Hiển thị các bài đăng có nhãn hạnh phúc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hạnh phúc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 19 tháng 5, 2023

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH VỀ Ý CHÍ TỰ LỰC, TỰ CƯỜNG, KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC PHỒN VINH, HẠNH PHÚC

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về ý chí tự lực, tự cường và khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc là sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

I. Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về ý chí tự lực, tự cường và khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc

Thứ nhất, về ý chí tự lực, tự cường

Một là, ý chí tự lực, tự cường là không phụ thuộc vào lực lượng bên ngoài, có quan điểm độc lập trong quan hệ quốc tế. Nguyễn Ái Quốc cho rằng, cách mạng ở các nước thuộc địa (trong đó có Việt Nam) hoàn toàn có thể chủ động giành thắng lợi, không phụ thuộc việc cách mạng ở chính quốc có thắng lợi hay không. Nguyễn Ái Quốc nêu rõ quyết tâm, ý chí, phương pháp cách mạng, thể hiện sâu sắc quan điểm tự lực, tự cường trong đấu tranh cách mạng: “Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”(1).

Hai là, ý chí tự lực, tự cường là phải nhận thức rõ sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Hồ Chí Minh khẳng định, nhân tố mang tính quyết định của cách mạng giải phóng dân tộc chính là sức mạnh của toàn dân tộc.

Trong tác phẩm Đường Kách mệnh (năm 1927), Người viết: “Chỉ ước ao sao đồng bào xem rồi thì nghĩ lại, nghĩ rồi thì tỉnh dậy, tỉnh rồi thì đứng lên đoàn kết nhau mà làm cách mệnh”(2). Nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” nhưng “phải củng cố tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân ta và nhân dân các nước bạn, nhân dân Pháp, nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới”. Người nhấn mạnh vấn đề có tính nguyên tắc: “Muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”(3).

Ba là, ý chí tự lực, tự cường là sự chủ động, chuẩn bị mọi mặt các điều kiện của cách mạng.

Theo Hồ Chí Minh, điều kiện trước hết là phải có một Đảng cách mệnh, “để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững, cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”(4).

Cương lĩnh chính trị đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh đấu tranh giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa đế quốc thực dân và chế độ phong kiến đã suy tàn, thực hiện mục tiêu chiến lược: “Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”, “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(5).

Sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, ngày 28/1/1941, lãnh tụ Hồ Chí Minh trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Tại Hội nghị Trung ương 8, Người cùng Trung ương Đảng quyết định những vấn đề lớn của cách mạng như hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, xử lý đúng đắn đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp, lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp, quyết tâm giành cho được độc lập dân tộc.

Bốn là, ý chí tự lực, tự cường là đặc biệt chú trọng phát huy vai trò, sức mạnh của nhân dân.

 Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, “nhân dân” là phạm trù cao quý nhất. Người nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(6). Người khẳng định, dân khí mạnh thì binh lính nào, súng ống nào cũng không địch nổi. “Nếu lãnh đạo khéo thì việc gì khó khăn mấy và to lớn mấy, nhân dân cũng làm được”(7).

Trong Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa, Người nêu rõ: “Hỡi đồng bào yêu quý! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta... Chúng ta không thể chậm trễ. Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!”(8). Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”(9). Trong Lời kêu gọi “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” ngày 17/7/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã nêu rõ: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”(10).

Năm là, ý chí tự lực, tự cường là quyết tâm bảo vệ và giữ vững nền độc lập dân tộc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyết tâm bảo vệ và giữ vững độc lập dân tộc, “nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, “không có gì quý hơn độc lập tự do”, thể hiện rất rõ khi Tổ quốc bị lâm nguy, khi dân tộc phải đương đầu với những kẻ thù có sức mạnh kinh tế - quân sự vào hàng cường quốc thế giới, chống lại âm mưu áp đặt chế độ áp bức, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc thực dân.

Ngay sau khi nền độc lập ra đời, đất nước ta đã phải chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến không thể tránh khỏi. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(11).

 

Thứ hai, về khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Một là, xây dựng, phát triển đất nước giàu mạnh, cường thịnh, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài. Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, mang lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Tư tưởng của Người đã được nhấn mạnh tại Đại hội II của Đảng (1951): Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, phú cường. Người nhiều lần nhắc nhở: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(12). Người đặc biệt chú trọng việc nâng cao dân trí, phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước giàu mạnh. “Nay chúng ta đã giành được quyền độc lập. Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí”(13). Trước lúc đi xa, trong Di chúc Người bày tỏ điều mong muốn cuối cùng, cũng là khát vọng tột bậc: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(14).

Hai là, thực hiện khát vọng đất nước giàu mạnh, cường thịnh trong điều kiện Đảng cầm quyền, xây dựng chế độ mới, mưu cầu hạnh phúc, ấm no cho nhân dân. Hồ Chí Minh ngay từ khi ra đi tìm đường cứu nước đã mang khát vọng lớn lao: Độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho đồng bào. Người khẳng định: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(15). Cả cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh hiến dâng trọn vẹn cho cách mạng, chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân.

Ba là, xây dựng nền tảng kinh tế vững chắc, thực hiện một cách có kế hoạch với sự đồng lòng của Chính phủ và người dân.

Hiện thực khát vọng đất nước phồn vinh, hạnh phúc theo tư tưởng Hồ Chí Minh là phải xây dựng chế độ chính trị dân chủ, tiến bộ, thật sự vì dân, xây dựng đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội văn minh, tiến bộ với những giá trị đạo đức tốt đẹp. Muốn vậy, phải xây dựng nền tảng kinh tế vững chắc, có kế hoạch thực hiện với sự đồng lòng của Chính phủ và người dân.

Ngay trong phiên họp đầu tiên của Ủy ban ngày 10/1/1946, Hồ Chí Minh phát biểu mong muốn mọi người đem tài năng tri thức lo bồi bổ về mặt kinh tế và xã hội. Làm cho dân có ăn. Làm cho dân có mặc. Làm cho dân có chỗ ở. Làm cho dân có học hành.

Bốn là, phát huy tối đa nội lực dân tộc, tranh thủ ngoại lực, có chính sách mở cửa, thu hút đầu tư nước ngoài.

Vấn đề nội lực dân tộc là một điểm quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người chỉ rõ “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Hồ Chí Minh cho rằng, việc mở cửa, hợp tác quốc tế không chỉ nhằm mục đích nhận được sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, mà thông qua đó thu hút ngoại lực, thu hút đầu tư, tạo ra những điều kiện phát huy tiềm năng của đất nước, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân.

Năm là, luôn xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của đất nước, vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn để đưa ra những quan điểm, chủ trương phù hợp; không giáo điều, máy móc trong học tập kinh nghiệm của nước khác.

Theo Hồ Chí Minh, xây dựng, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa đòi hỏi Việt Nam phải có cách làm, bước đi và biện pháp thích hợp. “Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác... ta có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội”(16). Chúng ta dùng lập trường, quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác - Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩa thích hợp với tình hình nước ta (17).

II. Học tập và làm theo Bác, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc

Thực tiễn cách mạng nước ta từ khi có Đảng, nhất là thực tiễn hơn 35 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng đã thể hiện một cách sinh động ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc ta. Đại hội XIII của Đảng đã xác định các quan điểm chỉ đạo công cuộc đổi mới hiện nay, trong đó nhấn mạnh: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hoá, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực... thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”(18).

Trên tinh thần đó, tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nâng cao tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường dân tộc, khát vọng cống hiến, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và người dân, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và nhiệm vụ cách mạng trong các giai đoạn lịch sử.

