Hiển thị các bài đăng có nhãn hòa bình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hòa bình. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 13 tháng 2, 2023

VIỆT NAM CỬ “SỨ GIẢ HÒA BÌNH” SANG THỔ NHĨ KỲ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ

Sáng 6-2, Thổ Nhĩ Kỳ đã trải qua thảm kịch gây thiệt hại lớn về người và tài sản do hai trận động đất và hàng trăm rung chấn vào. Đây là thảm họa khủng khiếp nhất trong vòng một thế kỷ qua đã càn quét trên lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ, kể từ năm 1939. Tính đến ngày 9-2, số người chết đã lên đến 16.000 người, hàng chục nghìn căn nhà bị phá hủy, ước tính 13,5 triệu người tại khu vực bị ảnh hưởng.

Với tinh thần quốc tế cao cả, Ngày 10-2, Bộ Quốc phòng cử  76 cán bộ, chiến sĩ, Bộ Công An đã cử 24 cán bộ chiến sĩ đến Thổ Nhĩ Kỳ để thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, cứu nạn người trong vụ động đất. Đây là lần đầu tiên Việt Nam triển khai lực lượng tham gia hoạt động tìm kiếm, cứu nạn đối với thảm họa thiên tai xảy ra ở rất xa lãnh thổ Việt Nam, phối hợp cùng nhiều quốc gia khác trên thế giới. Bộ Công an đã lựa chọn những chiến sĩ, sĩ quan tinh nhuệ nhất, khỏe nhất, được đào tạo cơ bản, đã tham gia nhiều khóa tập luyện tại nước ngoài, sẵn sàng làm hết sức mình tham gia cứu nạn, cứu hộ tại Thổ Nhĩ Kỳ. Lực lượng của Bộ Quốc Phòng bao gồm đội Quân y (Tổng cục Hậu cần) với quân số 30 người; đội Cứu sập (Binh chủng Công binh) với 30 người; đội chó nghiệp vụ tìm kiếm cứu nạn (Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng) với 9 người bao gồm huấn luyện viên và chỉ huy cùng 6 chó nghiệp vụ; bộ phận chỉ huy và cơ quan với quân số 7 người. Cán bộ, chiến sĩ tham gia đoàn công tác lần này, là những người có trình độ, năng lực chuyên môn tốt, được đào tạo bài bản và có kinh nghiệm trong hoạt động tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ cả trong nước và quốc tế, sẵn sàng tham gia cứu nạn, cứu hộ tại Thổ Nhĩ Kỳ.

Việc Việt Nam cử lực lượng quân đội, Công an tham gia hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa tại Thổ Nhĩ Kỳ, sẽ đóng góp, chia sẻ một phần sức lực của Việt Nam đối với nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ. Đồng thời thể hiện cam kết chính trị của Đảng, Nhà nước với vai trò là một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, sẵn sàng chung tay giải quyết các vấn đề khó khăn, thách thức và duy trì môi trường hòa bình, ổn định vì hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới".

Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2022

KIÊN QUYẾT, KIÊN TRÌ ĐẤU TRANH BẢO VỆ VỮNG CHẮC ĐỘC LẬP, CHỦ QUYỀN, THỐNG NHẤT, TOÀN VẸN LÃNH THỔ, VÙNG TRỜI, VÙNG BIỂN CỦA TỔ QUỐC ĐI ĐÔI VỚI GIỮ VỮNG MÔI TRƯỜNG HÒA BÌNH, ỔN ĐỊNH ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc luôn đặt trong mối quan hệ biến chứng với bảo đảm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đi đôi với giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước”. Đây là một trong những nội dung quan trọng của bài học kinh nghiệm lớn được đúc rút từ thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện bước phát triển nhận thức mới của Đảng về bảo vệ Tổ quốc; là bước phát triển cụ thể hóa sâu sắc tư duy của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Trên cơ sở dự báo tình hình thế giới, khu vực tiếp tục sẽ có những diến biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường; trong nước vẫn tồn tại các nguy cơ gây bất ổn tác động mạnh mẽ đến công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, Đảng ta đã khẳng định phải tiếp tục kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đi đôi với giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước. Theo đó, mục đích, phương châm kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc phải hướng đến giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Kiên quyết, kiên trì dùng mọi biện pháp có thể để đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc nhưng không phá vỡ môi trường hòa bình, gây bất ổn cho đất nước. Ngược lại, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước phải tạo ra những điều kiện thuận lợi, luôn song hành với thực hiện có hiệu quả mục đích, phương châm kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc. Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước không thể được tạo ra bởi nhân nhượng, thỏa hiệp, mà phải bằng ý chí kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc.

TÍNH CHẤT CƠ BẢN CỦA NỀN QUỐC PHÒNG VIỆT NAM LÀ HÒA BÌNH VÀ TỰ VỆ

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó dự báo, các thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá cách mạng Việt Nam trên nhiều lĩnh vực. Trong bối cảnh đó, Đảng, Nhà nước ta đã, đang tiến hành nhiều biện pháp để tạo lập, phát huy cao nhất mọi nguồn lực của đất nước; tận dụng có hiệu quả môi trường quốc tế thuận lợi phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tại Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục kiên trì, nhất quán thực hiện chính sách hòa bình và tự vệ; không xâm lược hoặc đe dọa xâm lược bất kỳ quốc gia nào, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, mọi hoạt động xây dựng, củng cố quốc phòng, tăng cường tiềm lực, sức mạnh quân sự, hiện đại hóa quân đội đều nhằm duy trì sức mạnh cần thiết, đủ sức để tự vệ, giữ vững hòa bình, ổn định đất nước, ngoài ra không có mục đích nào khác. Kể cả trong trường hợp buộc phải tiến hành một cuộc chiến tranh để tự vệ thì cái đích cũng là vì hòa bình, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Thực hiện mục đích cao cả đó, chủ trương của Đảng là: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển” và “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Điều đó khẳng định, chính sách quốc phòng của Việt Nam là chính sách quốc phòng vì hòa bình và tự vệ, thể hiện rõ bản chất cách mạng, tiến bộ, chính nghĩa và thiện chí cùng nhau chung sống hòa bình, hợp tác, phát triển thịnh vượng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta. Đồng thời, góp phần thống nhất nhận thức, tạo sự đồng thuận về nghĩa vụ, trách nhiệm, huy động mọi nguồn lực cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, cũng là để xây dựng, củng cố lòng tin chiến lược giữa các nước với Việt Nam, làm cơ sở mở rộng, nâng cao hiệu quả các mối quan hệ, hợp tác, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2022

TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC CHÍNH NGHĨA, GIỮ GÌN HÒA BÌNH, TÔN TRỌNG ĐẠO LÝ VÀ TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC CHO THẾ HỆ TRẺ

Dân tộc ta yêu hòa bình, luôn mong muốn được sống trong hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước; luôn mong muốn hòa hiếu, hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng và tất cả các nước trên thế giới. Dân tộc ta chỉ buộc phải cầm súng để chống lại kẻ thù xâm lược, bảo vệ tự do, độc lập, chủ quyền quốc gia của mình. Các chiến công oanh liệt của dân tộc ta, được thế giới ngưỡng mộ, đều là chiến công trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm để bảo vệ tự do, độc lập dân tộc và độc lập, thống nhất đất nước.

Là nạn nhân của nhiều cuộc chiến tranh với đau thương, hy sinh xương máu, Việt Nam luôn mong muốn dập tắt mọi ngọn lửa chiến tranh để hòa bình đến với mọi quốc gia, dân tộc. Đó chính là đạo lý chính nghĩa và nhân nghĩa truyền thống của dân tộc Việt Nam mà Đảng ta, dân tộc ta hiện nay cần tôn trọng, gìn giữ và phát huy; vì đó chính là cầu nối giữa đất nước ta, dân tộc ta với các quốc gia, dân tộc khác vì tương lai và văn minh của nhân loại. Trong bối cảnh diễn biến hết sức phức tạp của tình hình thế giới hiện nay, chúng ta lên án các cuộc chiến tranh xâm lược, các hoạt động khủng bố, gây bạo loạn, lật đổ, can thiệp vào công việc nội bộ các quốc gia có chủ quyền; ủng hộ các cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Đặc biệt, trước những diễn biến phức tạp trong khu vực, những âm mưu và hành động xâm chiếm, gây nên tranh chấp trên Biển Đông, đe dọa chủ quyền biển, đảo của đất nước ta, chúng ta kiên quyết phản đối. Kế thừa truyền thống yêu hòa bình, hòa hiếu, nhân nghĩa của dân tộc, chúng ta kiên trì giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, các thỏa thuận giữa ASEAN và Trung Quốc, đồng thời bảo vệ môi trường hòa bình, ổn định cho sự phát triển đất nước ta, hòa bình, ổn định trong khu vực.

Dân tộc Việt Nam luôn hành động theo lẽ phải. Vì vậy, chính nghĩa, lẽ phải thuộc về dân tộc ta. Chúng ta nêu cao chính nghĩa sáng ngời để đoàn kết, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, đồng bào trong nước, kiều bào ta ở nước ngoài; để tranh thủ, thu hút sự ủng hộ rộng rãi, mạnh mẽ của các nước, của cộng đồng quốc tế đối với cuộc đấu tranh của nhân dân ta. Đồng thời chúng ta luôn tích cực chuẩn bị những giải pháp phù hợp khác, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Với sức mạnh và khí thế của Đại thắng mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, dân tộc Việt Nam sẽ luôn kiên định, tự tin và mạnh mẽ vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, tiếp tục đưa công cuộc đổi mới của chúng ta tới bến vinh quang, cập bờ hạnh phúc, cùng nhân loại tiến bộ chung sức xây dựng một thế giới hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác, phồn vinh, thịnh vượng./.

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2022

ĐẤU TRANH VÌ MỘT NƯỚC VIỆT NAM HÒA BÌNH, ĐỘC LẬP, THỐNG NHẤT, DÂN CHỦ VÀ GIÀU MẠNH LÀ KHÁT VỌNG CỦA MỌI NGƯỜI DÂN VIỆT NAM YÊU NƯỚC CHÂN CHÍNH

Thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, thì không có việc dùng "chiêu bài chống thực dân, đế quốc" và "chiêu bài giải phóng miền Nam" để tiến hành cuộc trường chinh kháng chiến dài 30 năm (1945-1975) như những quy chụp hồ đồ, xuyên tạc, mà chỉ có một sự thật lịch sử:

Đó là, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn; đã thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh đạo nhân dân Việt Nam đoàn kết "muôn người như một" trong Mặt trận dân tộc thống nhất, rộng rãi để tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mùa Thu năm 1945; đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; đồng thời đưa những "thần dân", những người nô lệ xứ An Nam thuộc Pháp trở thành chủ nhân của nước Việt Nam độc lập, tự do.

