Hiển thị các bài đăng có nhãn thống nhất. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thống nhất. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 12 tháng 3, 2024

PHÊ PHÁN LUẬN ĐIỆU CHO RẰNG, CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM KHÔNG CÓ SỰ ĐOÀN KẾT, THỐNG NHẤT.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc chống phá cách mạng việt Nam, trong đó chúng tuyên truyền, xuyên tạc đặc điểm các dân tộc Việt Nam và cho rằng các dân tộc ở Việt Nam phân tán, biệt lập, không có sự đoàn kết, thống nhất. Thực tiễn đặc điểm các dân tộc Việt Nam đã hoàn toàn bác bỏ luận điệu đó, thể hiện trên các nội dung sau:

Việt Nam là quốc gia đa tộc người; có truyền thống đoàn kết trong đấu tranh dựng nước và giữ nước, xây dựng cộng đồng dân tộc thống nhất. Việt Nam có 54 tộc người. Các dân tộc nước ta có truyền thống đoàn kết trong đấu tranh dựng nước và giữ nước, khối đại đoàn kết dân tộc không ngừng được củng cố, mở rộng và nâng cao. Tính thống nhất quốc gia đa tộc người được thể hiện trên mọi lĩnh vực đời sống của quốc gia dân tộc. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lãnh đạo cách mạng, các dân tộc trên đất nước ta đã phát huy cao độ truyền thống đoàn kết, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng.

Các dân tộc cư trú đan xen, có mối giao lưu mật thiết từ sớm và ngày càng được tăng cường. Xuyên suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, các dân tộc nước ta cư trú đan xen, cài răng lược trong phạm vi của tỉnh, huyện, xã và cả các ấp, bản, mường. Đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu ở  các vùng rừng núi, biên giới, có vị trí chiến lược về mọi mặt. Ở Việt Nam không có dân tộc nào có lãnh thổ riêng. Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong bối cảnh hội nhập, mở cửa, mối quan hệ giữa các dân tộc nước ta ngày càng gắn bó, tăng cường.

Đời sống kinh tế - xã hội của các dân tộc ngày càng được nâng lên, tạo cơ sở vững chắc cho quan hệ tốt đẹp giữa các dân tộc. Ngót 40 năm đổi mới, cùng với những thành tựu to lớn của cả nước, đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của các dân tộc thiểu số ngày càng được nâng lên rõ rệt, tỷ lệ giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nhanh hơn so với cả nước; chính sách xã hội và an sinh xã hội được đẩy mạnh ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Đảng, Nhà nước có chủ trương, chính sách ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số với hàng chục dự án, đề án, chương trình mục tiêu quốc gia.

Các dân tộc có ngôn ngữ và bản sắc văn hóa riêng, tạo dựng nên một nền văn hóa Việt Nam đa dạng, phong phú, thống nhất, đậm đà bản sắc dân tộc. Mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán riêng, tạo nên bản sắc văn hóa tộc người độc đáo, giàu sức sống. Các tộc người cùng nhau sáng tạo nên những giá trị văn hoá chung thống nhất, nổi bật là truyền thống đoàn kết, cố kết cộng đồng; tinh thần yêu nước; lối sống nhân ái, khoan dung; tinh thần cần cù, kiên cường bất khuất. Các tộc người đều sử dụng song ngữ hay đa ngữ, nhưng đều lấy tiếng Việt làm phương tiện giao tiếp của cả dân tộc. 

Chủ Nhật, 17 tháng 9, 2023

CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN LÀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA BẢN CHẤT GIAI CẤP CÔNG NHÂN VỚI TÍNH NHÂN VĂN VÀ TINH THẦN DÂN TỘC

Chủ nghĩa Mác - Lênin là khoa học nghiên cứu về bản chất và điều kiện giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên phạm vi toàn thế giới khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, bất công; khỏi mọi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu và khỏi mọi sự phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp. Chủ nghĩa Mác - Lênin, hệ tư tưởng của giai cấp mang bản chất quốc tế, đồng thời mang tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, vì muốn giải phóng mình trên phạm vi toàn thế giới thì "giai cấp sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc, tuy hoàn toàn không phải theo cái nghĩa như giai cấp tư sản hiểu". Khi chủ nghĩa tư bản chuyển sang chủ nghĩa đế quốc, vấn đề dân tộc trở thành vấn đề dân tộc thuộc địa thì cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản ở chính quốc và cuộc đấu tranh của nhân dân các dân tộc thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc gắn bó hữu cơ với nhau. Từ đó, Lênin đã nêu ra Cương lĩnh dân tộc với ba nội dung: "Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng; các dân tộc được quyền tự quyết; liên hợp công nhân tất cả các dân tộc lại: đó là cương lĩnh dân tộc mà chủ nghĩa Mác, kinh nghiệm toàn thế giới và kinh nghiệm của nước Nga dạy cho công nhân". Cũng từ đó Lênin nêu ra khẩu hiệu: "Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!".

Chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ mang bản chất giai cốp công nhân quốc tế mà còn mang tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, là sự thống nhất giữa chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân và chủ nghĩa yêu nước. Đó là cơ sở lý luận và thực tiễn thời đại hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa giai cấp công nhân và dân tộc, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Vì vậy quan điểm cho rằng chủ nghĩa Mác -Lênin chi nói đến đấu tranh giai cấp bỏ quên lợi ích các dân tộc không phù hợp với thực tiễn Việt Nam là quan điểm sai lầm, cần phải phê phán.


TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH – MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG THỐNG NHẤT VỚI CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

Năm 1920, chín năm sau khi rời Việt Nam ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã dày công nghiên cứu một số cuộc cách mạng tư sản ở châu Âu - những cuộc cách mạng đã đưa một số nước từ chế độ phong kiến lạc hậu trở thành những nước tư bản hùng mạnh, với một xã hội được coi là có dân chủ, tự do, bình đẳng, bác ái, như các nước: Pháp, Anh, Mỹ... Tuy vậy đằng sau sự "hào nhoáng" về dân chủ, tự do, bình đẳng, bác ái là sự lừa bịp, phản bội lợi ích của nhân dân lao động, chế độ người bóc lột người ngày càng phát triển với trình độ cao hơn trước... Trong hoàn cành dó, tháng 7-1920, Hồ Chí Minh đã đọc trên báo Nhân đạo của Pháp bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin. Sơ thảo luận cương nói về giải phóng dân tộc, một vấn đề mà Hồ Chí Minh đã ấp ủ tìm kiếm. Ngồi một mình trong phòng, Người đã reo lên như đang nói trước đồng bào: "Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta"1. Người đã tìm ra "cẩm nang" để cứu nước, giải phóng dân tộc. Cũng từ dây, Người đã đến với chù nghĩa Mác - Lênin, được coi là bước ngoặt quyết định trong nhận thức của Người về con đường cứu nước và giải phóng dân tộc. Người viết: "Muốn cứu nưóc và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

Sống trong thời kỳ lịch sử thế giới đang có nhiều chuyển biến sâu sắc mà cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, đất nước ta vẫn phải sống dưới ách đô hộ của đế quốc, phong kiến. Nhiều nhà yêu nước trong thời kỷ đó cùng muốn tìm đường cứu nước và đưa ra những tư tưởng canh tân mới. Tuy vậy họ đều bị hạn chế trong tư tuởng, nhận thức về con đường cách mạng giải phóng dân tộc. Nhìn ra nước ngoài, cuộc Cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc năm 1911, với chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên củng không đủ sức thu hút với Nguyền Ái Quốc. Người tiếp tục khẳng định: "Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất. cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”[1]. Sau này Người còn chỉ rõ: Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không chỉ là cái “cầm nang" thần kỳ, không những là kim chi nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản..

Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin để tìm kim chỉ nam cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh tìm thấy trong chủ nghĩa Mác - Lênin phương thức đấu tranh của các dân tộc bị áp bức chống áp bức, bóc lột để tự giải phóng cho dân tộc mình. Người thấy được sự gắn bó khăng khít giữa sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản với sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa, bị áp bức. Từ Lênin, Người tiếp tục nghiên cứu sâu về Mác và Ăngghen để hoàn thiện lý luận về giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân, phong kiến, đem lại độc lập, tự do, cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho dân tộc mình.

Toàn bộ lịch sủ tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống nhất, quan hệ biện chứng với chủ nghĩa Mác - Lênin về những vấn đề của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đó là: Xây dựng Đảng, đội tiên phong của giai cấp và dân tộc để lãnh đạo công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của quần chúng nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về quyền làm chù của nhân dân và xây dựng Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.

Tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc và xây dựng nền quốc phòng toàn dân; về phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; …Chúng la bắt gặp chủ nghĩn Mác - Lênin trong tư tưởng Hồ Chí Minh và tư tưởng Hồ Chí Minh trong chủ nghĩa Mác - Lênin, được quyện chặt không tách rời. Suốt cả cuộc đời, Hồ Chí Minh luôn trung thành tuyệt đối với chủ nghĩa Mác - Lênin để giành dộc lập, tự do cho đất nước và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân. Chưa ai có thể tìm được sự đối lập, khác biệt giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lênin. Mọi luận điệu tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin cũng chứng tỏ bọn phản động rất sợ hãi trước sức mạnh vô địch của chủ nghía Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.



[1] Hổ Chí Minh: Toán tập, Sdd, t.2, tr.289.

Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2022

KIÊN QUYẾT, KIÊN TRÌ LÀ MỘT THỂ THỐNG NHẤT TRONG ĐẤU TRANH BẢO VỆ VỮNG CHẮC ĐỘC LẬP, CHỦ QUYỀN, THỐNG NHẤT, TOÀN VẸN LÃNH THỔ, VÙNG TRỜI, VÙNG BIỂN CỦA TỔ QUỐC

Kiên quyết là điều kiện cần, kiên trì là điều kiện đủ, hai nhân tố đó hợp thành một thể thống nhất hoàn chỉnh. Chúng ta sẽ không đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra, nếu thiếu đi cả hai hoặc một trong hai nhân tố đó. Giữa kiên quyết và kiên trì không hề có sự mâu thuẫn, mà trái lại, giữa chúng có mối quan hệ biện chứng, không tách rời nhau, thúc đẩy lẫn nhau. Trong đó, kiên quyết biểu thị ý chí, quyết tâm cao độ và thái độ không khoan nhượng trong đấu tranh với kẻ thù để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trong mọi tình huống; kiên trì là biểu thị sự bền bỉ, mềm dẻo, linh hoạt, khôn khéo trong xử lý, giải quyết các vấn đề trong đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trong mọi giai đoạn lịch sử. Kiên quyết là đấu tranh không khoan nhượng, không do dự, không thỏa hiệp, nhưng như thế chưa đủ, mà còn phải gắn với kiên trì, bền bỉ đấu tranh, không được nóng vội, bởi bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc là cuộc đấu tranh lâu dài, không thể kết thúc trong “ngày một, ngày hai”. Kiên quyết là tư tưởng chỉ đạo hành động trong những tình huống cụ thể. Kiên trì là phương châm, đối sách, sách lược, cách thức tiến hành đấu tranh nhằm đạt mục tiêu đã xác định. Kiên trì hoàn toàn trái nghĩa, đối lập với sự nóng vội, thỏa hiệp, nhân nhượng. Đây là quan điểm đúng đắn mà chúng ta cần quán triệt để thực hiện tốt nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc trong tình hình mới.

KIÊN QUYẾT, KIÊM TRÌ ĐẤU TRANH BẢO VỆ VỮNG CHẮC CHỦ QUYỀN, THỐNG NHẤT, TOÀN VẸN LÃNH THỔ, VÙNG TRỜI, VÙNG BIỂN CỦA TỔ QUỐC

Bảo vệ vững chắc chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là nói đến không gian toàn bộ lãnh thổ, bao gồm: đất liền, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc. Trước sự phức tạp của tình hình thế giới, khu vực, nhất là tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, Đảng ta đã khẳng định phải kiên quyết bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc. Đó là nguyên tắc chiến lược, là nhiệm vụ thiêng liêng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, đồng thời là lợi ích cao nhất của đất nước cả trong hiện tại và tương lai. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc phải bằng nhiều phương thức: kết hợp đấu tranh vũ trang và phi vũ trang, lấy đấu tranh phi vũ trang là chủ yếu, nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả từ sớm, từ xa các nguy cơ dẫn đến xung đột. Trong đó, bao hàm cả việc đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tình hình phức tạp ở Biển Đông để kích động, phá hoại mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng. Do đó, không thể nóng vội, mà phải bình tĩnh, kiên trì giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), tiến tới Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là phương châm chỉ đạo, hoàn toàn không mâu thuẫn với ý chí kiến quyết và càng không đồng nghĩa với nhân nhượng, thỏa hiệp.

Hiện nay, tình hình tranh chấp chủ quyền biển, đảo ở Biển Đông rất phức tạp, không thể giải quyết trong thời gian ngắn, mà phải lâu dài. Để kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc, Đảng ta đã có nhiều tư duy, chủ trương giải pháp mới về xây dựng lực lượng cho quốc phòng. Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu và dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền, trên biển”. Đây là lần đầu tiên, vấn đề xây dựng dân quân tự vệ trên biển được đưa vào văn kiện của kỳ đại hội Đảng để định hướng chỉ đạo xây dựng lực lượng này đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới. Điều này đã thể hiện bước phát triển mới trong tư duy, nhận thức của Đảng về xây dựng lực lượng quốc phòng trên biển, nhằm tạo ra lực lượng đủ mạnh để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc trong mọi tình huống.

KIÊN QUYẾT, KIÊN TRÌ ĐẤU TRANH BẢO VỆ VỮNG CHẮC ĐỘC LẬP, CHỦ QUYỀN, THỐNG NHẤT, TOÀN VẸN LÃNH THỔ, VÙNG TRỜI, VÙNG BIỂN CỦA TỔ QUỐC LÀ QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC CƠ BẢN, XUYÊN SUỐT CỦA ĐẢNG TRONG SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TỔ QUỐC

Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc là quan điểm chỉ đạo chiến lược, bài học kinh nghiệm lớn được đúc rút qua thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thể hiện sự thấm nhuần sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong hoạt động quân sự, quốc phòng; kế thừa những nội dung quan điểm chỉ đạo bảo vệ Tổ quốc mà Đảng ta đã xác định qua các kỳ đại hội. Nội dung cốt lõi quan điểm của Đảng ta về kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là thể hiện ý chí quyết tâm sắt đá cùng với sự kiên trì, bền bỉ đấu tranh của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta để đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.