Để việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong thời gian tới đi vào chiều sâu, chất lượng, thiết thực, cần tập trung làm tốt ba nội dung: Học tập, làm theo Bác và nêu gương của cán bộ, đảng viên, cần thực hiện đồng bộ 8 giải pháp chủ yếu sau:

Một là, cần nhận thức sâu sắc, thấm nhuần tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Coi đây là công việc thường xuyên, không thể thiếu đối với mỗi cán bộ, đảng viên. Nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về nội dung, giá trị và ý nghĩa to lớn của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Học tập và làm theo Bác để Đảng ta và mỗi đảng viên xứng đáng với vai trò, sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam và sự tin cậy của nhân dân.

Hai là, các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể đưa nội dung làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào chương trình, kế hoạch hành động thực hiện nghị quyết của đảng bộ cấp mình, gắn với nhiệm vụ chính trị . Kết hợp chặt chẽ giữa học tập với làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi địa phương, đơn vị và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; giải quyết hiệu quả các khâu đột phá và các vấn đề trọng tâm, bức xúc trong thực tiễn.

Ba là, đẩy mạnh tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước, lôi cuốn sự vào cuộc của toàn xã hội. Đẩy mạnh tuyên truyền, gắn việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước của các cấp, các ngành, nhằm lan tỏa, khơi dậy tinh thần cống hiến, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí tự cường và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc và tự giác thực hiện bổn phận, trách nhiệm của bản thân, gắn bó chặt chẽ, liên hệ mật thiết với nhân dân, “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”, thực hiện có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội. Nghiên cứu tổ chức cuộc vận động “Toàn Đảng, toàn dân khơi dậy khát vọng phát triển đất nước”, với quyết tâm “sánh vai với các cường quốc” như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bốn là, nêu cao trách nhiệm nêu gương trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về ý chí, tự lực, tự cường dân tộc, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh trong cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Đề cao việc phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, trước hết là các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng theo phương châm cán bộ có chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, khẳng định vai trò lãnh đạo, tính tiên phong, gương mẫu “trên trước, dưới sau”, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Mỗi cán bộ, đảng viên cần phát huy vai trò nêu gương trong xây dựng ý chí, khát vọng phát triển của bản thân và của cơ quan, đơn vị. Mỗi cán bộ, đảng viên tự nêu gương sáng, hàng triệu đảng viên là những tấm gương sáng, toàn Đảng ta sẽ thực sự trong sạch, vững mạnh, gắn bó máu thịt với nhân dân. Đây là điều kiện tiên quyết để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong Đảng và xã hội.

Năm là, nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức cách mạng phù hợp với điều kiện mới, làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự giác tu dưỡng, rèn luyện. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, nêu cao bản lĩnh chính trị, đấu tranh có hiệu quả với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, cơ hội, cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, mất đoàn kết nội bộ, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, nâng cao ý thức tu dưỡng, “nói đi đôi với làm”, “rèn luyện suốt đời”, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa”.

Sáu là, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, theo hướng khoa học, sáng tạo, hiện đại và gắn lý luận với thực tiễn, phù hợp với từng đối tượng. Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới.

Bảy là, nâng cao tính khoa học, tính chiến đấu trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị. Chủ động thông tin kịp thời, chính xác, khách quan, đúng định hướng chính trị để cán bộ, đảng viên và nhân dân tích cực đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Tám là, coi trọng công tác kiểm tra, giám sát. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm cho việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả thực chất. Phát huy vai trò giám sát của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí và nhân dân đối với cán bộ, đảng viên trong thực hiện nêu gương./.

___

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2011, t.1, tr. 209.

(2) (3) (4) Hồ Chí Minh: Sđd, t.2, tr. 283, 320, 289.

(5) (8) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 3, tr.1, 596.

(6) (16) Hồ Chí Minh: Sđd, t.10, tr.453, 391.

(7) Hồ Chí Minh: Sđd, t.12, tr. 492.

(9) (11) (12) (13) (15) Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr. 534, 534, 64, 40, 187.

(10) (14) Hồ Chí Minh: Sđd, t.15, tr.131, 624.

(17) Hồ Chí Minh: Sđd, t.11, tr.92.

(18) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.1, tr.110.


Thứ Hai, 6 tháng 12, 2021

NGUY CƠ PHAI NHẠT BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC

“Văn hóa còn thì dân tộc còn” là khẳng định hết sức đúng đắn về vị trí và vai trò của văn hóa trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc, đồng thời là một trong những yếu tố mà từ khi ra đời, tổ chức, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến nay, Đảng ta luôn luôn cùng toàn dân nỗ lực bảo đảm, phát triển. Tuy nhiên, thời gian gần đây đã và đang xuất hiện một số hiện tượng có thể đẩy tới nguy cơ phai nhạt bản sắc văn hóa dân tộc đòi hỏi cần được kịp thời chấn chỉnh.

Qua những chặng đường lịch sử của dân tộc, từ quá trình dựng nước, giữ nước đến xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, dù trải qua nhiều biến động, thăng trầm nhưng chúng ta luôn hướng đến một nền văn hóa lấy con người làm trung tâm, và xây dựng nền văn hóa của dân, do dân, vì dân. Khi lãnh đạo dân tộc tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập và xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ nhận thức, nắm bắt các vấn đề mới của thực tiễn mà Đảng Cộng sản Việt Nam luôn bổ sung nội dung mới cho khái niệm văn hóa, để văn hóa luôn “soi đường cho quốc dân đi” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định.

Từ năm 1943, “Đề cương văn hóa” của Đảng đã nêu lên ba yếu tố then chốt, là mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam là dân tộc - đại chúng - khoa học. Vì thế, từ quá trình vận động, tuyên truyền, giác ngộ quần chúng làm nên Cách mạng tháng Tám năm 1945, thành lập Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đến trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, chúng ta đã xây dựng được vị trí tiên phong của nền văn hóa văn nghệ chống đế quốc, phong kiến trên phạm vi toàn thế giới trong thời đại ngày nay như Đảng ta tổng kết. Đó chính là di sản lớn lao thấm đẫm mồ hôi và máu của bao lớp đồng chí, đồng bào đi trước mà thế hệ hôm nay và mai sau phải giữ gìn, phát huy; cũng là kế tục xứng đáng các giá trị cốt lõi của truyền thống anh hùng, đầy tính nhân văn đã được cha ông xây dựng từ hàng nghìn năm trước, và trao lại cho chúng ta.

Có thể thấy, khi đề ra đường lối phát triển văn hóa Việt Nam, dù trong giai đoạn nào, hoàn cảnh nào, chiến tranh hay hòa bình, Đảng ta cũng luôn đề cao tính dân tộc. Và nổi lên là bản sắc văn hóa dân tộc với những giá trị văn hóa tốt đẹp của tổ tiên, ông cha phải được giữ gìn, phát huy. Có thể coi đây chính là “tấm căn cước” để mỗi người Việt Nam hội nhập với thế giới. Văn hóa còn thì dân tộc còn là ở đó. Hòa nhập song không hòa tan cũng ở đó. Truyền thống tốt đẹp khi biết giữ gìn và phát huy không hề mâu thuẫn, đối lập với đổi mới, tiến bộ, hiện đại. Bởi, trong tổng hòa nguồn lực để xây dựng văn hóa hôm nay, có các giá trị được cha ông tạo dựng từ quá khứ.