Đó là, trước dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, của đế quốc Mỹ và để bảo vệ nền độc lập, tự do đã giành được; để thực hiện tâm nguyện của đồng bào và chiến sĩ cả nước về một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất trong bối cảnh vận mệnh đất nước như "ngàn cân treo sợi tóc", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hứa: "Vì yêu mến và tin cậy tôi, mà đồng bào giao vận mệnh nước nhà, dân tộc cho tôi gánh vác. Phận sự tôi như một người cầm lái, phải chèo chống thế nào để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt khỏi những cơn sóng gió, mà an toàn đi tới bến bờ hạnh phúc của nhân dân".

Đồng thời, Người đã cùng Trung ương Đảng bình tĩnh, sáng suốt phân tích tình hình, kịp thời đề ra đường lối đúng đắn và những biện pháp khôn khéo để từng bước giải quyết nạn đói, phát triển kinh tế, văn hóa; tiêu diệt nạn dốt; tổ chức thành công tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I, soạn thảo và thông qua Hiến pháp 1946; đồng thời tiến hành nhiều hoạt động đối ngoại khẩn cấp (ký Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 và Tạm ước 14/9/1946…), góp phần kéo dài thêm một khoảng thời gian hòa bình quý giá cho việc chuẩn bị tinh thần và lực lượng của dân tộc khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) theo Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946 sau đó!

Đó là, hòa bình, độc lập, tự do và thống nhất đất nước không chỉ là khát vọng ngàn đời của mỗi một quốc gia, dân tộc mà đó còn là quyền thiêng liêng nhất, là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của quốc gia, dân tộc đó trong cộng đồng thế giới. Vì thế, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi (1945-1954), khi đế quốc Mỹ cam tâm phá hoại Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Đông Dương (20/7/1954), chia rẽ hai miền Nam, Bắc; nhất là khi vĩ tuyến 17, Cầu Hiền Lương, sông Bến Hải, Luật 10/59, chính sách “tố cộng, diệt cộng”, dồn dân lập ấp chiến lược, đàn áp, bắt bớ, tù đầy và ngăn cản sự thống nhất Bắc - Nam được Mỹ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm thực thi ở miền Nam, thì một “địa ngục trần gian” ở miền Nam có thể chia cắt đất nước ta về không gian và thời gian, song đã không thể chia cắt ý chí và niềm tin của cả dân tộc về một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ!

Thực tế, đến cuối năm 1958 đầu năm 1959, cách mạng miền nam đứng trước những thử thách ác liệt. Kẻ thù đã giết hại, giam cầm 93.362 cán bộ, đảng viên (7/1955 - 2/1956); riêng ở Nam Bộ, chúng đã giết hại khoảng 68.000 cán bộ, đảng viên, bắt 446.000 người (1955- 1958)… Cho nên, đứng trước tình hình và nhiệm vụ cách mạng mới, nhằm duy trì và phát triển phong trào cách mạng, đáp ứng đòi hỏi bức xúc của cán bộ, đảng viên, của đồng bào yêu nước miền Nam và cũng là đòi hỏi cấp bách của lịch sử, Hội nghị lần thứ 15(mở rộng, từ ngày 12-22/1/1959) đã nhận định: "Cách mạng Việt Nam do Ðảng ta lãnh đạo bao gồm hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Hai nhiệm vụ chiến lược đó tuy tính chất khác nhau nhưng quan hệ hữu cơ với nhau, song song tiến hành, ảnh hưởng sâu sắc lẫn nhau, trợ lực mạnh mẽ cho nhau nhằm phương hướng chung là giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội".

Thực hiện Nghị quyết 15 và sau đó là Nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng (9/1960) cùng nhiều Nghị quyết chuyên đề khác, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cứu nước của nhân dân ta từng bước giành được thắng lợi, tiến tới cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Thứ Tư, 16 tháng 2, 2022

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ HÒA HIẾU, YÊU CHUỘNG HÒA BÌNH

Hồ Chí Minh khẳng định “Nhân dân ta yêu chuộng hòa bình”, với truyền thống này có từ ngàn xưa đến nay. Trong cách ứng xử, nhân dân ta luôn “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, sống hòa hiếu với láng giềng, với bạn bè. Theo Hồ Chí Minh: “Nhân dân Việt Nam yêu hòa bình nhưng quyết không bao giờ lùi bước trước bất kỳ một sự đe dọa nào của bọn đế quốc”. Trong lịch sử, dân tộc Việt Nam đã phải nhiều lần chống lại sự xâm lược, thống trị và nô dịch của ngoại bang, các nước lớn. Có rất nhiều giai đoạn nước Việt Nam phải xưng thần, triều cống, nhận sắc phong của các thế lực phong kiến phương Bắc. Nhưng, đấy không phải là sự mất tự chủ, mà là một phương cách ngoại giao khéo léo, linh hoạt, nhún nhường với tinh thần hòa hiếu trong việc bang giao. Trong các giai đoạn đó, người Việt Nam vẫn làm chủ đất nước, chứ không phải mất độc lập. Mỗi lần chiến thắng, dân tộc Việt Nam đều nêu cao chủ nghĩa nhân đạo, giữ quan hệ hòa hiếu, thân thiện với những quốc gia đã từng xâm lược thống trị mình. Những giá trị truyền thống đó được Hồ Chí Minh ca ngợi: “Chúng ta là một dân tộc yêu chuộng hòa bình, công lý, nhân đạo”, “Chúng ta phải tỏ cho họ biết rằng dân ta yêu tự do, độc lập, trọng hòa bình, tín nghĩa”.

Thứ Hai, 10 tháng 1, 2022

ĐẶC QUYỀN, ĐẶC LỢI VÀ SỰ ĐÁNH MẤT

Trong cuốn sách “Tính trước nguy cơ-suy ngẫm sau 20 năm Đảng Cộng sản Liên Xô mất Đảng” xuất bản năm 2017, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã chỉ ra rằng: Nhiều học giả phương Tây, trong đó có David M.Kotz, cho rằng, ngoài nguyên nhân lãnh đạo ra, sự theo đuổi lợi ích vật chất và danh lợi là nguyên nhân quan trọng khiến giới tinh anh trí thức Liên Xô biến chất nhanh chóng.

Sau này, khoảng cách thu nhập giữa cán bộ Đảng và Nhà nước với quần chúng nhân dân lên tới hàng chục lần. Shevchenko-nhà ngoại giao cấp cao của Liên Xô chạy trốn đến phương Tây-đã mô tả cuộc sống của tầng lớp đặc quyền như sau: “Họ phê phán cách sống của tầng lớp tư sản, nhưng bản thân lại một lòng một dạ chạy theo cách sống đó; họ chỉ trích chủ nghĩa tiêu thụ là sự phản ánh của tư tưởng dung tục, là kết quả độc hại của ảnh hưởng phương Tây, nhưng những người hưởng thụ đặc quyền lại hết sức coi trọng việc hưởng thụ các đồ tiêu dùng và vật chất của phương Tây".

Dưới thời Gorbachev, cuốn sách của tác giả Boldin cho hay, ông này có tài khoản ngân hàng cá nhân mấy triệu USD; xây dựng dinh thự ở nhiều thắng cảnh lên tới hàng trăm triệu rúp... Một bản điều tra vào tháng 6-1991 cho thấy, trong đội ngũ cán bộ cao cấp Đảng Cộng sản Liên Xô, 76,7% đã nhận thấy nên đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, chỉ có 12,3% ủng hộ cải cách dân chủ dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, số người giữ thái độ khẳng định đối với mô hình chủ nghĩa xã hội trước cải tổ chỉ có 9,6%. 

Sự hình thành tầng lớp đặc quyền đặc lợi, đề cao lối sống thực dụng, chạy theo vật chất, văn minh phương Tây một cách mù quáng đã tạo ra hố sâu ngăn sách giữa Đảng và quần chúng, là một nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô. Đặc quyền không làm nên giá trị, không để lại danh thơm. Một ví dụ khác còn để lại bao điều suy nghĩ. Trong lịch sử Giải Nobel Hòa bình, chỉ có duy nhất một trường hợp từ chối nhận là đồng chí Lê Đức Thọ năm 1973. Cùng năm ấy, đối thủ của ông, ngoại trưởng Mỹ Kissinger lại rất "tự hào" và vui vẻ nhận thưởng cùng một cơn bão chỉ trích chưa từng có. Sau này, chính cựu tổng thống Liên Xô Gorbachev cũng nhận giải thưởng này. Có nhiều điều để so sánh và với ông Lê Đức Thọ, trong thư gửi ban tổ chức, ông cũng nói Giải thưởng Nobel là một giải thưởng lớn với thế giới, từ xưa đến nay có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nhưng tại sao ông không nhận? Đơn giản vì với ông, đó không phải là giá trị cao nhất của cuộc sống, của con đường mà ông đang đi. Ủy ban giải đã đặt ngang bằng kẻ xâm lược và người bị xâm lược, giữa kẻ gây chiến tranh và người tạo ra hòa bình. Với ông, hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc cho Tổ quốc, cho nhân dân mới là giá trị to lớn nhất.

Những câu chuyện đó sẽ mãi là những bài học thực tiễn sâu sắc để chúng ta nhìn nhận, xây dựng bức trường thành phòng vệ từ xa, để không đi vào bánh xe đổ khi đội ngũ cán bộ bị lòng ham muốn vật chất làm gục ngã, không còn là công bộc của dân.

