Hiển thị các bài đăng có nhãn khát vọng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn khát vọng. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2022

ĐẤU TRANH VÌ MỘT NƯỚC VIỆT NAM HÒA BÌNH, ĐỘC LẬP, THỐNG NHẤT, DÂN CHỦ VÀ GIÀU MẠNH LÀ KHÁT VỌNG CỦA MỌI NGƯỜI DÂN VIỆT NAM YÊU NƯỚC CHÂN CHÍNH

Thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, thì không có việc dùng "chiêu bài chống thực dân, đế quốc" và "chiêu bài giải phóng miền Nam" để tiến hành cuộc trường chinh kháng chiến dài 30 năm (1945-1975) như những quy chụp hồ đồ, xuyên tạc, mà chỉ có một sự thật lịch sử:

Đó là, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn; đã thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh đạo nhân dân Việt Nam đoàn kết "muôn người như một" trong Mặt trận dân tộc thống nhất, rộng rãi để tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mùa Thu năm 1945; đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; đồng thời đưa những "thần dân", những người nô lệ xứ An Nam thuộc Pháp trở thành chủ nhân của nước Việt Nam độc lập, tự do.

Đó là, trước dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, của đế quốc Mỹ và để bảo vệ nền độc lập, tự do đã giành được; để thực hiện tâm nguyện của đồng bào và chiến sĩ cả nước về một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất trong bối cảnh vận mệnh đất nước như "ngàn cân treo sợi tóc", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hứa: "Vì yêu mến và tin cậy tôi, mà đồng bào giao vận mệnh nước nhà, dân tộc cho tôi gánh vác. Phận sự tôi như một người cầm lái, phải chèo chống thế nào để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt khỏi những cơn sóng gió, mà an toàn đi tới bến bờ hạnh phúc của nhân dân".

Đồng thời, Người đã cùng Trung ương Đảng bình tĩnh, sáng suốt phân tích tình hình, kịp thời đề ra đường lối đúng đắn và những biện pháp khôn khéo để từng bước giải quyết nạn đói, phát triển kinh tế, văn hóa; tiêu diệt nạn dốt; tổ chức thành công tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I, soạn thảo và thông qua Hiến pháp 1946; đồng thời tiến hành nhiều hoạt động đối ngoại khẩn cấp (ký Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 và Tạm ước 14/9/1946…), góp phần kéo dài thêm một khoảng thời gian hòa bình quý giá cho việc chuẩn bị tinh thần và lực lượng của dân tộc khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) theo Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946 sau đó!

Đó là, hòa bình, độc lập, tự do và thống nhất đất nước không chỉ là khát vọng ngàn đời của mỗi một quốc gia, dân tộc mà đó còn là quyền thiêng liêng nhất, là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của quốc gia, dân tộc đó trong cộng đồng thế giới. Vì thế, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi (1945-1954), khi đế quốc Mỹ cam tâm phá hoại Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Đông Dương (20/7/1954), chia rẽ hai miền Nam, Bắc; nhất là khi vĩ tuyến 17, Cầu Hiền Lương, sông Bến Hải, Luật 10/59, chính sách “tố cộng, diệt cộng”, dồn dân lập ấp chiến lược, đàn áp, bắt bớ, tù đầy và ngăn cản sự thống nhất Bắc - Nam được Mỹ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm thực thi ở miền Nam, thì một “địa ngục trần gian” ở miền Nam có thể chia cắt đất nước ta về không gian và thời gian, song đã không thể chia cắt ý chí và niềm tin của cả dân tộc về một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ!

Thực tế, đến cuối năm 1958 đầu năm 1959, cách mạng miền nam đứng trước những thử thách ác liệt. Kẻ thù đã giết hại, giam cầm 93.362 cán bộ, đảng viên (7/1955 - 2/1956); riêng ở Nam Bộ, chúng đã giết hại khoảng 68.000 cán bộ, đảng viên, bắt 446.000 người (1955- 1958)… Cho nên, đứng trước tình hình và nhiệm vụ cách mạng mới, nhằm duy trì và phát triển phong trào cách mạng, đáp ứng đòi hỏi bức xúc của cán bộ, đảng viên, của đồng bào yêu nước miền Nam và cũng là đòi hỏi cấp bách của lịch sử, Hội nghị lần thứ 15(mở rộng, từ ngày 12-22/1/1959) đã nhận định: "Cách mạng Việt Nam do Ðảng ta lãnh đạo bao gồm hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Hai nhiệm vụ chiến lược đó tuy tính chất khác nhau nhưng quan hệ hữu cơ với nhau, song song tiến hành, ảnh hưởng sâu sắc lẫn nhau, trợ lực mạnh mẽ cho nhau nhằm phương hướng chung là giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội".

Thực hiện Nghị quyết 15 và sau đó là Nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng (9/1960) cùng nhiều Nghị quyết chuyên đề khác, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cứu nước của nhân dân ta từng bước giành được thắng lợi, tiến tới cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Thứ Hai, 6 tháng 12, 2021

KHÁT VỌNG PHỒN VINH, HẠNH PHÚC VÀ SỨC MẠNH TIỀM TIN CỦA NHÂN DÂN TRƯỚC YÊU CẦU MỚI CỦA ĐẤT NƯỚC

Năm 2021, đánh dấu chặng đường 35 năm đổi mới của đất nước. Những thành quả đạt được từ trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước đã cho phép Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam hướng đến khát vọng lớn hơn là phồn vinh, hạnh phúc. Khát vọng phồn vinh, hạnh phúc chính là sự kết tinh bản lĩnh, trí tuệ của Đảng dựa trên sự đúc kết những kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo xây dựng, phát triển đất nước. Đó không phải là khát vọng giản đơn, xuôi chiều, mà được bồi đắp trên cơ sở phân tích, dự báo, lường đoán kỹ lưỡng những thời cơ, thuận lợi có thể nắm bắt, phát huy; đồng thời tỉnh táo cân nhắc, tính toán những khó khăn, thách thức bên ngoài, những yếu kém, trở ngại bên trong cần phải kiên quyết khắc phục, thích ứng, vượt qua. Đó cũng là sự vận dụng phương châm dĩ bất biến ứng vạn biến, nhạy bén chớp thời cơ, chủ động ứng phó với nguy cơ, chuyển hóa nguy cơ thành vận hội phát triển.

Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc mang sức sống hiện thực được hình thành, bồi đắp trên một cơ tầng khoa học về lộ trình hướng đích, bước đi được dự liệu rõ ràng và là sự kế thừa, hoàn thiện những mục tiêu đã được xác định từ những giai đoạn trước. Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúcgắn liền với quá trình xây dựng và phát huy hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và giá trị chuẩn mực, cùng sức mạnh con người Việt Nam trong thời kỳ mới gắn liền với phát huy đồng bộ hệ động lực phát triển: Dân chủ xã hội chủ nghĩa; đại đoàn kết toàn dân tộc; sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị; nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII và cuộc bầu cử đại biểu quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp cho thấy, quần chúng nhân dân đã sẵn sàng hành trang, tâm thế để cùng Đảng, Nhà nước bước vào vận hội mới. Do vậy, để phát huy được tối đa sức mạnh niềm tin của nhân dân vào quá trình hiện thực hoá khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, thiết nghĩ cần phải chú trọng đến các định hướng cụ thể sau:

Thứ nhất, cần nâng tầm và đặt đúng vai trò, vị trí của niềm tin nhân dân trong chiến lược phát triển. Phải xem sức mạnh niềm tin nhân dân là động lực của sự phát triển quốc gia. Động lực này không chỉ là kết quả từ sự kiến tạo niềm tin của nhân dân, của mỗi người lao động, của các doanh nghiệp đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lí, quản trị hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước; mà còn là sự kiến tạo niềm tin và trách nhiệm cao cả của Nhà nước đối với nhân dân với tư cách là chủ nhân, chủ thể phát triển của xã hội, của đất nước. Đó còn là sự kiến tạo niềm tin dựa trên các mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người, giữa các chủ thể với nhau trong cộng đồng quốc gia, dân tộc, kết tụ ở việc luôn đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết.