Tuy vậy nhìn vào bối cảnh hiện tại, dù chúng ta đã làm được rất nhiều điều tốt đẹp cho xã hội - con người, thì vẫn phải thẳng thắn nói rằng vẫn còn có không ít biểu hiện “lệch chuẩn” văn hóa đáng băn khoăn, trăn trở. Đó là những biểu hiện lệch lạc, nông cạn trong nhận thức về văn hóa của một bộ phận xã hội, thậm chí có người còn quan niệm văn hóa chỉ là “cờ đèn kèn trống, đóng đinh leo thang”, múa may, hát xướng… Ngay trong đội ngũ người làm công tác văn hóa không hẳn ai cũng hoàn toàn thấm nhuần trong cả nhận thức và hành động để đáp ứng phát triển văn hóa là phải phát triển toàn diện, thống nhất trong sự đa dạng, thấm đậm tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, nội lực quan trọng để phát triển đất nước.

Vì thế vẫn xảy ra tình trạng còn coi nhẹ văn hóa, đặt văn hóa thấp hơn kinh tế. Hệ quả là trong khi đạt nhiều mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đời sống vật chất vượt trội so với trước đây, nhưng ở một số nơi, trong một số trường hợp, đạo đức, văn hóa xã hội lại bị xuống cấp nghiêm trọng, chủ nghĩa cá nhân bành trướng, không ít cán bộ, đảng viên suy thoái, biến chất, phai nhạt lý tưởng, coi thường kỷ luật, tham ô, lãng phí…

Hiện thực xã hội hiện nay đang đan xen các mảng sáng - tối, tốt - xấu hết sức phức tạp. Bên cạnh rất nhiều tấm gương tốt đẹp, giàu lòng vị tha, thiện tâm, khi có thiên tai, dịch bệnh sẵn sàng chia sẻ với đồng bào theo tinh thần “lá lành đùm lá rách”, “một miếng khi đói bằng một gói khi no”, “thương người như thể thương thân”, chung tay cùng đất nước, chính quyền để vượt qua mọi khó khăn… lại có một số người ích kỷ, tham lam, lợi dụng dịch bệnh để trục lợi. Lối sống thực dụng cực đoan như một thứ dịch bệnh đang nguy cơ lan rộng trong xã hội, nhất là lớp trẻ.

Trong khi đó nghệ thuật dường như lại quá coi trọng chức năng giải trí. Có thời điểm trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng phải gióng lên hồi chuông báo động về một số cuốn sách chạy theo thị hiếu thấp kém, phản văn hóa. Ở đó, nhân danh cách tân, đổi mới, một số người ca tụng lối viết bí hiểm, rắc rối, tù mù, đánh đố… Thái độ sùng ngoại biểu hiện song song với việc chê bai, bỉ bôi, hạ thấp văn học truyền thống. Nguy hại hơn là coi thường, công kích các giá trị tiêu biểu của nghệ thuật kháng chiến, hoặc mượn chữ nghĩa văn chương để bôi lem, làm xấu hình ảnh một số anh hùng, danh nhân của đất nước.

Với một số người, nghệ thuật không chỉ là phương tiện, mà còn là “vũ khí” tấn công quá khứ. Không phải không có hiện tượng “hai mặt” trong văn nghệ sĩ hiện nay. Đã xuất hiện hiện tượng, nghệ thuật, thu mình vào “cái tôi” đơn độc, riêng biệt, duy nhất, và phai nhạt sự gắn bó sâu sắc với công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc có tầm vóc rộng lớn, phong phú; dẫn đến tình trạng xa rời dân tộc và đời sống của nhân dân... Đương nhiên, hội nhập là vươn tỏa ra nhân loại, nhưng lan tỏa thế nào vẫn phải đặt trên mẫu số chung là dân tộc - nơi nghệ sĩ là thành viên, là nguồn cội - nơi nghệ sĩ sinh ra, trưởng thành. Đồng bào, chiến sĩ yêu quý văn nghệ sĩ bởi khi soi vào tác phẩm, họ thấy có bóng dáng, tâm hồn mình, niềm vui được nhân lên, nỗi buồn được chia sẻ…

Do đó, cùng với việc khuyến khích, cổ vũ, nâng đỡ các sáng tác nghệ thuật có tính thể nghiệm, cũng nên chú ý tới nguy cơ đoạn tuyệt với nguồn mạch văn hóa dân tộc để rồi cóp nhặt, bắt chước, lai căng vô lối, nhố nhăng. Cũng phải nhắc đến tình trạng đó đây, thuần phong mỹ tục của dân tộc bị lãng quên, bị coi thường, thậm chí bị xâm hại. Đến cả một số di sản văn hóa quý báu của dân tộc cũng chưa được bảo tồn gìn giữ cẩn trọng dẫn tới bị xuống cấp, hay hủy hoại. Có công trình đưa vào trùng tu, phục chế sau khi làm xong người ta không còn nhận ra được đường nét, màu sắc xưa cũ bởi sự đắp điếm, tô vẽ tùy tiện, cẩu thả…

Nghệ thuật không thể tồn tại nếu mất gốc rễ văn hóa dân tộc. Không thể có một nền nghệ thuật đứng ngoài văn hóa dân tộc. Đáng lo ngại là trong khi nghệ thuật Việt Nam đang vắng bóng, thiếu hụt các tác phẩm có giá trị tư tưởng - nghệ thuật sâu sắc, hấp dẫn, xứng đáng với chiều kích, tầm vóc công cuộc đổi mới của đất nước; thì lại xuất hiện nhiều tác phẩm làng nhàng, nhợt nhạt; những chương trình truyền hình ồn ào, vô bổ; những bộ phim dễ dãi, lê thê cùng sự khen chê, định giá tù mù, cánh hẩu, bè phái, cơ hội. Ngay cả sách giáo khoa cũng phơi bày không ít sỏi sạn, một số ngữ liệu, dữ liệu đưa vào chương trình dạy cho học sinh còn thiếu chọn lọc kỹ càng, buộc dư luận phải lên tiếng mạnh mẽ, nhưng nơi có trách nhiệm lại chậm sửa chữa, thay đổi.

Trên mạng xã hội, trong đời sống cộng đồng đang tồn tại không ít “nọc độc” hoặc xu hướng, nguy cơ có thể gây nguy hại cho văn hóa dân tộc. Một ca sĩ nước ngoài bỗng nhiên được không ít bạn trẻ coi là “thần tượng”, mê muội tung hô thái quá, thậm chí hôn cả ghế “thần tượng” đã ngồi! Còn có cả “thánh chửi” trên mạng xã hội được một bộ phận thanh niên tán dương rầm rộ. Tại sao lại có các hiện tượng đó? Phải chăng đời sống văn hóa tinh thần đang tồn tại lỗ hổng ở nhiều nơi, từ truyền thông, báo chí, chương trình biểu diễn,… đến gia đình, nhà trường, xã hội?...

Khó có thể liệt kê, kiểm đếm hết những biểu hiện “lệch chuẩn” văn hóa nhưng vẫn có thể nói rằng sự “lệch chuẩn” ấy là mối nguy hại không hề nhỏ của đất nước, của dân tộc. Đó là một thứ vi-rút gây hại cho đời sống văn hóa tinh thần của xã hội, cần phải ngăn chặn, bài trừ. Văn hóa Việt Nam cần phải tỏa sáng bởi những giá trị tốt đẹp của kết hợp sự tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại.

Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ, sự giao lưu, kết nối giữa con người với con người, giữa dân tộc với nhân loại có thể diễn ra dễ dàng, cái hay cũng dễ thấy nhưng điều dở cũng dễ lây. Bởi vậy văn hóa cần được trang bị bộ lọc tinh diệu để “gạn đục khơi trong” như lời dạy cổ nhân. Chưa lúc nào văn hóa cần phải nâng cao sức đề kháng như bây giờ. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, văn hóa là của mọi người, vì vậy công tác văn hóa không chỉ là nhiệm vụ của những người công tác trong lĩnh vực văn hóa.