Thời gian vừa qua, Thường vụ Quân ủy Trung ương và Tổng cục Chính trị đã chỉ đạo nghiên cứu, xây dựng chuyên đề, dự thảo Nghị quyết của Quân ủy Trung ương về tiếp tục phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Đây là những việc làm rất thiết thực để quán triệt và thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương tại Hội nghị Quân ủy Trung ương lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2020-2025: “Đảng bộ Quân đội phải thật sự trong sạch vững mạnh tiêu biểu, gương mẫu đi đầu trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng; quân đội phải thật sự trong sạch trong nội bộ, đi đầu trong đấu tranh chống tiêu cực, chống chủ nghĩa cá nhân”. Phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ chắc chắn sẽ mãi là ngôi sao sáng dẫn đường để mỗi người lính vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, thiệt thòi, hy sinh, cống hiến và tìm thấy chân giá trị đích thực trong cuộc sống binh nghiệp cách mạng của mình!

Thứ Ba, 7 tháng 9, 2021

BÔI NHỌ TÌNH ĐOÀN KẾT QUÂN DÂN: TẬN CÙNG CỦA SỰ THÂM ĐỘC

Sau chuỗi ngày dài thực hiện giãn cách xã hội, TP Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố phía Nam đang cần lắm sự ủng hộ, giúp đỡ của cả nước để vượt qua làn sóng thứ 4 của dịch COVID-19.

Với tinh thần cả nước cùng miền Nam chống dịch COVID-19, lực lượng vũ trang đã khẩn trương chi viện cho miền Nam, góp phần chặt đứt nguồn lây nhiễm của biến thể Delta trong cộng đồng, giúp người dân ổn định cuộc sống…

Thế nhưng trước việc Quân đội, Công an tăng cường cho miền Nam chống dịch, các thế lực phản động, thù địch cùng những đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị, với âm mưu thâm độc, đã xuyên tạc, bịa đặt, tung những thông tin không chính xác trên một số trang mạng xã hội, hòng bôi xấu những việc làm tốt đẹp của các chiến sỹ Quân đội, Công an, phá hoại tình đoàn kết quân - dân…

Vậy sự thực là như thế nào?

Trước hết cần nói rõ, việc tăng cường hỗ trợ cho miền Nam là “mệnh lệnh trái tim”. Đợt bùng phát dịch lần thứ tư từ cuối tháng 4/2021, ở TP Hồ Chí Minh và các tỉnh khu vực phía Nam diễn biến rất phức tạp, số ca dương tính tăng cao. Sau những tháng oằn mình chống dịch mà hiệu quả chưa như mong muốn, tất cả các cơ quan trong hệ thống chính trị cho tới mỗi người dân Nam Bộ đều đã và đang đối diện với những khó khăn chồng chất. Áp lực giữ cho số ca nhiễm không tăng nhanh, giảm thiểu người tử vong, giúp dân không bị đói và giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội là thách thức nặng nề. Việc giãn cách xã hội bắt buộc và kéo dài đã khiến nguồn lực con người, vật chất tới giới hạn. Rất nhiều sức ép lên cuộc sống của người dân thành phố trong những vùng đỏ, vùng cam. Nhu cầu cần được giúp đỡ của người dân, đặc biệt là tại các tỉnh, thành phố phía Nam gặp khó khăn do dịch bệnh, là rất lớn.

Bởi vậy, cùng với sử dụng lực lượng tại chỗ, Quân đội đã tăng cường lực lượng từ nơi khác đến các địa bàn "điểm nóng" để kịp thời hỗ trợ chống dịch, bảo đảm sức khỏe, tính mạng, đời sống nhân dân. Lực lượng chi viện này có nhiệm vụ tham gia xây dựng, duy trì hoạt động của các bệnh viện dã chiến, xét nghiệm, tiêm vắc xin, thực hiện quy định giãn cách xã hội, hỗ trợ lương thực, thực phẩm, đồ dùng thiết yếu đến tận tay người dân…

Cũng vì thế, gần 1.400 cán bộ, học viên từ Học viện Quân y đã tăng cường vào miền Nam, triển khai thành khoảng 450 tổ quân y cơ động, phối hợp hoạt động với các trạm y tế xã, phường để thực hiện các biện pháp hỗ trợ y tế theo nhiệm vụ được phân công, thực hiện cùng ăn, cùng ở với nhân dân.

Lực lượng Bộ đội Hóa học cũng kịp thời có mặt, đảm bảo thực hiện công tác tiêu tẩy, khử trùng ở những ổ dịch, hạn chế mức thấp nhất sự lây lan của dịch bệnh trong cộng đồng. Các đơn vị của Quân đội được huy động trở thành những khu cách ly an toàn. Quân đội triển khai hàng trăm tổ cơ động phòng, chống dịch từ các bệnh xá quân y và đội y học dự phòng của các quân khu, quân đoàn...

Nhiều tuần nay, người dân TP Hồ Chí Minh đã quen thân với hình ảnh cán bộ, chiến sỹ Quân đội không quản ngại khó khăn, gian khổ, bất chấp hiểm nguy, bất cứ ở đâu xuất hiện "điểm nóng" về dịch COVID-19 là họ có mặt, xông pha trên tuyến đầu. Các anh không đắn đo, nề hà bất cứ công việc gì, từ truy vết, sàng lọc, lấy mẫu, xét nghiệm, điều trị, tổ chức cách ly tập trung, tiêm vaccine… đến cung ứng lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu, chăm lo bữa ăn, bảo đảm sinh hoạt cho nhân dân và người bệnh.

Cán bộ, chiến sĩ các đơn vị Quân đội đã thể hiện rõ phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ. Sự có mặt kịp thời của các anh đã tiếp thêm cho nhân dân niềm tin, nghị lực, quyết tâm để vượt qua khó khăn, đẩy lùi đại dịch COVID-19.

Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng khi có mặt ở Sân bay Nội Bài (Hà Nội) tiễn và động viên lực lượng quân y tăng cường vào miền Nam chống dịch, đã khẳng định: “Được Chính phủ giao, Quân đội quyết tâm bằng mọi cách, bằng mọi biện pháp, sử dụng mọi lực lượng, với khả năng của mình và vượt cả khả năng của mình, quyết tâm cùng với nhân dân TP Hồ Chí Minh, các tỉnh Bình Dương, Long An, Đồng Nai và các địa bàn có dịch, khắc phục dịch triệt để và đưa cuộc sống của người dân trở lại bình thường”.

Cùng với Quân đội, hàng ngàn cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân đã tiến vào các vùng dịch nguy hiểm nhất ở TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam. Nhiệm vụ của họ là tham gia hỗ trợ công tác phòng, chống dịch COVID-19; bảo vệ an ninh trật tự, an toàn xã hội, vì cuộc sống bình an của nhân dân. Trong đợt dịch thứ 4, Bộ Công an là đơn vị đầu tiên khẩn trương thành lập Bộ Chỉ huy tiền phương phụ trách tại phía Nam. Đây là đầu mối để kích hoạt công tác phòng, chống dịch trong lực lượng Công an, xử lý, giải quyết ngay những vấn đề cấp bách phát sinh trong công tác phòng, chống dịch tại địa bàn.

Chia sẻ về lực lượng Công an nhân dân trong cuộc chiến chống dịch, tại lễ khánh thành Bệnh viện dã chiến Phước Lộc, huyện Nhà Bè, hôm 30/8, Trung tướng Nguyễn Duy Ngọc, Thứ trưởng Bộ Công an cho biết: Sau hơn một năm tham gia tuyến đầu chống dịch, hơn 2.000 cán bộ, chiến sĩ đã nhiễm bệnh, 10 người hy sinh.

Thế là rất rõ!

Theo số liệu của Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch COVID-19 TP Hồ Chí Minh và Hệ thống Quốc gia quản lý ca bệnh COVID-19 ghi nhận, số ca mắc mới và số ca tử vong do COVID-19 tại địa bàn hiện vẫn rất cao. Đại dịch tiếp tục diễn biến phức tạp, nhưng đang có những tín hiệu lạc quan khi hơn một tuần nay, Thành phố mở chiến dịch "truy vét" các ca mắc COVID-19 trong cộng đồng nhằm "xanh hóa" các vùng nguy cơ, bóc tách sớm F0 để có phương án điều trị phù hợp. Việc đẩy mạnh điều trị người mắc COVID-19 tại nhà cũng đang có biến chuyển mạnh, hiệu quả rõ rệt khi có sự trợ giúp từ lực lượng quân y và lực lượng tình nguyện viên. Phân tích tỷ lệ tử vong trong 7 ngày qua cho thấy, số ca tử vong đã giảm đáng kể bất chấp số lượng ca mắc mới vẫn tăng cao…

Vậy nhưng trên không gian mạng, lại xuất hiện những bài viết với luận điệu xuyên tạc rằng: Quân đội là phải canh gác bảo vệ biên giới; quân đội vào TP Hồ Chí Minh là để trấn áp dân ra đường... Trơ tráo hơn, tổ chức khủng bố Việt Tân đã cắt gắp nhiều hình ảnh xe bọc thép tung lên mạng để xuyên tạc rằng: “Hà Nội huy động lực lượng quân đội vào Sài Gòn để dẹp loạn nếu dân đói làm loạn", "Quân đội hiện diện khắp đường phố Sài Gòn là để răn đe dân chứ không phải chống dịch!”. Tổ chức khủng bố này còn phán rằng: “Suốt mùa dịch người dân chả nhận được sự hỗ trợ nào của Nhà nước”, rồi cuối cùng cũng "lòi ra" âm mưu thâm độc, hòng bôi xấu Đảng, Nhà nước, Quân đội nhân dân Việt Nam.

Lại có kẻ ra rả luận điệu rằng, việc huy động Quân đội tham gia chống dịch COVID-19 là trái Hiến pháp, pháp luật. Từ những lập luận mù mờ, suy diễn một chiều, chúng rêu rao việc sử dụng Quân đội là vì “lý do an ninh, quốc phòng” chứ không vì nhiệm vụ phòng, chống dịch bệnh.

Đằng sau những bài viết: “Chống dịch như chống giặc: Kẽm gai, quân đội, công an, pháo đài… sẽ còn thêm gì nữa?”, “Quân đội đi chợ cho dân, dân sợ mất hồn!”... rõ ràng là luận điệu xuyên tạc, bịa đặt, động cơ chống phá các chủ trương chống dịch, bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang nhân dân. Ý đồ sâu xa của chúng là muốn cho Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố phía Nam thất bại trong cuộc chiến chống dịch COVID-19, xã hội bạo loạn, từ đó đánh mất sự ổn định của đất nước.

