệ của thực dân Pháp. Nhiều phong trào yêu nước đã xuất hiện tuy thể hiện được ý chí quật cưường xả thân vì độc lập dân tộc, nhưng đều rơi vào bế tắc về đường lối. Trong bối cảnh đó dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin Đảng ta được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh tổ chức rèn luyện và lãnh đạo đã lãnh đạo cách mạng việt Nam tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc trong điều kiện vô cùng khó khăn gian khổ và đã giành được độc lập dân tộc bằng cách mạng tháng Tám năm 1945, tiếp theo đó là lãnh đạo cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược thu giang sơn về một mối. Trong những năm tháng gian khổ đó của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, tuyệt nhiên không có một đảng phái chính trị nào chia sẻ những khó khăn gian khổ với Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều đó cũng khẳng định rằng chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam mới đủ sức đảng đương và lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng.
Bước vào thời kỳ hòa bình hàn gắn vết thương chiến tranh ổn định và khôi phục đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân ta đã vượt qua mọi khó khăn thiếu thốn sau chiến tranh, hăng say lao động sản xuất hàn gắn lại những vết thương do chiến tranh để lại để từng bước phát triển đi lên trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và chúng ta đã thu được nhiều thành tựu quan trọng. Trong những giai đoạn khó khăn đó cũng tuyệt nhiên không có một đảng phái chính trị nào gánh vác trách nhiệm cùng Đảng Cộng sản việt Nam trên con đường khôi phục đất nước.
Trong điều kiện hiện nay trước xu thế hội nhập, mở cửa để phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam đã kịp thời thực hiện đường lối đổi mới trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thực hiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Đường lối đó đã phát huy tốt hiệu quả, dưới sự lãnh đạo của Đảng đất nước ta đã dần thoát khỏi tình trạng nước nghèo kém phát triển vươn lên một cách ngoạn mục. Đời sống nhân dân từ chỗ đói ăn nay đã vươn lên có cuộc sống khá giả, tình hình chính trị – xã hội luôn ổn định, vị thế đất nước trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.
Tuy nhiên trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường thì mặt trái của nó cũng tác động không nhỏ đến nhiều mặt của đời sống xã hội, trong đó tác động tiêu cực đến cả một bộ phân cán bộ đảng viên dẫn đến tình trạng tham nhũng, lãng phí, suy thoái về mặt chính trị, tư tưởng, một số cán bộ đảng viên đã tự diến biến, tự chuyển hóa. Đây chính là cơ hội để các thế lực phản động, thù địch lợi dụng chống phá, là lý do để chúng đưa ra quan điểm Việt Nam phải thực hiện đan nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Nhận thức rõ những thách thức đó, Đảng ta đã nghiêm túc kiểm điểm và đưa ra các biện pháp đấu tranh rất quyết liệt để đẩy lùi nghững nguy cơ đó. Thực tế qua việc quán triệt và thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 và các nghị quyết khác của Đảng kết quả thu được là rất to lớn, tình trạng suy thoái tự diến biến, tự chuyển hóa cùng tình trạng tham nhũng lãng phí đã dần được khắc phục. Dưới sự lãnh đạo cương quyết đúng đắn của Đảng đất nước tiếp tục có bước phát triển nhanh và bền vững trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, nòng tin của nhân dân đối với Đảng được nâng cao.
Những kết quả đạt được đó cho thấy chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay mới đủ sức, đủ điều kiện để lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi lên trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tất cả mọi quan điểm cho rằng Việt Nam cần thực hiện đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập đều là sai lầm và đều dẫn dắt dân tộc ta đi vào con đường rối rắm, tan rã như một số nước trong khu vực và trên thế giới hiện nay./.

