Lợi dụng những vấn đề do lịch sử để lại, sự khác biệt về văn hóa, phong tục, xuyên tạc, gây mâu thuẫn giữa các dân tộc thiểu số và dân tộc thiểu số với dân tộc kinh. Những vấn đề do lịch sử để lại, sự khác biệt về văn hóa, phong tục, tập quán là những vấn đề các thế lực thù địch thường xuyên tập trung và tìm mọi cách để lợi dụng, xuyên tạc, gây mâu thuẫn, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nước ta là quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, có phong tục, tập quán, đời sống tinh thần, tín ngưỡng riêng, tạo nên sự phong phú, đa dạng trong các cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đây là điểm mạnh, là ưu thế cần phát huy để tạo nên sức mạnh cho sự nghiệm xây dựng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, đây cũng là “điều kiện” mà các thế lực thù địch luôn tập trung khai thác, lợi dụng để chống phá. Đặc biệt chiếm lược 3 tây của chúng: Trên địa bàn Tây Bắc, các thế lực thù địch cố gắng khai thác các vấn đề lịch sử, sự khác biệt tâm lý, văn hóa của đồng bào các dân tộc nơi đây để gây mâu thuẫn, kích động đồng bào chống chính quyền. Hiện nay, các thế lực thù địch ráo riết đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, tuyên truyền thành lập “Vương quốc Mông” vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số các tỉnh Tây Bắc. Chúng thực hiện tuyên truyền cả bằng cả tiếng Việt và tiếng các dân tộc thiểu số, để làm cho đồng bào dễ hiểu, dễ tiếp thu, nâng cao hiệu quả tuyên truyền, chống đối. Ở một số tỉnh Tây Bắc, như Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, chúng thông qua hệ thống đài phát thanh bằng tiếng Mông đặt ở nước ngoài như Đài phát thanh FEBC, Mojthem, Vestira, Nguồn sống… để tuyên truyền trống phá. Trên địa bàn Tây Nam Bộ, các thế lực thù địch lợi dụng những vấn đề do lịch sử để lại, lợi dụng mỗi quan hệ thân thuộc giữa đồng bào dân tộc Khmer ở Tây Nam Bộ và đồng bào dân tộc Khmer ở Campuchia để kích động, gây mâu thuẫn, chống phá cách mạng. Trên địa bàn Tây Nguyên có 46 dân tộc anh em sinh sống, tính chất đa dân tộc, cư trú phân tán, đan xen các thế lực thù địch thường lợi dụng tập trung khai thác các vấn đề lịch sử, sự khác biệt tâm lý, văn hóa của các đồng bào dân tộc để gây mâu thuẫn, kích động chống đối chính quyền. Từ sau ngày miên Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất đến nay, Tây Nguyên luôn là địa bàn chiếm lược mà các thế lực thù địch không ngừng nhòm ngó, thực hiện “kế hoạch hậu chiến” và âm mưu “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta. Lực lượng FULRO và trọng đạo Tin Lành vẫn là những lực lượng đang ra sức chống đối, ngày càng được sự tiếp tay, hậu thuẫn của các thế lực bên ngoài, kể cả một số phần tử cực đoan trong số người Việt ở hải ngoại.
Thứ Tư, 11 tháng 5, 2022
CÁC THẾ LỰC, THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG NHỮNG VẤN ĐỀ LỊCH SỬ ĐỂ LẠI GÂY MÂU THUẪN GIỮA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở NƯỚC TA
Thứ Hai, 4 tháng 4, 2022
NÂNG CAO VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA THANH NIÊN CẦN LIÊN TỤC PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT CÁC MÂU THUẪN NỘI TẠI VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ
Trình độ văn hóa ứng xử của
người thanh niên phải giải quyết mâu thuẫn trong tư tưởng thanh niên, làm cho họ
tích cực rèn luyện theo chuẩn mực, nguyên tắc, giá trị của môi trường văn hóa.
Quá trình này phải gắn liền với nỗ lực chủ quan, vượt qua khó khăn để tiếp nhận
các nguyên tắc, chuẩn mực, giá trị văn hóa mới, tự nguyện tu dưỡng, rèn luyện,
chiến thắng những lực cản và hình thành, củng cố, phát triển những thuộc tính mới
đến trình độ bền vững mang sắc thái chủ thể văn hóa.
