Hiển thị các bài đăng có nhãn giàu mạnh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn giàu mạnh. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2022

ĐẤU TRANH VÌ MỘT NƯỚC VIỆT NAM HÒA BÌNH, ĐỘC LẬP, THỐNG NHẤT, DÂN CHỦ VÀ GIÀU MẠNH LÀ KHÁT VỌNG CỦA MỌI NGƯỜI DÂN VIỆT NAM YÊU NƯỚC CHÂN CHÍNH

Thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, thì không có việc dùng "chiêu bài chống thực dân, đế quốc" và "chiêu bài giải phóng miền Nam" để tiến hành cuộc trường chinh kháng chiến dài 30 năm (1945-1975) như những quy chụp hồ đồ, xuyên tạc, mà chỉ có một sự thật lịch sử:

Đó là, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn; đã thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh đạo nhân dân Việt Nam đoàn kết "muôn người như một" trong Mặt trận dân tộc thống nhất, rộng rãi để tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mùa Thu năm 1945; đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; đồng thời đưa những "thần dân", những người nô lệ xứ An Nam thuộc Pháp trở thành chủ nhân của nước Việt Nam độc lập, tự do.

Đó là, trước dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, của đế quốc Mỹ và để bảo vệ nền độc lập, tự do đã giành được; để thực hiện tâm nguyện của đồng bào và chiến sĩ cả nước về một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất trong bối cảnh vận mệnh đất nước như "ngàn cân treo sợi tóc", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hứa: "Vì yêu mến và tin cậy tôi, mà đồng bào giao vận mệnh nước nhà, dân tộc cho tôi gánh vác. Phận sự tôi như một người cầm lái, phải chèo chống thế nào để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt khỏi những cơn sóng gió, mà an toàn đi tới bến bờ hạnh phúc của nhân dân".

Đồng thời, Người đã cùng Trung ương Đảng bình tĩnh, sáng suốt phân tích tình hình, kịp thời đề ra đường lối đúng đắn và những biện pháp khôn khéo để từng bước giải quyết nạn đói, phát triển kinh tế, văn hóa; tiêu diệt nạn dốt; tổ chức thành công tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I, soạn thảo và thông qua Hiến pháp 1946; đồng thời tiến hành nhiều hoạt động đối ngoại khẩn cấp (ký Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 và Tạm ước 14/9/1946…), góp phần kéo dài thêm một khoảng thời gian hòa bình quý giá cho việc chuẩn bị tinh thần và lực lượng của dân tộc khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) theo Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946 sau đó!

Đó là, hòa bình, độc lập, tự do và thống nhất đất nước không chỉ là khát vọng ngàn đời của mỗi một quốc gia, dân tộc mà đó còn là quyền thiêng liêng nhất, là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của quốc gia, dân tộc đó trong cộng đồng thế giới. Vì thế, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi (1945-1954), khi đế quốc Mỹ cam tâm phá hoại Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Đông Dương (20/7/1954), chia rẽ hai miền Nam, Bắc; nhất là khi vĩ tuyến 17, Cầu Hiền Lương, sông Bến Hải, Luật 10/59, chính sách “tố cộng, diệt cộng”, dồn dân lập ấp chiến lược, đàn áp, bắt bớ, tù đầy và ngăn cản sự thống nhất Bắc - Nam được Mỹ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm thực thi ở miền Nam, thì một “địa ngục trần gian” ở miền Nam có thể chia cắt đất nước ta về không gian và thời gian, song đã không thể chia cắt ý chí và niềm tin của cả dân tộc về một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ!

Thực tế, đến cuối năm 1958 đầu năm 1959, cách mạng miền nam đứng trước những thử thách ác liệt. Kẻ thù đã giết hại, giam cầm 93.362 cán bộ, đảng viên (7/1955 - 2/1956); riêng ở Nam Bộ, chúng đã giết hại khoảng 68.000 cán bộ, đảng viên, bắt 446.000 người (1955- 1958)… Cho nên, đứng trước tình hình và nhiệm vụ cách mạng mới, nhằm duy trì và phát triển phong trào cách mạng, đáp ứng đòi hỏi bức xúc của cán bộ, đảng viên, của đồng bào yêu nước miền Nam và cũng là đòi hỏi cấp bách của lịch sử, Hội nghị lần thứ 15(mở rộng, từ ngày 12-22/1/1959) đã nhận định: "Cách mạng Việt Nam do Ðảng ta lãnh đạo bao gồm hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Hai nhiệm vụ chiến lược đó tuy tính chất khác nhau nhưng quan hệ hữu cơ với nhau, song song tiến hành, ảnh hưởng sâu sắc lẫn nhau, trợ lực mạnh mẽ cho nhau nhằm phương hướng chung là giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội".