Bọn chúng không một chút quan tâm đến số phận hàng triệu con người và hàng triệu gia đình sẽ ra sao nếu miền Nam “vỡ” vì dịch COVID-19. Bản chất xấu xa của những thế lực thù địch, phản động và những kẻ bất mãn, cơ hội chính trị không bao giờ thay đổi. Chúng luôn tìm mọi thủ đoạn nhằm chống phá, làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và gây rối loạn đất nước Việt Nam. Mỗi thành quả mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đạt được, đều khiến những kẻ này thêm cay cú và bằng mọi thủ đoạn để chống phá.

Nhưng cũng từ trong nỗ lực phòng, chống đại dịch COVID-19, chúng ta lại càng thấy rõ và hiểu hơn nghĩa đồng bào, tinh thần đoàn kết, sẻ chia, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau của người Việt Nam trên mọi miền đất nước. Khi các tỉnh, thành phố phía Bắc chịu ảnh hưởng của dịch thì Quân đội nhân dân, cùng Công an nhân dân, ngành Y tế và các địa phương cả nước, trong đó có Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố phía Nam khẩn trương giúp đỡ tích cực, hiệu quả.

Nay miền Nam đối diện với những khó khăn chồng chất bởi đại dịch thì đương nhiên, cả nước lại hướng về miền Nam ruột thịt. Trong đó, Quân đội luôn khẳng định vai trò của "Đội quân chiến đấu - Đội quân công tác - Đội quân lao động sản xuất", là lực lượng nòng cốt, xung kích đi đầu trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục sự cố môi trường. Trong những nỗ lực phòng, chống đại dịch COVID-19, cán bộ, chiến sĩ toàn quân thực sự là chỗ dựa vững chắc, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, xứng đáng là Quân đội của nhân dân, Quân đội trong lòng dân.

Với tinh thần đoàn kết, thống nhất, quyết tâm cao, chắc chắn toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta sẽ vượt qua mọi trở ngại, chiến thắng đại dịch COVID-19. Đất nước sẽ thực hiện tốt nhất Lời kêu gọi phòng, chống đại dịch COVID -19 của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, ngày 29/7/2021, với tin tưởng sâu sắc rằng "Cả nước góp sức, toàn Đảng, toàn dân đồng lòng, thống nhất ý chí và hành động, cùng với sự giúp đỡ chí tình của đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế, nhất định chúng ta sẽ chiến thắng đại dịch COVID-19 và phải chiến thắng cho bằng được, góp phần xứng đáng vào sự nỗ lực chung của toàn nhân loại vì một thế giới an toàn, lành mạnh, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và thịnh vượng, xứng đáng với truyền thống anh hùng vẻ vang của Đất nước ta, Dân tộc ta!”.

Nguồn: Hạnh Quỳnh (TTXVN)

Thứ Sáu, 6 tháng 8, 2021

TRẬT TỰ THẾ GIỚI ĐANG THAY ĐỔI

Trên thế giới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, dòng chảy chính và lợi ích chung của các nước. Tuy nhiên, thế giới vẫn phải đối mặt với những thách thức an ninh, những vấn đề phức tạp, trong đó có sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước, nhất là các nước lớn. Tương quan lực lượng trên thế giới đang phát triển và thay đổi nhanh chóng, sự khác biệt về lợi ích chiến lược giữa các nước lớn, những biến động trong công nghệ và kỹ thuật số, tình hình chính trị nội bộ các nước, cùng những tác động qua lại phức tạp giữa các yếu tố này. Cùng với đó là sự trỗi dậy đồng thời của chủ nghĩa dân túy, cánh hữu và cực đoan, hành xử nước lớn theo lối chính trị cường quyền, áp đặt, vị kỷ, bỏ qua lợi ích chính đáng, hợp pháp của các nước khác, cũng như lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế. Bên cạnh đó, tình trạng ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu ngày càng trầm trọng. Cục diện thế giới tồn tại từ trước đến nay đang đứng trước nguy cơ bị phá vỡ.

Thứ Hai, 10 tháng 5, 2021

TIẾNG NÓI LẠC ĐIỆU TRONG NGÀY CHIẾN THẮNG

Những ngày thế giới kỷ niệm Ngày Chiến thắng phát xít (9-5), cùng với việc tôn vinh những giá trị đích thực của thắng lợi lịch sử này, những người yêu chuộng hòa bình trên thế giới vẫn canh cánh trong lòng, khi lẩn khuất đâu đó còn những mưu toan xuyên tạc, viết lại lịch sử nhằm hạ thấp vai trò của quân và dân Liên Xô cũng như sự hy sinh to lớn của nhân dân các nước trong cuộc chiến vĩ đại cách đây hơn 2/3 thế kỷ.

Năm nay là kỷ niệm 76 năm ngày Đức quốc xã ký thỏa thuận đầu hàng vô điều kiện phe đồng minh (bao gồm Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp) vào rạng sáng ngày 9-5-1945 (giờ Moscow). Có thể khẳng định rằng, chiến thắng lịch sử ấy đã góp phần quan trọng vào cuộc chiến ngăn chặn chủ nghĩa phát xít của toàn nhân loại, mở đường cho việc chấm dứt Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945). Lịch sử cũng luôn ghi nhớ rằng, để đi đến chiến thắng ấy, nhân dân Liên Xô đã phải đánh đổi bằng một cái giá rất đắt, đó là hơn 27 triệu người ngã xuống, trong đó có gần 9 triệu chiến sĩ Hồng quân. Và sự thật là nhờ những hy sinh to lớn về sinh mạng và tài sản trong cuộc chiến hao người tốn của này, nhân dân và quân đội Xô viết đã góp phần giúp châu Âu được giải phóng khỏi thảm họa phát xít và đem lại cuộc sống hòa bình cho nhiều dân tộc. Với riêng cách mạng Việt Nam, chiến thắng phát xít năm 1945 là bước ngoặt lịch sử, tạo thời cơ để Đảng Cộng sản Việt Nam phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Chẳng thế mà đến nay, chiến thắng ngày 9-5-1945 vẫn luôn được đông đảo nhân dân các dân tộc trên thế giới, trong đó có Việt Nam, coi là chiến thắng vĩ đại và có giá trị, ý nghĩa thiết thực, trường tồn cùng thời gian.

 Vậy nhưng, đâu phải lúc nào những cống hiến và vai trò của Liên Xô trong cuộc chiến chống phát xít cách đây 76 năm cũng được nhìn nhận một cách đúng đắn, công tâm. Kể từ khi Liên Xô tan rã năm 1991 đến ngày nay, đã xuất hiện không ít những ý kiến phủ nhận vai trò của quân và dân Liên Xô trong cuộc chiến đấu và chiến thắng chống phát xít, hoặc xuyên tạc các sự kiện diễn ra từ thời Chiến tranh thế giới thứ hai nhằm phục vụ mưu đồ chính trị. Cùng với đó là tư tưởng phê phán rằng cuộc chiến tranh vệ quốc của quân và dân Liên Xô chỉ gây ra đổ máu và chết chóc. Song, nguy hiểm hơn là những luận điệu công khai lên án chế độ Xô viết trước đây, cho rằng chiến thắng ngày 9-5-1945 thực chất là sự thay thế ách xâm lược của phát xít bằng sự chiếm đóng của Liên Xô.

Những kẻ xuyên tạc không thể tìm ra minh chứng cho những nhận định đầy “vô ơn” ấy của mình! Tuy nhiên, một thực tế vẫn phải thừa nhận là những mưu toan ấy phần nào khiến một bộ phận nhỏ thế hệ trẻ ngày nay bị hoang mang, dao động, tỏ thái độ hoài nghi về chiến thắng của quân và dân Liên Xô trong cuộc chiến tranh được coi là tàn khốc nhất lịch sử thế giới hiện đại.

Trong khi đó, bằng chứng lịch sử mà chúng ta có trong tay là thông qua những cuộc tấn công vào Liên Xô và các nước châu Âu, phát xít Đức đã phát động cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai nhằm mục đích “chiếm giữ những vùng đất mới, tiêu diệt dân bản địa để đưa tới những người thuộc chủng tộc Đức thuần khiết” như Hitler đã thừa nhận trong một cuốn sách. Sự hung hãn và tàn bạo của phát xít Đức cũng có thể được lột tả rõ ràng qua số người thiệt mạng trong những trại tập trung mà chúng dựng lên trên khắp châu Âu trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai.

Lịch sử cũng ghi nhận rằng, trước tình cảnh buộc phải đứng lên để “tự cứu mình và cứu người”, quân và nhân dân Liên Xô đã huy động tối đa về nhân lực, vật lực và trở thành những chiến sĩ tiên phong trong cuộc chiến đấu chống lại bọn phát xít, ngăn chặn những toan tính vô đạo, nguy hiểm trong đầu chúng. Giả sử không có chiến thắng ngày 9-5-1945, chưa biết có bao nhiêu người thuộc các dân tộc ở châu Âu đã bị tàn sát bởi bàn tay vấy máu của chủ nghĩa phát xít.

Vậy thì hà cớ gì lại coi chiến thắng của nhân dân Liên Xô là sự chiếm đóng hay xâm lược???

Trước đây, khi nhắc tới việc 6 triệu người Do Thái bị phát xít Đức giết hại trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Tổng thống Đức Frank-Walter Steinmeier khẳng định rằng, nước Đức đã rút ra bài học từ quá khứ. Tổng thống Steinmeier cũng cho biết, ông không thể nói nhiều về hiện tại khi “sự thù hận và bôi nhọ vẫn có mặt ở khắp nơi”. Còn Tổng thống Nga Vladimir Putin từng khẳng định bất kỳ mưu toan nào hòng viết lại lịch sử và xem xét lại đóng góp của Liên Xô trước đây và Liên bang Nga ngày nay đối với chiến thắng ngày 9-5-1945 đều đồng nghĩa với việc công nhận tội ác của chủ nghĩa phát xít.

Chiến thắng phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai cũng nhắc nhở chúng ta rằng, không bao giờ được làm ngơ mà phải kiên quyết đứng lên chống lại những mưu đồ xâm lược, phát động chiến tranh hủy diệt con người. Và để làm được điều này, ngoài sức mạnh của mỗi dân tộc, rất cần tới sự hợp tác của các quốc gia và lực lượng tiến bộ khác trên thế giới. Đó là bài học vô giá, đến giờ vẫn mang ý nghĩa thiết thực với Liên bang Nga, Việt Nam hay bất cứ dân tộc nào yêu chuộng hòa bình và kiên quyết bảo vệ hòa bình.