Ở đâu có hoạt động của con người ở đó có văn hóa. Vì thế điều trước tiên trong nhận thức của mọi cấp, mọi ngành, của mọi người cần phải hiểu đúng, hiểu sâu về vai trò, vị trí của văn hóa trong đời sống xã hội. Văn hóa cũng là môi trường sống cho nên không thể và không bao giờ được phép đánh đổi văn hóa để lấy kinh tế. Nhận thức đúng, tư duy đúng sẽ hành động đúng. Xây dựng văn hóa là xây dựng đất nước, xây dựng tương lai, xây dựng hạnh phúc cho nhân dân.

Văn hóa là chân - thiện - mỹ, là cái đẹp ngàn xưa, cái đẹp hôm nay, cái đẹp mai sau của dân tộc Việt Nam. Xã hội càng trong sạch thì cơ hội phát triển vững mạnh càng lớn. Một xã hội vừa tuân thủ nghiêm kỷ cương, luật lệ vừa coi trọng văn hóa, đạo đức là một xã hội tốt đẹp. Đấy là thước đo trình độ phát triển văn minh của một đất nước, một xã hội.

Đó cũng là điều kiện tiên quyết tạo nên hạnh phúc cho nhân dân. Đường lối phát triển văn hóa của Đảng luôn lấy con người làm trung tâm. Điều này hoàn toàn phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân mà toàn Đảng, toàn dân đang nỗ lực phấn đấu, thực hiện. Bất luận trong hoàn cảnh nào, chúng ta vẫn cần phải xác định xây dựng xã hội phát triển lành mạnh, xây dựng con người tiến bộ, phát triển hài hòa, sống nhân nghĩa,… là mục tiêu, động lực của văn hóa .

Nhà thơ NGUYỄN HỮU QUÝ

Thứ Năm, 2 tháng 12, 2021

ĐỒNG TIỀN, QUYỀN LỰC VÀ SỰ THOÁI HÓA

Phát biểu trước đội ngũ cán bộ, đảng viên, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng đặt câu hỏi: “Tiền bạc lắm làm gì, chết có mang đi được đâu. Danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất”. Câu hỏi đặt ra là tại sao khi đã lên đến những đỉnh cao về chức vụ, quyền lực và tiền bạc thì không thiếu, mà không ít cán bộ vẫn liều lĩnh thực hiện các hành vi phạm pháp? Ma lực nào đã thúc đẩy họ?

Các vị từng là Ủy viên Trung ương Đảng, bộ trưởng, bí thư, chủ tịch UBND thành phố, một số người từng là anh hùng… vì dính vào tham nhũng, tiêu cực mà phải ngồi tù sẽ sống những năm tháng còn lại của cuộc đời trong dằn vặt, tủi hổ. Vậy, tại sao họ đánh đổi hoặc có thể nói là bán những thứ quý giá mà mình đang có, trong đó quan trọng nhất là danh dự, sự tôn trọng của xã hội đối với mình để lấy tiền?

Trong nền kinh tế thị trường, đồng tiền có sự chi phối rất lớn. Nền kinh tế càng phát triển thì vai trò của đồng tiền, giá trị của đồng tiền và sức hút của đồng tiền cũng ngày càng lớn hơn. Dân gian ta lan truyền câu cửa miệng: “Cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng rất nhiều tiền”. Nhưng có thật tiền sẽ mua được mọi thứ? Và một xã hội tốt đẹp có nên để xảy ra tình trạng tiền mua được mọi thứ?

Giáo sư người Mỹ Michael J.Sandel đã đặt ra câu hỏi này trong cuốn: “Tiền không mua được gì?” (What money can’t buy?). Trong xã hội Mỹ-điển hình của một xã hội tư bản đề cao giá trị đồng tiền, Michael J. Sandel vẫn nhìn thấy những thứ mà không thể và không nên dùng tiền để mua. Ông viết: “Có những điều tốt đẹp trong cuộc sống sẽ bị xói mòn, bị hư hỏng nếu chúng bị coi là hàng hóa. Vì vậy, để xác định xem thị trường có thể tồn tại ở đâu, cái gì nên tránh xa thị trường thì chúng ta phải tìm ra cách thức đánh giá giá trị một số thứ, như: Sức khỏe, giáo dục, cuộc sống gia đình, tự nhiên, nghệ thuật, trách nhiệm công dân… Chúng đều là những vấn đề mang tính đạo đức và chính trị chứ không chỉ đơn thuần là kinh tế”.

Michael J.Sandel đã đề cập đến vấn đề đạo đức của đồng tiền, hay chính xác là đạo đức khi sử dụng đồng tiền. Bởi theo ông: “Cuộc tranh luận này (cuộc tranh luận về khía cạnh đạo đức của đồng tiền - PV) không hề tồn tại trong kỷ nguyên tôn vinh thị trường. Hậu quả là khi không nhận biết được vấn đề, không bao giờ nghĩ đến chuyện tranh luận về chúng, từ chỗ có một nền kinh tế thị trường, chúng ta đã trượt sang trạng thái trở thành một xã hội thị trường”. Cũng theo tác giả người Mỹ: “Nền kinh tế thị trường là một công cụ đáng giá và hiệu quả, giúp chúng ta tổ chức được hoạt động sản xuất. Còn xã hội thị trường là một phương thức sống mà trong đó, các giá trị thị trường thâm nhập vào mọi ngóc ngách của cuộc sống con người. Chúng ta muốn một nền kinh tế thị trường hay một xã hội thị trường? Làm sao chúng ta xác định được hàng hóa nào được phép mua bán, còn hàng hóa nào phải chịu sự chi phối của các giá trị phi thị trường? Chỗ nào không nên có vai trò của đồng tiền?”.

Như thế, đồng tiền chi phối xã hội, ảnh hưởng tới cách nghĩ, cách ứng xử và đạo đức xã hội là câu chuyện mà con người ở mọi quốc gia đều có thể cảm nhận được. Thế nhưng, tùy vào văn hóa xã hội và thể chế chính trị mà cách giải quyết vấn đề này rất khác nhau.

Chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và đang áp dụng ngày càng đầy đủ hơn các quy luật, nguyên tắc của kinh tế thị trường. Nếu không có “định hướng XHCN”, thì các đặc điểm kinh tế thị trường của chúng ta cũng giống như nền kinh tế thị trường của các quốc gia trên thế giới. Phần “định hướng XHCN” vì thế rất quan trọng để hạn chế mặt trái của đồng tiền. Nhưng định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường là thứ mà chúng ta phải tốn nhiều công sức để thiết kế, định hình, nó bao gồm cả yếu tố thể chế và đạo đức.

Trong khi đó, mặt trái của kinh tế thị trường vẫn đang tác động hằng ngày, hằng giờ tới mỗi con người. Nền kinh tế càng phát triển thì lưu lượng tiền tệ trong nền kinh tế càng lớn và ý muốn dùng tiền để mua mọi thứ nếu không được phân tích, chỉ ra mặt trái, nếu không được kiểm soát thì có thể dần trở thành điều hiển nhiên của cuộc sống. Hệ lụy của nó là xã hội sẽ dần biến chất, đến mức những giá trị chuẩn mực đạo đức, nhân văn mang tính truyền thống của dân tộc, mang bản chất của xã hội XHCN sẽ bị thách thức. Ví như gần đây, chúng ta thấy có những ý kiến đòi phải công nhận mại dâm như một nghề chính thức trong xã hội, phải đóng thuế. Để giải quyết vấn đề này, chúng ta cần phải xác định rõ xem nhân phẩm của người phụ nữ có phải là thứ có thể mang ra mua bán, trao đổi hay không? Truyền thống văn hóa của chúng ta, bản chất xã hội XHCN của chúng ta có chấp nhận được việc mua bán đó không?…

Nếu ta để đồng tiền quyết định mọi vấn đề thì sẽ dẫn tới hệ lụy là người làm chính sách, nhà quản lý có thể hy sinh mọi thứ vì phát triển kinh tế. Vì phát triển kinh tế, chúng ta có thể hy sinh môi trường sống, vì kinh tế ta có thể hủy hoại cả nền văn hóa truyền thống của dân tộc, vì đồng tiền ta có thể hy sinh sức khỏe, vì đồng tiền ta có thể hy sinh các mối quan hệ trong gia đình… Để rồi cuối cùng, chúng ta sẽ không biết rõ mình là ai! Phát triển kinh tế, làm giàu kiểu như vậy thì thể hiện sự tàn phá hạnh phúc hơn là kiến thiết hạnh phúc.