Thực hiện Nghị quyết 15 và sau đó là Nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng (9/1960) cùng nhiều Nghị quyết chuyên đề khác, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cứu nước của nhân dân ta từng bước giành được thắng lợi, tiến tới cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Thứ Ba, 23 tháng 3, 2021

KHÁT VỌNG XÂY DỰNG CUỘC SỐNG ẤM NO, GIÀU MẠNH, PHỒN VINH, HẠNH PHÚC

Chúng ta còn nhớ, ngay sau khi thống nhất đất nước, hòa bình lập lại, đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng về kinh tế – xã hội. Nhân dân rơi vào cảnh đói khổ, thiếu thốn, ly tán, tha hương. Khát vọng trong thời kỳ này một cuộc sống ấm no, xã hội yên bình.

Năm 1986 đến những năm đầu tiên của thế kỷ XXI, từ một nước khủng hoảng, trì trệ, hàng hóa, vật phẩm tiêu dùng khan hiếm, đời sống các tầng lớp nhân dân gặp nhiều khó khăn, chúng ta đã thực hiện được khát vọng đưa Việt Nam thành một nước năng động, phát triển, chuyển đổi thành công sang cơ chế quản lý kinh tế mới, có mức tăng trưởng kinh tế cao, liên tục trong nhiều năm. Từ một quốc gia kém phát triển, ảnh hưởng nặng nề bởi nhiều năm chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã từng bước khẳng định uy thế, vai trò, vị thế của mình trên trường quốc tế.

Một dân tộc yêu chuộng hòa bình, có khát vọng cường thịnh mạnh mẽ, đã phải vượt qua thời kỳ chiến tranh liên miên, thời kỳ đói khổ sau chiến tranh, thời kỳ khủng hoảng kinh tế xã hội… Giờ đây, khát vọng đặt ra từ Đại hội XIII của Đảng là dân tộc Việt Nam phải bứt phá vươn lên, cất cánh. Các nội dung của Đại hội XIII thể hiện đường hướng và kỳ vọng sẽ đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới với khí thế mới, sức bật mới và một lộ trình rõ ràng.

Có hai điểm nhấn mạnh hơn của Đảng về phát triển đất nước trong bối cảnh mới đó là: Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và đổi mới sáng tạo. Khát vọng thịnh vượng được khơi dậy mạnh mẽ hơn, truyền cảm hứng tới mỗi người dân Việt Nam với mục tiêu khát vọng rõ nhất là làm cho mọi người dân được hạnh phúc, đất nước phồn vinh.

Nhớ lại lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Thư gửi cho Thầy và trò ngay ngày độc lập đầu tiên từ năm 1945 là dân tộc Việt Nam phải bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu. Đến thời điểm này, chúng ta tự hào khẳng định đất nước đang có được những điều kiện để thực hiện mục tiêu đó. Mục tiêu đến năm 2045, nước ta là nước phát triển, bình quân đầu người đạt 15 nghìn USD trở lên, sánh vai với năm châu cường quốc.

Có thể thấy, từ một nước nghèo và lạc hậu, Việt Nam đã tích cực hội nhập quốc tế, vươn lên trở thành hình mẫu phát triển kinh tế – xã hội, được thế giới ghi nhận và đánh giá cao. Tiếng nói của Việt Nam không còn là tiếng nói nhỏ bé nữa mà đã tham gia trực tiếp giải quyết các vấn đề mang tầm vóc thế giới. Vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế đã được khẳng định, thể hiện rõ nhất là chúng ta được bầu vào vào vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc với số phiếu gần như tuyệt đối; Chủ tịch luân phiên ASEAN và một loạt các vị trí quan trọng trên các diễn đàn quốc tế khác.

Hiện tại, với những thành tựu thần kỳ trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị xã hội và nhất là thành công trong phòng chống đại dịch Covid-19, Việt Nam đang trở thành mảnh đất “thiên đường” nhiều người nước ngoài mơ ước được sinh sống.