Quan điểm “kiên quyết, kiên trì” thể hiện rõ sự phát triển tư duy mềm dẻo, linh hoạt của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Trước bối cảnh mới của quốc tế, khu vực, trong nước và những nguy cơ, thách thức, các tình huống quốc phòng, thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống gia tăng, cùng nhiều vấn đề phức tạp, khó lường nảy sinh tác động đến bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, Đảng ta nhận thức và xác định, phải kiên quyết, chủ động đấu tranh, song quá trình đấu tranh phải kiên trì, bền bỉ thực hiện tổng thể các biện pháp, kết hợp linh hoạt giữa kiên quyết đấu tranh, kiên định mục tiêu chiến lược với sách lược, mềm dẻo, dựa vào luật pháp quốc tế, dựa vào sức mạnh của cộng đồng quốc tế, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó vừa là quan điểm, vừa là phương châm định hướng chỉ đạo chiến lược, nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước cả trước mắt và lâu dài.

Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc là nhiệm vụ thường xuyên, hằng ngày, hằng giờ không được phép sao nhãng, lơ là; đồng thời, đây cũng là cuộc đấu tranh lâu dài, kiên trì, bền bỉ trước những khó khăn, thử thách to lớn. Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một trong hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Nhiệm vụ chiến lược này phải thường xuyên được coi trọng, không được lơi lỏng và phải gắn chặt với nhiệm vụ xây dựng đất nước. Vì thế, bất luận trong hoàn cảnh nào, thuận lợi và khó khăn ra sao, chúng ta cũng phải kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc. Đó là trách nhiệm chính trị, nghĩa vụ cao cả, thiêng liêng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, của các thế hệ người Việt Nam trong quá khứ, hiện tại và mai sau.

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2022

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐOÀN KẾT THỐNG NHẤT

Trên trang mạng gần đây xuất hiện bài viết: “Đảng Cộng sản Việt Nam có thật sự đoàn kết?” của một phần tử khiêu khích. Bài viết cho rằng: “Lúc này Đảng Cộng sản Việt Nam đang trong tình trạng chia rẽ, phân tán lớn nhất từ trước tới nay”. “Đoàn kết là vấn đề sống chết của một tổ chức. Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày thành lập là một tổ chức bí mật có sự đoàn kết nội bộ đảng không? Câu trả lời là không. Không những là không mà lúc này Đảng Cộng sản Việt Nam còn đang trong tình trạng chia rẽ, phân tán lớn nhất từ trước đến nay. Sự tranh chấp, kèn cựa mất đoàn kết và dẫn đến thanh toán lẫn nhau trong Đảng Cộng sản Việt Nam hoàn toàn diễn ra trong bí mật, hoặc che đậy bằng nhiều hình thức khác. Nhiều vụ chưa được phanh phui, nhiều vụ người ngoài chỉ suy đoán, tuy vậy có những vụ bị phơi bày công khai”. “Những cán bộ trong cả ba tổ chức cộng sản này (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) tranh nhau mở rộng mạng lưới cơ sở, phát triển đảng viên và “lãnh địa” ảnh hưởng của mình. Hai đảng An Nam cộng sản Đảng và Tân Việt có số đảng viên và phương thức hoạt động mà giới lãnh đạo đều là trí thức vượt trội những người trong Đông Dương cộng sản đảng. Cả 3 đảng này chia rẽ, tranh giành quần chúng”. “Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhìn ra sự đoàn kết trong đảng chỉ là sự đoàn kết xuôi chiều, có nghĩa nôm na “ai sao tôi vậy”, “thứ nhất đồng ý thứ hai ngồi lỳ”, ủng hộ tuyệt đối tất cả những gì đảng ủy đưa ra. Điều này phản ánh rõ sự nhát sợ của đảng viên, họ sợ mất lòng cấp trên, mất an toàn cho bản thân, phụ họa theo ý kiến của người đứng đầu, sợ va chạm, sợ bị đánh giá, chụp mũ là tự chuyển hóa, tự diễn biến; hai lưỡi đao lơ lửng trên đầu rơi xuống bất cứ lúc nào trên cổ họ”…

Rõ ràng, đây là giọng điệu của kẻ thù địch, chống phá Đảng, xuyên tạc lịch sử, đổi trắng thay đen.

Phải nói rằng, từ ngày thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đoàn kết thống nhất. Từ thời kỳ thành lập Đảng và Đảng hoạt động bí mật, vấn đề đoàn kết thống nhất trong Đảng đã được đặt ra. Đến khi Đảng tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, vấn đề đoàn kết thống nhất trong Đảng càng được đặt ra và giải quyết một cách nghiêm túc, mang lại sự thống nhất trong Đảng.

Khi Đảng Cộng sản Việt Nam chưa thành lập, trong nước có ba tổ chức cộng sản, được gọi là tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, đó là Đông Dương Cộng sản Đảng (thành lập ngày 17-6-1929), An Nam Cộng sản Đảng (thành lập ngày 7-8-1929), Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (thành lập ngày 1-1-1030).

Ba tổ chức cộng sản này có mối bất hòa, không thống nhất được với nhau, nên các đảng viên cộng sản ở trong nước muốn có một đảng cộng sản thống nhất để lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người có đủ tư cách và uy tín để lập một đảng cộng sản thống nhất ở Việt Nam chỉ có thể là Nguyễn Ái Quốc, đại diện Quốc tế Cộng sản, một nhà hoạt động chính trị nổi tiếng. Đó là lý do dẫn đến việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra tại một địa điểm ở đảo Cửu Long thuộc quần đảo Hương Cảng (Hồng Kông) từ ngày 3 đến ngày 7-2-1930. Đây là Hội nghị hợp nhất giữa ba tổ chức cộng sản trong nước thành lập trước đó là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.

Đại biểu chính thức dự Hội nghị: Nguyễn Ái Quốc, thay mặt Quốc tế Cộng sản, Chủ trì; Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh, thay mặt Đông Dương Cộng sản Đảng; Châu Văn Liêm và Nguyễn Thiệu, thay mặt An Nam Cộng sản Đảng. Đại biểu hoạt động ở nước ngoài là Lê Hồng Sơn và Hồ Tùng Mậu. Đông Dương Cộng sản Liên đoàn mới thành lập (ngày 1-1-1930), lại nhận được giấy mời chậm, nên không kịp cử đại biểu đi dự. Tuy nhiên, sau khi Đảng được thành lập, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn đã làm đơn xin gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam và đã được Đảng chấp nhận.

Hôm khai mạc Hội nghị, Nguyễn Ái Quốc nói lý do về Hội nghị này. Sau đó, các đại biểu thảo luận ý kiến của Nguyễn Ái Quốc về “việc hợp nhất tất cả các nhóm cộng sản thành một tổ chức chung, tổ chức này sẽ là một Đảng Cộng sản chân chính”.

Các đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đều tán thành ý kiến có tính chất đề xuất của đồng chí Nguyễn Ái Quốc.

Hội nghị nhất trí: “Đặt tên Đảng mới là Đảng Cộng sản Việt Nam”. Đến Hội nghị Trung ương tháng 10-1930, Đảng đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương.