Thứ Năm, 13 tháng 5, 2021

LẤY HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN LÀ MỤC ĐÍCH TỐI THƯỢNG GẮN LIỀN VỚI LỢI ÍCH QUỐC GIA DÂN TỘC TRONG XU THẾ HỘI NHẬP QUỐC TẾ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Quan điểm cơ bản nhất của phương pháp luận Hồ Chí Minh chính là câu nói đanh thép của Người trong cuốn sách Đường Cách mệnh (1927): Cách mệnh! Cách mệnh! Cách mệnh! Hiểu rộng ra, đó là cuộc đấu tranh kiên cường và bền bỉ nhằm xóa chế dộ áp bức, bóc lột, thiết lập chế độ không có áp bức, bóc lột. Con người, nhân dân, các dân tộc làm chủ vận mệnh của mình, xóa bỏ nghèo nàn và lạc hậu, đem lại ánh sáng, tự do và hạnh phúc của con người.

Quan điểm dân sinh và triết lý nhân sinh trong chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh đã trở thành quan điểm, triết lý cho phương pháp luận cách mạng Hồ Chí Minh. Tất cả vì cuộc sống ngày một cao đẹp cho mỗi con người và cho cả cộng đồng xã hội. Theo Hồ Chí Minh, con người không thể mưu cầu hạnh phúc nếu chỉ biết trông đợi sự ban phát, hay sự hỗ trợ từ bên ngoài mà phải bắt tay hành động để tự mình giành lấy hạnh phúc cho chính mình và cho mọi người. Chỉ có cải tạo xã hội và thực hiện tiến bộ xã hội con người mới hoàn thiện được chính bản thân mình, thực hiện được ước mơ, mục đích và lý tưởng của mình. Trong suốt cuộc đời đấu tranh của mình, Hồ Chí Minh đã tiến hành đấu tranh không mệt mỏi, cống hiến không tiếc sức mình cho độc lập dân tộc, cho tự do và hạnh phúc của nhân dân. Ngay cả khi từ biệt thế giới này để đến với thế giới người hiền, Hồ Chí Minh vẫn lấy làm tiếc vì không còn được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa. Suốt cuộc đời phục vụ, mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân nhưng với bản thân Người, Người không hề đòi hỏi bất cứ điều gì cho riêng mình. 

Một điểm đặc sắc trong tư duy phát triển bền vững của Hồ Chí Minh còn là khởi đầu và kết thúc mọi vấn đề đều từ con người và gắn con người với mối quan hệ đầu tiên là gia đình. Ngay từ tháng 1/1959, trong bài nói chuyện tại Hội nghị thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm khẳng định: “Rất quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý đến hạt nhân cho tốt”. Trong vấn đề gia đình, Người đặc biệt quan tâm xây dựng văn hóa gia đình, xem văn hóa gia đình là một trong những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển bền vững của gia đình và xã hội Việt Nam, vì theo Người đó là cội nguồn của hạnh phúc con người. 

Hiện nay, sau gần 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, trên nền tảng lý luận về gia đình của Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam càng nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của gia đình với tư cách là “tế bào” vững chắc của xã hội, là môi trường lành mạnh để xây dựng nguồn lực con người; coi văn hóa gia đình và xây dựng gia đình văn hóa là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020. Vị trí, vai trò của gia đình, nhất là văn hóa ngày càng được khẳng định và các gia đình Việt Nam ngày càng “khỏe mạnh” hơn để giữ vững vai trò là nền tảng xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo đà cho Việt Nam “cất cánh” nhanh và bền vững. 

Chính vì vậy, một trong những điểm mới của văn kiện Đại hội XIII lần này là quán triệt tinh thần đổi mới sáng tạo, khơi dậy giá trị con người Việt Nam, tranh thủ cách mạng công nghiệp lần thứ 4, vì một “Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc”. Yếu tố “hạnh phúc” là một điểm nhấn trong các văn kiện lần này. Điều này đã trở lại đúng tinh thần phương pháp luận cách mạng, nhân văn Hồ Chí Minh.

Thứ Năm, 29 tháng 4, 2021

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC KHÁT VỌNG VÀ QUYẾT TÂM CỦA CẢ DÂN TỘC VỀ MỘT NƯỚC VIỆT NAM THỐNG NHẤT

Từ bao đời nay, một nước Việt Nam độc lập, tự do, thống nhất luôn hiển hiện trong trái tim mỗi người dân Việt Nam yêu nước chân chính. Tổ quốc Việt Nam giản dị và thân thương chính là khoảng trời, vùng biển, đảo, biên giới thiêng liêng thấm đẫm máu xương của tiền nhân, của các vị anh hùng dân tộc và các thế hệ cha anh. Vì thế, đã có biết bao cuộc khởi nghĩa, có biết bao cuộc đấu tranh anh dũng, kiên cường, không quản máu xương, mồ hôi, nước mắt…; không quản thời gian, trường kỳ bao tháng năm. Và cũng vì thế, khi đất nước đắm chìm trong đêm trường nô lệ, khi mỗi người dân của xứ An Nam thuộc địa dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp không còn được thụ hưởng quyền cơ bản của một con người thì người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc ra đi tìm đường giành lại độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào.

Người đã tìm ra con đường để dân tộc Việt Nam được độc lập, nhân dân Việt Nam được tự do

Trên hành trình bôn ba tìm đường cứu nước qua nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ ở nhiều châu lục, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, khảo nghiệm và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin; đã lựa chọn con đường cứu nước đúng đắn theo Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Từ đó, Người đã nỗ lực hoạt động trong thực tiễn và lý luận để không chỉ khẳng định vai trò, vị trí của cách mạng thuộc địa, tính chủ động của cách mạng ở các thuộc địa mà còn khơi dậy, cổ vũ và phát huy sức mạnh đoàn kết của nhân dân các thuộc địa trong sự nghiệp đấu tranh để giải phóng dân tộc mình, giai cấp mình và chính bản thân mình.

Đồng thời, Người còn sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam; cổ vũ, động viên và tập hợp các tầng lớp nhân dân trong các hình thức mặt trận dân tộc thống nhất, trong các đoàn thể chính trị, các tổ chức hội phù hợp với yêu cầu từng giai đoạn cách mạng để nhân nguồn sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc, tạo dựng và tích bồi nguồn sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân nhằm "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta".