Nâng cao văn hóa ứng xử của
thanh niên hiện nay, gắn bó hữu cơ giữa cái khách quan là toàn bộ những nguyên
tắc, chuẩn mực, giá trị văn hóa mang sắc thái của môi trường giáo dục, rèn luyện
và cái chủ quan là tổng thể những phẩm chất, năng lực ở trạng thái hiện có làm
tiền đề cho tiếp nhận những giá trị, chuẩn mực, nguyên tắc văn hóa. Vì thế, đòi
hỏi thanh niên phải thường xuyên đấu tranh với chính bản thân mình để tiếp nhận
những giá trị mới, tạo nên sự chuyển biến trong lối sống, giao tiếp, ứng xử của
bản thân; đồng thời đào thải những cái không phù hợp và chuyển hóa để có sắc
thái mới, trình độ cao hơn. Tiếp nhận và đào thải luôn hòa quyện với nhau.
Theo Hồ Chí Minh: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”. Vì thế, phải tích cực trau dồi phẩm chất chính trị, đạo đức, chuẩn mực ứng xử văn hóa của thanh niên; thực hiện tốt tự phê bình và phê bình về đạo đức, văn hóa ứng xử; đồng thời chống lại sự tha hoá, biến chất về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, loại bỏ những biểu hiện thiếu sáng tạo, thỏa mãn, ngại tu dưỡng, rèn luyện nâng cao văn hóa ứng xử trong thanh niên.
Thứ Ba, 15 tháng 3, 2022
PHẢI CHĂNG Ở VIỆT NAM KHÔNG CÓ HÒA HỢP DÂN TỘC?
Thực tiễn cho thấy, trong
suốt chiều dài lịch sử dân tộc, nhất là từ khi có Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản
lý, ở Việt Nam không có sự bất đồng và mâu thuẫn giữa các tộc người với nhau, đặc
biệt là giữa người Kinh và các dân tộc thiểu số.
Chúng ta biết rằng, mâu
thuẫn hoặc xung đột tộc người, tôn giáo thường bắt nguồn từ sự khác biệt về hệ
tư tưởng, lợi ích (kinh tế) và cả những khác biệt văn hóa… giữa các tộc người,
tôn giáo. Tuy nhiên điều này chỉ đúng ở tầm bao quát chung của nhân loại, hoặc
đã và đang diễn ra ở một số nước, khu vực trên thế giới. còn ở Việt Nam lại
hoàn toàn khác. Trải qua suốt chiều dài lịch sử, Việt Nam cũng đã có những
xung đột hoặc cuộc chiến xảy ra (ví dụ như sự chuyển tiếp, thay thế quyền lực
giữa các vương triều: Đinh, Lý, Trần, Hồ, Lê…; phân tranh Trịnh - Nguyễn; Đàng
Trong - Đàng Ngoài…) nhưng các cuộc chiến, xung đột này (bao gồm những
liên minh và đối địch, tạm thời hay lâu dài) không phải là xung đột hoặc
chiến tranh mang màu sắc thanh trừng sắc tộc, tôn giáo mà chỉ là các cuộc
chiến, xung đột dựa trên quyền lợi thiết thân với tính chất chuyển giao hoặc
thôn tính quyền lực, lợi ích… được thực hiện bởi các vua, chúa; ở mỗi bên
“tham chiến”, đội quân thường là sự tập hợp lực lượng bao gồm những người cùng
chung mục đích về lợi ích kinh tế, quyền lợi hay địa vị xã hội... được xuất
thân từ nhiều thành phần dân tộc, tầng lớp xã hội khác nhau.
Hiện nay, Việt Nam có 54
dân tộc anh em cùng chung sống lâu đời, trong đó có 53 dân tộc thiểu số, với
hơn 14 triệu người (chiếm khoảng 14,7% dân số cả nước). Mặc dù người
Kinh là dân tộc chiếm đa số, nhưng thực tế cho thấy dưới sự lãnh đạo, quản
lý của Đảng và Nhà nước, vai trò và tham gia vào bộ máy chính quyền cũng như những
đóng góp vào đời sống xã hội của người dân tộc thiểu số ngày càng được đảm bảo.