Hội nghị thảo luận chỉ ra những sai lầm của Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và kêu gọi sự thống nhất trong Đảng.

Hội nghị thành lập Đảng thông qua các văn kiện quan trọng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được Hội nghị thảo luận và nhất trí thông qua:

“Năm điểm lớn”.

“Chánh cương vắn tắt của Đảng”.

“Sách lược vắn tắt của Đảng”.

“Chương trình tóm tắt của Đảng”.

“Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

“Báo cáo tóm tắt Hội nghị”.

“Lời kêu gọi”.

Các văn kiện của Hội nghị thành lập Đảng nêu rõ cách mạng Việt Nam là cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng thổ địa để đi tới xã hội cộng sản. Sau này, phát triển lý luận thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Từ ngày Đảng thống nhất giữa ba tổ chức cộng sản, tình hình trong Đảng tốt đẹp hơn nhiều. Đảng thống nhất, các tổ chức đảng trong cả nước đoàn kết, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, không có tình trạng chia rẽ, cát cứ, phân tán, chia cắt, bè phái, như các phần tử khiêu khích đã viết. Điều này làm cho công tác phát triển Đảng được nhanh chóng, các tổ chức cơ sở đảng cũng phát triển mạnh. Mặc dù sống trong hoàn cảnh bị thực dân khủng bố, Đảng vẫn lớn mạnh không ngừng.

Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa, nội bộ Đảng không có mâu thuẫn trên toàn cục, mà chỉ có mâu thuẫn nội bộ giữa cá nhân đảng viên này với cá nhân đảng viên khác (không phải là mâu thuẫn đối kháng) và giải quyết mâu thuẫn đó bằng phê bình và tự phê bình. Phê bình và tự phê bình là phương pháp hoạt động cải tạo mang tính chất cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam; còn trong xã hội, nó cũng là phương pháp hoạt động của toàn dân; là một trong những động lực của sự phát triển của xã hội; là nguyên tắc giáo dục và tự giáo dục của con người về mặt đạo đức. Phê bình và tự phê bình là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, giữa cái tiến bộ và cái bảo thủ, cuộc đấu tranh vốn có trong sự phát triển của tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

C.Mác coi phê bình là một trong những phương tiện đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân. V.I.Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh ý nghĩa thiết thực của phê bình và tự phê bình đối với việc thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa, đối với hoạt động của Đảng Cộng sản.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng phê bình và tự phê bình. Người viết:

“Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân mạnh về đoàn kết trong Đảng. Trong Di chúc, Người viết:

“Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước VIệt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Trên đây là tôi đã phân tích những vấn đề cơ bản về đoàn kết thống nhất trong Đảng. Những người cố tình cho rằng, “Đảng đang bị chia rẽ, phân tán lớn nhất từ trước tới nay” là không phản ánh đúng thực tế khách quan của lịch sử, cần phải phê phán và bác bỏ.

GS,TS Đàm Đức Vượng

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2022

ĐẤU TRANH VÌ MỘT NƯỚC VIỆT NAM HÒA BÌNH, ĐỘC LẬP, THỐNG NHẤT, DÂN CHỦ VÀ GIÀU MẠNH LÀ KHÁT VỌNG CỦA MỌI NGƯỜI DÂN VIỆT NAM YÊU NƯỚC CHÂN CHÍNH

Thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, thì không có việc dùng "chiêu bài chống thực dân, đế quốc" và "chiêu bài giải phóng miền Nam" để tiến hành cuộc trường chinh kháng chiến dài 30 năm (1945-1975) như những quy chụp hồ đồ, xuyên tạc, mà chỉ có một sự thật lịch sử:

Đó là, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn; đã thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh đạo nhân dân Việt Nam đoàn kết "muôn người như một" trong Mặt trận dân tộc thống nhất, rộng rãi để tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mùa Thu năm 1945; đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; đồng thời đưa những "thần dân", những người nô lệ xứ An Nam thuộc Pháp trở thành chủ nhân của nước Việt Nam độc lập, tự do.

Đó là, trước dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, của đế quốc Mỹ và để bảo vệ nền độc lập, tự do đã giành được; để thực hiện tâm nguyện của đồng bào và chiến sĩ cả nước về một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất trong bối cảnh vận mệnh đất nước như "ngàn cân treo sợi tóc", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hứa: "Vì yêu mến và tin cậy tôi, mà đồng bào giao vận mệnh nước nhà, dân tộc cho tôi gánh vác. Phận sự tôi như một người cầm lái, phải chèo chống thế nào để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt khỏi những cơn sóng gió, mà an toàn đi tới bến bờ hạnh phúc của nhân dân".

Đồng thời, Người đã cùng Trung ương Đảng bình tĩnh, sáng suốt phân tích tình hình, kịp thời đề ra đường lối đúng đắn và những biện pháp khôn khéo để từng bước giải quyết nạn đói, phát triển kinh tế, văn hóa; tiêu diệt nạn dốt; tổ chức thành công tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I, soạn thảo và thông qua Hiến pháp 1946; đồng thời tiến hành nhiều hoạt động đối ngoại khẩn cấp (ký Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 và Tạm ước 14/9/1946…), góp phần kéo dài thêm một khoảng thời gian hòa bình quý giá cho việc chuẩn bị tinh thần và lực lượng của dân tộc khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) theo Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946 sau đó!

Đó là, hòa bình, độc lập, tự do và thống nhất đất nước không chỉ là khát vọng ngàn đời của mỗi một quốc gia, dân tộc mà đó còn là quyền thiêng liêng nhất, là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của quốc gia, dân tộc đó trong cộng đồng thế giới. Vì thế, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi (1945-1954), khi đế quốc Mỹ cam tâm phá hoại Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Đông Dương (20/7/1954), chia rẽ hai miền Nam, Bắc; nhất là khi vĩ tuyến 17, Cầu Hiền Lương, sông Bến Hải, Luật 10/59, chính sách “tố cộng, diệt cộng”, dồn dân lập ấp chiến lược, đàn áp, bắt bớ, tù đầy và ngăn cản sự thống nhất Bắc - Nam được Mỹ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm thực thi ở miền Nam, thì một “địa ngục trần gian” ở miền Nam có thể chia cắt đất nước ta về không gian và thời gian, song đã không thể chia cắt ý chí và niềm tin của cả dân tộc về một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ!

Thực tế, đến cuối năm 1958 đầu năm 1959, cách mạng miền nam đứng trước những thử thách ác liệt. Kẻ thù đã giết hại, giam cầm 93.362 cán bộ, đảng viên (7/1955 - 2/1956); riêng ở Nam Bộ, chúng đã giết hại khoảng 68.000 cán bộ, đảng viên, bắt 446.000 người (1955- 1958)… Cho nên, đứng trước tình hình và nhiệm vụ cách mạng mới, nhằm duy trì và phát triển phong trào cách mạng, đáp ứng đòi hỏi bức xúc của cán bộ, đảng viên, của đồng bào yêu nước miền Nam và cũng là đòi hỏi cấp bách của lịch sử, Hội nghị lần thứ 15(mở rộng, từ ngày 12-22/1/1959) đã nhận định: "Cách mạng Việt Nam do Ðảng ta lãnh đạo bao gồm hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Hai nhiệm vụ chiến lược đó tuy tính chất khác nhau nhưng quan hệ hữu cơ với nhau, song song tiến hành, ảnh hưởng sâu sắc lẫn nhau, trợ lực mạnh mẽ cho nhau nhằm phương hướng chung là giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội".