Trân trọng giá trị và ý nghĩa của độc lập, tự do; thấu hiểu sâu sắc rằng, độc lập, tự do, hạnh phúc cho tất cả mọi người và con người được giải phóng hoàn toàn để vươn tới cái tất yếu của tự do chính là đích đến của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định "chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản", để "Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập", "Dân chúng được tự do tổ chức", "Nam nữ bình quyền"…

Từ một sự lựa chọn đúng đắn đó và kiên định con đường đã lựa chọn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo quần chúng nhân dân phát huy sức mạnh của lòng yêu nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để từng bước đấu tranh để giành lại cho độc lập, tự do. Ngày 28/1/1941, trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng cả nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương thứ 8 (5/1941): quyết định thay đổi chiến lược cách mạng, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu; đồng thời, thành lập Mặt trận Việt Minh, tập hợp "lực lượng cách mạng toàn cõi Đông Dương, không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư bản bản xứ, ai có lòng yêu nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất mặt trận, thu góp toàn lực đem tất cả ra giành quyền độc lập, tự do cho dân tộc"…

Rõ ràng là, thắng lợi vĩ đại của cuộc cách mạng mùa Thu năm 1945 chính "là hoa là quả của bao nhiêu máu đã đổ, bao nhiêu tính mạng đã hy sinh của những người con anh dũng Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập trung, trong những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường”[3]. Vì thế, đó không chỉ là hiện thân khát vọng của một dân tộc Việt Nam muốn được độc lập, con người Việt Nam muốn được sống trong tự do, được thụ hưởng những quyền con người cao cả nhất mà còn khẳng định quyết tâm, thành quả sự phấn đấu, hy sinh của biết bao thế hệ người Việt Nam yêu nước.

Bởi thế, 6 chữ quý giá Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ghi dưới quốc hiệu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hiện thân khát vọng của toàn dân tộc. Đó đồng thời là sự hiện thực hóa tâm nguyện "tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu” của Nguyễn Ái Quốc từ thập niên 1920; là tinh thần và ý chí của cả dân tộc “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ" trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và niềm tin chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do" mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc vào mùa Xuân năm 1975.

Nhân dân Việt Nam kiên trì đấu tranh vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập và thống nhất

Trân trọng giá trị của độc lập, tự do, nhân dân Việt Nam không chỉ kiên trì trong cuộc trường chinh chống Mỹ, cứu nước mà còn tiếp tục xây dựng một nước Việt Nam đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn. 46 năm sau khi miền Nam được giải phóng, cả nước thống nhất, cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, có thể thấy những thành tựu của Việt Nam trong hơn 1/3 thế kỷ qua không chỉ được truyền thông của Việt Nam đánh giá, khẳng định mà còn được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Giá trị của độc lập, tự do, của một quốc gia thống nhất và những quyền làm người cao cả của mỗi công dân được thực thi ở Việt Nam thông qua chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước; được quy định trong Hiến pháp và hệ thống pháp luật ngày càng được điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện cho thấy những luận điệu xảo trá của những đối tượng nhân danh yêu nước, dân chủ, những kẻ phản động, cố tình xuyên tạc rằng: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta là cuộc nội chiến giữa một bên là chính quyền Sài Gòn và một bên là chính quyền Hà Nội, được Liên Xô, Trung Quốc và phe xã hội chủ nghĩa giúp đỡ; là quân dân miền Bắc cầm súng sát hại đồng bào ở miền Nam; là Đảng Cộng sản Việt Nam không biết trân trọng giá trị của độc lập, tự do thực sự… chính là âm mưu phản động của thế lực thù địch.

Những luận điệu xuyên tạc sự thật, bẻ cong sự thật đó chính là sự phủ nhận lố bịch của những kẻ vô ơn, bội nghĩa với chính khát vọng về một nước Việt Nam độc lập, thống nhất và tinh thần, ý chí, máu xương của cả dân tộc kiên trì đấu tranh chống lại sự xâm lược thống trị của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai; chống lại chính sách độc tài và tàn bạo đối với đồng bào miền Nam như Luật 10/59, lập ấp chiến lược với phương châm “giết sạch, đốt sạch, phá sạch”…; với một cuộc chiến tranh hủy diệt hết sức tàn bạo, biến Việt Nam thành chiến trường đẫm máu, phải hứng chịu một lượng bom đạn lớn chưa từng thấy trên thế giới…

Những luận điệu xuyên tạc sự thật, bẻ cong sự thật đó chính là sự vu khống Đảng Cộng sản Việt Nam và những người đảng viên cộng sản Việt Nam; đặc biệt là xuyên tạc giá trị và bản chất câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” ngày 17/7/1966 và quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam và toàn thể nhân dân Việt Nam cùng sự chi viện hết lòng, hết sức của quân dân miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Thực tế, ở Việt Nam không bao giờ có hiện trạng "sau khi cướp chính quyền và lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân để đánh Pháp thành công, nhân danh chủ nghĩa tam vô họ đã cướp đoạt độc lập và tự do từ tay nhân dân"; cũng lại càng không có việc "nhân danh “độc lập” và “tự do”, họ cho họ cái quyền xâm lược để chiếm đoạt nốt độc lập và tự do của muôn triệu người khác ở miền Nam" như các thông tin xấu độc của những người mang trong mình ảo tưởng về chế độ Việt Nam cộng hòa thuở nào/của những người ôm mối hận vì không được tự do vô chính phủ chống phá Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tung lên mạng xã hội mỗi khi tháng Tư đến…

Thực tế, lịch sử Việt Nam hiện đại ghi nhận rằng, ở Việt Nam chỉ có một sự thật là, để thực hiện khát vọng giải phóng miền Nam dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai, cả nước đã đồng thời tiến hành 2 nhiệm vụ chiến lược: 1) Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc để miền Bắc trở thành hậu phương lớn, chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam; 2) Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước. Hai nhiệm vụ chiến lược ấy có quan hệ mật thiết với nhau và có tác dụng thúc đẩy lẫn nhau.

Kiên định đấu tranh vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và tự do, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đã giành thắng lợi. Miền Nam đã được giải phóng, Tổ quốc Việt Nam đã thống nhất, đồng bào Nam - Bắc đã sum họp một nhà! Cả nước chung niềm tin và khát vọng về một nước Việt Nam ngày càng phát triển phồn thịnh, nhân dân Việt Nam được sống trong độc lập, tự do, hạnh phúc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Sự thật là vậy và sự thật này là không thể phủ nhận, cũng giống như không thể phủ nhận, càng không thể xuyên tạc khát vọng và niềm tin chân lý: Nước Việt Nam là một. dân tộc Việt Nam là một. Đồng bào Nam Bộ là máu của máu, là thịt của thịt Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn. Song chân lý đó không bao giờ thay đổi mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định.

Sự thật là, chiến thắng lịch sử mùa Xuân 1975 đã tạo cơ sở cho cả dân tộc Việt Nam có thêm bản lĩnh, niềm tin để vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới để xây dựng đất nước ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Vì thế, chỉ có những người không biết trân trọng độc lập và tự do; không hiểu đúng bản chất của độc lập và tự do mới vi phạm pháp luật Việt Nam, để tự mình hủy đi quyền được độc lập, tự do của chính mình. Chỉ có những người luôn ảo tưởng về "thiên đường độc lập, tự do" vô vọng trong quá khứ mới suy nghĩ và hành động sai để "vượt biển tìm tự do" và "sống vật vờ như chết ở bên lề xã hội", bởi đó không phải là tự do mà là vũng vẫy trong bóng đêm quá khứ!.

Mọi người Việt Nam yêu nước chân chính đều hiểu đúng giá trị của độc lập, tự do và hạnh phúc vì được sống trong một đất nước hòa bình, độc lập, tự do, thống nhất. Chỉ có những người ‘lạc dòng’ cùng hội cùng thuyền với thế lực phản động, cơ hội mới hiểu sai, cố tình xuyên tạc bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và giá trị cao cả của độc lập, tự do mà chế độ xã hội chủ nghĩa mang lại!

Thứ Ba, 23 tháng 3, 2021

KHÁT VỌNG XÂY DỰNG CUỘC SỐNG ẤM NO, GIÀU MẠNH, PHỒN VINH, HẠNH PHÚC

Chúng ta còn nhớ, ngay sau khi thống nhất đất nước, hòa bình lập lại, đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng về kinh tế – xã hội. Nhân dân rơi vào cảnh đói khổ, thiếu thốn, ly tán, tha hương. Khát vọng trong thời kỳ này một cuộc sống ấm no, xã hội yên bình.