Trong thông điệp liên bang năm 2020, Tổng thống Nga Vladimir Putin cho rằng, những điều giả dối về chiến thắng phát xít đang lan truyền khắp thế giới như một bệnh dịch. Cũng có thể nói rằng, đằng sau những luận điệu xuyên tạc về Chiến tranh thế giới thứ hai, về chiến thắng phát xít là mưu đồ hòng xóa sạch chủ nghĩa cộng sản, bào chữa cho chủ nghĩa phát xít, đẩy thế giới vào những cuộc xung đột, chiến tranh đẫm máu.

Vì thế, ngày chiến thắng năm nay, năm sau hay nhiều năm nữa, cùng với các hoạt động kỷ niệm chiến thắng ở thủ đô Moscow của Liên bang Nga và các thành phố khác nhằm tôn vinh những người đã ngã xuống để bảo vệ nhân loại khỏi chủ nghĩa phát xít, chúng ta không bao giờ quên nghĩa vụ phản bác, chống lại những tiếng nói lạc điệu, xuyên tạc sự thật và lịch sử giữa một thế giới luôn mưu cầu hòa bình và phát triển.

Thứ Ba, 16 tháng 3, 2021

“DÂN TA YÊU TỰ DO, ĐỘC LẬP, TRỌNG HÒA BÌNH, TÍN NGHĨA”

Ngày 16 tháng 3 năm 1946, tại Hà Nội, trước sự chứng kiến của đại diện các nước Trung Hoa dân quốc, Mỹ và Anh, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng, Nhà nước và nhân dân ký bản Hiệp định sơ bộ với Chính phủ Cộng hòa Pháp. Theo đó, Chính phủ Cộng hòa Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội, tài chính của riêng mình và là một phần tử trong Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp; Việt Nam chấp nhận cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc, thay thế quân đội Trung Hoa dân quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân đội phát xít Nhật Bản, sau đó sẽ phải rút hết trong 5 năm. Sự chấp nhận và nhân nhượng có nguyên tắc của Đảng, Chính phủ và nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở một tình thế cụ thể đã làm cho cục diện quan hệ Trung Hoa dân quốc - Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Cộng hòa Pháp thay đổi. Nhân dân Việt Nam có thêm thời gian hòa bình để chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc kháng chiến mà theo nhận định của Đảng và Nhà nước thì tất yếu sẽ xảy ra.

Mặc dù bản Hiệp định sơ bộ tạo cơ sở pháp lý quốc tế cho cuộc đấu tranh ngoại giao của Việt Nam, nhưng dư luận các đảng phái quốc gia và thân nước ngoài như Việt Cách, Việt Quốc vẫn lên tiếng phản đối, một bộ phận nhân dân còn băn khoăn. Trước tình hình đó, ngày 16 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố Lời kêu gọi nhân dân thi hành đúng Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp với lòng mong muốn: “Quốc dân giữ lòng kiên quyết nhưng bình tĩnh, các báo thì bình luận một cách chính đáng, những lời lẽ nên cân nhắc... Chúng ta phải tỏ cho họ biết rằng “dân ta yêu tự do, độc lập, trọng hòa bình, tín nghĩa”. Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày vắn tắt lập trường, đường lối chính trị của Đảng, Chính phủ trước đồng bào cả nước, và động viên đồng bào cần phải biết chịu đựng hy sinh để mưu tính sự nghiệp lớn.

Trong thời điểm ngặt nghèo của dân tộc, việc ký Hiệp định sơ bộ là một quyết định sáng suốt, một mẫu mực sách lược trong đấu tranh ngoại giao, tận dụng thời cơ, nhân nhượng có nguyên tắc của Đảng và Nhà nước ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.

Ngày nay, đất nước Việt Nam đã hoàn toàn độc lập, thống nhất và vững bước trên con đường đổi mới và hội nhập, mở rộng và phát triển đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Lịch sử quan hệ Việt - Pháp sau những thăng trầm, quanh co của lịch sử đã được khép lại, và mở ra một chương mới với tình hữu nghị, hợp tác và phát triển. Những bài học thực tiễn trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước là cơ sở vững chắc để một dân tộc luôn yêu tự do, hòa bình và công lý, cùng nhau kiên trì, đồng tâm bảo vệ nền độc lập, thống nhất quốc gia, cũng như trong công cuộc xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2020

TRONG NHỮNG GIỜ KHẮC KHÓ KHĂN NHẤT, VIỆT NAM VẪN KHÔNG BỎ AI Ở LẠI PHÍA SAU!

Chỉ riêng trong năm 2020, Việt Nam đã triển khai trên 260 chuyến bay chở 73.000 công dân từ 59 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới trở về nước an toàn.

Năm 2020 là một năm hết sức đặc biệt, tình hình thế giới, khu vực biến động hết sức nhanh chóng. Đặc biệt, dịch bệnh Covid -19 xảy ra trên thế giới cũng như ở khu vực và trong nước đã tác động, ảnh hưởng rất nhiều đến mọi mặt của đời sống xã hội, đến chính trị, kinh tế và đặc biệt là đến sức khỏe của người dân. Trong tình hình như vậy, Việt Nam đã làm rất tốt nhiệm vụ kép, đó là vừa kiềm chế được đại dịch Covid -19, đồng thời vẫn giữ được môi trường ổn định để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh trả lời báo chí ngày 24/12 nhấn mạnh: “Đó là những thành tích hết sức lớn lao của đất nước trong năm 2020 và đó cũng là cơ sở hết sức thuận lợi cho các hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Dịch bệnh Covid -19 xảy ra, các hoạt động đối ngoại chung trên thế giới của các nước đều bị ảnh hưởng rất lớn. Chúng ta cũng không phải ngoại lệ. Tuy nhiên, trong năm 2020 Việt Nam vẫn triển khai được các hoạt động hết sức quan trọng, cả về đối ngoại song phương lẫn đối ngoại đa phương”.

Theo Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh, trong năm qua, Việt Nam vẫn duy trì được quan hệ với các đối tác, không phải thông qua các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao các nước đến Việt Nam như thông thường. Năm 2020, Việt Nam đã chuyển đổi hình thức, tăng cường trao đổi bằng điện đàm, qua trực tuyến với lãnh đạo cấp cao của các nước. Cụ thể, có 33 cuộc điện đàm của lãnh đạo cấp cao Việt Nam với với lãnh đạo của hầu hết các nước quan trọng trên thế giới cũng như các nước trong khu vực.

Trong các cuộc điện đàm, những nội dung về tăng cường quan hệ giữa Việt Nam với các nước vẫn được triển khai. Đây là điểm hết sức đặc biệt vì thông thường hàng năm, các chuyến thăm của lãnh đạo các nước đến Việt Nam cũng như Việt Nam ra các nước trung bình trong khoảng trên 10-20 cuộc, nhưng riêng năm 2020 vẫn triển khai được 33 cuộc điện đàm của các lãnh đạo cấp cao, từ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng đến Chủ tịch Quốc hội và các cấp khác.

Năm 2020, Việt Nam đảm nhận vai trò là Chủ tịch ASEAN, Chủ tịch Liên minh Nghị viện Đông Nam Á (AIPA) và đồng thời là Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Cho đến thời điểm này, có thể nói là Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, vai trò Chủ tịch của ASEAN, của AIPA. Trong năm đầu tiên đảm nhận vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Việt Nam cũng thu được những kết quả hết sức cụ thể, đó là tiếp tục đưa được vai trò gắn kết, vai trò trung tâm của ASEAN trong các vấn đề thích ứng với những biến động trên thế giới cũng như với khu vực và với từng nước.

Đồng thời, Việt Nam đã đóng góp vào giải quyết các vấn đề trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc với tâm thế một nước có tiếng nói, với vai trò là đại diện của các nước đang phát triển cũng như các nước trung bình và nhỏ trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.

Về hội nhập kinh tế, trong năm 2020, Việt Nam thúc đẩy và thông qua phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do với Liên minh châu Âu và thúc đẩy cùng các nước để ký kết được Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP).

Trong năm 2020, một nhiệm vụ cũng hết sức quan trọng mà đối ngoại đã phải thực hiện, đó là bảo hộ công dân trong tình hình mới khi Covid-19 xảy ra. Năm nay ghi nhận nhu cầu bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài lớn chưa từng có. Số lượng các cuộc gọi của công dân Việt Nam cần tư vấn về các vấn đề liên quan đến bảo hộ công dân ở nước ngoài thông qua tổng đài điện thoại về bảo hộ công dân đã tăng gần 200% trong năm 2020. Điều đó nói lên là nhu cầu bảo hộ công dân bên ngoài rất lớn, nhưng điểm lớn nhất đó là việc trong đại dịch Covid-19, Việt Nam là một trong số ít các nước đã có các chuyến bay đưa công dân bị mắc kẹt về nước.

Chỉ riêng trong năm 2020, Việt Nam đã triển khai trên 260 chuyến bay chở 73.000 công dân từ 59 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới trở về nước an toàn. Đó là một những nhiệm vụ hết sức quan trọng.

Trong năm 2020, việc quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài vẫn tiếp tục được thực hiện. Dịch bệnh Covid-19 đã làm ảnh hưởng lớn đến việc phóng viên nước ngoài vào Việt Nam đưa tin, bài quảng bá về hình ảnh đất nước và con người Việt Nam trong năm Chủ tịch ASEAN 2020. Nhưng trong tình hình đó, báo chí của Việt Nam, báo chí đối ngoại đã tiếp tục quảng bá được hình ảnh đất nước, con người Việt Nam thông qua một phương thức mới, đó là nền tảng số. Qua nền tảng số, có thể nói Việt Nam đã vươn xa so với trước đây trên những nền tảng thông thường, nền tảng số đã hỗ trợ cho việc quảng bá Việt Nam tăng lên rất nhiều.