Thực hiện Nghị quyết 15 và sau đó là Nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng (9/1960) cùng nhiều Nghị quyết chuyên đề khác, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cứu nước của nhân dân ta từng bước giành được thắng lợi, tiến tới cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Thứ Ba, 26 tháng 10, 2021

“VIỆC CẦN PHẢI LÀM TRƯỚC TIÊN LÀ CHỈNH ĐỐN LẠI ĐẢNG”

Từ rất sớm, từ tiên liệu về sự vận động của Đảng trong quá trình phát triển và sự biến động của tình hình, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, một dân tộc, một Đảng và mỗi con người ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, song không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ngợi ca nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân, dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Vì vậy, xây dựng và chỉnh đốn Đảng là tất yếu khách quan, là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa thường xuyên của Đảng cầm quyền, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Qua đó, góp phần phòng và chống bệnh choáng ngợp, tự mãn, quan liêu, ngày càng rời xa nhân dân của người đang nắm giữ vai trò lãnh đạo, quản lý trong Đảng và các cơ quan công quyền - những người mà theo Hồ Chí Minh, “trong lúc tranh đấu thì hăng hái, trung thành, nhưng đến khi có ít nhiều quyền hạn trong tay thì đâm ra kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu, không tự giác mà biến thành người có tội với cách mạng”…

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng chỉ có thể chắc chắn, vững mạnh, trở thành đội tiên phong của giai cấp và dân tộc, chỉ giành và giữ được vai trò lãnh đạo cách mạng khi thường xuyên tiến hành xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Để xứng đáng là vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, Đảng phải tự xây dựng thành “một đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để” và đội ngũ cán bộ, đảng viên phải “suốt đời làm người con trung thành của Đảng, người đầy tớ tận tuỵ của nhân dân”. Đó là trách nhiệm kép, vừa vinh dự vừa khó khăn mà muốn hoàn thành, Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải vừa ra sức nâng cao năng lực trí tuệ ngang tầm nhiệm vụ lịch sử vừa phải thường xuyên củng cố khối đoàn kết, thống nhất; nghiêm túc thực hiện chế độ tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, trau dồi đạo đức cách mạng và gắn bó mật thiết với nhân dân, để nhân nguồn sức mạnh của Đảng.

Vì thế, từ khi chuẩn bị đến sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã luôn chú trọng xây dựng và chỉnh đốn Đảng để Đảng Cộng sản Việt Nam vững mạnh, trở thành Đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam; không ngừng nâng cao bản lĩnh và trí tuệ của Đảng, nâng cao sức chiến đấu của Đảng trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc xây dựng một chính đảng Mácxit chân chính; đồng thời, coi đó là một quy luật tất yếu, là sự vận động và phát triển của Đảng trong tiến trình phát triển của cách mạng do Đảng lãnh đạo. Và không phải ngẫu nhiên, trong Di chúc, Hồ Chí Minh lại căn dặn, để Đảng trong sạch, chân chính, vững mạnh, “các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Đó là vì:

Một là, đoàn kết được coi là nguyên tắc cơ bản trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là bảo đảm đầu tiên và thường xuyên cho sự vững mạnh và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng; tạo nên sức mạnh thống nhất trong ý chí và hành động để chiến thắng kẻ thù xâm lược, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Vì đoàn kết là “một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta”, nên mọi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng trên cơ sở đường lối, chủ trương và những nguyên tắc sinh hoạt Đảng; được thể hiện trong nhận thức và hành động, trong mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, nhất quán giữa lời nói và việc làm.

Hai là, “trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi", vì dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là mục tiêu và động lực của sự tiến bộ và phát triển xã hội. Dân chủ trong Đảng là phát huy quyền làm chủ của đảng viên trong tất cả các hoạt động của Đảng, để mọi đảng viên được bày tỏ hết ý kiến của mình, vì thế, mỗi đảng viên ở bất cứ địa vị nào cũng phải gương mẫu thực hành dân chủ. Song dân chủ phải đi đôi với tập trung, với kỷ luật của Đảng và kỷ luật chính là phương tiện để bảo vệ dân chủ, bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ; thực hành dân chủ có tác dụng giải phóng, phát huy tiềm năng, sức sáng tạo của nhân dân; do đó, cán bộ, đảng viên phải lãnh đạo nhân dân một cách dân chủ, phải phát huy vai trò của nhân dân trong mọi lĩnh vực và đó là "cái chìa khoá vạn năng để giải quyết mọi khó khăn". Tuy nhiên, thực hành dân chủ, phát huy quyền làm chủ của đảng viên, của nhân dân phải dưới sự lãnh đạo của Đảng, để bảo đảm cho quá trình thực hiện dân chủ được đúng hướng; để vừa loại bỏ được tình trạng độc đoán, chuyên quyền trong lãnh đạo vừa tránh rơi vào hiện tượng vì "sợ" mất dân chủ mà theo đuôi quần chúng, hoặc dân chủ quá trớn.

Ba là, thường xuyên, nghiêm chỉnh "tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết, thống nhất của Đảng". Nguyên tắc quan trọng này phải được thực thi thường xuyên, liên tục, nghiêm túc, thực chất để phát huy vai trò, khả năng sáng tạo, trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Theo đó, để bảo đảm dân chủ, công khai, bình đẳng trong sinh hoạt Đảng, trong tự phê bình và phê bình: một mặt, cấp trên và cán bộ lãnh đạo phải tự phê bình nghiêm túc, phải chân thành tiếp thu ý kiến phê bình của đồng chí mình và cấp dưới; mặt khác, phải động viên cấp dưới và quần chúng phê bình tổ chức đảng và đảng viên chân thành, triệt để trên "tình đồng chí thương yêu lẫn nhau".

Bốn là, thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư như Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư để Đảng thật trong sạch, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân". Khẳng định vai trò nền tảng, ý nghĩa quyết định của đạo đức cách mạng, coi đạo đức là cái gốc của người cách mạng, là cơ sở nền tảng của một đảng cầm quyền "là đạo đức, là văn minh", Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Trong tư tưởng của Người, đạo đức cách mạng là “quyết tâm suốt đời” đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, “ra sức làm việc” cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng; thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lên trên, lên trước lợi ích cá nhân mình; “hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”, vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi công việc; ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác để cùng tiến bộ... Với Hồ Chí Minh, làm cách mạng là để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới, đó là một sự nghiệp rất vẻ vang song vô cùng khó khăn, gian khổ, do vậy “người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. Mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải "thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư" theo lời Người dặn chính là để rèn mình, chống thói hư tật xấu trong mình như tham ô, lãng phí, quan liêu, tham nhũng, cá nhân chủ nghĩa,v.v.. để xứng đáng với vai trò tiền phong.

Thực hiện được 4 điều Hồ Chí Minh trăn trở, căn dặn trong Di chúc chính là góp phần “giữ gìn Đảng ta thật trong sạch”, “xứng đáng là người lãnh đạo”, “là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”; để mỗi cán bộ, đảng viên rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lý tưởng cách mạng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mẫu mực về tấm gương đạo đức cách mạng và tầm cao năng lực trí tuệ nhằm quy tụ, lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước bền vững.