Thứ Hai, 7 tháng 5, 2018

MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN TỐT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4 KHÓA XII

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã chỉ ra những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đây là những biểu hiện hết sức nguy hiểm nó hàng ngày, hàng giờ tác động làm suy yếu Đảng, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, là cái cớ để kẻ thù lợi dụng chống phá cách mạng nước ta. Vì vậy để đấu tranh phòng, chống những biểu hiện suy thoái trên, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII cần tập trung vào các giải pháp sau:
Một là, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức trong toàn Đảng về ý nghĩa, vị trí, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có kế hoạch học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ về mọi mặt.
Hai là, tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, nhất là những mô hình mới, kinh nghiệm hay, khuyến khích phát tiển tư duy lý luận phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng.
Ba là, đổi mới nội dung, hình thức nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng, thực hiện tốt tự phê bình và phê bình.
Bốn là, chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể sát với tình hình, xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái.
Năm là, hoàn thiện quy chế về kỷ luật phát ngôn đối với cán bộ, đảng viên, xử lý nghiêm những cá nhân, tổ chức lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc để tuyên truyền, xuyên tạc làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng và Nhà nước.
Sáu là, hoàn thiện quy định về tổ chức bộ máy và công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo đảm sự trong sạch vè chính trị trong nội bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược của Đảng.
Bảy là, xây dựng quy định xử lý những tập thể, cá nhân suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Cuối cùng, các cấp ủy, chính quyền phải nhận thức sâu sắc, quán triệt và thực hiện nghiêm Quyết định số 217 - QĐ/TW về quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội./.

Thứ Tư, 13 tháng 9, 2017

Để kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế quốc dân như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5, khóa XII

Một là, đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, bộ, ngành và chính quyền địa phương theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân. Đơn giản hoá, rút ngắn thời gian xử lý các thủ tục hành chính, nhất là về thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, cấp phép, thuế, xuất khẩu, nhập khẩu, giải quyết tranh chấp, tố tụng, xét xử, thi hành án, phá sản,… Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa dịch vụ hành chính công để tiết kiệm thời gian, chi phí thực hiện các thủ tục hành chính cho người dân và doanh nghiệp. Phát triển các kênh tiếp nhận kiến nghị, phản ánh, thắc mắc, khiếu nại, tố cáo; đồng thời tăng cường cơ chế đối thoại có hiệu quả giữa cơ quan quản lý nhà nước với người dân, doanh nghiệp nhằm nắm bắt và xử lý kịp thời các nhu cầu, nguyện vọng, vướng mắc liên quan đến kinh tế tư nhân.  
Hai là, về tạo nguồn nhân lực cho khu vực kinh tế tư nhân cần đổi mới căn bản, toàn diện và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, nhất là đào tạo nghề, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng đủ nhu cầu số lượng và chất lượng nhân lực cho phát triển kinh tế tư nhân. Tăng cường hợp tác, liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo; quy hoạch và phát triển đào tạo theo nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp và thị trường.
Ba là, khuyến khích, hỗ trợ kinh tế tư nhân đầu tư vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển, ứng dụng, chuyển giao công nghệ tiên tiến. Áp dụng chính sách thuế, hỗ trợ tài chính, tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi phù hợp với hoạt động nghiên cứu, đổi mới, hiện đại hóa công nghệ. Kết nối doanh nghiệp, ý tưởng khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo với các nhà đầu tư, quỹ đầu tư. Đồng thời, phát triển đa dạng và nâng cao chất lượng các sản phẩm, dịch vụ bảo hiểm để góp phần giảm thiểu rủi ro, tổn thất và ổn định sản xuất, kinh doanh, đời sống của người dân và doanh nghiệp.
Bốn là, có cơ chế, chính sách tạo điều kiện để kinh tế tư nhân tích cực tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Hỗ trợ kinh tế tư nhân tiếp cận, khai thác các cơ hội trong hội nhập quốc tế, mở rộng thị trường, đẩy mạnh đầu tư và thương mại quốc tế; xóa bỏ các rào cản bất hợp lý đối với kinh tế tư nhân khi tham gia thương mại, đầu tư quốc tế.
Năm là, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra, trách nhiệm giải trình của các bộ, ngành, chính quyền địa phương các cấp đối với việc chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm không làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, quyền lợi của người lao động và tạo gánh nặng tâm lý đối với người dân và doanh nghiệp.
Để kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Cần quán triệt và thực hiện quan điểm, chủ trương, giải pháp mà Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII đã xác định. Chỉ khi thực hiện có hiệu quả quan điểm, chủ trương chỉ đạo của Đảng thì mới khắc phục những hạn chế, bất cập trong thực hiện phát triển kinh tế tư nhân những năm qua; vừa tạo những đột phá mới về môi trường và điều kiện thuận lợi cho phát triển tương xứng với vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam đang diễn ra sâu rộng, mạnh mẽ hiện nay.