Nhiệm vụ trọng tâm, định hướng của đối ngoại Việt Nam năm 2021

Chia sẻ về nhiệm vụ trọng tâm, định hướng của đối ngoại Việt Nam trong năm 2021, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh cho biết, dự báo tình hình thế giới và khu vực năm 2021 sẽ tiếp tục biến động, trong đó có dịch bệnh Covid-19. Đó là những thách thức đối với tất cả các nước và đối với Việt Nam. Tuy vậy, đi kèm với thách thức vẫn có rất nhiều cơ hội, đó là xu thế hòa bình, xu thế mong muốn hòa bình tiếp tục phát triển. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng đang phát triển, trong đó kinh tế số những vấn đề liên quan đến công nghệ cao là cơ hội phát triển không chỉ về kinh tế xã hội mà còn tạo ra những phương thức hoạt động mới.

Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh nói: “Với tình hình như vậy, đối ngoại của chúng ta trong năm 2021 sẽ tiếp tục với việc củng cố, làm sâu sắc hơn quan hệ của Việt Nam với các nước, các đối tác, đặc biệt các đối tác chiến lược, các đối tác toàn diện, các nước láng giềng.

Thứ hai, Việt Nam tiếp tục chủ động hội nhập quốc tế thông qua các hoạt động của chúng ta ở Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Nhưng đồng thời trong ASEAN, chúng ta phải làm sao phát huy được những kết quả của năm Chủ tịch vừa qua, tiếp tục duy trì đà phát triển của ASEAN cũng như những sáng kiến, những nội dung của ASEAN trong năm 2020.

Thứ ba, Việt Nam đã tham gia, đã ký kết các hiệp định thương mại tự do và tiếp tục sẽ có các hiệp định thương mại tự do được phê chuẩn. Vì vậy phải làm sao thực thi một cách hiệu quả, tận dụng được cơ hội của các hiệp định thương mại tự do đã mang lại. Đó là nhiệm vụ chung cho tất cả tất cả các bộ, ngành không phải chỉ riêng của ngành đối ngoại.

Thứ tư, nhưng có lẽ là nhiệm vụ quan trọng nhất, đó là duy trì môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ độc lập, chủ quyền biển đảo của đất nước. Đó là mục tiêu hết sức lớn lao, xuyên suốt.

Cuối cùng, trong bối cảnh dịch bệnh còn nhiều diễn biến phức tạp, công tác bảo hộ công dân cũng sẽ là một trọng tâm của ngành ngoại giao trong thời gian tới”./.

Chủ Nhật, 20 tháng 12, 2020

KHÉP LẠI QUÁ KHỨ NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC PHÉP QUÊN ĐI LỊCH SỬ

Khi nói về lịch sử, đại văn hào Victor Hugo từng khẳng định: Lịch sử là tiếng vọng của quá khứ trong tương lai và là phản chiếu tương lai trên quá khứ. Lịch sử là những gì diễn ra trong quá khứ, nhưng nó luôn có mối quan hệ mật thiết với hiện tại và tương lai. Lịch sử chính là thước đo chân lý và bác bỏ mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, vì vậy những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam sẽ mãi trường tồn cho dù thời gian trôi qua.

Nhìn về quá khứ không phải là để nung nấu hận thù, càng không phải để kích động tư tưởng bài ngoại, mà nhớ về quá khứ chính là cơ sở để xây dựng lòng tự tôn, tự hào dân tộc trong mỗi người, từ đó suy nghĩ sáng suốt, hành động hiệu quả để không làm tổn thương cha ông ta những người đã không ngại gian khổ hy sinh để giành nền độc lập tự do cho dân tộc.

Để có được nền hòa bình, độc lập, thống nhất ngày hôm nay, dân tộc chúng ta đã phải trải qua biết bao gian khổ hy sinh, trên mỗi con đường mỗi thửa ruộng đi qua in dấu chân biết bao người anh hùng. Trong các cuộc trường chính dân tộc lớp lớp thế hệ cha anh lên đường ra mặt trận, bỏ lại sau lưng mẹ già, em thơ, vợ trẻ, họ chiến đấu hy sinh vì Tổ quốc, lịch sử được viết lên bởi những tấm lòng trung kiên về một thế hệ không biết cúi đầu, họ nguyện hiến dâng xả thân vì Tổ quốc.

Trải qua hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã phải đương đầu với biết bao cuộc xâm lăng của các thế lực ngoại bang với nền kinh tế hùng mạnh, vũ khí tối tân, nhưng tinh thần yêu nước cùng với sự đoàn kết đã làm nên sức mạnh, giúp dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn thử thách, không những không chịu khuất phục mà còn đương đầu, chiến đấu và chiến thắng. Khát khao hòa bình, khát khao chiến thắng thôi thúc bao con tim tự nguyện lên đường đi chiến đấu. Toàn quân, toàn dân dưới sự lãnh đạo Đảng - Bác Hồ vùng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm, không kể phụ nữ chân yếu tay mềm, không kể chi tuổi tác già nua với khí thế sục sôi tất cả cho tiền tuyến. Cuộc chiến tranh thắng lợi tạo ra một bước ngoặc lịch sử vĩ đại mang tên thời đại Hồ Chí Minh.

Giờ đây nước nhà thống nhất Bắc Nam sum họp một nhà, dân tộc ta vừa xây dựng đất nước vừa phải hàn gắn vết thương chiến tranh, các thế lực thù địch vẫn tìm mọi cách chống phá Đảng- Nhà nước ta. Dư âm của cuộc chiến tranh khốc liệt vẫn còn đó, nỗi đau nhức nhối của các anh thương bệnh binh, bao em bé nhiễm chất độc màu da cam có lớn mà không có khôn, bao cảnh vợ mất chồng, mẹ mất con, nước mắt mẹ cạn khô cạn vì những người con thân yêu lần lượt ra đi mãi mãi không trở về, hàng triệu người con đã ngã xuống để bảo vệ Tổ quốc. Khắp nơi trên đất nước Việt Nam những nghĩa trang sừng sững minh chứng cho cuộc chiến đấu khốc liệt.

Với những hy sinh, mất mát to lớn không gì bù đắp được, chúng ta càng thấm thía giá trị của độc lập, tự do, của hòa bình, thống nhất. Chúng ta càng phải kiên quyết bảo vệ những thành quả cách mạng đã giành được, giữ gìn độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc; tiếp tục nỗ lực phấn đấu hết sức mình để các thế hệ người dân Việt Nam mãi mãi được sống trong hòa bình, ấm no, hạnh phúc./

Thứ Năm, 10 tháng 12, 2020

HIỆN THỰC HÓA QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG NHỮNG CHÍNH SÁCH THIẾT THỰC, VIỆC LÀM NHÂN VĂN

1. Quyền con người là giá trị phổ quát của nhân loại và được hầu hết các quốc gia trên thế giới thừa nhận, trong đó có Việt Nam. Tuy vậy, khi nhìn nhận vấn đề quyền con người, quyền công dân cần phải có quan điểm khách quan, toàn diện gắn với thể chế chính trị, lịch sử, văn hóa truyền thống và điều kiện kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia dân tộc. Không nên xem xét, nhận định quyền con người, quyền công dân theo con mắt “thầy bói xem voi”, chỉ nhìn thấy vài ba hiện tượng bên ngoài rồi đánh giá thành bản chất. Vì cách nhìn nhận hẹp hòi, thiên kiến như vậy có thể tạo ra mâu thuẫn, xung khắc giữa chủ thể nhận định, đánh giá và đối tượng bị nhận định, đánh giá, từ đó gây bất lợi cho việc củng cố mối quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển giữa các quốc gia trên thế giới.

Là một nước đang phát triển, Việt Nam luôn thiện chí hợp tác với các quốc gia, các tổ chức quốc tế nhằm không ngừng cải thiện, bảo đảm những quyền cơ bản, chính đáng của con người. Nhưng chúng ta không chấp nhận một số tổ chức phi chính phủ ở nước ngoài như: Theo dõi nhân quyền thế giới (HRW), Phóng viên không biên giới (RSF) thường xuyên có cái nhìn sai trái, nhận định rất thiếu khách quan về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Mặt khác, chúng ta cũng đề cao cảnh giác, kiên quyết vạch trần, lên án những phần tử có tư tưởng thâm thù với chế độ, cũng như các đối tượng đội lốt “đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền” nhưng lại có lời lẽ đơm đặt, bôi nhọ những giá trị cơ bản của quyền con người chân chính và rêu rao xuyên tạc Đảng, Nhà nước Việt Nam không tôn trọng, bảo đảm quyền con người nhằm mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam.

2. Khi nói đến một thể chế chính trị tiến bộ, một quốc gia văn minh, thì không thể không nói đến thể chế chính trị, quốc gia đó có quan tâm đến việc bảo đảm những quyền cơ bản của con người hay không. Chế độ chính trị XHCN mà Việt Nam đang nỗ lực xây dựng, thực hiện là một chế độ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Vì vậy, từ khi lập quốc theo thể chế dân chủ XHCN đến nay, Việt Nam đã kiên trì theo đuổi mục tiêu không ngừng thúc đẩy, bảo vệ và bảo đảm quyền con người cho mọi người dân.

Tuy không phải là quốc gia đầu tiên đề ra các vấn đề về quyền cơ bản của con người, nhưng Việt Nam là một trong số ít quốc gia sớm tiếp cận về quyền con người. Trong bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Như vậy, thông qua khẳng định các giá trị của một dân tộc là quyền bình đẳng, quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do, Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn nhấn mạnh quyền con người chỉ thực sự được bảo đảm khi gắn liền với quyền độc lập, tự do của dân tộc.

Quốc hiệu Việt Nam từ khi thành lập chính quyền cách mạng đến nay cũng nhất quán một khẩu hiệu: “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc”. Điều đó có nghĩa là, mục tiêu trước sau như một mà cả dân tộc Việt Nam kiên trì thực hiện là bảo đảm dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc.