Không chỉ chú trọng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; thường xuyên yêu cầu cán bộ, đảng viên phải rèn luyện đạo đức cách mạng, gắn bó mật thiết với nhân dân,v.v.. Hồ Chí Minh còn luôn là một tấm gương mẫu mẫu mực về rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, luôn thống nhất giữa nói và làm. Một Hồ Chí Minh hết lòng yêu thương nhân dân, luôn vui niềm vui của đồng bào, đồng chí, buồn nỗi buồn của áp bức, bất công; chỉ vui trọn vẹn khi không còn chiến tuyến, khi không còn chiến tranh đã luôn làm ấm lòng những người xung quanh mình. Hồ Chí Minh - con người và nhân cách vĩ đại đã từng được suy tôn là “một hiền nhân” là người đã thực hiện trọn vẹn những điều vốn là khát vọng lâu đời được nêu trong sách Luận ngữ: “Đem lại sự nghỉ ngơi cho người già, đem lại lòng tin cậy cho bầu bạn, đem lại tình thương yêu cho trẻ nhỏ” - không chỉ thuộc về hiện tại mà Người còn thuộc về tương lai cả trong ý nghĩ, tầm nhìn chiến lược và những quyết sách, hành động.

Thứ Hai, 18 tháng 10, 2021

NHIỆM VỤ CƠ BẢN ĐỂ GIỮ GÌN SỰ ĐOÀN KẾT THỐNG NHẤT TRONG ĐẢNG THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Một là, xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, tạo sự thống nhất về chính trị tư tưởng và các chương trình hành động; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, bởi đây là cơ sở quan trọng nhất để xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Đảm bảo thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thiểu số phục tùng đa số, cá nhân phục tùng tổ chức, cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng Trung ương. Cụ thể, “trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi”, đảm bảo công khai, cởi mở, bình đẳng, dân chủ giữa cấp trên và cấp dưới; dân chủ trên mọi lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa; kết hợp hài hòa giữa dân chủ gián tiếp và dân chủ trực tiếp, nhất là trong xây dựng, ban hành các chỉ thị, nghị quyết, chính sách. Để thực hiện dân chủ thực chất, phải khắc phục bệnh dân chủ hình thức; khắc phục tệ quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, độc đoán, coi thường ý kiến người khác, coi thường quần chúng… song cũng phải ngăn ngừa việc lợi dụng dân chủ để gây rối theo kiểu tự do vô chính phủ.

Hai là, “thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Coi tự phê bình và phê bình là nguyên tắc để phát triển Đảng, là thang thuốc nhằm mục đích “trị bệnh cứu người”, qua đó củng cố và tăng cường kỷ luật của Đảng, phát huy dân chủ và giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Trong tự phê bình và phê bình, phát huy vai trò gương mẫu của cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu; đồng thời, thông qua tự phê bình và phê bình trên tinh thần nêu gương, tự giác, chân thành, thẳng thắn, khách quan, trung thực, không mệnh lệnh, áp đặt,v.v.. mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu phải gương mẫu“tự soi, tự sửa”, giúp đồng chí và quần chúng “tự soi, tự sửa”, để mỗi người có tinh thần trách nhiệm hơn trong hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao.

Ba là, “mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”, tận tâm, tận lực vì Tổ quốc và nhân dân phục vụ để “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Tăng cường đoàn kết nhất trí trong Đảng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, trên cơ sở mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc gắn với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Qua đó, tạo sự chuyển biến về nhận thức, trách nhiệm của tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên đối với việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đặc biệt, phải lựa chọn và xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu có đủ phẩm chất đạo đức và năng lực công tác; luôn thống nhất giữa nói và làm; có vai trò tiên phong, nêu gương, đi đầu trong mọi lĩnh vực, thực sự là trung tâm quy tụ, đoàn kết của mỗi tổ chức Đảng, mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị; đồng thời, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần ngăn chặn các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Bốn là, tăng cường và đẩy mạnh thực hiện công tác kiểm tra và giám sát, mở rộng trong kiểm tra và giám sát. Trong kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm với tinh thần quyết tâm cao, bản lĩnh vững vàng, giữ vững nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong nhiệm kỳ và hằng năm để sớm phát hiện những biểu hiện vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, những biểu hiện đoàn kết hình thức, giả hiệu, “bằng mặt không bằng lòng”... Đồng thời, tập trung xử lý dứt điểm tình trạng mất đoàn kết nội bộ, những việc lợi dụng bất đồng ý kiến, mâu thuẫn trong nội bộ dẫn đến nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm tan rã khối đoàn kết thống nhất trong Đảng.

Năm là, đẩy mạnh, tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với các quy định về nêu gương trên các phương tiện truyền thông, nhất là Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương". Thông qua việc nêu gương, nhân rộng các tấm gương điển hình của tập thể và cá nhân để “giáo dục lẫn nhau”, thiết thực giữ gìn và củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, xây dựng sự đồng thuận, tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị.

Thứ Hai, 6 tháng 9, 2021

“GIÃN CÁCH XÃ HỘI, NHƯNG TÌNH NGƯỜI LẠI GẦN HƠN”

Tinh thần đoàn kết của dân tộc, sự hi sinh thân mình vì người khác không chỉ thể hiện trong hành động của các lực lượng tuyến đầu mà còn lan tỏa khắp các hang cùng, ngõ hẻm. Tuy giãn cách xã hội nhưng tình người lại gần gũi nhau hơn.

Nhiều “bếp lửa” ấm tình đồng bào được duy trì để tiếp thực phẩm cho chiến sĩ, dân, quân ở mặt trận phòng, chống dịch; các máy ATM gạo, ATM khẩu trang, ATM Oxy được đưa vào sử dụng; phong trào vận động chủ nhà trọ giảm giá hoặc miễn phí phòng trọ cho công nhân, người nghèo, hộ cận nghèo…; “Gian hàng 0 đồng”, “ Bếp ăn yêu thương”, “Siêu thị nghĩa tình”; “Siêu thị 0 đồng”, “Tổ tình nguyện đi chợ giúp dân”, “Quà đến tận nhà”, “Giao hàng tình nguyện”, chốt “Bảo vệ vùng xanh”… được hình thành và nở rộ ở nhiều địa phương.

Tất cả những nghĩa cử cao đẹp ấy được kết tinh từ truyền thống tốt đẹp của “máu chảy ruột mềm”, “thương người như thể thương thân”.

Bà Tô Thị Bích Châu, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP.HCM cho rằng, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc là nhân tố quyêt định thắng lợi bền vững của Cách mạng Việt Nam và chiến thắng trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19.

Là địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch COVID-19, người dân Thành phố không khỏi cay sống mũi khi những chuyến tàu, chuyến xe mang lương thực, thực phẩm từ các địa phương cách xa hơn nghìn cây số đến với nhân dân Thành phố trong thời điểm giãn cách với nhiều chiến dịch như: “Tuần lễ vì Thành phố mang tên Bác”, “Tất cả vì miền Nam thân yêu”.v.v…

“Giãn cách xã hội, nhưng tình người lại gần hơn” – bà Tô Thị Bích Châu, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP.HCM chia sẻ.