Đơn cử như trong Quốc hội, số lượng đại biểu Quốc hội người dân tộc
thiểu số ở Việt Nam đã tăng dần theo các khóa: Khóa I: 10,2%, khóa XIII:
15,6%, khóa XIV: 17,3%, khóa XV: 17,84%.
Trong quan hệ tôn giáo,
thực tiễn cũng đã chứng minh Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, đa
tôn giáo và không có sự mâu thuẫn hoặc xung đột giữa các tôn giáo,
tín ngưỡng; các tôn giáo ở Việt Nam luôn được tôn trọng, bình đẳng, không bị
phân biệt đối xử và được Nhà nước bảo hộ hoạt động bằng pháp luật; người dân được
thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo… Điều này đã được kiểm chứng, thừa
nhận bởi nhiều quốc gia, nhiều tổ chức tôn giáo lớn trên thế giới.
Trong Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế - Việt Nam 2018 của Đại sứ quán
và Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Việt Nam đã khẳng định: “Hiến pháp (của
Việt Nam) quy định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bao gồm cả
quyền tự do không theo một tôn giáo nào. (...) Hiến pháp quy định tất cả các
tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật và nhà nước phải tôn trọng và bảo hộ quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Hiến pháp cấm công dân vi phạm tự do tín ngưỡng,
tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” và “Việt Nam
là thành viên của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị”.
Trong sinh hoạt, vào những ngày lễ lớn của các tôn giáo ở Việt Nam (Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, Hồi giáo...), lãnh đạo Đảng và Nhà nước đều tới thăm, chúc mừng và cùng các tôn giáo hướng tới lẽ sống “tốt đời đẹp đạo”. Đặc biệt, với đặc tính dung hòa sẵn có của đời sống văn hóa Việt Nam, trong hầu hết các lễ hội tôn giáo, ngoài sự hiện diện của tín đồ, còn có rất nhiều người dân, thậm chí là tín đồ của các tôn giáo khác cũng đến xem lễ, tham quan, du lịch, tìm hiểu văn hóa, tín ngưỡng…
Thứ Ba, 29 tháng 12, 2020
THẾ GIỚI THAY ĐỔI KHÔN LƯỜNG, NỘI DUNG THỜI ĐẠI KHÔNG THAY ĐỔI
Kẻ thù tư tưởng của chúng ta công khai tuyên
bố rằng, CNXH ở Liên Xô đã sụp đổ thì giá trị của Cách mạng Tháng Mười cũng
chấm hết.
Đây đúng là kết luận vội vã và hồ đồ. Đành
rằng, thành quả mà Cách mạng Tháng Mười đem lại đã bị đổ vỡ tại ngay quê hương
của nó, nhưng đó quyết không phải là sự chấm dứt lý tưởng cao đẹp của Cách mạng
Tháng Mười. Lịch sử đã tỏ rõ, không có một cuộc cách mạng nào, kể cả các cuộc
cách mạng vĩ đại nhất, lại đủ khả năng kết thúc ngay công việc xóa bỏ xã hội cũ
và xây dựng xong ngay xã hội mới. Quá trình chuyển từ xã hội phong kiến lên xã
hội TBCN đã phải trải qua hàng trăm năm với nhiều cuộc cách mạng tư sản nổ ra ở
Hà Lan, Anh, Pháp... thì hình thái kinh tế-xã hội TBCN mới thực sự thắng thế
trước hình thái kinh tế-xã hội phong kiến.