Nếu bản “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người” mà Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10-12-1948, trong đó vấn đề hàng đầu mà tuyên ngôn này khuyến nghị cộng đồng quốc tế và các quốc gia dân tộc phải thực hiện là bảo đảm “Tự do, công lý và hòa bình”; thì vấn đề quyền tự do trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được nêu ra trước 3 năm so với bản “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người”. Nhắc lại điều đó để thấy, với tầm nhìn vượt thời đại của mình, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã thay mặt nhân dân và dân tộc Việt Nam khẳng định Việt Nam luôn tôn trọng các giá trị quyền con người và cam kết thực hiện quyền con người trước cộng đồng quốc tế ngay từ khi thành lập chính quyền cách mạng công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Qua nhiều lần xây dựng, sửa đổi Hiến pháp, từ các bản Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 đến Hiến pháp năm 2013 luôn giữ một vấn đề căn cốt là hiến định các quyền con người và quyền công dân. Trong đó, Hiến pháp năm 2013 đã thiết kế một chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Ngay sau Điều 1 hiến định về chủ quyền địa lý, Điều 2 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định nguyên tắc chủ quyền tối cao thuộc về nhân dân, đó là: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Cũng lần đầu tiên, chữ “Nhân Dân” được viết hoa trong bản Hiến pháp để nhấn mạnh đến vị trí, vai trò quyết định của nhân dân trong tiến trình lịch sử và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Trong giai đoạn 2014-2019, Nhà nước Việt Nam đã ban hành hơn 100 văn bản luật và pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

HOÀ BÌNH LÀ MÓN QUÀ VÔ GIÁ NHẤT

Trong muôn vàn những điều tốt đẹp mà cuộc sống mang lại cho mỗi chúng ta thì Hòa Bình là món quà vô giá nhất, vì vậy hoà bình luôn là niềm khao khát cháy bỏng của những con người chân chính trên trái đất này, đặc biệt là dân tộc Việt Nam ta.

Dân tộc Việt Nam đã phải trải qua hơn 4000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước, hàng trăm năm chiến tranh triền miên gánh chịu bao mất mát đau thương, nên thấu hiểu sâu sắc giá trị của hòa bình, không một thế lực nào có thể phủ nhận được điều đó và không một quốc gia nào có thể xứng đáng hơn Việt Nam để nói lên hai tiếng Hòa Bình.

Để có được cuộc sống thanh bình như ngày hôm nay ông cha đã phải đánh đổi bằng máu và nước mắt. Trong các cuộc trường chinh của dân tộc, lớp lớp thế hệ cha anh lên đường ra mặt trận, bỏ lại sau lưng mẹ già, vợ trẻ, con thơ họ chiến đấu hy sinh vì Tổ quốc. Họ chiến đấu và mất đi một phần thân thể lịch sử được viết lên bằng máu xương của bao người anh hùng đã ngã xuống. Trên mỗi con đường, mỗi thửa ruộng đi qua, thấm đẫm máu nước mắt, máu cha ông đổ xuống để lá cờ Tổ Quốc mãi thắm tươi. Không thể nào kể hết những mất mát đau thương mà cuộc chiến tranh để lại, nên chúng ta không bao giờ có thể cho phép mình quên được.

Tuy rằng chiến tranh đã đi vào quá khứ, mất mát đau thương đã nhường chỗ cho một Việt Nam tự hào và phát triển, nhưng mỗi hình ảnh, mỗi câu chuyện được kể lại khiến cho chúng ta hình dung được những tháng năm bi hùng của dân tộc, nhắc về quá khứ không phải là gây thù chuốc oán, mà để chúng ta biết trân trọng và gìn giữ cuộc sống bình yên mà chúng ta đang được thừa hưởng.

Giờ đây dân tộc ta vừa xây dựng đất nước vừa phải hàn gắn vết thương chiến tranh, các thế lực thù địch vẫn luôn tìm mọi cách chống phá Đảng - Nhà nước ta. Hậu quả của cuộc chiến tranh khốc liệt vẫn còn đó, nỗi đau nhức nhối của các anh thương bệnh binh, bao em bé nhiễm chất độc màu da cam có lớn mà không có khôn, bao cảnh vợ mất chồng, mẹ mất con, nước mắt mẹ cạn khô vì những người con ra đi mãi mãi không trở về...

Mỗi một chúng ta cần phải nhớ lại lịch sử, để nhớ về nguồn cội, để tự hào về một thế hệ không biết cúi đầu. Một thế hệ mà chúng ta phải kính cẩn nghiêng mình ngưỡng mộ và biết ơn, để hiểu rằng cái giá của hòa bình là không hề nhỏ. Không ngủ quên trong chiến thắng, nhưng nhìn về quá khứ để mỗi người chúng ta luôn hiểu rằng, mỗi tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc là phần máu thịt của cha ông đã đánh đổi mới có được.

Thứ Ba, 8 tháng 12, 2020

THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT, GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG BIỆN PHÁP HÒA BÌNH

Nhìn nhận về tình hình Biển Đông thời gian qua khi phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao nước ta Bùi Thanh Sơn cho rằng, tình hình vùng biển này vẫn còn nhiều thách thức khó lường, tác động đến hòa bình, ổn định và hợp tác khu vực, trong đó có các vấn đề nổi cộm như: việc đơn phương diễn giải luật pháp quốc tế không phù hợp với chuẩn mực và lợi ích chung của cộng đồng quốc tế, cạnh tranh địa chính trị nước lớn và quân sự hóa Biển Đông làm tình hình thực địa tiếp tục diễn biến phức tạp, cản trở các tiến trình ngoại giao nhằm nỗ lực thúc đẩy đối thoại và hợp tác. Bên cạnh đó, các vấn đề an ninh phi truyền thống trên biển ngày càng phức tạp, tác động đến cuộc sống bình yên của hàng triệu người.

Đơn phương diễn giải luật pháp quốc tế để từ đó tự đưa ra những yêu sách đòi chủ quyền và dùng sức mạnh vượt trội để hiện thực hóa yêu sách đòi chủ quyền phi pháp là căn nguyên của tình hình căng thẳng ở Biển Đông lâu nay. Thực thi “ngoại giao pháo hạm” nhằm phô trương sức mạnh quân sự với mục đích đe dọa để đạt được các mục tiêu đối ngoại và buộc quốc gia bị đe dọa phải nhượng bộ quyền lợi trong các vấn đề chủ quyền ở Biển Đông là mối đe dọa nghiêm trọng với hòa bình, ổn định và an ninh của khu vực cũng như thế giới.

Chia sẻ đánh giá chung cho rằng nguy cơ xảy ra đụng độ trên Biển Đông thời gian tới ngày càng lớn do cạnh tranh giữa các nước lớn gia tăng, các học giả tham gia hội thảo đề xuất một số khuyến nghị cho các nước liên quan nhằm phòng tránh đụng độ, giảm thiểu rủi ro như nghiêm chỉnh tuân thủ Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), các nước gia nhập các điều ước, thoả thuận quốc tế nhằm giảm thiểu rủi ro trên biển như COLREG, SUA and SOLAS. Từ năm 2016, Trung Quốc và ASEAN đã ra tuyên bố chung về Quy tắc phòng tránh đụng độ trên biển (CUES), song đến nay CUES vẫn là bộ quy tắc tự nguyện và chỉ áp dụng cho các lực lượng hải quân, do đó các học giả Australia đề xuất mở rộng phạm vi áp dụng CUES cho cả các lực lượng cảnh sát biển (hải cảnh), chấp pháp dân sự trên biển.

Trong các bài diễn văn quan trọng tại hội thảo, Bộ trưởng Quốc phòng Canada Harjit Sajjan và Chuẩn đô đốc Juergen Ehle, Cố vấn cao cấp của Cơ quan đối ngoại Liên minh châu ÂU (EEAS), cùng phản đối các hành động đơn phương làm leo thang căng thẳng khu vực và phá hoại sự ổn định ở Biển Đông. Bộ trưởng Harjit Sajjan phản đối sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực, cải tạo đảo trên diện rộng, xây dựng đồn bốt trên các điểm tranh chấp và sử dụng chúng cho các mục đích quân sự ở Biển Đông, đồng thời thúc giục tất cả các bên tuân thủ cam kết phi quân sự hóa các điểm tranh chấp và các cam kết trong Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

Thứ trưởng Bùi Thanh Sơn nêu rõ cần sớm hoàn thành đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC); không tiến hành các hoạt động đơn phương, cả quân sự và dân sự nhằm thay đổi nguyên trạng trên Biển Đông; tiếp tục đề cao, tôn trọng sự toàn vẹn và giá trị thống nhất, phổ quát của UNCLOS 1982, coi Công ước này là cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động trên biển, đồng thời cần tôn trọng quyền lợi hợp pháp căn cứ theo luật pháp quốc tế của các bên liên quan ở Biển Đông. Chỉ có thượng tôn pháp luật, giải quyết mọi tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế mới mang lại hòa bình, ổn định an ninh và hợp tác ở Biển Đông.

NHẬN DIỆN MỐI ĐE DỌA ĐỐI VỚI HÒA BÌNH, AN NINH Ở BIỂN ĐÔNG

Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 12 với chủ đề “Duy trì hòa bình và hợp tác trong bối cảnh có nhiều biến động” diễn ra trong 2 ngày 16 và 17-11 tại Hà Nội là cơ hội để giới chuyên gia, học giả khu vực và thế giới cùng chia sẻ những nhận định, đánh giá để tìm kiếm giải pháp duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và hợp tác ở Biển Đông - vùng biển chiến lược mang ý nghĩa sống còn không chỉ các quốc gia và vùng lãnh thổ liên quan mà nhiều quốc gia khác trên toàn cầu.

Chỉ riêng việc có tới 300 đại biểu tham dự trực tiếp cùng hơn 400 đại biểu đăng ký tham dự trực tuyến - trong đó có gần 60 diễn giả là các chuyên gia uy tín từ 30 quốc gia trên các châu lục khác nhau, 12 Đại sứ và đại diện của trên 20 Cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam - cùng gần 100 phóng viên đến từ 58 hãng thông tấn, truyền hình trong và ngoài nước đã đăng ký tham gia đưa tin về Hội thảo đã cho thấy sức hút thể hiện sự quan tâm lớn của các quốc gia, giới học giả và dư luận quốc tế đối với vấn đề Biển Đông.

Mối quan tâm này diễn ra trong bối cảnh Biển Đông từ đầu năm tới nay vẫn là một điểm nóng hàng đầu trên thế giới, bất chấp đại dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona (Covid-19) hoành hành khắp toàn cầu. Căng thẳng ở Biển Đông chẳng những không lắng dịu để tạo điều kiện cho tăng cường hợp tác, thúc đẩy giao thương nhằm góp phần giảm thiểu tác động vô cùng tiêu cực của đại dịch Covid-19 tới kinh tế khu vực và toàn cầu, trái lại còn gia tăng thêm.