Kết quả của tinh thần đoàn kết còn được thể hiện sinh động qua sự tham gia đóng góp kinh phí phòng chống dịch COVID-19 và mua vaccine phòng, chống dịch, ủng hộ trang thiết bị y tế, các vật phẩm y tế, lương thực, thực phẩm .v.v… của các tổ chức, cá nhân, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trong và ngoài nước, của Đảng bộ, Chính quyền, Mặt trận, đoàn thể, nhân dân trong nước, Kiều bào ta ở nước ngoài…

Cội nguồn sức mạnh của dân tộc chính là tinh thần đoàn kết. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Giữa đoàn kết và thắng lợi có mối quan hệ chặt chẽ, qui mô của đoàn kết quyết định quy mô, mức độ của thành công. Chỉ khi cả dân tộc kết thành một khối thống nhất, đồng thuận, đồng lòng thì đất nước mới đủ sức mạnh vượt qua mọi khó khăn, thử thách.

Không thống nhất ý chí và hành động, không nương tựa và đùm bọc lẫn nhau, chúng ta không bao giờ có được địa vị và sức mạnh như ngày hôm nay./.

Thứ Tư, 4 tháng 8, 2021

“CHỦ NGHĨA CHIA RẼ VÀ CỰC ĐOAN” MỘT QUAN ĐIỂM HẾT SỨC SAI LẦM VỀ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

Quan điểm này đem quy chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan, đối lập với tư tưởng “đoàn kết và thống nhất của Hồ Chí Minh”.

Đây là sự quy chụp, áp đặt cho chủ nghĩa Mác - Lênin một cách vô căn cứ, vu khống, bịa đặt. Bởi vì chia rẽ, cực đoan không phải là bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin mà đó là tư tưởng và hành động sai lầm của những người theo chủ nghĩa chia rẽ, bè phái, tả khuynh hoặc hữu khuynh...

Chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học phản ánh những quy luật khách quan của thế giới, dựa trên phương pháp biện chứng duy vật với các quan điểm khách quan, toàn diện, phát triển, lịch sử - cụ thể và thực tiễn chứ không phải dựa trên chia rẽ và cực đoan, phiến diện, không thể đồng nhất, lẫn lộn những sai lầm đó với chủ nghĩa Mác - Lênin.

Trên thực tế, như chúng ta biết, C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất trong phong trào cách mạng. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại!”. Về sau này Lênin bổ sung thêm: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, xây dựng các chính đảng cách mạng, C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đều yêu cầu phải đoàn kết, thống nhất để tạo thành sức mạnh của tổ chức cách mạng.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn giương cao ngọn cờ đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, đoàn kết toàn dân, đoàn kết toàn Đảng.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy khi nào đoàn kết thì thắng lợi, chia rẽ là thất bại.

Đảng ta đã đúc rút bài học quan trọng: “Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng Việt Nam”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công”.

Đảng cũng khẳng định, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực chủ yếu, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam./.

Thứ Hai, 14 tháng 6, 2021

MỤC TIÊU NHẤT QUÁN CỦA ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN TA LÀ ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP, TỰ DO, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC, TIẾN LÊN XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt của cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua. Trong gần một thế kỷ đấu tranh, lao động, sáng tạo, Đảng và nhân dân ta đã từng bước nhận thức đầy đủ hơn, hình dung rõ ràng hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Chúng ta thực hiện mục tiêu, lý tưởng đó trong bối cảnh gặp nhiều khó khăn, thách thức. Song dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng đã đưa đất nước ta vượt qua khó khăn, đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và khởi xướng đường lối đổi mới, mở cửa hội nhập với thế giới.

30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 (bổ sung phát triển năm 2011) và 35 năm đổi mới: “đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, là nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững đất nước”1. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hình thành, phát triển; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được đẩy mạnh; kinh tế vĩ mô ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức cao, chất lượng tăng trưởng được cải thiện, quy mô và tiềm lực kinh tế đất nước tăng lên. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, phát triển con người, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu được coi trọng và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Các chính sách, bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, chính sách dân tộc, tôn giáo được thực hiện có kết quả. Chính trị xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đạt nhiều thành tựu nổi bật. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, dân chủ xã hội chủ nghĩa được tăng cường. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có nhiều tiến bộ, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn; tổ chức bộ máy lập pháp, hành pháp và tư pháp ngày càng được hoàn thiện. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả rõ rệt. Nhìn một cách tổng thể, mọi lĩnh vực trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước được thực hiện một cách đồng bộ, mạnh mẽ, hiệu quả, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng lòng ủng hộ, tin tưởng, bạn bè quốc tế tín nhiệm.

Thứ Tư, 3 tháng 2, 2021

ĐẠI HỘI XIII: HÂN HOAN NIỀM TIN VÀ SỰ KỲ VỌNG VỀ TƯƠNG LAI ĐẤT NƯỚC

Với sự truyền cảm hứng từ thành công của Đại hội XIII, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - một Đảng luôn thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động sẽ tiếp tục kiên định đường lối đổi mới, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội để xây dựng, bảo vệ, phát triển đất Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Ngày 1/2/2021, với tinh thần "Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Sáng tạo - Phát triển", Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thành công tốt đẹp về nội dung, cách thức và cách thức thông qua các Nghị quyết. Đại hội đã sáng suốt lựa chọn và đoàn kết, thống nhất bầu ra Ban Chấp hành Trung ương khóa mới gồm 180 đồng chí ủy viên chính thức và 20 đồng chí ủy viên dự khuyết; đã nhất trí thông qua Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII.

Với ý thức trách nhiệm cao trước Đảng, nhân dân và đất nước, Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII đã họp Hội nghị lần thứ nhất và bầu Bộ Chính trị gồm 18 đồng chí; Ban Bí thư gồm một số đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị được Bộ Chính trị phân công tham gia Ban Bí thư và 5 đồng chí được bầu tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII; Ủy ban Kiểm tra Trung ương gồm 19 đồng chí và đồng chí Trần Cẩm Tú tiếp tục được bầu làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII. Đặc biệt, với sự thống nhất và tin tưởng cao, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã bầu đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

Trong niềm tin tưởng vào Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo nhân dân xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, có thể thấy rằng:

Một là, kết quả của Đại hội là sự kết tinh sức mạnh nội lực của sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng: "Sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các cán bộ lãnh đạo” - cơ sở của khối đại đoàn kết toàn dân; là sự thể hiện cao của nguyên tắc tập trung dân chủ và tinh thần, trách nhiệm, đạo đức và ý thức tổ chức "kỷ luật rất nghiêm từ trên xuống dưới. Kỷ luật này là tư tưởng phải nhất trí, hành động phải nhất trí. Kỷ luật này là do lòng tự giác của đảng viên về nhiệm vụ của họ đối với Đảng" của mỗi đại biểu dự Đại hội trước Đảng, trước Tổ quốc và nhân dân, nên có sức mạnh truyền cảm hứng cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân vào tương lai tươi sáng của đất nước.

