Hiển thị các bài đăng có nhãn giải phóng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn giải phóng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

NỘI DUNG SỨ MỆNH LỊCH SỬ TOÀN THẾ GIỚI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, nội dung SMLS của GCCN là mục tiêu cuối cùng phải đạt được, những nhiệm vụ (nhiệm vụ bao trùm, nhiệm vụ cơ bản và những nhiệm vụ chủ yếu trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội) mà GCCN phải  thực hiện thành công để tạo ra bước ngoặt trong tiến trình cải tạo xã hội cũ, thay thế HTKT-XH TBCN bằng HTKT-XH CSCN - hình thái xã hội (kiểu xã hội, chế độ xã hội) được phát triển dựa trên chế độ công hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu với lực lượng sản xuất hiện đại và đạt năng suất cao đến mức bắt đầu thực hiện nguyên tắc làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu; xã hội mà ở đó con người được giải phóng khỏi mọi áp bức, bất công và phát triển toàn diện - xã hội mà “trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”.

Để thực hiện được mục tiêu cuối cùng SMLS của mình, GCCN phải thực hiện nhiệm vụ bao trùm là giải phóng thế giới, giải phóng nhân loại. Ph.Ăngghen khẳng định: “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy - đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại”.

Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu SMLS của GCCN, C.Mác,  Ph.Ăngghen đã tập trung nghiên cứu và phát hiện những nhiệm vụ cơ bản mà GCCN  phải  thực hiện thành công: một là, lật đổ chế độ TBCN và GCTS, giành chính quyền về tay GCCN và nhân dân lao động; hai là, lãnh đạo, tổ chức thực hiện quá trình cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới- xã hội XHCN và CSCN. Đồng thời, để hoàn thành SMLS của mình, GCCN còn phải thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội.

Về nhiệm vụ kinh tế: Các ông luôn khẳng định đây là nội dung có tính nền tảng của SMLS của GCCN. Theo C.Mác,  Ph.Ăngghen, “việc giải phóng  giai cấp công nhân về mặt kinh tế là mục tiêu vĩ đại mà bất kỳ phong trào chính trị nào cũng đều phải phục tùng với tư cách là một thủ đoạn” và trong đó nhiệm vụ xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân TBCN là nhiệm vụ quan trọng nhất mà SMLS của GCCN phải hoàn thành. Các ông viết: “những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành một luận điểm duy nhất này là: xóa bỏ chế độ tư hữu”. Đồng thời, C.Mác đã dự báo rằng nhiệm vụ này phải thực hiện lâu dài trong thời kỳ quá độ, trong giai đoạn đầu của CNCS.

Về nhiệm vụ chính trị: trong quá trình đấu tranh để giải phóng mình, GCVS “trước hết phải chiếm lấy chính quyền để đến lượt mình, có thể biểu hiện lợi ích của bản thân mình như là lợi ích phổ biến, điều mà giai cấp ấy buộc phải thực hiện trong bước đầu”. Tiến trình cách mạng của giai cấp vô sản có khả năng “lôi cuốn tất cả khối đông đảo quần chúng theo mình” để tiến hành cuộc cách mạng nhằm xóa bỏ chế độ bóc lột hiện hành và xây dựng xã hội mới không còn áp bức bóc lột.

Về nhiệm vụ văn hóa, tư tưởng, con người và xã hội: GCCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản tiến hành cuộc cách mạng văn hóa để xác lập hệ giá trị, lối sống mới trên lập trường của GCCN để thay cho hệ giá trị, lối sống và “ những hệ tư tưởng cổ truyền” của GCTS; từ đó tạo điều kiện để con người phát triển tự do và toàn diện trong một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh: “Người cộng sản không bịa đặt ra tác động xã hội với giáo dục, họ chỉ thay đổi tính chất của sự giáo dục ấy và kéo giáo dục ra khỏi ảnh hưởng của giai cấp thống trị mà thôi”.

Như vậy, với những nội dung trên, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, so với các giai cấp trong lịch sử, SMLS của GCCN có những đặc điểm cơ bản sau: Một là, SMLS của GCCN không phải là thực hiện sự chuyển biến từ chế độ tư hữu này sang chế độ tư hữu khác, nhằm thay đổi hình thức bóc lột này sang hình thức bóc lột khác mà là xoá bỏ chế độ tư hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu, thiết lập chế độ công hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu, xoá bỏ mọi hình thức người bóc lột người để tiến tới xoá bỏ giai cấp nói chung. Tuy nhiên, xóa bỏ sỡ hữu cần được hiểu là một quá trình “lịch sử - tự nhiên” chứ không thể duy ý chí và do trình độ của lực lượng sản xuất quy định. Hai là, SMLS của GCCN là sự nghiệp cách mạng của quần chúng và mưu cầu lợi ích cho đa số. Giai cấp công nhân cũng “chỉ có thể giải phóng mình thông qua việc đồng thời giải phóng các giai cấp bị áp bức và bóc lột khác”. Ba là, SMLS của GCCN là sự thống nhất biện chứng của hai quá trình: cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới, nhằm mục tiêu cao nhất là giải phóng con người, lần đầu tiên con người “bước từ vương quốc của tất yếu sang vương quốc của tự do”. Bốn là, SMLS của GCCN là sự thống nhất giữa các yếu tố giai cấp, dân tộc và quốc tế. Cuộc cách mạng do GCCN mỗi nước tiến hành trước hết trong khuôn khổ dân tộc mình nhưng thực chất đã mang tính chất quốc tế. Bởi vì thắng lợi của GCCN ở mỗi nước sẽ góp phần làm suy yếu CNTB và cổ vũ cho phong trào công nhân, phong trào giải phóng dân tộc trên phạm vi toàn thế giới. Ngược lại, sự lớn mạnh của phong trào cách mạng của GCCN thế giới, tạo thời cơ và thuận lợi cho sự phát triển cách mạng của GCCN ở mỗi nước. SMLS của GCCN chỉ có thể được hoàn thành khi xây dựng thành công CNXH và chủ nghĩa cộng sản ở mỗi nước và trên toàn thế giới.

Trong bối cảnh hiện nay, dù GCCN có sự biến đổi về cơ cấu, thay đổi về quy mô, số lượng và chất lượng, tuy nhiên, GCCN vẫn là giai cấp có SMLS là thủ tiêu chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Ở Việt Nam, trong suốt quá trình cách mạng cho đến nay, GCCN Việt Nam vẫn là giai cấp “có sứ mệnh lịch sử to lớn là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam... lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Điều đó, một lần nữa tiếp tục khẳng định quan điểm của chủ nghĩa Mác về nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Thứ Ba, 26 tháng 4, 2022

LẬT TẨY CHIÊU TRÒ BÔI NHỌ, KÍCH ĐỘNG

Cứ đến dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4), những kẻ "lật sử" lại tìm mọi cách để chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, bôi nhọ lịch sử Việt Nam và công cuộc thống nhất đất nước của toàn dân ta.

Lợi dụng tính đại chúng của mạng xã hội, thành phần bất mãn mượn cớ khoa học hay tự xưng là “người cầm bút chân chính” đăng đàn các nội dung cho rằng, có những sự thật lịch sử, nhân vật lịch sử trong dịp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước cần phải xem xét lại (!). Một số kẻ giở trò “nước mắt cá sấu” để kêu thay, vái đỡ cho nhóm người bất mãn, “bên kia chiến tuyến” với luận điệu "thống nhất đất nước là sai lầm" (!); nhiều người đang tha hương, lưu lạc, vì sợ mà không dám trở về quê hương... Dù xảo quyệt đến đâu, ngôn từ có hùng hồn hay tỏ ra bi lụy thì tựu trung lại, chúng đều tỏ rõ bộ mặt thật của những kẻ có mưu đồ bất chính, hòng phủ nhận các giá trị lịch sử dân tộc, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết, thống nhất Bắc-Nam một nhà.

Thực tế là, bao thế hệ cha anh đã đoàn kết một lòng, không tiếc máu xương để đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, đập tan ngụy quân, ngụy quyền, thống nhất đất nước, non sông thu về một mối. Những chiến sĩ cách mạng bước ra từ cuộc chiến ấy mỗi người một công việc, tiếp tục cống hiến, chung tay xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chứ không phải như luận điệu của các thế lực thù địch, bất mãn đang rêu rao rằng có nhiều người đang “tranh công, đổ lỗi...”.

Bên cạnh đó, với chính sách hòa hợp dân tộc, Đảng, Nhà nước, nhân dân ta luôn sẵn sàng chào đón tất cả kiều bào trở về đóng góp cho quê hương, đất nước... Nhiều năm qua, các hoạt động chăm lo cho kiều bào ta ở nước ngoài đã được tổ chức thiết thực. Nhà nước luôn khuyến khích và tạo mọi điều kiện để kiều bào trở về quê hương, tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Dĩ nhiên, chẳng ai lại chào đón những thành phần bất mãn, thù địch, có âm mưu chống phá.

Và sự thật không ai có thể phủ nhận là, cứ mỗi dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tất cả người dân đất Việt đều tự hào với hai tiếng Việt Nam, đều xúc động rưng rưng khi giai điệu hùng hồn của bản Quốc ca vang lên dưới cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới, bởi đất nước thống nhất giúp toàn dân tộc không phải chịu cảnh ly tán, khổ đau do cùng dòng tộc, thân thiết với nhau mà phải chia ly, cách biệt. Chắc chắn cũng chẳng luận điệu nào có thể làm lu mờ chân lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi".

CHÀO MỪNG NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM 30/4 VÀ NGÀY QUỐC TẾ LAO ĐỘNG 1/5

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã đi vào lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi đưa đất nước ta bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta từ đây tập trung sức lực và trí tuệ hàn gắn vết thương chiến tranh xây dựng cuộc sống mới; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chiến thắng 30/4/1975 là thành quả vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là trang sử hào hùng, chói lọi trên con đường dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc. Quân và dân ta đánh thắng kẻ thù lớn mạnh và hung hãn nhất của loài người tiến bộ; kết thúc oanh liệt cuộc chiến đấu 30 năm giành độc lập tự do, thống nhất cho Tổ quốc; chấm dứt ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước ta; là thắng lợi tiêu biểu của lực lượng cách mạng thế giới, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì mục tiêu độc lập dân tộc, hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội; cổ vũ động viên các dân tộc đang tiến hành công cuộc giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa thực dân kiểu mới trên toàn thế giới.