Ngay từ những tháng đầu năm 2020, trong khi đại dịch Covid-19 bùng phát dữ dội tại quốc gia tâm dịch Trung Quốc rồi lây lan nhanh chóng ra toàn thế giới, Trung Quốc không chỉ liên tiếp tổ chức tập trận quy mô lớn ở Biển Đông còn có những hành vi hung hăng, gây gấn như điều tàu khảo sát Hải Dương 8 đi xuyên qua vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam, xuống “quấy nhiễu” tàu thăm dò của Malaysia, dùng tàu hải cảnh đâm chìm tàu cá của ngư dân Việt Nam…

Mới đây nhất, Trung Quốc công bố dự thảo luật “bật đèn xanh” cho lực lượng hải cảnh nước này sử dụng vũ lực trên biển, động thái khiến dư luận đặc biệt lo ngại về việc tạo ra mối đe dọa tới tính mạng và tài sản của ngư dân các nước, gây cản trở tự do hàng hải qua các tuyến hàng hải quốc tế quan trọng.

Lên tiếng tại hội thảo Biển Đông lần thứ 12, các học giả Ấn Độ, Nhật Bản và Đông Nam Á cũng như quốc tế đồng loạt bày tỏ lo ngại việc hải cảnh Trung Quốc tùy tiện sử dụng vũ khí, nhất là khi lực lượng này thường xuyên có cách hành xử tùy tiện đối với ngư dân và tàu thuyền các nước thời gian qua. Giáo sư Carl Thayer, học giả danh tiếng của Australia, cho rằng dự luật của Trung Quốc khiến ông nhớ đến “Luật lãnh hải và vùng tiếp giáp” mà Trung Quốc thông qua năm 1992, đơn phương diễn giải luật pháp quốc tế để rồi tự ý quy định lãnh hải rộng 12 hải lý áp dụng cho cả 4 quần đảo ở Biển Đông, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Giáo sư Carl Thayer nhấn mạnh, các tàu hải cảnh Trung Quốc thường được trang bị vũ khí và nhắc đến căng thẳng giữa Malaysia và Trung Quốc từ tháng 12-2019 đến khi Trung Quốc điều các tàu hải cảnh tuần tra, quấy rối gần nơi giàn khoan West Capella của Malaysia hoạt động ở vùng biển mà Kuala Lumpur tuyên bố là EEZ của nước này. Theo Giáo sư Carl Thayer, việc này giống như là “ngoại giao pháo hạm”.

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2020

VIỆT NAM THAM GIA LỰC LƯỢNG “MŨ NỒI XANH” – HOÀN THIỆN LUẬT PHÁP CHO MỘT CHỦ TRƯƠNG

Có lẽ đã từ rất lâu mới có một nghị quyết của Quốc hội được thông qua với tỷ lệ tuyệt đối, 100% đại biểu có mặt tham gia biểu quyết (455/455 đại biểu). Đó chính là Nghị quyết về tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc (GGHB LHQ), được Quốc hội khóa XIV thông qua tại Kỳ họp thứ mười vừa qua.

Kết quả trên đã cho thấy đánh giá cao của đại biểu Quốc hội, cũng như dư luận xã hội đối với tính cần thiết và sự hiệu quả của việc cử các cá nhân, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam tham gia lực lượng GGHB LHQ. Việc nghị quyết được thông qua đã tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý, cơ chế, chế độ chính sách cho các đơn vị, quân nhân tham gia hoạt động này. Kết quả trên cũng đã xóa tan những nghi ngại, những xuyên tạc về việc Việt Nam tham gia vào lực lượng "mũ nồi xanh".

Có một số ý kiến thắc mắc: Tại sao Việt Nam lại tham gia lực lượng GGHB LHQ để gây tốn kém ngân sách, mệt nhọc, rủi ro cho lực lượng vũ trang ở nơi đất khách quê người, trong khi ngay trong nước, bên cạnh nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm quốc phòng, an ninh thì vẫn còn nhiều nhiệm vụ cần huy động LLVT nhân dân, ví dụ như bão lũ, thiên tai, dịch bệnh ngày càng khắc nghiệt, nhiều vùng tại nước ta vẫn còn bị ảnh hưởng nặng nề bởi di chứng chiến tranh như ô nhiễm bom mìn, chất độc dioxin... Cũng lại có ý kiến vu cáo rằng, việc Việt Nam đưa LLVT ra nước ngoài là tham gia liên minh quân sự, đi xâm lược nước khác. 

Đầu tiên, cần khẳng định rằng, tham gia lực lượng GGHB LHQ với quân phục có chiếc mũ nồi xanh-là tham gia vào nỗ lực toàn cầu, hoàn toàn chính danh, chính nghĩa trong việc bảo vệ hòa bình thế giới. Hoạt động GGHB LHQ ra đời từ năm 1948, là một cơ chế đặc biệt được LHQ giao cho Hội đồng Bảo an LHQ thành lập dưới hình thức các phái bộ nhằm giúp tạo điều kiện chấm dứt xung đột và GGHB, thông qua việc triển khai các lực lượng do các nước thành viên đóng góp đặt dưới sự chỉ huy của LHQ. Trong suốt 72 năm qua, lực lượng "mũ nồi xanh" đã giữ vai trò quan trọng trong việc giám sát các thỏa thuận hòa bình, góp phần ngăn chặn lửa chiến tranh ở nhiều điểm nóng trên thế giới. Đến nay, đã có 125 nước đóng góp quân cho lực lượng "mũ nồi xanh".

Khi tham gia lực lượng GGHB LHQ, Việt Nam vẫn luôn bảo đảm các nguyên tắc trong chiến lược quốc phòng là không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Vì vậy, ý kiến vu cáo rằng, Việt Nam tham gia lực lượng GGHB LHQ là tham gia liên minh quân sự để chiếm đóng nước khác là hoàn toàn sai về bản chất.

Việt Nam tham gia lực lượng GGHB LHQ theo từng giai đoạn, từng bước thực hiện rất thận trọng, theo khả năng đáp ứng về lực lượng, để hạn chế rủi ro, tiết kiệm tối đa kinh phí bảo đảm. Ngay từ năm 1993, Việt Nam đã lập tổ nghiên cứu các hoạt động GGHB của LHQ và cũng đã có những đóng góp về tài chính cho hoạt động này của LHQ. Hiến pháp năm 2013 đã quy định rằng Hội đồng Quốc phòng và An ninh quyết định việc LLVT nhân dân tham gia hoạt động góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới. Như vậy, Nghị quyết về tham gia lực lượng GGHB LHQ có căn cứ từ Hiến pháp. Ngày 23-11-2012, Bộ Chính trị đã thông qua Đề án tổng thể về việc Việt Nam tham gia hoạt động GGHB LHQ (gọi tắt là Đề án tổng thể). Ngày 5-12-2013, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án QĐND Việt Nam tham gia hoạt động GGHB LHQ giai đoạn 2014-2020 và những năm tiếp theo. Ngày 30-10-2013, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Công an nhân dân Việt Nam tham gia hoạt động GGHB LHQ giai đoạn 2014-2020 và những năm tiếp theo. Đây là những chủ trương quan trọng để Bộ Quốc phòng và Bộ Công an chuẩn bị nguồn lực, đặc biệt là nhân sự để tham gia theo lộ trình đã được nêu trong Đề án tổng thể. Đến ngày 27-5-2014, Trung tâm GGHB Việt Nam chính thức được thành lập (năm 2018 trở thành Cục GGHB Việt Nam) trực thuộc Bộ Quốc phòng, đồng thời cử hai sĩ quan đầu tiên của QĐND Việt Nam tham gia lực lượng GGHB của LHQ tại Nam Sudan, trên cương vị là quan sát viên quân sự của LHQ.

Từ năm 2014 đến nay, Việt Nam đã tham gia lực lượng GGHB LHQ theo hình thức từ cá nhân đến đơn vị. Đối với hình thức cá nhân, Việt Nam đã cử 50 lượt sĩ quan tham gia tại hai phái bộ là Cộng hòa Trung Phi, Nam Sudan và trụ sở LHQ. Đối với hình thức đơn vị, Việt Nam đã cử hai lượt bệnh viện dã chiến cấp 2, với 126 sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp tham gia. Các lĩnh vực mà Việt Nam đã và đang tham gia trong lực lượng GGHB LHQ là: Tham mưu, hậu cần, quân y, quan sát viên quân sự. Hiện nay, LHQ đang tiếp tục đề nghị Việt Nam cử thêm lực lượng và mở rộng sang các lĩnh vực khác như: Công binh, cảnh sát, quan sát viên và giám sát bầu cử. Nghị quyết về việc tham gia lực lượng GGHB LHQ đã được Quốc hội thông qua quy định các lĩnh vực mà Việt Nam tham gia bao gồm: Tham mưu; hậu cần; kỹ thuật; thông tin, liên lạc; công binh; quân y; cảnh sát; kiểm soát quân sự; quan sát viên quân sự; quan sát viên và giám sát bầu cử; các lĩnh vực khác do Hội đồng Quốc phòng và An ninh quyết định. Đây là những lĩnh vực mà chúng ta hoàn toàn có đủ điều kiện, khả năng và nguồn lực để bảo đảm. Nghị quyết nêu rõ, về xây dựng lực lượng, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Công an và các bộ, ngành liên quan lập kế hoạch trung hạn và dài hạn về xây dựng lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động GGHB LHQ trình Thủ tướng Chính phủ quyết định. Chính phủ trình Hội đồng Quốc phòng và An ninh quyết định việc cử, điều chỉnh, rút lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động GGHB LHQ.

Hiện nay, Chính phủ đang chỉ đạo Bộ Quốc phòng chuẩn bị triển khai lực lượng công binh thuộc QĐND Việt Nam tham gia hoạt động GGHB LHQ (quân số khoảng 320 người). Bộ Công an cũng sẽ cử lực lượng tham gia hoạt động này trong thời gian tới.

Về tài chính, việc tham gia lực lượng GGHB LHQ không hề tạo ra gánh nặng đối với ngân sách nhà nước. Với nguồn tiền bồi hoàn của LHQ (hơn 4,8 triệu USD) và sự hỗ trợ của quốc tế (hơn 20 triệu USD) đã góp phần giảm đáng kể ngân sách nhà nước đầu tư cho việc tham gia hoạt động GGHB LHQ của Việt Nam. Có thể nói, đầu tư của Việt Nam cho hoạt động này không lớn, nhưng hiệu quả lại rất cao.