Trong niềm vui và phấn khởi, tự hào, lời phát biểu đầy tinh thần trách nhiệm và tâm huyết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trong phiên bế mạc Đại hội: "Tập thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII xin hứa trước Đại hội, trước toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, sẽ hết sức cố gắng, ra sức phấn đấu, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ, tiếp nối, kế thừa truyền thống, những thành quả cách mạng đã đạt được, cùng với toàn Đảng, toàn dân phát huy những truyền thống vẻ vang và kinh nghiệm quý báu của Đảng ta, dân tộc ta, tăng cường đoàn kết nhất trí, thống nhất tư tưởng và hành động…" để sớm đưa Nghị quyết đại hội XIII vào cuộc sống không chỉ là lời hứa, là vinh dự và trách nhiệm của Tổng Bí thư và Ban Chấp hành Trung ương Đảng mà còn chính là lời hứa của mỗi cán bộ, đảng viên trước Tổ quốc và nhân dân.

Hai là, trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là một khối thống nhất. Sức mạnh của Đảng là sự thống nhất trong tư tưởng và hành động, là "đồng tâm nhất trí, mạnh bạo xung phong"; là thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng và "phải thật sự mở rộng dân chủ"; là sự gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tin yêu, đồng lòng ủng hộ...

Vì thế, việc Đảng tiếp tục kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, không ngừng vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đồng thời, phải tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh; tiếp tục nâng cao bản lĩnh, năng lực lãnh đạo, cầm quyền trong hoạch định và thực hiện đường lối, chính sách phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu hướng phát triển của thời đại; giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc, cơ chế, quy định của Đảng, thực hành dân chủ gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng… không chỉ thể hiện sự kiên định, bản lĩnh của một Đảng Mácxít cách mạng chân chính - Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện mà còn chứng tỏ vị trí, vai trò độc quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam như Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định.

Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ lãnh đạo nhân dân Việt Nam thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025; định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 và 6 nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XIII; kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đất nước Việt Nam phát triển hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.

Ba là, nhiệm vụ của Đảng là "ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC” và "Sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm chỉnh của cán bộ và đảng viên”, vì thế, ở đâu và bao giờ, cán bộ, đảng viên cũng "phải hết lòng tôn trọng tập thể, phát huy dân chủ nội bộ, tuyệt đối không được độc đoán cá nhân, tự đặt mình cao hơn tổ chức, tự cho phép mình đứng ngoài kỷ luật. Càng có công lao càng phải khiêm tốn" để bảo đảm cho đường lối, chủ trương của Đảng được chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện thắng lợi.

Thực tế, kết quả của Đại hội về công tác nhân sự và việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tiếp tục được Đại hội tín nhiệm bầu là Tổng Bí thư nhiệm kỳ 2021-2026 thêm một lần khẳng định rằng: Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị từ Trung ương đến cơ sở muốn xứng đáng là người lãnh đạo - người đầy tớ thật trung thành của nhân dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn thì nhất định phải/luôn luôn phải rèn luyện, trau dồi phẩm chất, đạo đức cách mạng để không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị và năng lực công tác.

Mỗi người ở từng vị trí công tác của mình phải luôn phụng sự và liêm chính, phải "ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình; phải tận tâm, tận lực vì dân", "phải nâng cao tinh thần phụ trách trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải yêu kính nhân dân. Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt làm "quan cách mạng" ra lệnh ra oai…đi đúng đường lối quần chúng, thành tâm học hỏi quần chúng, kiên quyết dựa vào quần chúng, giáo dục và phát động quần chúng tiến hành mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước", nhất là "phải luôn chăm lo đến đời sống của quần chúng. Phải "chí công vô tư" và có tinh tần "lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ". Đó là đạo đức của người cộng sản" để quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, đáp ứng được lòng mong đợi của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.

Bốn là, trong niềm vui chung và niềm tin tưởng tuyệt đối vào Đảng Cộng sản Việt Nam, vào lời hứa của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng: "Mang lại ấm no, hạnh phúc thực chất cho nhân dân mới là thành công của Đại hội", nhân dân kỳ vọng vào một đất nước Việt Nam ngày càng phát triển bền vững theo đúng Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Theo đó, mục tiêu cụ thể đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ trở thành nước phát triển, thu nhập cao…

Thành công của Đại hội XIII cũng cho thấy một sự thật là, các thế lực thù địch càng tăng cường các hoạt động chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, những nội dung liên quan đến đại hội XIII nói riêng, nhất là về công tác nhân sự và nội dung văn kiện Đại hội nhằm chia rẽ/tách rời Đảng với dân tộc, Đảng với nhân dân và kiều bào yêu nước thì càng lộ rõ dã tâm thâm độc, xấu xa của chúng. Những luận điệu phản động của những người mượn danh yêu nước, dân chủ để chống Đảng này xuất hiện trong không khí mừng Xuân Tân Sửu 2021, kỷ niệm 91 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2021) và mừng thành công Đại hội XIII của Đảng đang bừng lên trong cả nước nhất định sẽ được nhân dân nhận diện và cảnh giác cao độ.

Năm là, thành công của Đại hội cũng cho thấy rằng, những thông tin lề trái trên mạng xã hội trước Đại hội và trong những ngày Đại hội diễn ra chỉ là sự bôi đen, bịa đặt của thế lực thù địch luôn có dã tâm chống Đảng Cộng sản Việt Nam.

Những thông tin sai trái, thù địch như: Văn kiện Đại hội XIII chẳng có gì mới, nên "đó là con đường đi không đến", là sẽ đưa đất nước Việt Nam đến mãi lạc hậu; rằng Đại hội XIII của Đảng là cuộc tranh giành quyền lực, phe nhóm trong Đảng; là sự chia chác quyền lợi giữa các vùng miền; nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng "chỉ là dân chủ của một nhóm người, đại khái là “con vật nào cũng bình đẳng, nhưng có một số con được bình đẳng hơn”"; "bỏ phiếu không quan trọng, kiểm phiếu quyết định tất cả"; rằng "việc ông Nguyễn Phú Trọng tiếp tục giữ chức Tổng Bí thư đảng cộng sản Việt Nam tôi cho rằng đó là một điều xấu, không nên làm"; "xây dựng Đảng là xây dựng tình huống"… cho thấy âm mưu chống phá của các thế lực thù địch đối với Đảng Cộng sản Việt Nam là không có điểm dừng.

Trong niềm tin tưởng và sự kỳ vọng, có thể khẳng định rằng: Dù được lấp liếm dưới hình thức nào, bằng phương tiện gì thì những thông tin sai trái, thù địch, những luận điệu phản động lan tràn trên mạng xã hội cũng không thể phủ nhận hoặc làm giảm đi niềm vui mừng và phấn khởi mới, niềm tin tưởng và khát vọng mới của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trước thành công của Đại hội XIII và tươi lai tươi sáng của đất nước.

Với sự truyền cảm hứng từ Đại hội XIII, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - một Đảng luôn thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng; luôn "hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến quần chúng"[10] sẽ tiếp tục kiên định đường lối đổi mới; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia/dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác và cùng có lợi để xây dựng, bảo vệ, phát triển đất Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong niềm hân hoan và sự kỳ vọng, tin tưởng và bảo vệ Đảng, việc kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định đường lối đổi mới và sáng tạo trong tổ chức, triển khai thực hiện của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang kiên trì xây dựng mà còn là động lực tinh thần và sức mạnh nội lực để nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng vững bước trên hành trình hướng đến tương lai, đến độc lập, tự do, hạnh phúc và phồn vinh.