Năm 1986 đến những năm đầu tiên của thế kỷ XXI, từ một nước khủng hoảng, trì trệ, hàng hóa, vật phẩm tiêu dùng khan hiếm, đời sống các tầng lớp nhân dân gặp nhiều khó khăn, chúng ta đã thực hiện được khát vọng đưa Việt Nam thành một nước năng động, phát triển, chuyển đổi thành công sang cơ chế quản lý kinh tế mới, có mức tăng trưởng kinh tế cao, liên tục trong nhiều năm. Từ một quốc gia kém phát triển, ảnh hưởng nặng nề bởi nhiều năm chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã từng bước khẳng định uy thế, vai trò, vị thế của mình trên trường quốc tế.

Một dân tộc yêu chuộng hòa bình, có khát vọng cường thịnh mạnh mẽ, đã phải vượt qua thời kỳ chiến tranh liên miên, thời kỳ đói khổ sau chiến tranh, thời kỳ khủng hoảng kinh tế xã hội… Giờ đây, khát vọng đặt ra từ Đại hội XIII của Đảng là dân tộc Việt Nam phải bứt phá vươn lên, cất cánh. Các nội dung của Đại hội XIII thể hiện đường hướng và kỳ vọng sẽ đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới với khí thế mới, sức bật mới và một lộ trình rõ ràng.

Có hai điểm nhấn mạnh hơn của Đảng về phát triển đất nước trong bối cảnh mới đó là: Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và đổi mới sáng tạo. Khát vọng thịnh vượng được khơi dậy mạnh mẽ hơn, truyền cảm hứng tới mỗi người dân Việt Nam với mục tiêu khát vọng rõ nhất là làm cho mọi người dân được hạnh phúc, đất nước phồn vinh.

Nhớ lại lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Thư gửi cho Thầy và trò ngay ngày độc lập đầu tiên từ năm 1945 là dân tộc Việt Nam phải bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu. Đến thời điểm này, chúng ta tự hào khẳng định đất nước đang có được những điều kiện để thực hiện mục tiêu đó. Mục tiêu đến năm 2045, nước ta là nước phát triển, bình quân đầu người đạt 15 nghìn USD trở lên, sánh vai với năm châu cường quốc.

Có thể thấy, từ một nước nghèo và lạc hậu, Việt Nam đã tích cực hội nhập quốc tế, vươn lên trở thành hình mẫu phát triển kinh tế – xã hội, được thế giới ghi nhận và đánh giá cao. Tiếng nói của Việt Nam không còn là tiếng nói nhỏ bé nữa mà đã tham gia trực tiếp giải quyết các vấn đề mang tầm vóc thế giới. Vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế đã được khẳng định, thể hiện rõ nhất là chúng ta được bầu vào vào vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc với số phiếu gần như tuyệt đối; Chủ tịch luân phiên ASEAN và một loạt các vị trí quan trọng trên các diễn đàn quốc tế khác.

Hiện tại, với những thành tựu thần kỳ trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị xã hội và nhất là thành công trong phòng chống đại dịch Covid-19, Việt Nam đang trở thành mảnh đất “thiên đường” nhiều người nước ngoài mơ ước được sinh sống.

KHÁT VỌNG NGÀN ĐỜI: ĐỘC LẬP, TỰ DO, HẠNH PHÚC

Trong lịch sử thế giới, sự phát triển của mỗi quốc gia đều bắt nguồn chính từ những khát vọng vươn lên trở thành một quốc gia dân tộc hùng cường, phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore…

Việt Nam thì sao? Việt Nam chưa trở thành nước phát triển tiên tiến không phải do có ý tưởng khát vọng muộn màng. Ý tưởng thể hiện khát vọng cháy bỏng đó có trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng CSVN, đó là lý tưởng độc lập tự cường dân tộc, lý tưởng xây dựng nền dân chủ nhân dân. Đến nay, trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, khi đặt ra mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2025 và 2030, tầm nhìn đến năm 2045, chúng ta bắt đầu tính đường dài với một lộ trình cụ thể hơn, với quyết tâm và khát vọng mạnh mẽ hơn. Để đạt tới đích năm 2045 đất nước ta phát huy được khát vọng phát triển, thể hiện trách nhiệm của toàn xã hội, cả Đảng và dân đều tham gia một cách tích cực nhất, đóng góp trí tuệ, sức lực của mình vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, để đến năm 2045 khi Việt Nam kỷ niệm 100 năm thành lập nước đạt trình độ phát triển cao, mọi người dân được “Hạnh phúc”.

Nhìn lại suốt tiến trình hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam luôn có khát vọng được sống độc lập, khát vọng chủ quyền và cường thịnh dù trải qua thực tế luôn phải đương đầu với các thế lực. Lịch sử dân tộc Việt Nam cũng là lịch sử các cuộc chiến đấu bảo vệ độc lập, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Suốt hơn nghìn năm Bắc thuộc và mất chủ quyền, không có tên trên bản đồ thế giới, Việt Nam đã thể hiện một bản lĩnh bản sắc đanh thép khẳng định khát vọng độc lập dân tộc mạnh mẽ, với tinh thần đấu tranh bất khuất, chúng ta không những không bị đồng hóa mà còn giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc, giành lại được chủ quyền quốc gia.

Đến cuối thế kỷ XIX, một lần nữa dân tộc ta lại mất độc lập. Trải qua các cuộc đấu tranh với biết bao xương máu của biết bao thế hệ người Việt Nam đã đổ để đến năm 1945 để giành lại được độc lập dân tộc. Ngay sau khi giành được độc lập, ngay sau khi chính quyền cách mạng non trẻ ra đời đã phải đương đầu trước tham vọng xâm chiếm của các nước thực dân đế quốc lớn Pháp, Mỹ “tự nguyện” nhảy vào chi phối, thống trị và khai thác. Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng trong 30 năm hiện thực hóa mục tiêu khát vọng thống nhất đất nước, giành lại hòa bình, độc lập tự do. Thế nhưng ngay lập tức, đất nước lại gặp sự chống phá điên cuồng của các thế lực thù trong giặc ngoài, bao vây cấm vận khiến cho kinh tế – xã hội suy thoái, lao đao.

Thứ Tư, 3 tháng 2, 2021

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM THẬT SỰ MỘT LÒNG VÌ DÂN, VÌ NƯỚC

1. Những ngày qua, trong khi đồng bào, chiến sĩ cả nước phấn khởi chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và hàng trăm tổ chức đảng, lãnh đạo các đảng cộng sản, đảng công nhân và nhiều tổ chức phong trào cộng sản trên thế giới gửi thư chúc mừng sự kiện trọng đại của Đảng Cộng sản Việt Nam, thì trên mạng xã hội và một số trang báo điện tử nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam, đã đưa ra những thông tin sai trái, những bình luận ác ý, những lời lẽ xuyên tạc nhằm hướng lái dư luận theo một cái nhìn tiêu cực về Đảng Cộng sản Việt Nam và Đại hội XIII của Đảng.

Vẫn là những chiêu trò “bổn cũ soạn lại”, các đối tượng thù địch, cơ hội chính trị cho rằng, “Đại hội XIII: Dân chủ chỉ là cột mỡ”, “Đại hội XIII chả có gì mới”, “Vẫn là đại hội trấn áp tiếng nói bất đồng”... Thậm chí, có đối tượng còn xuyên tạc Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ tập trung lo cho đại hội toàn quốc "để chia chác quyền lực", "chi tiêu cả nghìn tỷ đồng của dân, trong khi để cho hàng triệu bà con miền Trung sau lũ lụt vẫn chịu thảm cảnh đói rét". Táng tận lương tâm hơn, có kẻ còn rêu rao rằng, Đảng và Chính phủ Việt Nam "bưng bít thông tin về đại dịch Covid-19" xảy ra trước thời điểm Đại hội XIII, cho đến khi dịch bệnh bung ra khắp nơi thì không kiểm soát nổi khiến dân tình lâm vào cảnh mất vui, mất Tết(!).