Động lực này sẽ được xác lập dựa trên những nền tảng đường lối, chủ trương, định hướng phát triển đúng đắn của của Đảng, Nhà nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; trên nền tảng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân, vì dân, một hệ thống luật pháp và cơ chế, chính sách quản lí, quản trị phát triển hiệu lực, hiệu quả, công khai, minh bạch; một nền hành chính liêm chính, tinh thần trách nhiệm cao trước dân; trên nền tảng một đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức “thực đức, thực tài”, thực sự công bộc, đặt lợi ích của nhân dân, lợi ích phát triển của đất nước lên trên hết. Động lực này sẽ phát huy cao độ khi thực hành dân chủ xã hội rộng rãi gắn liền với thực thi kỉ cương phép nước, “sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”; tôn trọng, bảo vệ quyền lợi ích chính đáng của của mỗi con người, của nhân dân và của tất cả các chủ thể trong xã hội. Có được động lực niềm tin thì tất cả mọi người dân trong xã hội mới vững tâm mang tất cả tâm huyết, nguồn lực, trí tuệ, tài năng của mình ra để cống hiến cho sự phát triển chung của đất nước và dân tộc. Động lực này cũng là sự kết tinh, kết tụ lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội khát vọng chấn hưng đất nước của mỗi con người, của toàn dân tộc với sự lãnh đạo của Đảng và quản lí của Nhà nước. Có thể nói, niềm tin của quần chúng nhân dân chính là thước đo quý giá nhất đối với năng lực lãnh đạo của Đảng, khả năng quản lí đất nước của Chính phủ và là một động lực to lớn nhất, chính yếu nhất cho sự phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Thứ hai, cần chú trọng xây dựng cơ sở để nhân dân kí thác niềm tin và thể hiện tình yêu đối với đất nước. Xưa nay, niềm tin và tình yêu Tổ quốc luôn sẵn có nơi mỗi người dân Việt và nó được duy trì, phát triển dựa trên tư duy của nhà quản lí. Tuy nhiên nếu niềm tin và lòng yêu nước không được định hình dựa trên nền tảng, quan điểm và cả những định hướng cụ thể thì sẽ rất dễ bị tổn thương và lợi dụng. Trường hợp nêu trên đã từng xảy ra trong lịch sử Việt Nam và rõ nhất là qua âm mưu của các nhà truyền giáo ở thời kì cận đại… Và ngày nay trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, niềm tin và tình yêu quê hương, đất nước cũng cần phải được định hình dựa trên những cơ sở thật sự cụ thể nếu ko sẽ bị lợi dụng để phục vụ cho các toan tính cá nhân hoặc các tổ chức đối lập, chống đối. Điều này sẽ tạo nên những hệ lụy và hậu quả vô cùng to lớn đối với sự an nguy của đất nước.

Để xây dựng môi trường cho niềm tin hình thành và phát triển, thì trước hết phải được bắt nguồn từ việc Đảng, Nhà nước cần có những cơ chế, chính sách thực sự đúng đắn và phù hợp. Chúng ta cần quan tâm hơn nữa lợi ích, nguyện vọng của nhân dân; lấy lợi ích của quốc gia, dân tộc và quyền lợi căn bản của công dân làm mẫu số chung cho quá trình phát triển; phải xem trọng nhân dân với tư cách là chủ thể của việc tạo lập niềm tin trong xã hội… Phải chăm lo xây dựng con người phát triển toàn diện theo hướng trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, ý chí, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách. Phải tạo nên được những sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, niềm tin sâu sắc vào truyền thống lịch sử, vào văn hóa dân tộc. Phải gắn việc xây dựng, rèn luyện đạo đức với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Phải nâng cao trí lực, bồi dưỡng tri thức, khát vọng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế…

Thứ ba, cần gắn chặt vấn đề xây dựng, phát huy sức mạnh niềm tin với việc củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân. Có niềm tin mới có đoàn kết dân tộc. Sự phát triển hay suy giảm niềm tin luôn kéo theo tỉ lệ thuận tương ứng của tinh thần đoàn kết dân tộc. Do đó cần đặt mục tiêu xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc với việc củng cố và phát huy niềm tin trong quần chúng nhân dân. Việc gắn chặt niềm tin với tinh thần đoàn kết không chỉ cho phép tăng thêm sức mạnh nội lực trong quá trình phát triển, hội nhập sâu rộng với thế giới mà còn làm gia tăng thêm sức đề kháng cho quốc gia trong việc đập tan các hành động xâm lấn của kẻ thù và cả những âm mưu chống đối, chống phá nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”, chỉ có sức mạnh của tinh thần đoàn kết mới mang lại cho dân tộc một sự phát triển ổn định và thịnh vượng, mới giúp dân tộc thành công trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Và niềm tin chính là mẫu số chung có giá trị cao nhất để thúc đẩy các thành viên trong xã hội xích lại gần nhau, đoàn kết, gắn bó keo sơn với nhau trong một chỉnh thể nhà nước, quốc gia thống nhất./.

KHÁT VỌNG DÂN TỘC VÀ SỨC MẠNH CỦA NIỀM TIN NHÂN DÂN NHÌN TỪ CHIỀU DÀI LỊCH SỬ

Khát vọng dân tộc có vai trò rất quan trọng, nó là động lực trung tâm tạo nên sức mạnh vô song cho dân tộc. Khát vọng dân tộc, nếu được định hướng và hình thành dựa trên những đường lối, chủ trương đúng đắn sẽ trở thành nguồn năng lượng nội sinh tiềm tàng và sống động cho toàn bộ quá trình phát triển. Khát vọng dân tộc thể hiện nhu cầu, ước vọng của đại đa số cộng đồng cư dân trong một quốc gia và nó chịu sự tác động bởi các điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể.

Trong mỗi thời kì, mỗi giai đoạn, khát vọng dân tộc sẽ được cụ thể hóa dựa theo những tiêu chí của nhà quản lí. Như dưới thời kì phong kiến, sau khi đã dành được độc lập, tự chủ thì khát vọng xây dựng xã tắc thái bình, thịnh trị là đích đến của các triều đại phong kiến. Hay như ở thời điểm năm sau 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập thì lý tưởng của toàn thể dân tộc là xây dựng đất nước tiến theo con đường xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, khát vọng dân tộc giữ vai trò chủ đạo trong giai đoạn này chính là độc lập và tự do. Sau khi thống nhất đất nước, để thực hiện lý tưởng xây dựng chủ nghĩa xã hội, khát vọng dân tộc lại được Đảng, Nhà nước cụ thể hóa dựa theo từng giai đoạn, từng lộ trình khác nhau. Đại hội VI, năm 1986 của Đảng khẳng định “đổi mới là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn”; Đại hội VII (1991) đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; Đại hội VIII (1996) đề ra chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp; Đại hội IX (2001) xác định kinh tế thị trường định hướng xã hội là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm; Đại hội X (2006) xác định mục tiêu sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; Đại hội XI (2011) bổ sung phát triển Cương lĩnh 1991, quyết định đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh hội nhập quốc tế; Đại hội XII (2016) nhấn mạnh nâng cao chất lượng phát triển, sức cạnh tranh của nền kinh tế, đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức, xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Đại hội XIII, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương khơi dậy ở một tầm cao mới khát vọng phát triển đất nước Việt Nam “phồn vinh, hạnh phúc”. Vậy, trong mối quan hệ với khát vọng dân tộc, sức mạnh niềm tin của nhân dân sẽ được thể hiện như thế nào?

Niềm tin nhân dân có thể được hiểu là sự tin tưởng, kỳ vọng của cộng đồng cư dân trong một quốc gia đối với các chủ trương, chính sách xây dựng, phát triển đất nước của nhà quản lý. Niềm tin nhân dân có vai trò rất quan trọng. Nó là nhân tố trung tâm quyết định tinh thần đoàn kết của dân tộc; là động lực khai phóng các tiềm năng, các nguồn lực của đất nước và là tiền đề vững chắc để hiện thực hóa khát vọng của dân tộc. Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam sẽ là thực tế sinh động nhất để minh chứng cho luận điểm này.

Trong suốt 1000 nghìn năm Bắc thuộc, các thế lực phong kiến Trung Hoa luôn tìm cách Hán hóa dân tộc Việt Nam. Song với sức mạnh của niềm tin về nòi giống “con rồng cháu tiên”, cộng đồng cư dân Việt Nam đã kiên trì, bền bỉ đấu tranh để giữ vững lấy “hồn quốc”. Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam – Triệu Thị Trinh với câu nói đầy hào khí: “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người”, như là một sự minh chứng cho tinh thần đấu tranh bất khuất và khát vọng độc lập dân tộc trong giai đoạn này. Đầu thế kỉ X, nhà Đường suy yếu, Khúc Thừa Dụ nhân cơ hội đem quân chiếm đóng thành Đại La (Tống Bình cũ – Hà Nội), xưng Tiết Độ sứ. Ngày 7/2/906, vua Đường buộc phải chấp thuận vai trò của Tĩnh Hải quân Tiết Độ sứ, đồng thời, phong thêm cho Ông tước “Đồng bình chương sự”. Lịch sử dân tộc ghi nhận công lao của Ông như là người đầu tiên đặt cơ sở cho nền độc lập, khai mở niềm tin cho quần chúng nhân dân về một tương lai tươi sáng của nước Việt. Để rồi, năm 938, với sức mạnh của niềm tin và tinh thần đoàn kết một lòng, nhân dân Việt Nam lại tiếp tục làm nên một trận Bạch Đằng giang vang dội, mở ra thời kì độc lập, tự chủ cho đất nước.

Hội nghị Diên Hồng thời Trần cũng chính là một minh chứng về sức mạnh của niềm tin và tinh thần vua – tôi đoàn kết một lòng để 3 lần đánh bại quân xâm lược Nguyên – Mông, một trong những đế chế hùng mạnh bậc nhất ở châu Á lúc bấy giờ. Hai chữ “Diên Hồng” đã trở thành biểu trưng cho ý chí thống nhất của dân tộc, thể hiện sự đồng lòng nhất trí và niềm tin son sắc giữa nước với dân. Dưới thời Lê, Lê Lợi và Nguyễn Trãi được quân dân một lòng tin tưởng, thương mến, bởi tinh thần cai trị đất nước: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” và ý chí kiên định “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/Lấy chí nhân để thay cường bạo”. Do vậy mà “Nhân dân bốn cõi một nhà dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới”, “Tướng sĩ một lòng phụ tử” để làm nên “cỗ nhung y chiến thắng” trước quân Minh.

Từ nửa sau thế kỉ XVIII, trước sự tranh chấp quyền lực của các tập đoàn phong kiến và những bất ổn của đời sống xã hội, người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ phất cờ khởi nghĩa. Với khí thế và quyết tâm: “Đánh cho để dài tóc/Đánh cho để đen răng/Đánh cho nó chích luân bất phản/Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn/Đánh cho sử tri, Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”, Nguyễn Huệ đã huy động được sức mạnh niềm tin của quần chúng nhân dân để làm nên những chiến công vang dội tại Rạch Gầm – Xoài Mút, hay cuộc hành quân thần tốc ra kinh đô Thăng Long để đập tan ý đồ xâm lược của quân Thanh, giữ vững bờ cõi cho dân tộc, xóa bỏ tình trạng phân chia đất nước kéo dài trên hai thế kỉ, lập lại nền thống nhất quốc gia.

Dưới thời Nguyễn, dù triều đình khuất phục trước gót dày xâm lăng của chủ nghĩa thực dân phương Tây, nhưng quần chúng nhân dân Việt Nam với niềm tin và ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia, dân tộc đã không ngần ngại đứng lên phản kháng sự cai trị, chiếm đóng của thực dân Pháp. Với tinh thần “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì người Nam mới hết đánh Tây” (Nguyễn Trung Trực), dù thất bại, nhưng các cuộc khởi nghĩa đã cho thấy tinh thần, ý chí tự cường của nhân dân và đặc biệt là niềm tin vào sức mạnh nội tại của dân tộc.

Cũng chính niềm tin vào sự nghiệp độc lập, tự do của đất nước mà Nguyễn Ái Quốc đã bôn ba khắp “bốn bể, năm châu” tìm kiếm con đường cứu nước, cứu dân. Trước vòng vây của chủ nghĩa thực dân, phong kiến, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập (1930) và trở thành ngọn cờ tiên phong trong các phong trào đấu tranh cách mạng. Trong những ngày đầu vô cùng khó khăn ấy, niềm tin của nhân dân lại được khơi dậy để nuôi nấng, bao bọc, chở che cho Đảng, cho lí tưởng mà toàn thể dân tộc hướng đến. Dù có không ít người bị bắt bớ, giam cầm nhưng vẫn kiên quyết giữ vững lời thề sắt son theo Đảng. Bởi với họ, một khi đã tìm được lí tưởng, niềm tin, tức là đã tìm thấy được sức mạnh, tìm được điểm tựa tinh thần và động lực cho cuộc sống. Lý tưởng ấy đã soi sáng niềm tin cho nhân dân, mà nòng cốt là giai cấp công nhân và nông dân hăng hái bước vào cuộc đấu tranh, làm nên các cao trào cách mạng (1930 – 1931; 1936 – 1939).

Sức mạnh niềm tin của nhân dân tiếp tục được phát huy mạnh mẽ hơn trong các phong trào đấu tranh giành chính quyền những năm 1939 – 1945. Với niềm tin vào sự thắng lợi trọn vẹn và ý chí quyết tâm “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, “Dù phải hi sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”, toàn thể dân tộc Việt Nam đã làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, xóa bỏ xích xiềng phong kiến, thực dân.

Sau cách mạng tháng Tám, đất nước đứng trước vô vàn những khó khăn thử thách “ngàn cân treo đầu sợi tóc”, nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Hồ Chủ tịch, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có những chủ trương, đường lối đối nội, đối ngoại thiết thực để củng cố tình hình đất nước, phát huy sức mạnh niềm tin của nhân dân. Đáp lời hiệu triệu của cách mạng, hơn 20 triệu đồng bào đã đoàn kết một lòng cùng nhau thắt lưng, buộc bụng để “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, hăng hái tham gia “tuần lễ vàng”, “quỹ độc lập”, thực hiện phong trào “tăng gia sản xuất”, “bình dân học vụ” và đoàn kết thống nhất để chống thù trong giặc ngoài. Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi (1954) đã chính thức khép lại giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp hào hùng của dân tộc. Đồng thời, thắng lợi này cũng đã minh chứng một chân lý mà các dân tộc bị áp bức trên thế giới đều có thể tin tưởng rằng: Một nước nhỏ, kinh tế chậm phát triển, nếu có một đảng mác xít chân chính lãnh đạo với đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, phát huy được sức mạnh toàn dân tộc, được nhân dân thế giới đồng tình ủng hộ thì nhất định đánh bại được các cuộc chiến tranh xâm lược của mọi kẻ thù.

Sau năm 1954, miền Bắc quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam bước vào cuộc kháng chiến chống Mĩ. Khát vọng độc lập dân tộc, sức mạnh niềm tin nhân dân tiếp tục được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một” và “Sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý đó không bao giờ thay đổi”. Với tinh thần: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, và “dù khó khăn, gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất”… cả nước, triệu người như một đều nhất loạt đứng lên đấu tranh để bảo vệ quê hương, xóm làng. Từ phong trào Đồng Khởi (1960), Điện Biên Phủ trên không (1972), đến Đại thắng Mùa xuân năm 1975,… tất cả những thắng lợi vang dội ấy đều được tạo nên bởi sức mạnh của niềm tin, bởi truyền thống của một dân tộc vốn đất không rộng, người không đông, vũ khí trang bị chưa hiện đại nhưng với ý chí quyết tâm, tinh thần đoàn kết, đồng sức, đồng lòng đã đánh thắng một đế quốc to, quân đông, vũ khí trang bị hiện đại.

Sau khi thống nhất đất nước, cả nước quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sức mạnh niềm tin của nhân dân tiếp tục được huy động cho công cuộc đổi mới. Sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, từ một đất nước nghèo nàn, có cơ sở vật chất, kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội lạc hậu, trình độ thấp, đến nay, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình. Văn hoá, xã hội tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố. Tình hình chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng – an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững. Vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Đặc biệt, trong năm 2020, dù gặp phải rất nhiều khó khăn do tình hình COVID-19, nhưng Việt Nam vẫn thực hiện thành công nhiệm vụ “kép” đầy ấn tượng trong phòng chống đại dịch và phát triển kinh tế. Việt Nam là một trong ít quốc gia duy trì tăng trưởng dương trên thế giới với tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2020 đạt 2,91%.

Thứ Hai, 30 tháng 8, 2021

BẢN LĨNH CỦA ĐẢNG ĐỂ TRỪ “GIẶC NỘI XÂM”

Gần một thế kỷ đã qua, mặc dù có lúc mắc sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng, có lúc rơi vào chủ quan duy ý chí, có lúc chưa nắm được quy luật khách quan... nhưng xuyên suốt lịch sử lãnh đạo nhân dân làm cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã luôn biết tự chỉ trích, nhận ra sai lầm, khuyết điểm, tự chỉnh đốn, đổi mới, tự vượt qua mọi trở lực khách quan và chủ quan để làm tròn nhiệm vụ của một đảng tiên phong, một đảng chân chính cách mạng. Về cơ bản, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ được vai trò là đội tiên phong chính trị của giai cấp và dân tộc, tiên phong cả trong lý luận cách mạng, trong đường lối chủ trương, trong quyết sách chính trị, trong chỉ đạo chiến lược và tiên phong gương mẫu trong hành động cách mạng, trong hy sinh anh dũng vì nền độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân.

Thời nào cũng có kẻ thù bên ngoài và bên trong. Thời nào cũng đều có ngoại xâm dưới hình thức này hay hình thức khác và luôn luôn bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi đâu, trong mỗi con người đều tiềm ẩn nội xâm. Nội xâm lúc này là tệ si mê quyền lực, vun vén lợi ích cá nhân, là chạy chức, chạy quyền, chạy tội là lợi dụng mọi sơ hở của cơ chế, chính sách, là lạm quyền, là thói vô trách nhiệm, là ô dù che chắn, là quan liêu, khinh thường kỷ cương phép nước, là cơ hội, tham nhũng, lãng phí, là ăn chơi xa đọa, là thói vô cảm trước vất vả, thiếu thốn, khó khăn của đồng bào, đồng chí... Nội xâm len lỏi vào hàng ngũ Đảng và Nhà nước... vào từng ngõ ngách xóm thôn, phường phố, cơ quan, công sở, vào từng gia đình, vào mọi tầng lớp và đến cả những người được đào tạo, có bằng cấp học vị, được giao chức trọng, quyền cao... Vì vậy, tính tiên phong của Đảng lúc này là phải có dũng khí, có bản lĩnh để dám trừ "giặc nội xâm" ở ngay trong mỗi đảng viên, cán bộ, tính tiên phong lúc này là sáng suốt trong các quyết sách chính trị, trong lãnh đạo, chỉ đạo phát huy sức mạnh tổng hợp, lòng yêu nước của toàn dân tộc, đặc biệt là làm tốt công tác tổ chức, kiểm tra, thực hiện đúng đắn chính sách dùng người. Tính tiên phong lúc này là dũng khí đấu tranh với đồng chí, đồng cấp, với cả cấp trên và cấp dưới vi phạm kỷ luật Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để trừ diệt mọi thói hư, tật xấu và tội lỗi. Tính tiên phong lúc này là làm trong sạch đội ngũ, là giáo dục, thuyết phục và trừng phạt công khai, công minh, bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đang sáng lên niềm tin và khát vọng của mọi người dân Việt Nam dù ở trong nước hay ở nước ngoài. Niềm tin và khát vọng ấy đang đặt lên vai những người vừa vinh dự được bầu vào cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng. Vinh dự càng cao, trách nhiệm càng lớn. Trách nhiệm và vinh dự của những chiến sĩ đi tiên phong trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân, trong cuộc đấu tranh cho hạnh phúc của xã hội. Mác vĩ đại đã dạy chúng ta rằng: “Hạnh phúc xã hội sản sinh ra lý trí chính trị”. Và đến lượt nó, lý trí chính trị của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đang đòi hỏi nâng cao chất lượng “đầu não” và “trái tim” của mỗi chúng ta.

Thứ Tư, 18 tháng 8, 2021

LAN TỎA KHÁT VỌNG TỰ CƯỜNG CỦA DÂN TỘC

Toàn cầu hóa và sự phát triển của nền kinh tế thế giới kéo theo những biến đổi của xã hội. Khái niệm “công dân toàn cầu” đưa lại một quan niệm mới về giá trị quốc gia, về chính trị, văn hóa và quản lý nhà nước... Sự phát triển của xã hội hiện đại cũng làm cho người lãnh đạo, quản lý khó khăn hơn trong việc nhận thức và kiên định những mục tiêu tập thể cần theo đuổi trước cám dỗ của lợi ích vật chất và sự lấn át của chủ nghĩa cá nhân. Hơn nữa, trong bối cảnh hòa bình, mối đe dọa đối với sự tồn vong của dân tộc dù không được biểu hiện rõ ràng, nhưng không vì thế mà nguy cơ đối với khát vọng độc lập, tự chủ lại giảm đi.

Do vậy, điều trước hết cần thực hiện trong lúc này là phải nêu cao, làm sâu sắc, lan tỏa khát vọng tự cường phát triển của dân tộc Việt Nam - một Việt Nam giàu mạnh, phát triển, hạnh phúc, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Cần nêu rõ: Lúc này hoặc là dân tộc, đất nước tự cường phát triển, thành công hoặc là không bao giờ, bị gạt ra ngoài lề của sự phát triển, lúng túng trong “bẫy thu nhập trung bình”, để rồi rơi vào trì trệ, suy thoái; phải nêu cao, làm sâu sắc và lan tỏa khát vọng tự cường dân tộc trong tâm trí mỗi người dân, đặc biệt là khát vọng dám dấn thân, dám hy sinh cho lợi ích chung của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược.

Thách thức lớn nhất đối với chúng ta hiện nay chính là nhận diện và đối mặt với chính bản thân mình, là xác định được vị trí của mình và quyết tâm hành động hướng tới và hiện thực hóa khát vọng đó. Ở khía cạnh kinh tế, mặc dù Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong gần 35 năm đổi mới, với tốc độ tăng trưởng khá cao, nhưng so với các nền kinh tế thành công của châu Á ở cùng giai đoạn của trình độ phát triển, thì vẫn còn khiêm tốn. Trong giai đoạn 1965 - 1995, Hàn Quốc đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình 10% - 15%; Trung Quốc và Xin-ga-po cũng đều đạt mức tăng trưởng xấp xỉ 9% - 10%/năm liên tục trong hơn 30 năm. Khi nhiều vấn đề của đất nước đều dựa trên nền tảng cơ sở kinh tế, Đảng cần xác định, nêu cao, lan tỏa được một khát vọng phát triển kinh tế xứng tầm.

Thách thức cần vượt qua nữa là mức độ sẵn sàng và thích ứng đối với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư của nước ta vẫn còn ở mức thấp. Theo báo cáo của Diễn đàn kinh tế thế giới năm 2018, Việt Nam chỉ được xếp vào nhóm các nước “non trẻ”: xếp hạng 72/100 quốc gia về cấu trúc kinh tế; 90/100 về đổi mới và công nghệ, trong đó 92/100 về nền tảng công nghệ và 77/100 về năng lực sáng tạo; 70/100 về nguồn nhân lực, trong đó 81/100 về lao động có chuyên môn, 70/100 về sự sẵn sàng của đội ngũ chuyên gia và kỹ sư, 75/100 về chất lượng giáo dục đại học và 80/100 về chất lượng đào tạo nghề. Đó là những thách thức mà Việt Nam sẽ phải đối mặt. Trong bối cảnh đó, việc nghiêm túc xác định khát vọng dân tộc và quyết tâm trong hành động trên bình diện quốc gia hướng tới hiện thực hóa khát vọng đó là một đòi hỏi bức thiết.

Thứ Sáu, 6 tháng 8, 2021

KHÁT VỌNG CỦA QUỐC GIA TẠO NÊN SỨC MẠNH TINH THẦN TO LỚN

Để trở thành một quốc gia - dân tộc phát triển, cần rất nhiều yêu cầu, điều kiện, trong đó tầm nhìn, khát vọng vươn lên của bản thân quốc gia - dân tộc đó là một sức mạnh tinh thần to lớn. Mọi quốc gia - dân tộc muốn trở nên cường thịnh đều cần khát vọng mãnh liệt để tập hợp, đoàn kết toàn dân, tạo nên sức mạnh tinh thần vượt qua mọi khó khăn, thử thách nhằm hiện thực hóa mục tiêu, con đường phát triển của mình. “Giấc mơ Đại Hàn”, khát vọng “đưa Singapore lên thế giới thứ nhất” hay khát vọng “thoát Á” đã đưa các quốc gia Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản đứng vào hàng ngũ các nước phát triển chỉ trong một thời gian ngắn dù xuất phát từ một nền tảng rất khiêm tốn. Còn “giấc mơ Mỹ” - giấc mơ quốc gia Mỹ là tổng hòa giấc mơ của các cá nhân hợp lại, đã dẫn dắt nước Mỹ phát triển hơn 200 năm liên tục kể từ khi giành được độc lập năm 1776 đến nay.

Với Việt Nam, trong suốt hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, khát vọng xuyên suốt, nhất quán của dân tộc ta là độc lập, tự chủ, tự cường. Nhờ đó, Việt Nam đã chiến đấu và chiến thắng các kẻ thù xâm lược để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng và phát triển đất nước. Truyền thống, khát vọng đó cần được nâng tầm, phát huy có hiệu quả trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đặc biệt là trải qua các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ đã hun đúc lên khát vọng  phát triển, tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường mãnh liệt của dân tộc Việt Nam. Đây là điểm quy tụ, chất kết dính, tạo nên sự đoàn kết, sức mạnh to lớn giúp dân tộc ta chiến đấu và chiến thắng các kẻ thù xâm lược thường lớn mạnh hơn gấp nhiều lần. Khát vọng độc lập, tự chủ, tự cường, giàu mạnh của Việt Nam là nhất quán và xuyên suốt, nhưng trong những bối cảnh, hoàn cảnh lịch sử khác khau, khát vọng đó có nội hàm và nội dung trọng tâm khác nhau. Ở những thời khắc đối mặt với họa mất nước, khát vọng độc lập, tự chủ đã tạo nên một sức mạnh tinh thần to lớn giúp dân tộc ta đánh bại các kẻ thù xâm lược. Trong bối cảnh hiện nay, khát vọng độc lập, tự chủ chính là tự cường để xây dựng một nước Việt Nam thịnh vượng, phát triển; đồng thời, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Ngày nay, độc lập và tự chủ chỉ thực sự có được và duy trì một cách bền vững trên cơ sở tự cường, do vậy, tự cường chính là nội dung trọng tâm của khát vọng dân tộc Việt Nam trong giai đoạn mới. Dân tộc Việt Nam tự cường có nghĩa là một dân tộc độc lập, tự chủ trước hết về kinh tế, ở mức độ cao hơn là đạt đến giàu có và thịnh vượng. Để đạt được điều đó, sự phát triển của đất nước phải dựa trên một thể chế được thiết kế phù hợp, bền vững, có khả năng giải phóng sức lao động và năng lực sáng tạo của mỗi cá nhân, huy động được mọi nguồn lực, phát huy tối đa tiềm năng, sức mạnh chung của cả dân tộc. Bên cạnh đó, phải xây dựng được một cấu trúc xã hội bền vững, đoàn kết và đồng thuận tự nguyện trên cơ sở kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Trong một thế giới biến đổi với gia tốc lớn, diễn biến phức tạp, khó lường như hiện nay, tự cường còn thể hiện ở chỗ: trong bất cứ hoàn cảnh nào Việt Nam cũng phải kiên định, vững vàng với con đường đã chọn, ra sức nỗ lực nhằm hiện thực hóa mục tiêu, khát vọng xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Thứ Tư, 4 tháng 8, 2021

KHÁT VỌNG VIỆT NAM CHIẾN THẮNG COVID-19

Không thể phủ nhận, tinh thần, tư tưởng, niềm tin, khát vọng là yếu tố quan trọng tạo nên ý chí, quyết tâm, là tiền đề, cơ sở để có hành động thống nhất, mạnh mẽ, hiệu quả. Trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, chính khát vọng độc lập, thống nhất, tự do, hạnh phúc, niềm tin sắt son vào Đảng, vào Bác Hồ và con đường cách mạng đã trở thành nguồn lực tinh thần, kiến tạo thành sức mạnh dân tộc để chiến thắng kẻ thù xâm lược, thống nhất đất nước và xây dựng xã hội mới.

Giáo sư Joseph Nye, người khởi nguồn cho lý thuyết sức mạnh mềm đã nói về Việt Nam rằng: Thực chất, Việt Nam đã chiến thắng trong hai cuộc chiến với hai đế quốc lớn trong thế kỷ XX nhờ nhiều vào “sức mạnh mềm”.

Mặc dù đối phương có vũ khí và tiền bạc vượt trội, Việt Nam đã vượt qua và nhận được sự ủng hộ của bạn bè quốc tế nhờ “vũ khí mềm” là chính nghĩa, khát vọng độc lập, thống nhất và lòng yêu nước.

Trong thời Covid-19, khát vọng chiến thắng đại dịch là nguồn lực tinh thần đặc biệt. Nó được hiện thực hóa bằng những quyết sách và hành động nhanh, quyết liệt của Chính phủ. Nó cũng hiện diện trong các lực lượng xung kích tuyến đầu như y tế, quân đội, công an không quản ngày đêm, không ngại hiểm nguy, khắc phục khó khăn, tạm gác mọi công việc riêng tư để dồn sức chống dịch. Nó hiện diện trong mọi người dân: Nhà khoa học ngày đêm nghiên cứu để có thể sản xuất vắc-xin “made in Việt Nam”; nhạc sĩ, ca sĩ tham gia sáng tác, hát về khát vọng chiến thắng Covid- 19; người dân tích cực góp sức, góp công, góp của chung tay chống dịch. Nó thể hiện bằng sự đồng thuận quyết tâm của cả hệ thống chính trị và từng người dân nêu cao tinh thần “chống dịch như chống giặc”, “mỗi người dân là một chiến sĩ chống dịch”… Những việc làm, những hình ảnh có sức lay động, lan tỏa đó là liều thuốc đặc hiệu cổ vũ cộng đồng chống dịch, góp phần tạo nên hiệu quả phòng chống dịch trong thời gian qua.

Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021

KHÔNG THẾ XUYÊN TẠC KHÁT VỌNG VƯƠN LÊN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị ra sức rêu rao việc Đảng Cộng sản Việt Nam xác định mục tiêu “Đến năm 2025, là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp” chỉ là những chiếc bánh vẽ ghi trong văn kiện Đảng”; còn việc “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là mục tiêu tuyên truyền “vẽ voi trên giấy” của tuyên giáo Cộng sản Việt Nam sau Đại hội XIII”, là thái độ mị dân của những người cộng sản “chỉ nói hay mà không làm”...

Tầm nhìn, khát vọng phát triển của Việt Nam không phải dựa trên ý chí chủ quan như một số luận điệu rêu rao mà điều này được giới truyền thông quốc tế nhận định là có cơ sở. Báo The Washington Times (phiên bản báo in) của Mỹ ngày 9-4 vừa qua đăng bài viết đánh giá Việt Nam đã thành công trong việc kiện toàn các chức danh lãnh đạo chủ chốt nhà nước; đồng thời nhận định Việt Nam có một quá trình phát triển kinh tế đáng kinh ngạc khi vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới trong hai thập kỷ qua. Mặt khác, Việt Nam đã có được sự ổn định về mặt chính trị, tạo đà cho sự tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức thu nhập của người dân trong những năm tới.

Mới đây, nhiều hãng truyền thông uy tín tại Romania, như: Hãng thông tấn quốc gia Agerpres, Romaniatv.net, Republicatv.ro, Proarges.ro, Digi24.ro,... cũng nhận định, vào đầu nhiệm kỳ Chính phủ 2016-2021, Việt Nam là quốc gia đứng thứ 14 trên thế giới về dân số, quy mô nền kinh tế đứng thứ 48, nhưng đến nay, xếp hạng của Việt Nam đã tăng 11 bậc, đứng thứ 37 thế giới. Dù con đường phát triển còn nhiều khó khăn, thử thách nhưng có cơ sở để tin tưởng Việt Nam từ ngưỡng thu nhập trung bình sẽ gia nhập nhóm nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.

Do đó, ngăn cản khát vọng vươn lên của một dân tộc không chỉ là thái độ phản lại những giá trị tiến bộ của nhân loại mà còn là hành vi chà đạp lên ước nguyện chính đáng của gần 100 triệu người Việt đang chung tay góp sức, nỗ lực đồng lòng xây dựng đất nước ngày càng phát triển giàu mạnh, văn minh. Những luận điệu sai trái đó nhất định sẽ bị phủ nhận hoàn toàn bởi niềm tin, ý chí, khát vọng vươn lên mạnh mẽ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, như lời khẳng định của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc: Khát vọng về một nước Việt Nam hùng cường 2045 “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như ước nguyện của Bác Hồ và tinh thần Đại hội Đảng XIII đề ra, là mục tiêu cao cả mà chúng ta hôm nay và những thế hệ tiếp theo phải nỗ lực phấn đấu để giành được. Cha ông ta đã làm nên những trang sử hào hùng, được viết bằng mồ hôi và xương máu của biết bao thế hệ. Chúng ta có niềm tin mãnh liệt rằng: Tiếp nối truyền thống hào hùng sẽ có nhiều chương sử mới viết tiếp những kỳ tích tiến lên giàu mạnh, hùng cường của đất nước ta và dân tộc ta”.

Thứ Ba, 18 tháng 5, 2021

ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH, THỰC HIỆN KHÁT VỌNG VIỆT NAM

Để thực hiện được khát vọng Việt Nam, một trong những yếu tố quan trọng là đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong thời gian tới có kết quả, có hiệu quả thiết thực, với một chất lượng mới, theo tinh thần đổi mới sáng tạo.

Phải chống bệnh “hình thức”, phù phiếm, khoa trương, bệnh thành tích - những điều xa lạ với tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Chú trọng thực hành phong cách Hồ Chí Minh, nhất là phong cách giản dị, dân chủ, phong cách gần dân, vì dân và những ứng xử văn hóa tinh tế của Người.

Là con người hành động, ham chuộng các công việc thực tế và hữu ích để phục vụ dân tốt nhất, Hồ Chí Minh còn chủ trương nói ít, làm nhiều, nhiều khi không cần nói, cứ để việc làm tự toát lên tư tưởng.

Cần nhấn mạnh năm thực hành nổi bật trong cuộc đời của Người: 1) Thực hành lý luận trong thực tiễn, 2) Thực hành dân chủ, 3) Thực hành dân vận, 4) Thực hành đoàn kết - đại đoàn kết và 5) Thực hành đạo đức cách mạng. Đây là cơ sở để đề xuất các chủ đề học tập và làm theo Bác trong nhiệm kỳ khóa XIII./.

THẤM NHUẦN NHỮNG CHỈ DẪN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ KHÁT VỌNG VIỆT NAM

Ngày 5/6/1911, người thanh niên 21 tuổi Nguyễn Tất Thành rời bến Nhà Rồng bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước, cứu dân. Đó là bước ngoặt khởi đầu dẫn tới sự thay đổi số phận của nhân dân ta, thai nghén cho sự hình thành tư tưởng lớn, khát vọng mãnh liệt của Người, định hình đường lối cách mạng, thực hành triết lý và chủ thuyết của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sau này, dẫn tới thời đại mới, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử vinh quang hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Đó là thời đại mang tên Người - thời đại Hồ Chí Minh - như Đảng ta khẳng định, thời đại của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Cuộc hành trình 30 năm của Người, cả cuộc đời và sự nghiệp của Người với những bước ngoặt lịch sử, đã ngay từ đầu gắn bó máu thịt với Tổ quốc và nhân dân, đã phấn đấu hy sinh, dấn thân và quên mình vì Nước, vì Dân, sau này được khái quát thành lý luận: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là con đường, là quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam.

Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời với bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ, Hồ Chí Minh xác định Quốc hiệu và hệ giá trị Việt Nam là: “Việt Nam dân chủ cộng hòa. Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”. Đó là bản chất của chính thể, của nhà nước ta, là hệ giá trị phát triển của Việt Nam. Cho đến khi cuối đời, khi viết bản Di chúc thiêng liêng để lại cho toàn dân, toàn Đảng, Hồ Chí Minh vẫn nhất quán với những giá trị mục tiêu đó. Tâm nguyện cuối cùng của Người vẫn chỉ là “xây dựng thành công một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Trên cương vị Chủ tịch nước, nguyên thủ quốc gia, Hồ Chí Minh bày tỏ niềm hy vọng, niềm tin tưởng mãnh liệt của mình, ký thác vào thế hệ trẻ nước nhà, thế hệ sẽ làm cho Tổ quốc được vẻ vang, dân tộc được hùng cường, có mặt xứng đáng trong thế giới và nhân dân ta có cuộc sống hạnh phúc.

Khát vọng Việt Nam của Hồ Chí Minh là: Khát vọng giải phóng, giải phóng dân tộc ta ra khỏi tình cảnh bị áp bức, bóc lột, đọa đầy bởi đế quốc thực dân, làm cho Tổ quốc độc lập và thống nhất, có chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, nhân dân ta từ nô lệ tới tự do, ở địa vị người làm chủ và làm chủ, tự quyết định vận mệnh cuộc sống và tương lai phát triển của mình. Khát vọng đó của Người là mãnh liệt, phải “độc lập thực sự”, “tự do thực sự”, do đó, “thà hy sinh tất cả quyết không chịu làm nô lệ”, “không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đó còn là khát vọng phát triển, giải phóng dân tộc để phát triển dân tộc, lựa chọn con đường phát triển: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Hồ Chí Minh thể hiện rõ khát vọng phát triển ấy với một tầm mắt nhìn xa trông rộng, thực hiện lý tưởng, mục tiêu phát triển bền vững, văn minh, hiện đại. Dân tộc Việt Nam nhất định phải trở thành một dân tộc thông thái. Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là xây dựng nước ta giàu mạnh, sao cho đời sống vật chất ngày càng tăng, đời sống tinh thần ngày một tốt, xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ. Chủ nghĩa xã hội Việt Nam là một xã hội văn hóa cao. Đó là khát vọng đất nước phồn vinh, dân tộc cường thịnh, sánh vai cùng các cường quốc năm châu, con người Việt Nam phát triển toàn diện cả thể lực, tâm lực và trí lực, đủ sức giữ vững nền độc lập, tự do và thụ hưởng hạnh phúc. Đó là khát vọng đổi mới, sáng tạo, hội nhập quốc tế vì phát triển.

Thực hiện những mục tiêu vĩ đại, cao quý đó, đòi hỏi Đảng lãnh đạo cầm quyền phải thật trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”. Nhà nước của dân, do dân, vì dân phải là nhà nước dân chủ - pháp quyền - nhân nghĩa. Đại đoàn kết dân tộc là sức mạnh và nhân tố quyết định cho dân tộc phát triển. Cán bộ, đảng viên, công chức phải luôn trung thành, tận tụy phục vụ nhân dân, coi đó là trách nhiệm mà cũng là lựa chọn lối sống cao thượng.

Với Hồ Chí Minh, để thực hiện khát vọng Việt Nam phải ra sức thực hiện, thực hành khát vọng về Đảng, về Nhà nước, về Mặt trận, về đoàn kết, dân chủ, đồng thuận, từ đại đoàn kết toàn dân tộc tới đoàn kết, lấy đoàn kết trong Đảng làm hạt nhân và tối hệ trọng.

Di chúc của Hồ Chí Minh kết tinh mọi khát vọng đó, nổi bật những lời dạy, những quan niệm của Người về chủ nghĩa xã hội, về đổi mới mà Đảng phải nhận lấy trách nhiệm cao nhất trước sự phát triển của dân tộc và hết lòng chăm lo cho lợi, quyền, hạnh phúc của nhân dân.

ĐỘNG LỰC CHO SỰ PHÁT TRIỂN TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

Bối cảnh quốc tế và những xu hướng phát triển của thời đại đặt yêu cầu phải phát huy chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, ý chí, khát vọng của toàn dân tộc cho sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã dự báo tình hình thế giới sẽ “…tiếp tục có nhiều thay đổi rất nhanh, phức tạp, khó lường”. Đáng chú ý, Văn kiện đã chỉ rõ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển, nhưng cũng đang bị đe dọa bởi sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại diễn ra gay gắt… Trong hoàn cảnh thế giới phát triển phụ thuộc lẫn nhau, lợi ích quốc gia, dân tộc là nhân tố quyết định để mỗi quốc gia dân tộc tham gia vào các mối quan hệ quốc tế, hội nhập quốc tế thành công. Ngoài tiềm lực kinh tế, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng phát triển của toàn dân tộc là chỗ dựa và điều kiện để mở rộng quan hệ hợp tác, hội nhập quốc tế. Trong điều kiện cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn ra gay gắt, phức tạp, tác động mạnh mẽ đến Việt Nam hiện nay, việc giữ vững độc lập, tự chủ, khơi dậy và phát huy ý chí tự cường, khát vọng phát triển của toàn dân tộc góp phần giữ vững môi trường hòa bình, tận dụng cơ hội và hóa giải những thách thức đối với độc lập, hòa bình và phát triển của dân tộc.

Trong lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội và khoa học, công nghệ hiện nay, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển rất mạnh mẽ, tạo nên đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Vai trò của nhân tố con người, đặc biệt là tri thức, trí tuệ, sáng tạo có ý nghĩa quyết định để có sự phát triển đột phá, làm thay đổi vị thế quốc gia trên bản đồ thế giới. Chúng ta có quyền tự hào về một dân tộc Việt Nam thông minh, sáng tạo, một đội ngũ người lao động có trình độ học vấn khá cao, một môi trường phát triển và hội nhập quốc tế có nhiều thuận lợi nhờ thắng lợi của công cuộc đổi mới và đường lối đối ngoại đúng đắn…, giúp nâng cao vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Đúng như khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIII: “Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt cả về vật chất và tinh thần. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Và: “… Cương lĩnh của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, ngọn cờ chiến đấu, ngọn cờ quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Hơn lúc nào hết, cần phát huy mạnh mẽ chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, ý chí, khát vọng phát triển trong toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh làm động lực cho sự phát triển trong giai đoạn phát triển mới. 

Phát huy chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc, ý chí tự cường và khát vọng phát triển đất nước trong giai đoạn mới là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và mỗi người dân để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng lần đầu tiên xác định 5 quan điểm chỉ đạo công cuộc đổi mới hiện nay, trong đó, quan điểm về động lực phát triển nêu rõ: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc…”.  Để thực hiện quan điểm này, Nghị quyết yêu cầu phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hoá, con người Việt Nam. Bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển nhanh và bền vững.

Để phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc trong thời kỳ mới, cần tập trung thực hiện hiệu quả một số giải pháp sau:

Một là, khơi dậy, nhân lên, phát huy giá trị, sức mạnh nội sinh của ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ chính ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc khi được khơi dậy, nhân lên, phát huy phù hợp sẽ tạo ra sức mạnh muôn người như một. Trong giai đoạn hiện nay, làm cho ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc trở thành ý chí, khát vọng phát triển của mỗi người con đất Việt là trách nhiệm của Đảng, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải thể hiện rõ ý chí, khát vọng của mình, gương mẫu, làm lan tỏa, nhân lên ý chí, khát vọng phát triển của toàn dân tộc.

Hai là, để ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc trở thành nguồn nội lực phát triển của đất nước, cần tập trung tuyên truyền, khẳng định những thành tựu rất đáng tự hào, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã đạt được. Những thành tựu đó cũng là kết quả của sự phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của toàn dân tộc trước đây cũng như trong giai đoạn hiện nay. Từ đó, chúng ta thêm tin tưởng, tự hào, quyết tâm; thêm cơ sở khẳng định sự đúng đắn của con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.

Ba là, tiếp tục tháo gỡ những nút thắt trong cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội, quản lý văn hóa, quản lý con người... Xóa bỏ triệt để cơ chế bao cấp, xin - cho, tạo điều kiện để tất cả các thành phần kinh tế, mỗi gia đình, cá nhân, địa phương… đều có cơ hội phát triển, làm giàu cho mình cho đất nước. Ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc chỉ có thể được phát huy trên nền tảng xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân. Điều này phải được coi là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc.

Bốn là, muốn phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc trong bất kỳ thời đại nào cũng phải dựa vào dân; tin vào sức mạnh phi thường của quần chúng nhân dân. Sự đồng lòng của nhân dân là điều kiện tiên quyết để phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc. Trong tình hình mới hiện nay, sự lãnh đạo đúng đắn, nhạy bén của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời của Chính phủ; sự vào cuộc đồng bộ, tích cực của cả hệ thống chính trị; sự đồng tình, hưởng ứng, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài là điều kiện để phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam./.

VAI TRÒ QUAN TRỌNG CỦA Ý CHÍ, KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG TOÀN DÂN TỘC

Ý chí là khả năng vượt qua mọi khó khăn để đạt được mục đích, là sức mạnh tinh thần to lớn, là động lực cổ vũ con người đứng lên, vượt qua những rào cản trên con đường phấn đấu để đạt được mục đích. Ý chí giúp con người phát huy được sức mạnh bên trong của mỗi cá nhân, đôi khi đến mức độ phi thường. Ý chí của một cộng đồng dân tộc dựa trên sự thống nhất về tư tưởng, có lợi ích chung, tạo thành sức mạnh tinh thần to lớn của dân tộc trong giành, bảo vệ nền độc lập cũng như trong xây dựng, phát triển đất nước.

Khát vọng là những mong muốn tốt đẹp của con người với sự thôi thúc mạnh mẽ từ bên trong để đạt được những mong muốn ấy. Cũng như ý chí, khát vọng có vai trò, ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc sống của mỗi người, gắn với mục đích sống, nuôi dưỡng những hoài bão lớn lao trong họ… Khát vọng chung của nhiều cá nhân trong xã hội tạo thành khát vọng xã hội và đến lượt nó, khi đã hình thành, vận động và phát triển, khát vọng xã hội có tác dụng lôi cuốn mọi cá nhân, vượt qua những chần chừ, dao động, tính toán thiệt hơn…, để tham gia thực hiện thành công khát vọng chung của xã hội.

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc phụ thuộc trước hết vào ý chí và khát vọng sống, tồn tại và phát triển của cộng đồng dân tộc, tự mình cố kết lại để bảo vệ mình trước sức mạnh của tự nhiên, của các thế lực bên ngoài muốn thôn tính, đô hộ, áp bức, đồng hóa dân tộc. Lịch sử đã chứng minh không hiếm dân tộc, nền văn minh trên thế giới bị đồng hóa, bị tiêu diệt trong quá trình biến thiên lâu dài của lịch sử, khi không có sự đoàn kết toàn dân tộc, thiếu ý chí, khát vọng độc lập, tự cường và phát triển.

Thực tế lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh rất rõ vai trò của ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển. Hòn đá thề trên đỉnh núi Hy Cương, Phú Thọ nói lên ý chí, khát vọng độc lập của Vua Hùng và Thục Phán, về sự đoàn kết, thống nhất để chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập. Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đền nợ nước, trả thù nhà. Triệu Thị Trinh hùng hồn khẳng định: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp người"…

Trong những khúc quanh của lịch sử, cộng đồng dân tộc đã sinh ra những vĩ nhân, nhìn xa, trông rộng, như Nguyễn Trường Tộ, Vũ Duy Thanh… với tư tưởng cải cách, đổi mới để phát triển, xây dựng đất nước độc lập, hùng cường trước hiểm họa xâm lược từ các nước tư bản phương Tây. Lịch sử lâu dài của dân tộc đã chứng tỏ, ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc là nguồn nội lực xã hội khổng lồ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Những thành tựu và bài học kinh nghiệm của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước 35 năm qua một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng của ý chí, khát vọng phát triển đất nước trong toàn dân tộc. Bài học kinh nghiệm quý giá nhất của công cuộc đổi mới là dựa vào sức dân, phát huy tinh thần và ý chí khát vọng của nhân dân trong chiến tranh cách mạng vào xây dựng phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường hòa bình. Kết quả của công cuộc đổi mới không chỉ thể hiện bằng những thành tựu về kinh tế, xã hội, mà còn là bài học về phát huy ý chí, khát vọng phát triển, xây dựng đất nước ta phồn vinh, hạnh phúc, để “sánh vai với các cường quốc năm châu” như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy ý chí, khát vọng phát triển đất nước của toàn dân tộc gắn liền với tư tưởng của Người về cuộc đấu tranh giành lại nền độc lập dân tộc, “trước làm cách mạng quốc gia, sau làm cách mạng thế giới”; với tinh thần chủ động, tự lực cánh sinh, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Ngay sau khi giành được nền độc lập, Người đặt tên nước Việt Nam gắn với các cụm từ “dân chủ, cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc” và trong lời dặn trước lúc đi xa Người mong muốn “tột bậc” về một nước Việt Nam “hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

Tháng 9/1945, ngay sau khi nước nhà được độc lập, Người viết thư cho học sinh, sinh viên trong ngày khai trường năm học đầu của nước Việt Nam mới, trong đó có đoạn: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Thể hiện ý chí và vai trò của tự lực, tự cường trong quan hệ quốc tế, Người dặn: “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”.

Tháng 5/1965, khi tròn 75 tuổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ động viết bản Di chúc, để lại những lời dặn tâm huyết nhất cho Đảng và nhân dân ta. Về khát vọng phát triển của dân tộc, Người viết: “…Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!” và đến ngày thắng lợi, chúng ta sẽ xây dựng đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về ý chí và khát vọng phát triển đất nước gắn liền với tấm gương và sự nêu gương về trách nhiệm của mỗi người dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minhkhi đã trở thành người lãnh đạo cao nhất đã nhấn mạnh đầy đủ, thẳng thắn nhất về mong muốn của mình khi trả lời các nhà báo: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”.

Toàn bộ cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ ý chí và khát vọng của Người cho độc lập dân tộc và phát triển. Người nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó... Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân”. Trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với phóng viên báo Granma (Cuba), vào ngày 14-7-1969, Người nói: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”.

Ý chí, khát vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về độc lập của Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân, hùng cường cho dân tộc và sự hy sinh, cống hiến trọn đời của Người cho niềm mong ước ấy là tấm gương mẫu mực về trách nhiệm của mỗi người Việt Nam trong bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc, xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc. Thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về ý chí và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là góp phần hiện thực hóa tư tưởng của Người trong công cuộc Đổi mới của Đảng và nhân dân ta hiện nay.

Thứ Năm, 29 tháng 4, 2021

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC KHÁT VỌNG VÀ QUYẾT TÂM CỦA CẢ DÂN TỘC VỀ MỘT NƯỚC VIỆT NAM THỐNG NHẤT

Từ bao đời nay, một nước Việt Nam độc lập, tự do, thống nhất luôn hiển hiện trong trái tim mỗi người dân Việt Nam yêu nước chân chính. Tổ quốc Việt Nam giản dị và thân thương chính là khoảng trời, vùng biển, đảo, biên giới thiêng liêng thấm đẫm máu xương của tiền nhân, của các vị anh hùng dân tộc và các thế hệ cha anh. Vì thế, đã có biết bao cuộc khởi nghĩa, có biết bao cuộc đấu tranh anh dũng, kiên cường, không quản máu xương, mồ hôi, nước mắt…; không quản thời gian, trường kỳ bao tháng năm. Và cũng vì thế, khi đất nước đắm chìm trong đêm trường nô lệ, khi mỗi người dân của xứ An Nam thuộc địa dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp không còn được thụ hưởng quyền cơ bản của một con người thì người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc ra đi tìm đường giành lại độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào.

Người đã tìm ra con đường để dân tộc Việt Nam được độc lập, nhân dân Việt Nam được tự do

Trên hành trình bôn ba tìm đường cứu nước qua nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ ở nhiều châu lục, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, khảo nghiệm và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin; đã lựa chọn con đường cứu nước đúng đắn theo Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Từ đó, Người đã nỗ lực hoạt động trong thực tiễn và lý luận để không chỉ khẳng định vai trò, vị trí của cách mạng thuộc địa, tính chủ động của cách mạng ở các thuộc địa mà còn khơi dậy, cổ vũ và phát huy sức mạnh đoàn kết của nhân dân các thuộc địa trong sự nghiệp đấu tranh để giải phóng dân tộc mình, giai cấp mình và chính bản thân mình.

Đồng thời, Người còn sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam; cổ vũ, động viên và tập hợp các tầng lớp nhân dân trong các hình thức mặt trận dân tộc thống nhất, trong các đoàn thể chính trị, các tổ chức hội phù hợp với yêu cầu từng giai đoạn cách mạng để nhân nguồn sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc, tạo dựng và tích bồi nguồn sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân nhằm "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta".

Trân trọng giá trị và ý nghĩa của độc lập, tự do; thấu hiểu sâu sắc rằng, độc lập, tự do, hạnh phúc cho tất cả mọi người và con người được giải phóng hoàn toàn để vươn tới cái tất yếu của tự do chính là đích đến của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định "chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản", để "Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập", "Dân chúng được tự do tổ chức", "Nam nữ bình quyền"…

Từ một sự lựa chọn đúng đắn đó và kiên định con đường đã lựa chọn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo quần chúng nhân dân phát huy sức mạnh của lòng yêu nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để từng bước đấu tranh để giành lại cho độc lập, tự do. Ngày 28/1/1941, trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng cả nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương thứ 8 (5/1941): quyết định thay đổi chiến lược cách mạng, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu; đồng thời, thành lập Mặt trận Việt Minh, tập hợp "lực lượng cách mạng toàn cõi Đông Dương, không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư bản bản xứ, ai có lòng yêu nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất mặt trận, thu góp toàn lực đem tất cả ra giành quyền độc lập, tự do cho dân tộc"…

Rõ ràng là, thắng lợi vĩ đại của cuộc cách mạng mùa Thu năm 1945 chính "là hoa là quả của bao nhiêu máu đã đổ, bao nhiêu tính mạng đã hy sinh của những người con anh dũng Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập trung, trong những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường”[3]. Vì thế, đó không chỉ là hiện thân khát vọng của một dân tộc Việt Nam muốn được độc lập, con người Việt Nam muốn được sống trong tự do, được thụ hưởng những quyền con người cao cả nhất mà còn khẳng định quyết tâm, thành quả sự phấn đấu, hy sinh của biết bao thế hệ người Việt Nam yêu nước.

Bởi thế, 6 chữ quý giá Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ghi dưới quốc hiệu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hiện thân khát vọng của toàn dân tộc. Đó đồng thời là sự hiện thực hóa tâm nguyện "tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu” của Nguyễn Ái Quốc từ thập niên 1920; là tinh thần và ý chí của cả dân tộc “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ" trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và niềm tin chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do" mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc vào mùa Xuân năm 1975.

Nhân dân Việt Nam kiên trì đấu tranh vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập và thống nhất

Trân trọng giá trị của độc lập, tự do, nhân dân Việt Nam không chỉ kiên trì trong cuộc trường chinh chống Mỹ, cứu nước mà còn tiếp tục xây dựng một nước Việt Nam đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn. 46 năm sau khi miền Nam được giải phóng, cả nước thống nhất, cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, có thể thấy những thành tựu của Việt Nam trong hơn 1/3 thế kỷ qua không chỉ được truyền thông của Việt Nam đánh giá, khẳng định mà còn được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Giá trị của độc lập, tự do, của một quốc gia thống nhất và những quyền làm người cao cả của mỗi công dân được thực thi ở Việt Nam thông qua chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước; được quy định trong Hiến pháp và hệ thống pháp luật ngày càng được điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện cho thấy những luận điệu xảo trá của những đối tượng nhân danh yêu nước, dân chủ, những kẻ phản động, cố tình xuyên tạc rằng: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta là cuộc nội chiến giữa một bên là chính quyền Sài Gòn và một bên là chính quyền Hà Nội, được Liên Xô, Trung Quốc và phe xã hội chủ nghĩa giúp đỡ; là quân dân miền Bắc cầm súng sát hại đồng bào ở miền Nam; là Đảng Cộng sản Việt Nam không biết trân trọng giá trị của độc lập, tự do thực sự… chính là âm mưu phản động của thế lực thù địch.

Những luận điệu xuyên tạc sự thật, bẻ cong sự thật đó chính là sự phủ nhận lố bịch của những kẻ vô ơn, bội nghĩa với chính khát vọng về một nước Việt Nam độc lập, thống nhất và tinh thần, ý chí, máu xương của cả dân tộc kiên trì đấu tranh chống lại sự xâm lược thống trị của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai; chống lại chính sách độc tài và tàn bạo đối với đồng bào miền Nam như Luật 10/59, lập ấp chiến lược với phương châm “giết sạch, đốt sạch, phá sạch”…; với một cuộc chiến tranh hủy diệt hết sức tàn bạo, biến Việt Nam thành chiến trường đẫm máu, phải hứng chịu một lượng bom đạn lớn chưa từng thấy trên thế giới…

Những luận điệu xuyên tạc sự thật, bẻ cong sự thật đó chính là sự vu khống Đảng Cộng sản Việt Nam và những người đảng viên cộng sản Việt Nam; đặc biệt là xuyên tạc giá trị và bản chất câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” ngày 17/7/1966 và quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam và toàn thể nhân dân Việt Nam cùng sự chi viện hết lòng, hết sức của quân dân miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Thực tế, ở Việt Nam không bao giờ có hiện trạng "sau khi cướp chính quyền và lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân để đánh Pháp thành công, nhân danh chủ nghĩa tam vô họ đã cướp đoạt độc lập và tự do từ tay nhân dân"; cũng lại càng không có việc "nhân danh “độc lập” và “tự do”, họ cho họ cái quyền xâm lược để chiếm đoạt nốt độc lập và tự do của muôn triệu người khác ở miền Nam" như các thông tin xấu độc của những người mang trong mình ảo tưởng về chế độ Việt Nam cộng hòa thuở nào/của những người ôm mối hận vì không được tự do vô chính phủ chống phá Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tung lên mạng xã hội mỗi khi tháng Tư đến…

Thực tế, lịch sử Việt Nam hiện đại ghi nhận rằng, ở Việt Nam chỉ có một sự thật là, để thực hiện khát vọng giải phóng miền Nam dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai, cả nước đã đồng thời tiến hành 2 nhiệm vụ chiến lược: 1) Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc để miền Bắc trở thành hậu phương lớn, chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam; 2) Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước. Hai nhiệm vụ chiến lược ấy có quan hệ mật thiết với nhau và có tác dụng thúc đẩy lẫn nhau.

Kiên định đấu tranh vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và tự do, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đã giành thắng lợi. Miền Nam đã được giải phóng, Tổ quốc Việt Nam đã thống nhất, đồng bào Nam - Bắc đã sum họp một nhà! Cả nước chung niềm tin và khát vọng về một nước Việt Nam ngày càng phát triển phồn thịnh, nhân dân Việt Nam được sống trong độc lập, tự do, hạnh phúc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Sự thật là vậy và sự thật này là không thể phủ nhận, cũng giống như không thể phủ nhận, càng không thể xuyên tạc khát vọng và niềm tin chân lý: Nước Việt Nam là một. dân tộc Việt Nam là một. Đồng bào Nam Bộ là máu của máu, là thịt của thịt Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn. Song chân lý đó không bao giờ thay đổi mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định.

Sự thật là, chiến thắng lịch sử mùa Xuân 1975 đã tạo cơ sở cho cả dân tộc Việt Nam có thêm bản lĩnh, niềm tin để vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới để xây dựng đất nước ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Vì thế, chỉ có những người không biết trân trọng độc lập và tự do; không hiểu đúng bản chất của độc lập và tự do mới vi phạm pháp luật Việt Nam, để tự mình hủy đi quyền được độc lập, tự do của chính mình. Chỉ có những người luôn ảo tưởng về "thiên đường độc lập, tự do" vô vọng trong quá khứ mới suy nghĩ và hành động sai để "vượt biển tìm tự do" và "sống vật vờ như chết ở bên lề xã hội", bởi đó không phải là tự do mà là vũng vẫy trong bóng đêm quá khứ!.

Mọi người Việt Nam yêu nước chân chính đều hiểu đúng giá trị của độc lập, tự do và hạnh phúc vì được sống trong một đất nước hòa bình, độc lập, tự do, thống nhất. Chỉ có những người ‘lạc dòng’ cùng hội cùng thuyền với thế lực phản động, cơ hội mới hiểu sai, cố tình xuyên tạc bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và giá trị cao cả của độc lập, tự do mà chế độ xã hội chủ nghĩa mang lại!