Ngày nay, trong công cuộc đổi mới của đất nước, chúng ta mãi tự hào và biết ơn sự hy sinh to lớn của các anh hùng, các thế hệ cha ông đã chiến đấu hy sinh anh dũng vì độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc. Chúng ta càng tự hào, tin tưởng vào sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào tinh thần quật cường bất khuất và trí thông minh, sáng tạo của dân tộc ta, của quân đội ta. Mỗi người dân Việt Nam nguyện tiếp tục phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần tự lực, tự cường, tinh thần đại đoàn kết toàn dân, quyết tâm vươn lên hoàn thành tốt các chỉ tiêu phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng theo chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đề ra.

Hòa chung không khí vui tươi phấn khởi chào mừng 47 năm ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, trong những ngày này cả nước cũng đang hân hoan chào mừng ngày Quốc tế Lao động 01/5, là dịp để giai cấp công nhân và nhân dân lao động cả nước ôn lại truyền thống đấu tranh, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc đồng thời tiếp tục phát huy vai trò của mình và có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, theo tinh thần Nghị quyết Ðại hội XIII của Ðảng xác định: Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động của công nhân; bảo đảm việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện làm việc, nhà ở, các công trình phúc lợi phục vụ công nhân; sửa đổi, bổ sung các chính sách, pháp luật về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp...nhằm bảo vệ quyền lợi, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của công nhân.

Chào mừng 47 năm ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, 136 năm ngày Quốc tế Lao động 01/5 là dịp thiết thực cổ vũ, động viên toàn đảng, toàn quân và toàn dân ra sức thi đua thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã xác định.

Thứ Ba, 9 tháng 11, 2021

"KHÔNG! VỊ TRÍ CỦA TÔI LÀ Ở VIỆT NAM"

Những năm 1936 - 1938, bọn phản động Phrăng-cô, được phát xít Đức-Ý tiếp tay, gây ra cuộc nội chiến, tiến công chính quyền của Mặt trận Nhân dân Tây Ban Nha. Đất nước này chìm trong máu lửa. Ít lâu sau, Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp cũng bị lật đổ và bọn thực dân phản động Pháp lại ra tay khủng bố, đàn áp phong trào cách mạng Đông Dương. Chuyến đi của anh Nguyễn phải hủy bỏ.

Trong khi chờ đợi một dịp khác, anh làm việc ở Nin Ca Pê, tức Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa, số nhà 25 đại lộ Tơ-véc-xkôi, từ phố lớn Tơ-véc-xkai-a rẽ vào khoảng vài trăm mét. Một ngôi nhà hai tầng với nhiều phòng nhỏ, yên tĩnh.

Đồng chí Men-man, phụ trách viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa thu xếp dành cho anh Nguyễn một phòng làm việc riêng nhìn xuống vưởn cây có những lối đi rải đá. Ở đây anh gặp các chiến sĩ cách mạng một số nước châu Á. Và nhờ đó, anh cũng biết thêm nhiều tình hình mới về cuộc đấu tranh đang diễn ra trên lục địa này.

Một hôm, giảng viên I. Cô-dơ-lốp, phụ trách hướng dẫn nhóm nghiên cứu sinh Ấn Độ ở Viện, hỏi anh :

– Này, đồng chí Lin, đồng chí làm việc nhiều quá ! Bảo vệ xong luận án, chắc đồng chí sẽ trở thành giáo sư và Viện chúng tôi sẽ có thêm một thầy dạy với nhiều kinh nghiệm thực tế !

Anh Nguyễn lắc đầu :

– Không ! Vị trí của tôi là ở Việt Nam. Dù tình hình diễn biến thế nào đi nữa, tôi cũng phải trở về Tổ quốc, cùng với nhân dân tôi giải phóng đất nước.

Một buổi chiều se lạnh tháng 10 năm 1938, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đáp xe lửa ở ga I-a-rô-láp-xki rời Mát-xcơ-va lần thứ ba. Con tàu đưa Người chạy về Phương Đông, trở về Tổ quốc, đi tới bình minh.

Thứ Tư, 9 tháng 6, 2021

SỰ LỰA CHỌN CHÍNH XÁC CỦA NGUYỄN TẤT THÀNH

Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên khi đất nước đã đắm chìm trong đêm trường nô lệ. Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, nền độc lập của dân tộc bị xâm phạm, quyền được sống trong độc lập, tự do, hạnh phúc của mỗi người dân ở xứ An Nam thuộc địa đều bị chà đạp, tước bỏ. Không cam chịu làm nô lệ, các phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân Việt Nam liên tiếp nổ ra: Từ phong trào Cần Vương, Văn Thân đến cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế; từ phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân đến phong trào chống thuế ở Trung Kỳ…, song cuối cùng đều bị dìm trong bể máu.

Cũng trong những năm tháng đó, không chỉ sống ở xứ Nghệ, Nguyễn Tất Thành còn được sống ở kinh thành Huế. Người không chỉ được học chữ Hán, bước đầu làm quen với thời đại qua những sách Tân thư, Tân văn bằng tiếng Hán; được nghe các thầy giảng giải về nền dân chủ và văn minh phương Tây mà khi theo học lớp dự bị (préparatoire) ở Trường tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố Vinh trước đó, lần đầu tiên Nguyễn Tất Thành được tiếp xúc với khẩu hiệu "Tự do, Bình đẳng, Bác ái" nổi tiếng của cách mạng tư sản Pháp 1789. Sau này, Người kể lại với nhà văn Liên Xô Ôxíp Manđenxtam rằng: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cùng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy”.

Truyền thống của quê hương và gia đình, sự tác động về nhiều mặt của thời cuộc đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Nguyễn Tất Thành. Vì vậy mà, dù rất khâm phục lòng yêu nước của các bậc tiền nhân theo tư tưởng phong kiến hoặc dân chủ tư sản, nhưng khác họ, qua những kiến thức mới mẻ tiếp thu được từ Tân thư, từ những năm tháng học tập, sinh sống ở Huế và bằng nội lực bẩm sinh, Nguyễn Tất Thành hiểu rằng một thời đại mới, đòi hỏi một con đường đi mới, một phương thức đấu tranh mới - Đó chính là làm cách mạng và nó khác hẳn những con đường đấu tranh yêu nước đã từng diễn ra.

Vì thế mà, Nguyễn Tất Thành đã quyết định không sang phương Đông, không nhờ cậy vào những người “anh lớn” Trung Quốc và Nhật Bản, mà muốn làm quen với văn minh Pháp, muốn xem những gì ẩn giấu đằng sau những mỹ từ “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” của cách mạng Pháp. Nguyễn Tất Thành đã muốn học hỏi nhiều hơn những gì mình đang có, dân tộc mình đang có, để không chỉ làm giàu tri thức cho mình mà chính là hướng đến mục tiêu giải phóng dân tộc mình. Từ xuất phát điểm này, từ sự vượt lên chính mình này đã quyết định sự lựa chọn, con đường đi sau đó của Người - đó là rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước, mở đầu một chặng đường dài xa Tổ quốc.

Với ý chí và quyết tâm của một người dân mất nước, với nhiệt huyết và sức trẻ của tuổi thanh xuân, Nguyễn Tất Thành đã khởi đầu một con đường đúng khi quyết định xin làm thuê trên tàu Đô đốc Latútxơ Trêvilơ (Amiran Latusơ Tơrêvin), rời Tổ quốc ngày 5/6/1911 để “tìm đường đi cho dân tộc theo đi”. Có thể nói, đây là một suy nghĩ đúng đắn, hợp quy luật và thời đại.

Theo hành trình của tàu, Người đã đến Marseille, Le Havre, Dunkerque, Manche của Pháp… Ngày 15/9/1911, Người viết đơn gửi Tổng thống Pháp và Bộ trưởng Thuộc địa Pháp trình bày nguyện vọng muốn được xin vào học tại Trường Thuộc địa. Đơn của Người được gửi từ Marseille; trong đó có đoạn viết: “Tôi vinh hạnh, xin một đặc ân với lòng nhân từ cao cả của ông được thu nhận vào học Trường Thuộc địa như một học sinh nội trú. Hiện tại tôi là nhân viên của Hãng Sácgiơ Rêuyni (Chargeurs Réunis) tàu Amiran Latusơ Tơrêvin”, với mong muốn "trở thành có ích cho đồng bào tôi, muốn cho họ được hưởng những lợi ích của học thức". Tuy nhiên yêu cầu này đã bị từ chối vào tháng 10/1911 và theo hành trình của tàu, Người trở lại Sài Gòn.

Sau đó, Người quay lại Pháp và theo hành trình của hãng tàu Người bắt đầu hành trình lao động kiếm sống, tích luỹ tri thức, khảo nghiệm và tìm hiểu đời sống chính trị, xã hội các quốc gia, dân tộc và các nền văn hoá của nhiều châu lục… Vậy là, trải qua những tháng ngày lao động vất vả, bằng nghề làm phụ bếp trên tàu; thợ chụp ảnh, vẽ đồ giả cổ Trung Hoa ở thủ đô Paris của nước Pháp hoa lệ; làm người cào tuyết cho trường học, bồi bàn trong khách sạn ở nước Anh; học tập, nghiên cứu ở nước Nga; hoạt động ở  Trung Quốc, v.v.. Nguyễn Ái Quốc đã có một hành trình dài với biết bao điều lớn lao:

Thứ nhất, sống, học tập và hoạt động không mệt mỏi, thực sự hòa mình vào dòng chảy của các sự kiện trên thế giới và đi đến lựa chọn đúng, đó là đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với con đường cứu nước theo quỹ đạo cách mạng vô sản khi bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ III của Lênin/Quốc tế Cộng sản - trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp vào tháng 12/1920 (tại Đại hội Tua) khi hiểu rõ rằng: "Cách mạng Tháng Mười mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới". Vì thế, “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(và “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”…

Thứ hai, ham học hỏi, không sợ cường quyền, từng bước vượt qua mọi thử thách, gian truân, luôn phấn đấu cao độ với một nghị lực phi thường và một định hướng chính trị đúng để gom góp và đanh thép đưa ra bản cáo trạng tội ác thực dân - Bản án chế độ thực dân Pháp năm 1925. Đồng thời, được chứng kiến những diễn biến lớn của thời đại, Nguyễn Ái Quốc đã thấy những tồn tại, những khoảng cách và cả những bất công về quyền lợi và hưởng thụ trong lòng xã hội tư bản, tất yếu sẽ dẫn đến những “khủng hoảng” không thể tránh khỏi ở cả các nước chính quốc, như nước Mỹ (với bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776) và nước Pháp (với bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng 1791, để rồi đi tới khẳng định: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”. Vì thế, theo Người, vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng con người không chỉ là nhu cầu của dân tộc và con người Việt Nam mà là của tất cả các dân tộc bị áp bức và nhân dân cần lao trên thế giới.

Thứ ba, đi từ dân tộc đến nhân loại, Người đã nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin với thế giới quan khoa học và cách mạng, để phát hiện và nhận thức được quy luật tiến hóa, xu thế phát triển tất yếu của thời đại khi khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Với ý nghĩa đó, có thể thấy, Nguyễn Ái Quốc đã không chỉ tìm được con đường cứu nước, cứu dân phù hợp yêu cầu của đất nước và quy luật của thời đại mà còn trang bị cho mình một nhân sinh quan mới để định hình con đường phát triển cho dân tộc Việt Nam khi nhấn mạnh rằng, ở đó “chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước…Chiến tranh đã làm thay đổi chủ nghĩa dân tộc”. Đây là quá trình khảo nghiệm, thâu thái tinh hoa, tri thức các nền văn minh nhân loại theo cách "tiếp biến và vượt gộp" của Hồ Chí Minh, để vừa sáng tạo, vừa độc lập vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam khi quyết định trở về Quảng Châu, Trung Quốc (11/11/1924) chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam sau đó.

Thứ tư, trên cơ sở những nguyên lý của học thuyết Mác - Lênin về xây dựng Đảng, Nhà nước, về phương pháp vận động quần chúng, tập dượt đấu tranh cách mạng được tích luỹ trong những năm tháng hoạt động của tuổi trẻ, bằng những việc làm cụ thể như mở lớp huấn luyện chính trị, thành lập tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên năm 1925, sáng lập báo Thanh niên 6/1925, tuyên truyền về chủ nghĩa cộng sản, về Đảng Cộng sản, về Cách mạng Tháng Mười Nga, xuất bản tác phẩm Đường Kách mệnh đầu năm 1927..., Nguyễn Ái Quốc đã ngày mỗi ngày góp phần đưa tư tưởng của thời đại mới về Việt Nam, thúc đẩy sự chuyển biến về chất trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Sau đó, khi các tổ chức cộng sản Việt Nam ra đời, Người đã tổ chức thành công Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (từ 6/1-8/2/1930) tại Hương Cảng. Hội nghị đã thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, trong đó khẳng định: "Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản"; "a) Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến. b) Làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập".

Thứ năm, dưới sự lãnh đạo của Người và Đảng Cộng sản Việt Nam, với đường lối cách mạng đúng đắn, với sức mạnh đoàn kết muôn người như một của các tầng lớp nhân dân yêu nước, kiên cường, đồng lòng ủng hộ, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đã giành thắng lợi. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á; đồng thời, đưa những thân dân/người dân nô lệ An Nam trở thành chủ nhân của nước Việt Nam độc lập, tự do.

Tiếp đó, kiên định con đường đã lựa chọn, nhân dân Việt Nam kiên trì tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh và một đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp xu thế thời đại của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), sau hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, một đất nước Việt Nam đổi mới từng ngày đã khẳng định được vị thế của mình trong cộng đồng các quốc gia, đóng góp vào sự phát triển bền vững, phồn vinh của nhân loại; góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại, thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của loài người tiến lên trong một thế giới đầy biến động.

Thứ Hai, 7 tháng 6, 2021

HỒ CHÍ MINH VÀ SỨC LAN TOẢ CUỘC CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VỚI CÁC DÂN TỘC BỊ ÁP BỨC TRÊN THẾ GIỚI

Sức lan tỏa của cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo đối với các dân tộc bị áp bức trên thế giới bắt nguồn từ bản thân cuộc cách mạng ấy trong sự không tách rời với truyền thống lịch sử anh hùng, bất khuất của dân tộc Việt Nam, với lịch sử quang vinh của Đảng và với cuộc đời, sự nghiệp của Hồ Chí Minh-người anh hùng dân tộc vĩ đại, ngọn cờ đầu của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, người bạn lớn của nhân dân các dân tộc bị áp bức trên thế giới trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam mang tầm vóc vĩ nhân, danh nhân văn hóa thế giới.

Sức lan tỏa ấy rộng lớn và bền bỉ bởi sức mạnh nêu gương, cổ vũ, thức tỉnh và thúc đẩy của cách mạng Việt Nam đối với phong trào đấu tranh của các dân tộc bị áp bức chống đế quốc, thực dân. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh cho chân lý lớn của thời đại, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, cho xu thế tất yếu của lịch sử như Hồ Chí Minh đã nói: Không ai có thể ngăn cản mặt trời mọc, không một thế lực phản động nào ngăn nổi các dân tộc trên thế giới tiến tới chủ nghĩa xã hội. Cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam chứng minh cho sức mạnh chính nghĩa thắng phi nghĩa. Đó là đạo lý chính trị lớn nhất. Dưới ánh sáng của chân lý và đạo lý ấy, nhân dân Việt Nam đã nuôi dưỡng một niềm tin mãnh liệt vào tương lai, kiên định con đường, lý tưởng, mục tiêu cách mạng, đủ dũng cảm và đức hy sinh, bất chấp mọi thế lực bạo tàn, dù hùng mạnh về vật chất và vũ khí, dù có dã tâm đến đâu trong việc gây chiến tranh xâm lược và đe dọa hủy diệt Việt Nam cũng không thắng nổi một dân tộc quyết không chịu làm nô lệ như dân tộc Việt Nam.

Các dân tộc bị áp bức đã từ bài học và tấm gương Việt Nam mà Hồ Chí Minh là linh hồn, là tượng trưng cho sự kết tinh, hội tụ mọi giá trị cao quý của dân tộc, của thời đại để có dũng khí và niềm tin, tự giải phóng chính mình, từ nô lệ tới tự do, từ phụ thuộc tới tự chủ và làm chủ. Các phong trào giải phóng dân tộc Á, Phi, Mỹ Latin trong thế kỷ 20 và hiện nay đã có nguồn xung lực mãnh liệt từ Việt Nam, chiến đấu, hy sinh cho độc lập, tự do, cho một trật tự thế giới mới công bằng, dân chủ, bình đẳng, văn minh, không còn áp bức bóc lột và con người tự do, sáng tạo, xây dựng cuộc sống mới, trong hòa bình và hữu nghị, giữa các dân tộc, văn minh thắng bạo tàn...

Ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao ở những nơi trên trái đất này, nơi đang còn phải đấu tranh diệt trừ cái ác, dựng xây cải thiện, củng cố nền độc lập, bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc và phấn đấu cho hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc.

Ở những nơi đó, Hồ Chí Minh chẳng những được tôn vinh với lòng kính trọng, ngưỡng mộ và biết ơn mà di sản của Người còn mãi mãi được gìn giữ, được phát huy như những biểu tượng của lòng nhân ái, vị tha và khoan dung trong đời sống thực tại, trong khát vọng hướng tới một tương lai tốt đẹp nhất.

Văn hóa hòa bình và văn hóa khoan dung là đặc trưng văn hóa nhân loại trong tính phổ quát của nó, cũng là những giá trị nổi bật, điển hình của văn hóa Hồ Chí Minh, mãi mãi còn được nhắc tới trong lương tâm nhân loại, trong ký ức lịch sử.

Sinh thời, Hồ Chí Minh đã nỗ lực hết mình để kết nối tình hữu nghị thân ái giữa các dân tộc.

Người đã đi thăm nhiều nơi trên thế giới. Người đã đón tiếp thân tình và vô cùng nồng hậu đối với Tổng thống Xucácnôcủa Indonesia và kết tình nghĩa anh em, Tổng thống Pơraxát của Cộng hòa Ấn Độ, Tổng thống Cộng hòa Mali và phu nhân Môđibô Câyta, Tổng thống Ghinê Xêcuturê và nhiều chính khách nổi tiếng khác. Người còn đón tiếp vợ chồng luật sư Ludơbai mà Người coi là ân nhân của mình, còn tự đáy lòng, nhân dân Việt Nam coi luật sư là ân nhân của Việt Nam bởi luật sư đã có công lao to lớn giúp lãnh tụ Hồ Chí Minh qua cơn hoạn nạn trên đường cách mạng ở một thời điểm đặc biệt.

Ngay trong những năm cuối đời, dù tuổi cao sức yếu, Người vẫn chu đáo, ân cần tiếp đón nhiều bạn bè quốc tế, đem đến cho họ hiểu biết về Việt Nam và nỗ lực làm cho Việt Nam hiểu thế giới, đưa thế giới đến với Việt Nam. Năm cuối cùng của cuộc đời hữu hạn 79 mùa xuân của mình, Người vẫn có “Thư gửi các bạn người Mỹ” với lời chúc mừng hòa bình và hạnh phúc. Người đặc biệt quan tâm tới các sự kiện lớn trong phong trào cách mạng của nhân dân thế giới, nhất là phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân châu Á, châu Phi.

Người bày tỏ sự ủng hộ hoàn toàn Cương lĩnh chính trị của Mặt trận Yêu nước Lào, cảm ơn Quốc trưởng Campuchia Xihanúc đã ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ, cứu nước, đồng thời gửi điện tới Hội nghị quốc tế ủng hộ nhân dân các nước thuộc địa của Bồ Đào Nha và các nước châu Phi Nam xích đạo, nhân dân các nước Ăngola, Cônggô, Tây Nam Phi và các nước Á Phi khác.

Người đã tiếp Tổng Bí thư Đảng Xã hội Chilê Xanvađo Agienđê, tiếp và trả lời phỏng vấn của nữ đồng chí Mácta Rôhát, phóng viên báo Grama Cuba vào tháng 7-1969. Sáclơ Phuốcniô, phóng viên Báo Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp là vị khách cuối cùng được Người tiếp lần cuối cùng vào ngày 15-7-1969. Chưa đầy hai tháng sau, Người qua đời. Người để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng tất cả bạn bè quốc tế. Từ châu Phi, Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Algeria đã có điện chia buồn với Việt Nam ngay sau khi Người qua đời, trong bức điện đã nhấn mạnh “Tên tuổi của Người là một biểu tượng và hoạt động của Người là một gương sáng”. Đó thực sự là biểu tượng và gương sáng của người mở đầu cho cuộc đấu tranh của nhân dân các nước trong thế giới thứ ba để tự giải phóng khỏi ách kìm kẹp của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc.

Thông qua Hồ Chí Minh, cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam mãi mãi có sức lan tỏa rộng lớn, có hiệu ứng sâu xa trong thế giới nhân loại.

CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC CỦA VIỆT NAM CÓ NHỮNG ĐỈNH CAO NỐI TIẾP ĐỈNH CAO

Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước thắng lợi theo đúng lời kêu gọi của Hồ Chí Minh: “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”; Điện Biên Phủ, năm 1954, chôn vùi chủ nghĩa thực dân kiểu cũ; Điện Biên Phủ trên không, 12 ngày đêm ở Hà Nội (12-1972), đánh bại B.52 của đế quốc Mỹ, làm cho “Hà Nội trở thành thủ đô của phẩm giá con người”; cuối cùng là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, hoàn thành xuất sắc mệnh lệnh của lãnh tụ vĩ đại “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, kết thúc cuộc kháng chiến kéo dài nhất trong lịch sử. Cuộc kháng chiến ấy đã đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh đổ chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam.

Cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam với những đỉnh cao đó trong thời đại Hồ Chí Minh đã đưa dân tộc Việt Nam đứng vào hàng ngũ các dân tộc tiên phong chống ách áp bức thống trị của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân; đã nêu tấm gương cổ vũ, thúc đẩy các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, các dân tộc bị áp bức chống lại mọi thế lực xâm lược phi nghĩa và phi nhân, giành lấy tự do và nhân phẩm làm người, giành lại quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc-những quyền cơ bản, thiêng liêng của con người, của các dân tộc trên thế giới.

Đó là những giá trị làm nên sức sống và ý nghĩa của cách mạng Việt Nam, là những cống hiến của Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh vào lịch sử và văn hóa nhân loại thời hiện đại. Đó cũng là ngọn nguồn cảm hứng từ Việt Nam-Hồ Chí Minh-Võ Nguyên Giáp-Điện Biên Phủ làm nên sức lan tỏa của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo đối với các dân tộc bị áp bức trên thế giới.

HỒ CHÍ MINH VÀ SỨC LAN TOẢ CUỘC CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

Sự kiện mở đầu là cuộc ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân ngày 5-6-1911 của người thanh niên tràn đầy nhiệt huyết Nguyễn Tất Thành.

Rời Tổ quốc từ bến cảng Nhà Rồng, anh đi sang phương Tây, đến tận nước Pháp để tìm hiểu bản chất của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân Pháp-kẻ đã xâm lược Việt Nam, đặt ách thống trị, áp bức và bóc lột tàn bạo nhân dân mình, biến Việt Nam thành thuộc địa và tìm ra con đường cách mạng, đánh đổ thực dân, phong kiến, giành độc lập cho Tổ quốc, tự do cho dân tộc và hạnh phúc cho đồng bào mình. Để đạt mục đích đó, Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc, tức Hồ Chí Minh sau này đã trải qua cuộc hành trình suốt 30 năm, qua các đại dương và châu lục, lăn lộn trong thực tiễn đấu tranh, tiếp xúc với mọi người lao động nghèo khổ, dù khác màu da, tiếng nói nhưng cùng chung một cảnh ngộ bị áp bức đọa đầy, cùng chung một kẻ thù là đế quốc thực dân, cùng có một khát vọng giải phóng mình khỏi thân phận nô lệ, giành lại độc lập, tự do và nhân phẩm con người.

Cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam, từ lúc khởi đầu đến khi giành được thắng lợi hoàn toàn là một quá trình lịch sử dài hơn 6 thập kỷ trong thế kỷ 20.

Trong những sự kiện đánh dấu bước ngoặt lịch sử, làm thay đổi số phận dân tộc, không thể không nói đến các sự kiện của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh:

Năm 1919: Gửi 8 điều yêu sách đòi độc lập, tự do cho dân tộc mình tới hội nghị Versailles.

Năm 1920: Gia nhập Đảng Cộng sản Pháp, đồng sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, tiếp cận Luận cương của Lênin về quyền tự quyết dân tộc, về cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa.

Năm 1925: Viết “Bản án chế độ thực dân Pháp” và huấn luyện cán bộ-những hạt giống đầu tiên của phong trào cách mạng Việt Nam.

Năm 1930: Sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp soạn thảo Chính cương sách lược vắn tắt, chương trình hành động của Đảng và dự thảo Điều lệ Đảng, thư kêu gọi đồng bào.

Năm 1941: Trở về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Năm 1945: Cách mạng Tháng Tám thành công đúng với dự báo của Người. Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời với bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ.

Năm 1946-1954: Cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp xâm lược và Chiến thắng lịch sử “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”.

Năm 1965-1969: Chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, dốc lòng dốc sức cho cách mạng miền Nam; ra lời kêu gọi: Đồng bào chiến sĩ cả nước, ngày đêm theo dõi từng bước tiến của cách mạng miền Nam, viết Di chúc để lại cho đồng bào, đồng chí, nhìn thấy triển vọng toàn thắng đang đến gần với một niềm tin mãnh liệt.

Mục tiêu cao quý và thiêng liêng của cách mạng giải phóng dân tộc là độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, là độc lập thực sự gắn liền với tự do thực sự, là hạnh phúc đủ đầy cả vật chất lẫn tinh thần cho con người, cho nhân dân Việt Nam để họ thực sự là người chủ và làm chủ cuộc sống của mình.

Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021

TẦM NHÌN CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC TRONG TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

Nguyễn Tất Thành rất khâm phục ý chí đấu tranh giành độc lập dân tộc của các bậc tiền bối, nhưng không tán thành đường lối cứu nước của họ. Trong bối cảnh những năm đầu thế kỷ XX, vào tháng 6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước. Người đi sang phương Tây, nhưng không phải đi tìm chỗ dựa, hoặc cầu viện các thế lực bên ngoài để cứu nước, mà là đi xem các nước làm như thế nào về giúp đồng bào mình.

Quyết định sang Pháp là một quyết định có ý nghĩa lịch sử, thể hiện rõ tầm nhìn, tư duy độc lập, sáng tạo của Người. Hồ Chí Minh đã mở tầm nhìn ra thế giới, sẵn sàng tiếp biến tinh hoa, trí tuệ của thời đại. Người phân tích, đánh giá ý nghĩa các sự kiện lớn trên thế giới, đặc biệt là các cuộc cách mạng xã hội. Bắt đầu từ lòng yêu nước, sự nhạy cảm với cái mới, cái tiến bộ, dựa trên tiêu chí ai, tổ chức nào bênh vực các dân tộc thuộc địa, ủng hộ và đoàn kết với họ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc, Người đã định hình ra con đường để đòi các quyền tự do, dân chủ tối thiểu cho nhân dân mình.

Tại Pa-ri thủ đô nước Pháp, lúc này được coi là “trung tâm liên minh thế giới của bọn đế quốc”, Người đã có một bước phát triển mới trong nhận thức về con đường cứu nước khi tiếp nhận ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Mặc dù, chưa hiểu hết ý nghĩa cực kỳ to lớn của Cách mạng Tháng Mười, nhưng với Người, đây là một biến cố to lớn, “có một sức lôi cuốn kỳ diệu vô cùng”. Đặc biệt, từ tháng 7-1920, khi tiếp xúc với bản “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lê-nin, Người đã tìm thấy ở Luận cương những giải đáp về con đường giải phóng cho các dân tộc thuộc địa, trong đó có Việt Nam.

Bằng hoạt động thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc đã vượt qua tầm nhìn hạn chế, ảo tưởng mong chờ sự giúp đỡ của các chính phủ đế quốc đã từng tồn tại ở một số nhà yêu nước khác cùng thời. Nguyễn Ái Quốc nhận rõ, trong thế giới chỉ có “một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”. Vào tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đăng trên báo L’ Humanité, Người nhận ra: “Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Nguyễn Ái Quốc tìm thấy trong Luận cương của Lê nin lời giải đáp về con đường giải phóng cho nhân dân Việt Nam; lời giải đáp về vấn đề dân tộc thuộc địa trong mối quan hệ với phong trào cách mạng thế giới - mối quan hệ giữa yếu tố sức mạnh dân tộc với sự giúp đỡ, ủng hộ của quốc tế. Người nhận thức được rằng: “Không có một sức mạnh thống nhất của cả nước, không có sự giúp đỡ mạnh mẽ của bên ngoài, công cuộc vận động giải phóng khó mà thành công được”.

Tháng 12/1920, tại Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp ở Tua, với tư cách là đảng viên Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu ra nhập Quốc tế thứ ba - Quốc tế Cộng sản, tán thành chủ trương thành lập Đảng Cộng sản pháp và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản pháp. Cuộc gặp gỡ với chủ nghĩa Mác - Lênin vào những năm 20 của Thế kỷ XX là sự kiện đánh dấu Nguyễn Ái Quốc giác ngộ lập trường, quan điểm vô sản và quyết định lựa chọn con đường giải phóng dân tộc ở Việt Nam theo quỹ đạo của cách mạng vô sản.

Thứ Ba, 4 tháng 5, 2021

TÔN TRỌNG LỊCH SỬ, HƯỚNG ĐẾN TƯƠNG LAI

Chiến thắng 30/4/1975 là một dấu mốc đặc biệt trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu sự thắng lợi hoàn toàn của cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược và các thế lực phản động, tay sai, thống nhất Nam – Bắc, đưa giang sơn thu về một mối. Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, Việt Nam đã có sự phát triển toàn diện, vị thế, uy tín trên trường quốc tế được khẳng định rõ nét. Tuy nhiên, một số đối tượng xấu vẫn cố tình xuyên tạc, bóp méo vấn đề hòa hợp, hòa giải dân tộc, truyền bá những tư tưởng hận thù, chống phá.

Vừa qua, Thượng nghị sĩ Tom Umberg đã đệ trình trước Thượng viện California, Hoa Kỳ bản Nghị quyết SCR2 với những nội dung sai trái về chiến thắng 30/4 của Việt Nam. Vẫn lặp lại luận điệu cũ, Tom Umberg gọi chiến thắng 30/4 của Việt Nam là “tháng tư đen”, xuyên tạc lịch sử bằng luận điệu: “Tháng tư đen là thời điểm tang tóc, thời điểm tưởng nhớ, không chỉ cho những sinh mạng đã mất trong chiến tranh, mà còn là cuộc sống của những người Việt Nam trong cuộc đấu tranh lịch sử vì tự do và nhân quyền.

SCR2 không chỉ là sự tưởng nhớ về mất mát bi thảm mà còn biểu dương tinh thần kiên cường và sức mạnh của người Việt Nam để vươn lên phát triển trước nghịch cảnh”. Tom Umberg giễu cợt với lối suy nghĩ đánh lận bản chất: “Việt Nam không nên khơi gợi lại quá khứ Sài Gòn thất thủ đau buồn, không ăn mừng chiến thắng 30/4 thì người Việt tại Mỹ mới chấp nhận hòa hợp dân tộc”.

Theo quy luật, mỗi khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Việt Nam tổ chức kỷ niệm ngày lễ 30/4 thì một số đối tượng xấu, chống đối lại đào xới, xuyên tạc quá khứ. Một số người Việt Nam định cư tại nước ngoài có cái nhìn lệch lạc, phiến diện, hận thù, cực đoan đã tụ tập tiến hành kỷ niệm “ngày quốc hận”, đòi “phục hồi danh dự cho những người trong chế độ Việt Nam Cộng hòa”, đòi Việt Nam phải thừa nhận cuộc chiến vệ quốc là cuộc “nội chiến”.

Thậm chí, dưới danh nghĩa hòa hợp, hòa giải dân tộc, các đối tượng cơ hội chính trị, phản động, chống phá còn đưa ra luận điệu cho rằng chỉ khi nào Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ quyền lãnh đạo đất nước, chỉ khi nào Việt Nam lựa chọn đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có thể thực hiện việc hòa hợp, hòa giải dân tộc. Hài hước hơn, một số kẻ đánh lừa quần chúng bằng cách đưa ra lập luận phải coi việc xóa bỏ chế độ cộng sản là một “mệnh lệnh của lương tâm, là tương lai của dân tộc”!

Thực tiễn, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn nhất quán chủ trương hòa hợp, hòa giải dân tộc; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc để xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên, hòa hợp, hòa giải dân tộc phải dựa trên sự tôn trọng lịch sử; bảo đảm lợi ích của quốc gia, dân tộc; xuất phát từ sự chân thành, thiện chí của tất cả các bên. Bản chất cuộc chiến vệ quốc của Việt Nam là sự thật lịch sử.

Chiến thắng 30/4 là chiến thắng của chính nghĩa và sức mạnh của sự đoàn kết dân tộc; là thắng lợi trọn vẹn nhất, vững chắc nhất của sự nghiệp giải phóng dân tộc, của độc lập, tự do, đi lên CNXH. Những quan điểm, luận điệu, yêu sách sai trái, tiêu cực không phải xuất phát từ thiện chí hòa hợp, hòa giải dân tộc mà chỉ là một thủ đoạn để khoét sâu hận thù, kích động, gây thêm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của những thế lực chống phá đất nước. 

Thứ Ba, 12 tháng 1, 2021

KHƠ ME ĐỎ DIỆT CHỦNG, CHỈ CÓ VIỆT NAM LAO VÀO VÒNG BINH LỬA ĐỂ GIÚP CAMPUCHIA TÁI SINH VÀ CÓ ĐƯỢC CƠ ĐỒ NHƯ HÔM NAY!

Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, dân tộc ta đối diện với muôn vàn khó khăn gian khổ. Hậu quả của chiến tranh kéo dài đã làm cho đất nước ta kiệt quệ. Trong nước, một số thành phần có nợ máu với dân tộc vẫn không ngừng phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Fulro được tài trợ để chống phá, đối đầu với chúng ta. Bên ngoài thì Hoa Kỳ và đồng minh ngay lập tức cấm vận về kinh tế. Họ lợi dụng sự bất hoà giữa Liên Xô - Trung Quốc để bắt tay với người tàu hòng cô lập các nước thân Liên Xô, trong đó Việt Nam được xem là "cái gai trong mắt" của họ, Trung Quốc và Hoa Kỳ muốn Campuchia dân chủ tiến quân đánh nước ta để họ toạ sơn quan hổ đấu và trở thành ngư ông đắc lợi.

Có thể nói, giai đoạn này, ngoài Liên Xô và một số nước XHCN ra thì hầu như đều bị Hoa Kỳ và Trung Quốc lôi kéo, chống lại Việt Nam. Trong Asean, hầu hết các quốc gia đều theo Mỹ, quay lưng với chúng ta. Tổ quốc vạn bề thọ địch! Lúc này Pôn Pốt được sự nuôi dưỡng của Trung Quốc nên ra sức chuẩn bị cho cái gọi là : "Chỉ cần mỗi ngày diệt vài chục, mỗi tháng diệt vài ngàn, mỗi năm diệt vài ba vạn thì có thể đánh 10, 15, đến 20 năm. Thực hiện 1 diệt 30, hy sinh 2 triệu người Campuchia để tiêu diệt 50 triệu người Việt Nam". Theo chúng, Việt Nam mới thống nhất, sau 1975 gặp nhiều thách thức trong nước, "khó khăn hơn Campuchia Dân chủ gấp 10".

Chúng cho rằng "Lính cách mạng Khmer được tin tưởng là hơn hẳn lính Việt Nam về sự dũng cảm, tinh thần cách mạng và không thể mua chuộc". Chúng đã xâm phạm các tỉnh dọc theo biên giới, sát hại dã man đồng bào ta. Đã có hàng ngàn người dân vô tội bị chúng hành quyết một cách man rợ.

Việt Nam cố gắng giải quyết cuộc xung đột một cách hòa bình thông qua đàm phán ngoại giao, nhưng Khmer Đỏ từ chối đàm phán, Trung Quốc không chịu làm trung gian hòa giải, còn Liên Hiệp Quốc không có biện pháp gì phản hồi lại các phản đối của chính quyền Việt Nam về các hành động gây hấn của Khmer Đỏ. Cũng phải thôi, đó là kế hoạch mà Mỹ - Trung đã sắp đặt từ lâu, dễ gì từ bỏ. Cả Mỹ, Trung và Khơ Me Đỏ đã đánh giá thấp khả năng của Quân đội nhân dân Việt Nam, chúng nghĩ rằng, sau giải phóng miền Nam thì đất nước ta không thể gượng dậy để tiếp tục chiến tranh! Và họ đã lầm!

Các cuôc tấn công của Khmer Đỏ vào Việt Nam, giết chóc dân thường Việt Nam dọc biên giới khiến Bộ Quốc phòng Việt Nam đã đảo ngược xu hướng dần dịch chuyển quân đội sang các khu vực kinh tế. Năm 1977, quân đội dự tính chuyển 20.000 lính, nhưng chỉ có 4.300 người quay về công việc dân sự vào giữa năm 1977. Trong nửa cuối năm 1977, Quân khu 7, Quân khu 9, Quân đoàn 3 và 4 được điều động phản công chống Khmer Đỏ.

Chỉ sau 2 tuần giao chiến, Khơ Me Đỏ đã bị đẩy lùi hoàn toàn khỏi Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam giải phóng Phnom Penh ngày 7 tháng Giêng 1979, lật đổ chính thể Khmer Đỏ tàn ác. Hơn 120.000 quân của Pôn Pốt bị chúng ta khai tử, buộc phải chạy sang Thái Lan.

Vào giữa tháng 2/1979, Bắc Kinh hiệp lực với các lãnh đạo Asean và Mỹ để "trừng phạt" và cô lập Việt Nam, chúng rêu rao là ta xâm lược Campuchia. Mặc dù bác bỏ mọi can dự, Washington bật đèn xanh cho Bắc Kinh tấn công Việt Nam. Ngày 17.2, Trung Quốc bắt đầu mang 600.000 quân xâm lược nước ta để "dạy cho Việt Nam một bài học" và kết quả là họ bị quân và dân miền Bắc, chủ yếu là bộ đội địa phương, dân quân du kích đánh cho không còn manh giáp. Khi quân chủ lực của ta từ Campuchia trở về thì Trung Quốc đã kịp tháo chạy.

Vì sao chúng ta mang Quân đội sang giúp Campuchia? Lý do: từ 1975 đến 1979, Khơ Me Đỏ đã gây bao nhiêu tội ác với đồng bào ta và nhân dân Campuchia. Chúng ta đã nhẫn nhịn và cố níu kéo bằng giải pháp hòa bình trong vòng 4 năm từ 1975 tới 1979 khi người Việt Nam vẫn liên tục bị tấn công, chúng mang những sư đoàn chủ lực tấn công và giết hại đồng bào ta hết sức man rợ, thảm sát Ba Chúc là một ví dụ điểm hình về tội ác tày trời của chúng. Trong suốt 12 ngày chiếm đóng từ 18 đến 30 tháng 4 năm 1978, quân Khmer Đỏ đã giết chết 3.157 dân thường. Chỉ có ba người sống sót sau vụ tàn sát. …

Chính vì những nguyên nhân trên và chính lời kêu gọi khẩn thiết của người dân Campuchia mà đại diện chính Hunsen và các cộng sự đã sang Việt Nam để kêu gọi chúng ta giúp nhân dân họ thoát họa diệt chủng. Nếu chúng ta không mang đại binh sang Campuchia để đánh dập đầu và xóa sổ toàn diện bọn ác nhân Khơ Me Đỏ mà để chúng phục hồi nguyên khí thì liệu rằng với sự hậu thuẫn của Trung Quốc, Hoa Kỳ, Thái Lan …để chúng phản công trở lại thì liệu rằng khi đó tổn thất mà chúng sẽ gây ra là như thế nào, chắc chắn không ai có thể dự đoán được.

Binh pháp tinh diệu ở chỗ là phải biết nắm thời cơ, tạo thế và lực để quyết thắng giặc, đánh địch để chúng không kịp hồi phục nguyên khí, đánh để cho giặc “chích luân bất phản, phiến giáp bất hoàn”. Việc chúng ta mang quân đội sang Cam hoàn toàn là việc làm chính nghĩa, trên tình thần quốc tế cao cả, chính nghĩa là vì được nhân dân Campuchia đồng lòng khẩn cầu ta giúp họ; chính nghĩa giúp người và cũng chính là giúp mình! Lòng người campuchia đứng về chúng ta và Hunsen, xem chúng ta là đội “quân nhà Phật” đã cứu sống, hồi sinh dân tộc họ; họ mang ơn của chúng ta đến muôn đời; đó chính là nhân hòa!

Nhiều người cho rằng, sau khi đánh bại Khơ Me Đỏ, tại sao chúng ta không rút quân ngay? Giáo cho Liên Hiệp Quốc tiếp quản...? Hãy nhìn xem trước khi người Việt Nam bị Khơ Me Đỏ tàn sát và Campuchia bị diệt chủng thì LHQ ở đâu? Chúng hùa theo Trung Quốc, Hoa Kỳ ủng hộ bọn diệt chủng Pôn Pốt. Mỹ, Anh, Tàu và một số nước khác vẫn ủng hộ tiền bạc cho tàn quân khơ me đỏ mượn đất Thái Lan lập căn cứ. Vậy nếu Việt Nam giao lại cho LHQ thì hậu quả sẽ thế nào? Khơ me đỏ sẽ vực dậy và Việt Nam sẽ liên tục bị tấn công. Cụ thể vào những năm 1984 - 1985 tàn quân khơ me đỏ được viện trợ từ nước ngoài đã gây nhiều tổn thất cho Quân đội Việt Nam.

Nếu chúng ta không ở lại Campuchia (theo để nghị của chính quyền cách mạng Campuchia) thì liệu một chính quyền non trẻ vừa mới ra đời sau bao nằm bị tàn phá nặng nề, xác người còn phơi đầy đồng ruộng; Vậy họ có đủ sức để đánh trả Khơ Me Đỏ đang chực chờ để phản công ở phía bắc Campuchia và Thái Lan, khi mà sau lưng Pôn Pốt luôn có sự hậu thuẫn đến từ các nước mà ông cho là “Liên hiệp quốc”? Nếu chúng ta rút hết quân về nước, đó mới là phạm vào đại kỵ của binh gia. Ngày xưa Hạng Vũ vì quá trượng nghĩa mà tha cho Lưu Bang nhiều lần, dù trên chiến trường Lưu Bang luôn thất bại trước Hạng Vũ, nhưng chính vì không nhổ cỏ tận gốc, không đánh dập đầu rắn để rồi sau này chỉ một trận ở Cái Hạ đã làm cho nước Sở và Hạng Vũ mang mối hận ngàn thu (tất nhiên sự việc và bản chất của hai sự kiện này không giống nhau).

Bởi thế, QĐND Việt Nam vào tận sào huyệt của để đào tận gốc, tróc tận rễ, tiêu diệt hết giống loài lang sói là việc làm chính nhân để chiến thắng bất nhân, giúp chính quyền Campuchia xây dựng lực lượng đủ sức chiến đấu và chiến thắng quân Pôn Pốt đó là chính nghĩa và được nhân dân Campuchia ủng hộ nhiệt thành! Chính quyền Campuchia lúc đó là sự lựa chọn của lịch sử, của những người dân Campuchia, chúng ta chỉ hỗ trợ, giúp đỡ chứ không hề “dựng lên” như cái cách Chu Mộng Long lộng ngôn, xảo ngữ!

Ngày 07/1/1979 là ngày mà cả nhân loại không thể nào quên khi Quân đội nhân dân Việt Nam tiến vào Phnôm Pênh. Sự trợ giúp hào hiệp, chí tình của Quân đội nhân dân Việt Nam đã cứu rỗi đất nước Chùa tháp, thoát hoạ diệt chủng, giúp họ tái sinh và có cơ đồ như hôm nay. Cựu Quốc vương Xi-ha-núc từng khẳng định: “Nếu họ (Việt Nam) không đánh đuổi bọn Pôn Pốt thì tất cả mọi người (Cam-pu-chia) có thể đã bị chết. Không chỉ riêng tôi mà là mọi người, chúng (Khơ-me Đỏ) đã có thể giết chết tất cả chúng ta, ít nhất thì chúng ta cũng đã được sống sót và chính vì điều này mà chúng ta có thể nói rằng, Đảng Nhân dân Cam-pu-chia đã không mắc sai lầm khi đề nghị Việt Nam giúp đỡ chống Khơ-me Đỏ, bởi vì nếu chúng ta không được giải phóng khỏi bọn Pôn Pốt thì toàn dân tộc có thể đã bị tiêu diệt”. Vậy nên đừng ai vô ơn, xúc phạm sự hy sinh cao cả của Quân đội nhân dân Việt Nam để cứu rỗi nhân dân Campuchia./.

Thứ Sáu, 11 tháng 5, 2018

MẠNG XÃ HỘI NHUỘM MÀU CỜ TỔ QUỐC

        Những ngày tháng 4, 5 lịch sử, lên mạng xã hội ngập màu cờ đỏ sao vàng khắp các trang mạng facebook, zalo… mới thấy trong mỗi người Việt Nam, dù già hay trẻ, ngày giải phóng hoàn toàn miền nam thống nhất đất nước có một vị trí đặc biệt quan trọng. Nhìn những tài khoản facebook của một số người trẻ tuổi, ngày bình thường là thời trang, ca nhạc nhưng những đến gần ngày 30/4 lại được nhuộm đỏ màu cờ tổ quốc mới thấy tinh thần ngày giải phóng đã ăn sâu bám rễ trong suy nghĩ, tâm hồn của mỗi người Việt Nam.
        Tuy nhiên vẫn còn không ít người, nhất là giới trẻ với nhận thức nông cạn, sự hiểu biết hạn hẹp, đang ra sức phát tán các thông tin chống phá, xuyên tạc chiến thắng lịch sử của dân tộc. Mạng xã hội đang là cánh cửa để mỗi người có phương tiện để tiếp cận với thế giới bên ngoài, nhưng bên cạnh những thông tin hữu ích, những điều hay, ý đẹp, kiến thức hữu ích còn có vô vàn luận điệu xấu xa, thông tin phản động mà nếu không có sự hiểu biết nhất định sẽ rất dễ lầm tưởng đó là sự thật. Cứ vào tháng 4, một loạt các tài khoản trên các trang mạng, blog cá nhân lại rêu rao các bài viết xuyên tạc chiến thắng vĩ đại của dân tộc, đưa ra các luận điệu sai trái để tô hồng chế độ Việt Nam cộng hòa. Chúng chỉ đề cập đến những điều tốt đẹp như cuộc sống dưới chế độ “ba que” tốt như thế nào, dân giàu ra sao… mà không đề cập đến bom đạn của chế độ đó đã lấy đi mạng sống của bao người dân. Bên cạnh đó đám cuồng Mỹ lại đưa các chuẩn mực văn hóa Mỹ để so sánh với nước ta với cái nhìn lệch lạc, phiến diện.
        Những thành tựu rực rỡ trong xây dựng đất nước đang là minh chứng rõ ràng nhất cho sự ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng, những luận điệu xuyên tạc của kẻ thù không thể nào phá hoại công cuộc xây dựng đất nước của toàn dân ta trong suốt 43 năm qua.

Thứ Năm, 10 tháng 5, 2018

TINH THẦN CHIẾN THẮNG 30/4/1975 BẤT DIỆT

Ngày 30/4/1975 đánh dấu bước ngoặt lịch sử trọng đại của đất nước - một lần nữa khẳng định sự tất thắng của cuộc chiến chính nghĩa, của truyền thống yêu nước, của tinh thần đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Ðảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.
“Không có gì quý hơn độc lập tự do” là chân lý bất di bất dịch, dù trong bất kỳ thời điểm lịch sử nào. Suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, biết bao sinh mạng của những người dân vô tội đã bị cướp đi, biết bao người con ưu tú của Tổ quốc đã vĩnh viễn nằm xuống, biết bao người mẹ, người vợ, người con đã phải mất con, mất chồng, mất cha để đất nước mãi trường tồn. Dân tộc Việt Nam luôn ý thức rõ giá trị của độc lập - tự do là vô giá!
Ngày 30/4 lịch sử đã khẳng định: khi tập hợp được sức mạnh của toàn dân tộc dưới ngọn cờ của Ðảng Cộng sản Việt Nam sẽ tạo thành sức mạnh dời non lấp biển, chiến thắng mọi kẻ thù, dù chúng có hung bạo, có vũ khí tối tân hay xảo quyệt đến đâu. Một khi lòng yêu nước được khơi dậy mạnh mẽ, tinh thần đoàn kết, ý chí bất khuất, kiên cường và lòng dũng cảm của cả dân tộc được phát huy đúng mức sẽ tạo thành thành lũy kiên cố bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo vệ nguyên vẹn thành quả cách mạng trước những mối đe dọa, dù đó là thù trong hay giặc ngoài. Ðây là bài học không chỉ trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mà nó có giá trị ngay cả trong thời kỳ bảo vệ và xây dựng đất nước hiện nay.
Phát huy tinh thần 30/4/1975 lịch sử, Ðảng đang tự chỉnh đốn và đổi mới nhằm phát huy vai trò lãnh đạo của mình. Theo đó, mỗi cá nhân, nhất là cán bộ, đảng viên cần phải không ngừng rèn đức, luyện tài, một lòng tin vào sự thắng lợi của công cuộc đổi mới, ra sức phấn đấu cống hiến thật nhiều cho sự nghiệp xây dựng đất nước. Bài học từ tinh thần đoàn kết, ý thức tự lực, tự cường kết hợp với xu thế thời đại trong chiến tranh đã, đang và sẽ giúp chúng ta phát huy mạnh mẽ nội lực, nắm bắt thời cơ, đi tắt đón đầu, tiếp thu thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến của thế giới để xây dựng thành công đất nước Việt Nam giàu mạnh, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chủ Nhật, 29 tháng 4, 2018

THÁNG TƯ - THÁNG QUỐC HẬN CỦA BỌN RẬN CHỦ

Đối với tuyệt đại đa số người dân Việt Nam, tháng 4 là một tháng với nhiều ngày lễ trọng đại của đất nước. Ngày mà 43 năm trước đây, non sông Việt Nam quy về một mối, đất nước hoàn toàn hòa bình, thống nhất. Ấy vậy mà, trong mắt một số người, đặc biệt là bè lũ dân chủ bán nước, đây là tháng chúng coi là "quốc hận". Bởi vì cũng thời gian này 43 năm về trước, chúng đã dẫm đạp lên nhau, kể cả người thân và bạn bè đồng đội để được "lên trực thăng" qua đất Mỹ mà chúng ta hiện nay vẫn gọi chúng là những kẻ "đu càng" năm 1975.
43 năm sau, một số kẻ vẫn "cố tình" không tỉnh ngộ, vẫn dã tâm âm mưu gây mất hòa bình, ổn định ở Việt Nam bằng các hoạt động khủng bố, phá hoại. Bằng chứng là suốt trong những năm tháng ở hải ngoại, chúng lập ra nhiều  tổ chức khủng bố, phản động mà điển hình là tổ chức khủng bố "Việt Tân". Thông qua các tổ chức khủng bố, phản động này, chúng tăng cường việc xuyên tạc, tuyên truyền chống phá chế độ; kích động biểu tình, bạo loạn trong nước với mục tiêu “phục hồi chế độ mẹ đẻ của chúng là chế độ Việt Nam Cộng hòa”. Và hơn lúc nào khác trong năm, tháng 4 luôn là tháng để chúng tiến hành mạnh mẽ các hoạt động chống phá. Trước đây, bằng các hoạt động liều lĩnh và khủng bố, các tổ chức khủng bố này thậm chí còn đưa người về nước nhập cài bom, gây nổ tiến hành các hoạt động khủng bố gây bất ổn an ninh, trật tự.
Hiện nay, khi chính quyền bảo trợ của chúng đang tiến hành cuộc chiến chống khủng bố trên phạm vi toàn cầu thì chúng không còn dám liều lĩnh như vậy. Thay vào đó, chúng tăng cường tiến hành hỗ trợ các tổ chức, cá nhân phản động trong nước như Nguyễn Văn Đài, Phạm Đoan Trang, Trần Huỳnh Duy Thức… tiến hành chống đối. Hoặc chúng thông qua đám Linh mục phản động như Đặng Hữu Nam, Nguyễn Đình Thục… để kích động một bộ phận tín đồ thiên chúa chống đối. Cộng với đó, chúng kêu gọi các thành viên ở hải ngoại tổ chức các buổi “lễ” kỉ niệm “chống cộng” bằng cách cổ súy đưa các “lính chiến Việt Nam Cộng hòa” cũ ra để dương oai.
Ấy vậy mà kết quả thì thật là thảm hại, 43 năm qua, 43 mùa “quốc hận” ấy vậy mà bè lũ dân chủ bán nước lại càng thất bại trong âm mưu trở về của mình. Liên tiếp các âm mưu, kế hoạch bị phá sản, liên tiếp các “chân rết” trong nước bị bắt giữ mà tiêu biểu là các thành viên của “Hội anh em dân chủ” sắp được xét xử vào tháng 4 tới đây. Và hơn thế, trong mắt người dân Việt Nam, chúng chỉ là những tên bám đít ngoại bang nơi đất khách quê người để về cắn lại đất nước!

ĐÔI LỜI CẢM XÚC KHI NGHĨ VỀ NGÀY 30-4 VẺ VANG

Chiến tranh đã qua đi hơn 40 năm, tiếng súng đạn và tiếng máy bay gầm rú như xé tan bầu trời giờ chỉ còn trong phim ảnh. Nhưng sự tàn khốc của chiến tranh sẽ không bao giờ quên trong tâm trí của mỗi người dân Việt Nam. Chúng ta nói như vậy không phải để gợi lên lòng hận thù mà để giáo dục cho mọi người tinh thần yêu nước, lòng tự tôn và đặc biệt là truyền thống uống nước nhớ nguồn, bởi lẽ chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của sự hòa bình, độc lập dân tộc, có được ngày hôm nay chúng ta mãi mãi biết ơn Hồ Chủ tịch, Đảng Cộng sản Việt Nam đã dẫn đường chỉ lối cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi, đặc biệt chúng ta sẽ mãi mãi khắc sâu sự hy sinh to lớn của thế hệ cha anh đã ngã xuống vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Cao hơn nữa, mỗi người dân Việt Nam muốn lên tiếng với cả thế giới rằng, chúng tôi yêu hòa bình, chúng tôi căm thù chiến tranh, bởi chiến tranh đã gây cho đất nước, con người Việt Nam quá nhiều sự bất hạnh, thông điệp yêu chuộng hòa bình của người Việt Nam mong muốn được chia sẻ với toàn thế giới.
Thật tự hào khi chúng ta là người Việt Nam anh dũng, kiên cường, thông minh tài giỏi. Dù cho bom đạn chiến tranh có thể làm rung chuyển núi rừng nhưng không thể làm rung chuyển trái tim của những con người yêu nước. Nhìn thế hệ cha anh xung phong nhập ngũ khi tuổi đời còn rát trẻ, bỏ lại sau lưng quê hương, gia đình, tình yêu và biết bao hoài bão đang chờ phía trước với một quyết tâm đánh đuổi quân thù ra khỏi bờ cõi, giành độc lập tự do cho đất nước, cho dân tộc Việt Nam mà ngưỡng mộ biết chừng nào. Cho nên, đã có biết bao con người đã hóa thành hình đất nước, họ đã nằm xuống tại mảnh đất này, dâng trọn cho cuộc đời mình cho quê hương đất nước… Hay như ai đã qua Thành Cổ Quảng Trị, ngồi ngắm nhìn dòng sông Thạch Hãn mà ngẫm câu thơ rằng “.. Đò xuôi Thạch Hãn ơi chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm…”
Chúng ta yêu hòa bình, chúng ta ghét chiến tranh bởi đơn giản một điều: Nước mắt mẹ không còn, vì khóc từng đứa con…”. Mẹ là người mang nặng đẻ đau, nuôi cho  khôn lớn, trưởng thành, nhưng sự nghiệt ngã của chiến tranh đã khiến cho bao cảnh những người lính mong ngày giải phóng để báo đáp công ơn sinh thành của Mẹ thì ước nguyện chưa thành mà các anh đã mãi mãi ra đi để đôi mắt mẹ mờ loà đi vì ngóng chờ tin các anh. Gần hai triệu liệt sĩ trên đất nước này qua các cuộc chiến tranh cũng đồng nghĩa với có biết bao người mẹ mỏi mắt chờ mong những đứa con ra đi mà không bao giờ quay trở lại. Chiến tranh đã lùi xa, có những vết thương trên thịt da đã lành theo năm tháng nhưng thật xót xa khi vết thương lòng mẹ vẫn còn nặng mang. Còn gì nỗi đau nào mất mát hơn nỗi đau này, hy sinh của họ quá lớn.
Cũng thật tội nghiệp thay, khi chúng ta vẫn chứng kiến những đứa trẻ bị tật nguyền bởi chất độc dioxin. Các cháu nhỏ đáng thương đó luôn cần đến sự quan tâm và tình yêu thương của tất cả chúng ta cũng như cộng đồng quốc tế. Mong sao đem lại cho các em niềm hạnh phúc trong kiếp con người này.
Đất nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân dốc một lòng, một dạ sớm đưa đất nước ta sớm đi lên chủ nghĩa xã hội. Nhìn lại một chặng đường dài lịch sử. hơn 40 năm sau chiến tranh đất nước như thay đổi thịt, từ một nước nông nghiệp, chịu hậu quả lớn do chiến tranh liên miên, nay đất nước như khoác lên mình tấm áo nhung lụa thật lộng lẫy và hứa hẹn còn tươi đẹp nhiều hơn nữa trong tương lai gần. Có được điều đó, chính là nhờ sự sáng suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật đúng đắn của Nhà nước, nhưng quan trọng hơn cả, những đường lối, chính sách đó được nhân dân ủng hộ và thực hiện. Bên cạnh đó, chúng ta cũng không thể không kể đến công lao to lớn của lực lượng công an, quân đội đã giữ vững được thể chế chính trị, ngày đêm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ thành quả của cách mạng tạo môi trường thuận lợi để đầu tư, phát triển. Với bước đà này, Việt Nam sẽ sớm đạt được mục tiêu lâu dài và chiến lược.
Hòa bình, độc lập và phát triển đất nước là nhiệm vụ then chốt. Và trong những ngày của tháng 4 hào hùng lịch sử này, chúng ta sẽ không khỏi xúc động và tự hào vì lịch sử vẻ vang của dân tộc. Bên cạnh đó, những giá trị tình cảm sâu nặng với các mẹ Việt Nam anh hùng, với những liệt sĩ, với những người có công với đất nước sẽ càng ngày càng khắc sâu hơn trong mỗi người dân Việt Nam. Và đây chính là động lực để thúc đẩy quyết tâm xây dựng đất nước phát triển không phụ công ơn to lớn của những người đã ngã xuống vì độc lập dân tộc.

CẦN ĐỀ PHÒNG TRƯỚC NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC NGÀY 30-4

Mỗi chúng ta ai cũng đều có quê hương, đều có nơi “chôn nhau cắt rốn”. Với quan niệm quê hương là chùm khế ngọt, là cầu tre nhỏ… là nơi chúng ta trở về sau những năm tháng xa nhà.
Quê hương đẹp lắm. Nhưng với những binh lính ngụy quân ngụy quyền của chế độ Việt Nam cộng hòa đang lưu vong ở nước ngoài, thì quê hương là với họ là một điều gì đó thực sự xa xỉ.
Chấp nhận đâm lao phải theo lao, sau ngày giải phóng, một bộ phận nhỏ quân đội Việt Nam cộng hòa đã cuốn gói chạy theo đế quốc Mỹ, một phần vì không chịu được nỗi khổ cực, chấp nhận tha hương cầu thực để tiếp tục cho số phận theo bám của sự mua chuộc từ những đồng đô la; một số chạy ra ngoài với hy vọng mong manh sẽ có một ngày được trở về và làm chủ đất nước, để tiếp tục xây dựng thiên đường ảo với cái tên Việt Nam cộng hòa.
Với chính sách nhân đạo xã hội chủ nghĩa, sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã áp dụng những chính sách phù hợp trong việc cải tạo, giáo dục số tàn quân của quân Ngụy. Đại đa số đã trở về cùng gia đình sau những năm cải tạo, và bản thân họ cũng nhanh hòa nhập với xã hội bởi cũng một phần bởi sự nhân từ của nhân dân Việt Nam, kết hợp với việc số binh linh này đã thấy được sự lầm lỗi của mình mà quyết tâm lấy công chuộc tội, để chung tay góp sức với đồng bào cả nước để khắc phục hậu quả sau chiến tranh và xây dựng một đất nước Việt Nam giàu mạnh như ngày nay.
Tuy vậy, đồng đội của họ ở bên ngoài, một số đã nguôi ngoai ý đồ chống phá Việt Nam, mong muốn một ngày được trở về thăm quê hương yêu dấu. Đảng và Nhà nước ta luôn tạo điều kiện để những người như vậy được trở về thăm quê hương, bởi vì các cụ có câu: đánh kẻ chạy đi, chứ ai đánh kẻ chạy lại. Nếu các vị thực sự đã hoàn lương, thực sự yêu quê hương thì đất nước Việt Nam luôn dang tay chào đón các vị trở về.
Tuy nhiên, bện cạnh đó còn một số kẻ vẫn ngoan cố với tư duy bảo thù, với sự thâm thù sâu sắc đã ăn sâu vào tiềm thức nên vẫn không từ bỏ âm mưu, ý đồ chống phá cách mạng Việt Nam. Và tổ chức Việt Tân cũng hình thành từ đó. Và những con người này, những tổ chức này dưới sự bảo trợ của nước ngoài vẫn đang hàng ngày, hàng giờ chống phá nước ta trên mọi phương diện, đặc biệt là các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và cả an ninh, quốc phòng…
Đặc biệt, trong những ngày chuẩn bị kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Các đối tượng này sẽ tăng cường nhiều hoạt động chống phá nhằm phá hoại lễ kỷ niệm của đất nước bằng nhiều hình thức, thủ đoạn thâm độc. Đặc biệt trên lĩnh vực chính trị tư tưởng.
Chúng sẽ gia tăng các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc để nhằm phá hoại ngày 30-4. Đặc biệt, các bloger, các facebooker…, những nhà rận chủ trong nước, ngoài nước sẽ có nhiều hoạt động để phụ họa cho âm mưu, ý đồ chống phá Việt Nam của các tổ chức bên ngoài, đặc biệt là tổ chức Việt Tân.
Và chủ đề 30-4 cũng sẽ là chủ đề chính để chúng thể hiện tài năng chém gió, xuyên tạc thiên bẩm của mình thông qua những cái lưỡi không xương. Với chiêu trò đó, chúng sẽ tận dụng những trang mạng xã hội, đặc biệt là Facebook để đăng tải, tuyên truyền những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật về đại thắng mùa xuân năm  1975, bên cạnh đó, các đối tượng này cũng sẽ không ngừng nói xấu Đảng, chế độ, đặc biệt sẽ có nhiều bài viết nhằm bôi nhọ các vị lãnh tụ của chúng ta….
Nhìn chung thì năm nào cũng vậy thôi, cứ mỗi dịp 30-4 hay Quốc khánh 2-9…, các đối tượng này tiến hành vô số các hoạt động nhằm chống phá Việt Nam. Cố tình phá rối ngày lễ của đất nước.
Tuy nhiên, những điều chúng làm chỉ vô ích. Chúng càng thể hiện ra mặt sự chống phá, thì càng làm gia tăng sự thù ghét của cả dân tộc Việt Nam. Bởi vì, tất cả người dân Việt Nam đều chúng một ý thức hệ độc lập- dân tộc, và có cùng chung một tư tưởng, cùng một suy nghĩ, một hành động đó là phản đối, lên án những hành động nhằm phá hoại nền độc lập, sự hòa bình, ổn định của đất nước. Các người đã phá hoại đất nước này một lần rồi, đừng có mong thực hiện điều này lần thứ hai.
Lòng dân ta xưa nay như một, nhân dân ta luôn có một lòng nồng nàn yêu nước, nhưng sẽ luôn căm thù những kẻ phản bội Tổ quốc. Chính vì vậy, những kẻ phản quốc kia hãy nên biết điều này mà từ bỏ những âm mưu, ý đồ chống phá Việt Nam. Bởi vì tất cả sẽ trở nên vô nghĩa vì dân tộc Việt Nam luôn đoàn kết; luôn kề vai sát cánh cùng Đảng cộng sản Việt Nam, cùng Nhà nước Việt Nam để xây dựng đất nước, để đập ta mọi âm mưu, hoạt động chống phá Việt Nam.

NGÀY 30 - 4: MỐC SON CHÓI LỌI TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT NAM

Chiến thắng 30/4 là một trong những mốc son chói lọi nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Đó là biểu tượng sáng ngời của Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, đỉnh cao của khí phách và trí tuệ của con người Việt Nam. Suốt 30 năm kể từ ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, cả dân tộc kiên cường chiến đấu hy sinh để đi tới thắng lợi trọn vẹn “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, “Bắc Nam sum họp”…
Chiến thắng 30/4 là chiến thắng của nội lực Việt Nam, của truyền thống văn hoá dân tộc, của sự lãnh đạo tài tình, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, đồng thời là sự ủng hộ giúp đỡ chí tình của bạn bè quốc tế, của các nước Xã hội chủ nghĩa anh em, của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, trong đó có nhân dân Mỹ.
Với mỗi người Việt Nam, ngày 30/4/1975 là một ngày lịch sử trọng đại. Đó là ngày mà chiến tranh dần đi vào dĩ vãng, đất nước sạch bóng thù xâm lược, hoà bình trở lại trên toàn cõi Việt Nam. Đó là ngày đoàn tụ: Non sông thu về một mối, Bắc – Nam liền một dải từ địa đầu Lũng Cú đến chót mũi Cà Mau. Vĩ tuyến 17 ngang dòng sông Bến Hải chỉ còn là di tích lịch sử một thời…
Ngày 30/4 là ngày hòa hợp dân tộc, từng gia đình và cả dân tộc sum họp dưới mái nhà Việt Nam, người một nước cùng nhìn về một hướng, cùng chung một con đường… Hòa hợp dân tộc đã hóa giải xung đột, xóa bỏ hận thù, giải phóng nội lực để cùng nhau bước vào kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên hòa bình, thống nhất, độc lập, tự do cùng đi lên Chủ nghĩa xã hội, xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn…
Có trải qua những năm tháng chiến tranh, chứng kiến cảnh đất nước hai miền chia cắt mới thấy ý nghĩa to lớn của chiến thắng 30/4, mới cảm nhận hết giá trị của những năm tháng hòa bình và sự thống nhất, toàn vẹn Tổ quốc. Vì cuộc sống hòa bình và toàn vẹn lãnh thổ mà cả dân tộc tiến hành cuộc kháng chiến 30 năm. Vì thế, hơn ai hết, người Việt Nam càng quý trọng những ngày tháng hôm nay, càng trân trọng những thành quả có được sau hơn 20 năm đất nước đổi mới trong bối cảnh đất nước hòa bình, xã hội ổn định.
Tinh thần chiến thắng 30/4 đang cổ vũ chúng ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hôm nay. Ý chí quyết chiến quyết thắng thôi thúc chúng ta không cam chịu cảnh nghèo nàn lạc hậu, chậm phát triển. Tính sáng tạo, táo bạo, bất ngờ, tranh thủ thời cơ giúp chúng ta biến thách thức thành cơ hội, xoay chuyển tình thế, vượt lên khó khăn, ổn định nền kinh tế trong giai đoạn khó khăn hiện nay… Và nữa, bài học từ phát huy sức mạnh hoà hợp và đoàn kết toàn dân tộc mách bảo chúng ta tiếp tục có những chính sách khuyến khích hiền tài, khơi nguồn lực của toàn xã hội, chăm lo tốt hơn nữa những vấn đề an sinh xã hội…
Chiến tranh càng lùi xa, chúng ta càng gìn giữ và phát huy tối đa giá trị tinh thần mà ngày chiến thắng 30/4 mang lại, để dân tộc mãi mãi hòa bình và thịnh vượng.