Sự phát triển của xã hội loài người từ sau
Cách mạng Tháng Mười đã chứng tỏ rằng, lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười không
chỉ là ngọn đèn pha tỏa sáng dẫn đường, mà còn có những đóng góp thực tế to
lớn. Cách mạng Tháng Mười là tiếng chuông đánh thức lịch sử, báo hiệu một trang
sử mới của thế giới. Thế giới trước Cách mạng Tháng Mười là một thời kỳ u mê,
an phận, là thời đại của CNTB. Sự đột phá của Cách mạng Tháng Mười làm cho CNTB
bị đổ vỡ một mảnh lớn. Thế giới bừng tỉnh, bung ra với sức mạnh mới với sự hình
thành và phát triển của CNXH làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa, giải
phóng xã hội, giải phóng con người. Thành quả của Cách mạng Tháng Mười tạo cho
loài người có khả năng kìm giữ sự lộng hành của CNTB, làm thay đổi cả những yếu
tố bên trong của CNTB. CNTB không thể sống tự nó nữa mà đã phải cố gắng vì sự
tồn tại của nó. Những thay đổi trong chiến lược kinh tế, chính trị để thích
nghi, những thay đổi trong các chính sách phúc lợi xã hội, bảo đảm xã hội... ở
các nước tư bản phát triển hiện nay đều do kết quả đấu tranh của những người
lao động để giành quyền sống, quyền tự do, bình đẳng và sâu xa hơn là được ảnh
hưởng của Cách mạng Tháng Mười.
Từ những phân tích trên đây, chúng ta càng thống
nhất với nhận định rằng, mặc dù tình hình thế giới trong giai đoạn hiện nay và
thời gian tới có nhiều thay đổi, có khi là thay đổi khôn lường, nhưng bản chất
của thời đại không thay đổi. Tình hình cụ thể trong từng thời kỳ của thế giới
có những biến động, nhưng điều đó không làm thay đổi nội dung của thời đại;
loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH. Các mâu thuẫn cơ
bản trên thế giới vẫn tồn tại, có mặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu
hiện có nhiều nét mới. Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp vẫn diễn ra dưới
nhiều hình thức.
Thứ Hai, 7 tháng 12, 2020
LUẬT BIÊN PHÒNG VIỆT NAM KHÔNG CHỒNG CHÉO, MÂU THUẪN VỚI CÁC LUẬT KHÁC
Theo TS Bùi Thanh Tùng, Phó trưởng đoàn chuyên trách
Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng, Luật BPVN chỉ quy định các nhiệm
vụ chung cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực thi nhiệm vụ biên phòng
mà không quy định cụ thể cho từng lực lượng. Quy định như vậy phù hợp và bảo đảm
không mâu thuẫn, chồng chéo với các luật khác liên quan. Nhiệm vụ cụ thể của từng
lực lượng, cũng như vai trò chủ trì trong từng nhiệm vụ sẽ căn cứ chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan theo quy định của pháp luật; với các
nguyên tắc và nội dung phối hợp áp dụng chung cho các lực lượng thực thi nhiệm
vụ biên phòng, đảm bảo để từng chủ thể chủ động, linh hoạt trong việc phối hợp
thực thi nhiệm vụ biên phòng. Luật BPVN quy định, ngoài các cơ quan, tổ chức,
đơn vị LLVT đứng chân, hoạt động ở KVBG, cửa khẩu còn có “các cơ quan chỉ huy,
chỉ đạo trực tiếp của cơ quan, tổ chức, đơn vị LLVT nhân dân ở KVBG, cửa khẩu”.
Đây là cơ sở để quy định một số chế độ, chính sách cho từng lực lượng.
Thảo luận tại Quốc hội, nhiều đại biểu đã khẳng định
không có sự chồng chéo về quyền hạn của lực lượng BĐBP với lực lượng hải quan
và lực lượng công an. Hiện nay, lực lượng BĐBP đang trực tiếp thực hiện hiệu quả
nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát xuất nhập cảnh đối với người, phương tiện tại các
cửa khẩu, cảng biển do Bộ Quốc phòng quản lý (117 cửa khẩu biên giới đất liền,
37 cửa khẩu cảng biển). Vì vậy, quy định tại khoản 3, Điều 14 trong Luật BPVN
là không mới, mà đã được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật hiện hành như:
Luật Công an nhân dân; Luật Quốc phòng; Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư
trú của người nước ngoài tại Việt Nam... Việc luật hóa thẩm quyền kiểm tra, kiểm
soát, xử lý phương tiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật ở KVBG, cửa khẩu của lực
lượng BĐBP hoàn toàn có căn cứ, dựa trên quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà
nước và vì lợi ích quốc gia, dân tộc, không chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ với
lực lượng khác.
Từ thực tiễn ở địa phương, đại biểu Nguyễn Văn Sơn
(đoàn Hà Tĩnh) cho biết: Lực lượng BĐBP tại Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo đã phối hợp
chặt chẽ, nhịp nhàng với lực lượng hải quan phát hiện, bắt giữ nhiều đối tượng
vi phạm pháp luật, đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm ở KVBG, cửa khẩu, bảo
vệ vững chắc chủ quyền, an ninh BGQG.
Trước thông tin cho rằng có sự chồng chéo, “lợi ích
nhóm” trong quy định vai trò, nhiệm vụ của BĐBP trong Luật BPVN, nhiều chuyên
gia trong lĩnh vực pháp luật đã khẳng định: Việc quy định lực lượng chuyên
trách làm nòng cốt trong quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh BGQG là thống
nhất với các nghị quyết của Bộ Chính trị, phù hợp với Luật BGQG năm 2003, Luật
An ninh quốc gia năm 2004, Luật Công an nhân dân năm 2018, Luật Quốc phòng năm
2018... Sự phù hợp đó không có điều gì phải bàn cãi, vì nhiệm vụ "gác cửa"
BGQG được Nhà nước giao cho BĐBP, cho nên, BĐBP phải là lực lượng nòng cốt
trong việc bảo vệ BGQG.
Trung tướng Đỗ Danh Vượng, Chính ủy BĐBP cho biết,
ngay từ những ngày đầu thành lập lực lượng, Nghị quyết số 58-NQ/TW ngày
19-11-1958 của Bộ Chính trị về xây dựng lực lượng Cảnh vệ nội địa và biên cương
đã khẳng định: “Lực lượng cảnh vệ này có nhiệm vụ trấn áp mọi hành động phá hoại
của bọn phản cách mạng trong nước và bọn phản cách mạng nước ngoài xâm nhập phá
hoại nước ta, luôn sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ an ninh biên giới, bờ bể, giới
tuyến và nội địa, bảo vệ an toàn cho các cơ sở kinh tế, văn hóa quan trọng”.
Không chỉ các đại biểu Quốc hội, cán bộ BĐBP mà rất nhiều cán bộ, chiến sĩ, đồng bào ở biên giới rất phấn khởi khi được tin Quốc hội đã thông qua Luật BPVN. Đồng chí Đoàn Quốc Chính, Bí thư Huyện ủy Hạ Lang (Cao Bằng) nói: “Luật BPVN sẽ là cơ sở pháp lý để lực lượng BĐBP tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ tham gia xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên biên giới; tham mưu cho chính quyền địa phương trong sắp xếp ổn định dân cư, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế-xã hội ở KVBG gắn với củng cố quốc phòng-an ninh. Từ đó, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, toàn dân, toàn quân, xây dựng nền biên phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng KVBG phát triển, bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh BGQG, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở KVBG”.
Thứ Năm, 23 tháng 1, 2020
ĐẢNG CÓ NHỮNG SÁCH LƯỢC LINH HOẠT, TỈNH TÁO GIẢI QUYẾT ĐIỂM NÓNG
Thứ Hai, 6 tháng 11, 2017
Nguyên nhân mâu thuẫn và xung đột dân tộc, sắc tộc trên thế giới hiện nay là gì?
- Do hệ quả của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại và các yếu tố thời đại. Cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa, quốc tế hóa mạnh mẽ làm cho xu thế độc lập tự chủ, tự cường, ý thức tự giác tộc người được thức tỉnh và nâng cao; đồng thời, thúc đẩy cả hai xu hướng của quá trình tộc người. Trước xu thế liên kết quốc gia và khu vực tăng lên, một số lực lượng chính trị trong các dân tộc tìm mọi cách chống lại, mưu đồ lợi ích riêng làm cho các trào lưu ly khai cũng tăng lên. Các tộc người, dân tộc “thức tỉnh” ý thức về các quyền và lợi ích của mình, gia tăng đấu tranh bảo vệ các quyền lợi của họ. Mặt trái của nó dẫn đến chủ nghĩa sô vanh, dân tộc hẹp hòi và chủ nghĩa dân tộc cực đoan nổi lên, mâu thuẫn và xung đột gia tăng