Những thông tin nêu trên không chỉ làm lộ rõ thêm “chân tướng” của những kẻ vốn có tư tưởng thù hằn với chế độ, mà chắc chắn cũng không bao giờ được nhân dân Việt Nam chấp thuận. Bởi lẽ, Đảng Cộng sản Việt Nam trước sau như một, luôn lấy lợi ích tối cao của quốc gia-dân tộc và của nhân dân Việt Nam làm mục tiêu phấn đấu của mình. Càng những lúc khó khăn, gian khổ, tinh thần “lấy dân làm gốc" của Đảng càng được thể hiện rõ ràng, nhất quán thông qua những việc làm thiết thực để góp phần hiện thực hóa mục tiêu “Tất cả vì hạnh phúc của nhân dân”.

2. Từ lâu, trong tâm thức, tình cảm của đông đảo người dân Việt Nam, việc Đảng cũng là việc nước, việc dân. Vì thế, các dự thảo văn kiện Đại hội XIII đều được công bố công khai trên các phương tiện truyền thông đại chúng và lấy ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân. Theo thông tin từ Ban Tổ chức Trung ương, tổng hợp góp ý của đại hội đảng các cấp và ý kiến của cán bộ, đảng viên và nhân dân, các ý kiến đóng góp được tổng hợp lại thành hơn 1.400 trang. Đây là kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng của hơn 5 triệu đảng viên và hơn 90 triệu người dân Việt Nam. Điều này phủ nhận hoàn toàn ý kiến rêu rao rằng, Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ dành cho hơn 1.500 đại biểu thuộc “giới tinh hoa” tham dự đại hội.

Theo dõi các sự kiện trong đời sống chính trị thời gian gần đây, chúng ta thấy Đảng Cộng sản Việt Nam đã có nhiều việc làm thiết thực hướng về nhân dân, làm cho người dân thấy càng quý trọng, tin yêu Đảng hơn. Từ Hội nghị Trung ương 14, Trung ương 15 đến Đại hội XIII, Đảng ta đều rút ngắn thời gian so với kế hoạch dự kiến ban đầu. Việc rút ngắn thời gian không chỉ thể hiện tác phong làm việc khẩn trương, nghiêm túc, coi trọng hiệu quả nội dung công việc của Đảng, mà còn góp phần tiết kiệm ngân sách nhà nước và ưu tiên thời gian để Đảng, Nhà nước có điều kiện chăm lo tốt hơn việc dân, việc nước.

Điều đó thể hiện rất rõ trong những ngày diễn ra Đại hội XIII của Đảng. Ngay sau khi xuất hiện dịch Covid-19 tại TP Chí Linh (Hải Dương), sáng 28-1, Thủ tướng Chính phủ đã triệu tập cuộc họp khẩn cấp với lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương liên quan để triển khai các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19. Chính phủ đã kịp thời công bố công khai rộng rãi để người dân biết về sự tái bùng phát dịch Covid-19; đồng thời liên tục cập nhật tình hình dịch bệnh, triển khai các biện pháp thần tốc để truy vết, khoanh vùng, dập dịch triệt để ngay từ đầu, hạn chế tới mức thấp nhất sự lây lan của dịch bệnh.

Nhân dân đánh giá rất cao về tinh thần của một số cán bộ lãnh đạo địa phương xảy ra dịch Covid-19, dù đang tham dự Đại hội XIII nhưng đã tức tốc trở về địa phương trong đêm tối để trực tiếp chỉ đạo công tác phòng, chống, dập dịch tại địa phương mình. Tối 31-1, Phó thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam, Trưởng ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch Covid-19 đã trực tiếp đến thị sát tại hai “điểm nóng” về dịch Covid-19 là TP Chí Linh (Hải Dương) và thị xã Đông Triều (Quảng Ninh). Hình ảnh Phó thủ tướng Vũ Đức Đam mặc bộ đồ bảo hộ y tế đến kiểm tra, động viên các lực lượng tại chốt kiểm soát phòng, chống dịch giữa thị xã Đông Triều và TP Chí Linh trên Quốc lộ 18 trong đêm tối giá rét, nhân dân cảm thấy thêm ấm lòng về tình Đảng, tình dân trong thời điểm gian khó. Đó cũng là hình ảnh biết nói về mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân luôn gắn bó bền chặt. Đó cũng là lời khẳng định đanh thép để bác bỏ những lời lẽ bịa đặt của những phần tử thù địch, cơ hội chính trị khi cho rằng “Đảng xa dân, bỏ mặc dân trong thiên tai, dịch bệnh”.

Một trong những việc làm được nhân dân ghi nhận là trong dịp đại hội đảng các cấp, từ cấp cơ sở đến cấp Trung ương, các nghi thức đã được giản tiện. Mấy năm gần đây, khi các lãnh đạo cấp cao đến thăm, làm việc tại các cơ quan, đơn vị, địa phương, người dân cũng chỉ thấy sự trang trí, khánh tiết đơn giản. Những thay đổi đó tuy nhỏ, nhưng là minh chứng cụ thể về đổi mới tác phong, phong cách lãnh đạo của Đảng theo hướng ngày càng thiết thực, giản dị, thể hiện sự gần gũi với quần chúng nhân dân.

3. Không ngẫu nhiên mà một trong những nội dung được đề cập nhiều lần trong các dự thảo văn kiện Đại hội XIII của Đảng là cụm từ “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến yếu tố hạnh phúc của nhân dân. Bởi trong đại dịch Covid-19, chúng ta càng hiểu thêm không phải cứ thu nhập cao, tốc độ tăng trưởng nhanh là sung sướng, mà ý nghĩa hơn là cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Năm 2020, Việt Nam trở thành một trong những điểm sáng trên thế giới vì vừa kiểm soát, khống chế thành công đại dịch Covid-19, vừa duy trì tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Liên tục trong hai năm gần đây, Việt Nam đã tăng 11 bậc trên bảng xếp hạng chỉ số hạnh phúc của Liên hợp quốc, từ 94/156 quốc gia (2019) lên 83/156 quốc gia (2020).

Một trong 5 bài học kinh nghiệm quý báu trong quá trình đổi mới đất nước và trong thực hiện nhiệm vụ nhiệm kỳ Đại hội XII được Đảng ta đúc rút đó là: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”. 

Trong buổi gặp mặt báo chí sau Đại hội XIII của Đảng tổ chức vào cuối buổi sáng 1-2, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng thêm một lần nhấn mạnh, thành công của đại hội không phải ở thông qua nghị quyết, ban chấp hành mới, mà quan trọng hơn là đưa nghị quyết vào cuộc sống, phải tạo ra được của cải vật chất để nước ta ngày càng giàu mạnh, nhân dân ta ngày càng hạnh phúc.

Lòng dân là quốc bảo, lòng dân là thước đo giá trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, không gắn bó với nhân dân và không thật sự chăm lo cho hạnh phúc của nhân dân thì Đảng không còn lý do để tồn tại. Đó là sự nhất quán trong tư tưởng và hành động của Đảng ta, trong suy nghĩ và việc làm của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đó là cội nguồn làm nên sức sống, sự trường tồn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó cũng là cội nguồn sâu xa để ý Đảng-lòng dân luôn hòa quyện và trở thành sức mạnh vô địch đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn nhằm chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân.