Hiển thị các bài đăng có nhãn luật pháp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn luật pháp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 15 tháng 3, 2022

PHẢI CHĂNG CÁC CHÍNH SÁCH, LUẬT PHÁP VỀ HÒA HỢP DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LÀ NỬA VỜI?

Phải khẳng định đó là quan điểm sai lầm, đáng phê phán và lên án. Hiện nay, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc kết hợp thực hiện lời dạy của Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc: “Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc sẽ vẻ vang”, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành các chính sách, luật pháp cùng những hành động thiết thực về hòa giải, hòa hợp dân tộc, có thể kể đến Nghị quyết số 36-NQ/TW về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Quy chế miễn thị thực cho người Việt Nam ở nước ngoài, Chỉ thị 45-CT/TW về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới... Đặc biệt, chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã được Đảng cụ thể hóa vào các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, như: “đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước”, “Hỗ trợ để người Việt Nam ở nước ngoài có địa vị pháp lý vững chắc, phát triển kinh tế và đời sống, hòa nhập xã hội nước sở tại”, “Làm tốt công tác bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài và tranh thủ tối đa nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài tham gia đóng góp phục vụ phát triển đất nước”. Các cơ quan chuyên trách về công tác người Việt ở nước ngoài (Ủy ban người Việt ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao) cũng đã làm tốt công tác hòa hợp, hòa giải dân tộc thông qua giúp người Việt Nam ở nước ngoài ổn định cuộc sống, hội nhập vào xã hội sở tại, hướng về Tổ quốc…

Những lý lẽ nêu trên cho thấy: không hề có cái gọi là “đãi bôi” hay “con đường nửa vời” trong việc ban hành các chính sách, luật pháp về hòa giải, hòa hợp dân tộc của Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta luôn tỏ rõ thiện chí trong quá trình hòa hợp dân tộc. Trong đó, việc chủ động chào đón sự trở về của những kiều bào từng làm việc cho chế độ cũ, từng rời bỏ đất nước... là minh chứng tiêu biểu nhất. Trường hợp của nguyên Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Cao Kỳ là một ví dụ điển hình. Trở về quê hương sau gần 30 năm xa xứ, ông đã khẳng định: “Đại đoàn kết dân tộc là chính sách đúng đắn của chính phủ Việt Nam, trong đó xem kiều bào ở nước ngoài là một bộ phận của cộng đồng dân tộc Việt Nam”. Hoặc như trường hợp của nguyên chuẩn tướng, quyền Tổng tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hoà Nguyễn Hữu Hạnh: Từ khi còn nắm giữ quyền lực trong chế độ cũ cho đến lúc qua đời (2019) tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhân sĩ Nguyễn Hữu Hạnh đã có những việc làm thiết thực, trở thành “một tấm gương tiêu biểu của những người Việt Nam chân chính, có tinh thần dân tộc và yêu nước, cho dù chỗ đứng ở đâu, cương vị thế nào vẫn luôn hướng về đất nước và dân tộc”.

Không chỉ dang tay đón nhận những người con Việt Nam thiết tha thực tâm trở về với đất mẹ, Đảng và Nhà nước còn có những việc làm thiết thực, nhân văn để giúp đỡ, bảo hộ công dân đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Việc hỗ trợ người bị nạn (bao gồm cộng đồng người Việt) trong cơn bão Katrina năm 2005 ở Mỹ; việc khuyến cáo và có những hành động kịp thời để bảo hộ công dân tránh khỏi những tổn thất về người và của trước những xung đột, biểu tình, đảo chính ở một số nước, khu vực; việc tiến hành đưa người Việt ở nước ngoài trở về Tổ quốc trước đại dịch COVID-19... đã chứng minh cho thiện chí hòa hợp và tinh thần “không ai bị bỏ lại phía sau”.

Thứ Hai, 20 tháng 12, 2021

KHÔNG GIAN MẠNG KHÔNG PHẢI LÀ CÔNG CỤ KÍCH ĐỘNG CHIA RẼ ĐOÀN KẾT QUỐC TÊ

Thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, các phương tiện truyền thông ngày càng trở thành phương tiện hữu ích đối với đời sống con người. Không chỉ góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tự do ngôn luận, các phương tiện truyền thông hiện đại nói chung, mạng xã hội nói riêng còn giúp các quốc gia trên thế giới thêm hiểu và ngày càng xích lại gần nhau hơn. Thế nhưng thời gian gần đây, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những ưu thế của mạng xã hội để gia tăng hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, cổ xúy cho tư tưởng phân biệt chủng tộc, kích động hận thù, phá hoại đoàn kết quốc tế. Các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội chính trị, phản động lập ra hàng nghìn website, trang mạng xã hội, diễn đàn trực tuyến... để sử dụng như một công cụ chủ yếu tuyên truyền, xuyên tạc, bịa đặt nhằm kích động hận thù, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại mối quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, những sự kiện “nóng” thu hút sự quan tâm của dư luận, như: dân tộc, tôn giáo; Biển Đông; phân giới cắm mốc giữa Việt Nam với các quốc gia láng giềng; ô nhiễm môi trường; phòng, chống tham nhũng,... được các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng chống phá.

Những hành động đó đã vi phạm pháp luật Việt Nam và công ước quốc tế. "Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị" năm 1966 quy định rất rõ về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Khoản 2, Điều 19 của Công ước quy định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo sự lựa chọn của họ”. Tuy nhiên, cần nhớ rằng những quyền ấy không phải là quyền tuyệt đối. Khoản 3, Điều 19 "Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị" năm 1966 ghi rõ: “Việc thực hiện những quyền quy định tại Khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc hưởng thụ quyền này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định (những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật) để tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội". Năm 1982, Việt Nam tham gia "Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị". Từ đó đến nay, Việt Nam luôn quan tâm nội luật hóa các quy định của công ước vào hệ thống pháp luật quốc gia.

Ở Việt Nam, quyền tự do ngôn luận, báo chí của người dân được quy định rất rõ. Tại Điều 25, Hiến pháp năm 2013 nêu: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Điều 9, Luật Báo chí Việt Nam 2016 nghiêm cấm: “1. Đăng, phát thông tin chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nội dung: a) Xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền nhân dân; b) Bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; c) Gây chiến tranh tâm lý. 2. Đăng, phát thông tin có nội dung: a) Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền nhân dân, với lực lượng vũ trang nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội; b) Gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; c) Gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội; xúc phạm niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; d) Phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế”. Những quy định ấy đều tương thích với "Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị".

Trên thế giới, không một quốc gia nào dung túng, bao che cho những hành động sử dụng mạng xã hội làm công cụ để xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và tạo mọi điều kiện để người dân thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do internet trên cơ sở tuân thủ công ước quốc tế và pháp luật Việt Nam. Chính phủ Việt Nam luôn chủ động phối hợp, tích cực hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế để đẩy mạnh phát triển công nghệ thông tin, phát triển internet và các phương tiện truyền thông hiện đại. Nhưng Việt Nam cũng làm hết sức mình để ngăn chặn thông tin xấu độc, thông tin vi phạm pháp luật Việt Nam và công ước quốc tế. Việt Nam luôn mong muốn chung tay với các nước, các tổ chức quốc tế xây dựng môi trường internet lành mạnh, an toàn, hữu ích ở Việt Nam và toàn cầu. Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, Việt Nam lên án mạnh mẽ, đấu tranh kiên quyết, không cho phép bất kỳ ai được lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do internet để tán phát những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, những luận điệu thù hận, phỉ báng, kích động có thể gây căng thẳng, gây chia rẽ đoàn kết và đưa đến xung đột. Mọi hành vi vi phạm trong lĩnh vực sử dụng internet và phương tiện truyền thông đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật./.

Thứ Tư, 1 tháng 12, 2021

VI PHẠM QUYỀN TỰ QUYẾT CỦA CÁC DÂN TỘC TRÊN THẾ GIỚI

Theo các chuyên gia về luật quốc tế, Luật Magnitsky đã vi phạm Khoản 2, Điều 1 của Hiến chương Liên hợp quốc, đó là cố tình cản trở sự phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc, không tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và tự quyết của các dân tộc trên thế giới. Thế nên, việc áp đặt quan điểm pháp lý của Luật Magnitsky lên các quốc gia có chủ quyền của Mỹ là không thể chấp nhận được và chỉ làm phức tạp hơn sự việc ở các quốc gia có chủ quyền. Thực tế cho thấy, từ khi Luật Magnitsky ra đời, nhiều quốc gia trên thế giới đã phản đối mạnh mẽ và tìm các biện pháp trả đũa, trong đó có Nga, Trung Quốc, Saudi Arabia... Điều đó khiến mối quan hệ song phương giữa Mỹ với nhiều đối tác chiến lược trên thế giới khó được khăng khít. Thế nên, việc Safeguard Defenders ủng hộ Phạm Đoan Trang cho xuất bản cuốn sách trên là hành vi cố tình ủng hộ Luật Magnitsky.

Tổ chức Safeguard Defenders đã có những việc làm không tôn trọng pháp luật Việt Nam. Bởi xem kỹ các nội dung thì cuốn sách chủ yếu chỉ ra cách thức giúp những kẻ vi phạm pháp luật ở Việt Nam tự xây dựng chiếc “khiên” trước khi thực hiện hành động chống phá Đảng, chính quyền, Nhà nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam. Điều này chẳng khác nào khuyến khích, “tiếp máu” cho những kẻ vi phạm pháp luật ở Việt Nam cố tình quậy phá, chia rẽ khối đại đoàn kết, làm phức tạp tình hình, gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Điều này có thể sẽ làm mất đi nhiều cơ hội phát triển của Việt Nam trong tương lai.

Tổ chức Safeguard Defenders lựa chọn tiếng Việt phát hành cuốn sách để hướng tới các “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị” ở Việt Nam. Đây được xem là điều hết sức phi lý và càng không thể chấp nhận được. Lý do đơn giản là từ xưa đến nay, nhất là trong những năm gần đây ở Việt Nam chẳng hề có hiện tượng vi phạm nhân quyền như các tổ chức, cá nhân trên thế giới từng vu cáo. Ở Việt Nam không hề có cái gọi là “tù nhân chính trị”, “tù nhân lương tâm” mà chỉ có những công dân cố tình vi phạm pháp luật và pháp luật hình sự đã được pháp luật Việt Nam quy định. Quan điểm rõ ràng ấy được nêu cụ thể trên các phát ngôn, báo cáo chính thức, cũng như qua các phương tiện thông tin đại chúng và truyền thông chính thống của Nhà nước Việt Nam. Đây là một sự thật không thể bị chối bỏ.


Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021

CÓ PHẢI VIỆT NAM CHỈ BIẾT QUAN NGẠI?

“Trung Quốc điều 200 tàu cá "dân quân" ở Sinh Tồn Đông, Philippines đưa máy bay và tàu chấp pháp ra ngăn cản, Việt Nam thì chỉ biết quan ngại, lo lắng", "Việt Nam hèn kém, không dám lên tiếng, chỉ dám bày tỏ quan ngại. Máy bay đâu, tàu ngầm đầu, sao không bắn đi mà mặc cho Trung Quốc ngang nhiên thế".

Vậy, có thực là Việt Nam chỉ biết quan ngại hay không?

Cùng thời điểm mà Trung Quốc điều 200 tàu đóng "tránh" thời tiết xấu ở gần Song Tử Đông, thì Việt Nam chính thức công bố cảng dầu khí lớn bậc nhất Đông Nam Á tại giàn khoan Sao Vàng - Đại Nguyệt, gần bãi Tư Chính. Ngoài việc phục vụ việc phát triển kinh tế, Sao Vàng - Đại Nguyệt còn đóng vai trò là một "ngọn đuốc giữa biển" khẳng định chủ quyền lãnh thổ Việt Nam tại Biển Đông.

Trước đó, giàn khoan Sao Vàng - Đại Việt đã hòa những dòng khí đốt đầu tiên vào đường ống tiếp bờ Nam Côn Sơn 2, đánh dấu việc Việt Nam chính thức thực hiện quyền khai thác kinh tế tại vùng này, mặc cho Trung Quốc nhiều lần đăng đàn phản đối. “Sao Vàng” là ngôi sao trên lá cờ đỏ sao vàng. Còn “Đại Nguyệt” chính là “vầng trăng lớn” đối đầu với “mặt trời lớn” - Trung Quốc, được lấy cảm hứng từ câu đối “Nguyệt cung tinh đạn, hoàng hôn xạ lạc kim ô” của Mạc Đĩnh Chi. Nghĩa gốc của câu đối là: “Trăng là cung, sao là đạn, chiều tối bắn rụng” mặt trời. Hàm ý của câu đối là một nước nhỏ cũng có thể chiến thắng một nước lớn.

Cần biết rằng, vào những năm 90 của thế kỷ trước, Trung Quốc từng đề xuất Việt Nam cùng khai thác dầu mỏ tại bãi Tư Chính. Trung Quốc sẽ bỏ vốn đầu tư, nhân lực, thiết bị, còn Việt Nam chỉ việc công nhận chủ quyền Trung Quốc tại bãi Tư Chính và "ngồi đợi tiền về". Nhưng Việt Nam chưa bao giờ đồng ý và luôn giữ một thái độ rất kiên quyết, nhiều lần điều tàu thực thi chủ quyền khiến tàu thăm dò Trung Quốc phải rút về.

Trung Quốc từng mong muốn chiếm đóng phi pháp bãi Tư Chính. Nhưng Trung Quốc chưa bao giờ làm được điều này cả, mà chính Việt Nam đã khẳng định được chủ quyền lãnh thổ, thực thi quyền lợi kinh tế tại đây. Từ tiền đề đã có từ Tư Chính, trong thời gian sắp tới, Việt Nam sẽ tiếp tục khởi động dự án tại mỏ Cá Voi Xanh - rất gần quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc chiếm đóng trái phép.

Cũng trong những ngày này, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc quyết định chi hơn 4800 tỷ đồng, tương đương khoảng 210 triệu USD kéo điện lưới quốc gia ra Côn Đảo. Mục đích của việc kéo điện này nhằm đảm bảo nguồn cung điện ổn định cho sự phát triển kinh tế của Côn Đảo, đảm bảo an ninh quốc phòng. Đây là một trong những dự án kéo điện ra hải đảo tốn kém nhất Đông Nam Á và bị nhiều người Việt cho là lãng phí.

Nhiều người thường bảo “tư nhân hóa ngành điện”, nhưng nếu tư nhân hóa ngành điện, thì liệu có doanh nghiệp nào bỏ vốn hàng ngàn tỷ đồng đầu tư cho một khu vực hải đảo chỉ với khoảng 10 ngàn dân hay không? Mà nếu chấp nhận bỏ vốn đầu tư, rồi bán điện với giá 400 ngàn/1 số điện, liệu nhân dân có dám dùng không?

Phú Quốc, Kiên Hải, Côn Đảo, Phú Quý, Lý Sơn, Bạch Long Vĩ… là những tiền đồn của Tổ Quốc, có giá trị quan trọng về chủ quyền lãnh thổ của Tổ Quốc. Tiền đồn có mạnh, thì đất liền mới vững.

Tờ Economictimes từng nhận định rằng, tham vọng của Việt Nam là muốn biến Côn Đảo thành một “cơ sở hậu cần” của quân đội Việt Nam, nơi mà các máy bay SU có thể cất và hạ cánh, và quan trọng hơn, các tàu ngầm Việt Nam có thể xuất hiện và đóng quân. Hiện nay, Malaysia và Indonesia nhiều lần bắt bớ ngư dân Việt Nam vô lý, việc xây dựng Côn Đảo thành một “cơ sở hậu cần” khiến cho ngư dân Việt Nam thêm an tâm khi hoạt động kinh tế tại thềm lục địa phía Nam, các lực lượng Việt Nam có nơi cập bờ để tiếp liệu thay vì phải vào tận các cảng đất liền.

Cũng chính tờ này, khẳng định rằng Việt Nam đã và đang tôn tạo, xây dựng các đảo tại Trường Sa như Đá Tây hay Sinh Tồn để có thể phòng thủ và tấn công trước Trung Quốc. Ngoài ra, các đảo Phan Vinh và Nam Yết đều ghi nhận sự gia tăng về diện tích, xuất hiện thêm nhiều nhà chứa tên lửa, trạm thông tin liên lạc, tòa nhà hành chính...

Trung Quốc từng đề nghị Philippines “cùng khai thác” tại vùng đặc quyền kinh tế của Philippines, Tổng thống Duterte đồng ý và bày tỏ sự vui mừng, mặc cho người dân và đồng minh phản đối gay gắt. Trung Quốc cũng gửi lời đề nghị tương tự nhưng Việt Nam đáp lại bằng lời từ chối thẳng thừng và còn điều tàu ra chấp pháp, khiến tàu Trung Quốc phải rút lui.

Trung Quốc điều tàu thăm dò vào bãi Tư Chính, Việt Nam đáp lại bằng cách xây dựng dàn khoan 14 ngàn tấn - lớn nhất từ trước đến nay, tiến hành khai thác dầu khí và xây dựng cảng cho tàu siêu trọng cập bến.

Trung Quốc luôn khẳng định bãi Tư Chính là của họ, nhiều lần điều tàu ra xâm lấn và thăm dò, nhưng Việt Nam mới là quốc gia duy nhất cho đến nay hiện diện, thực thi quyền chủ quyền và quyền kinh tế tại đây. Nếu Việt Nam sợ hãi hay quan ngại bằng mồm, thì đã chấp nhận đề nghị "cùng chia sẻ bãi Tư Chính" vào năm 1994 rồi.

Trên mặt ngoại giao, chúng ta “quan ngại” và nói chuyện đúng sai dựa trên luật pháp quốc tế. Quan ngại không có nghĩa là sợ hãi và thoái lui. Mà đằng sau đó, là những nỗ lực khẳng định chủ quyền không ngừng nghỉ và bền bỉ.

Thứ Hai, 15 tháng 3, 2021

HIỂU LUẬT ĐỂ THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT

Với trách nhiệm của công dân, nhất là cán bộ, đảng viên thì việc thực hiện quyền tố cáo là cần thiết, nhưng phải tuân thủ luật pháp, đúng về nội dung, đúng thời điểm và trình tự. Để giải quyết một nội dung tố cáo thường mất nhiều thời gian xác minh, điều tra mới có thể kết luận. Ở kỳ bầu cử ĐBQH khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Hướng dẫn số 13-HD/UBKTTW, ngày 2-12-2020 “về việc giải quyết tố cáo, khiếu nại về bầu cử ĐBQH khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021- 2026 của cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp”. Hướng dẫn nêu rõ: Trong thời hạn 10 ngày, trước ngày bầu cử, ngừng việc xem xét, giải quyết mọi tố cáo, khiếu nại liên quan tới người ứng cử và việc lập danh sách người ứng cử ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp cho đến khi bầu cử xong.

Về mặt pháp lý thì quyền tố cáo của công dân được quy định tại Điều 30, Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định chặt chẽ trình tự, thủ tục để công dân thực hiện quyền này. Trong đó, rõ ràng nhất là quy định đơn thư khiếu nại, tố cáo phải được gửi đến đúng cơ quan có chức năng giải quyết, theo đúng phân cấp, tránh tình trạng gửi đơn thư vượt cấp khi mà cấp có trách nhiệm đang trong thời gian xem xét, xử lý. Theo Hướng dẫn số 13 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương thì không giải quyết những trường hợp khiếu nại quá thời hạn khiếu nại theo quy định đang được cấp trên có thẩm quyền giải quyết; đã được cấp có thẩm quyền cao nhất xem xét, kết luận, quyết định. Hướng dẫn số 13 cũng nêu rõ những trường hợp tố cáo không được giải quyết bao gồm: Tố cáo giấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ; tố cáo có tên đã được cấp thẩm quyền (do Điều lệ Đảng và Luật Tố cáo quy định) xem xét, kết luận, nay tố cáo lại nhưng không có thêm tài liệu, chứng cứ mới làm thay đổi bản chất vụ việc; đơn tố cáo có tên nhưng không rõ nội dung, không chứa đựng, phản ánh nội dung tố cáo; đơn tố cáo không phải bản do người tố cáo trực tiếp ký tên; đơn tố cáo có từ hai người trở lên cùng ký tên; đơn tố cáo của người không có năng lực hành vi dân sự.

Mỗi cá nhân nếu thực hiện quyền tố cáo cần phải nắm chắc các quy định của pháp luật với trách nhiệm cao nhất của mình.

Không ai được thực hiện quyền năng này một cách vô tổ chức để xâm phạm nhân thân người khác. Điều 20, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm…”. Điều 34, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định rất rõ: Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Luật sư Lê Văn Lên, Đoàn Luật sư TP Hồ Chí Minh, Giám đốc Hãng luật Capital cho biết: “Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định cụ thể, chi tiết tội vu khống: Cụ thể Điều 156 quy định: “1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm: a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền…”.

Nhìn nhận từ thực tiễn hệ thống luật pháp của chúng ta cho thấy, chế tài hiện nay đối với hành vi tố cáo vu khống, cố tình tố cáo sai sự thật đã đủ sức răn đe trong khuôn khổ pháp lý chặt chẽ. Cùng với việc luật pháp cần phải được áp dụng rộng rãi để tạo tính răn đe, thì quan trọng nhất là mọi người dân phải nâng cao nhận thức để hành động thượng tôn pháp luật.

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2020

NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỤ ĐỒNG TÂM

Những ngày qua, TAND TP. Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án giết người, chống người thi hành công vụ xảy ra ngày 9/1/2020 tại thôn Hoành, xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội. Đây là một vụ án đặc biệt nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận xã hội và thu hút nhiều sự quan tâm chú ý từ cộng đồng...

Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2020

BÌNH MỚI RƯỢU CŨ

Theo tin từ tờ South China Morning Post, những thuật ngữ mới mà Trung Quốc dùng trong phiên bản sửa đổi quy định hàng hải có từ năm 1974 là "gần bờ" thay vì "xa bờ" (tiếng Anh là "coastal" thay vì "offshore"). 

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2020

LUẬT PHÁP QUỐC TẾ VỀ NHÂN QUYỀN

Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người năm 1948 và hai Công ước quốc tế về quyền con người năm 1966 (Công ước về quyền dân sự và chính trị - ICCPR; Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa - ICESCR), cùng các nghị định thư bổ sung tạo thành Bộ luật quốc tế về quyền con người - là nền tảng của hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người hiện nay. Điều 2 của bản Tuyên ngôn năm 1948 quy định quyền con người: “không phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay các quan điểm khác, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội…”. Đồng thời, quy định nghĩa vụ, trách nhiệm của cá nhân: “1. Mọi người đều có những nghĩa vụ đối với cộng đồng là nơi duy nhất mà ở đó nhân cách của bản thân họ có thể phát triển tự do và đầy đủ. 2. Trong khi hưởng thụ các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ phải tuân thủ những hạn chế do luật định, nhằm bảo đảm sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác, cũng như nhằm đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.

Thứ Hai, 20 tháng 7, 2020

TIẾP TỤC HOÀN THIỆN QUY TRÌNH XÂY DỰNG PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM

Có thể nói hệ thống pháp luật Việt Nam kể từ thời điểm đổi mới đất nước năm 1986 đến nay đã phát triển không ngừng và còn phải tiếp tục hoàn thiện. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHVBQPPL mà Quốc hội vừa thông qua sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc tiếp tục hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Theo đó, cơ quan trình dự án luật được quyền bảo vệ quan điểm của mình trong toàn bộ quá trình soạn thảo và trình thông qua dự án luật. Còn cơ quan thẩm tra, dù đó là các ủy ban của Quốc hội hay UBTVQH thì phải làm đúng chức năng của cơ quan thẩm tra, giúp Quốc hội xem xét, thậm chí có thể đề nghị Quốc hội không thông qua một dự án luật là điều hoàn toàn có thể xảy ra nhưng không nên làm thay và tước đi quyền của cơ quan soạn thảo dự án luật.  

Thứ Ba, 26 tháng 5, 2020

HÀNH XỬ NGANG NGƯỢC Ở BIỂN ĐÔNG ĐANG LÀM MẤT ĐI VỊ THẾ NƯỚC LỚN CỦA TRUNG QUỐC

Trung Quốc gần đây đang tiếp tục có những hành động ngang ngược ở biển Đông. Tối 01/5/2020, Tân Hoa xã ngang nhiên đưa tin lệnh cấm đánh bắt cá thường niên của Trung Quốc ở Biển Đông bắt đầu từ trưa cùng ngày, với sự giám sát của lực lượng hải cảnh và kiểm ngư nước này. Lệnh cấm đánh bắt cá phi pháp nói trên bắt đầu được áp dụng từ 12 giờ ngày 01/5 đến 12 giờ ngày 16/8. Phạm vi cấm đánh bắt trải dài từ vùng biển phía bắc Biển Đông đến 12 độ vĩ bắc, bao gồm cả một phần vịnh Bắc bộ và quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.

Thứ Năm, 23 tháng 1, 2020

TẠO HÀNH LANG PHÁP LÝ ĐỦ MẠNH NHẰM NGĂN CHẶN ĐẨY LÙI GIẶC "NỘI XÂM" TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Thời gian qua, cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng được Đảng, Nhà nước tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện hiệu quả, nhưng tình trạng tham nhũng vẫn diễn biến phức tạp, gây bức xúc trong nhân dân. Nguyên nhân dẫn đến tham nhũng thì nhiều song một phần do những yếu kém, hạn chế trong việc xây dựng và thực thi pháp luật liên quan đến lĩnh vực này; nhất là hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, vẫn còn cơ chế “xin-cho” tạo kẽ hở cho “cửa quyền”, “sách nhiễu” khi thực thi công vụ của một bộ phận cán bộ, công chức...

Thứ Sáu, 29 tháng 11, 2019

CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM PHÙ HỢP VỚI LUẬT PHÁP QUỐC TẾ VÀ THỰC TIỄN THẾ GIỚI

Thực tế trên đặt ra yêu cầu quản lý với Internet và mạng xã hội, không để những kẻ xấu và các thế lực chống đối lợi dụng, bảo đảm quyền và lợi ích của nhà nước và công dân.

Thứ Hai, 28 tháng 5, 2018

QUYỀN TỰ QUYẾT DÂN TỘC DƯỚI GÓC NHÌN LUẬT PHÁP QUỐC TẾ

Xét trên bình diện quốc tế, quyền dân tộc tự quyết là quyền của mỗi dân tộc trong việc thiết lập chế độ chính trị và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) trên cơ sở chủ quyền quốc gia. Trong Hiến chương Liên hợp quốc (LHQ), dân tộc tự quyết được coi là nguyên tắc để duy trì hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc. Hiến chương khẳng định: “Phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc”; đó là quan hệ giữa các quốc gia độc lập, có chủ quyền và có quyền tự định đoạt vận mệnh của mình.
Ngày 14-12-1960, Đại hội đồng LHQ ban hành Nghị quyết số 1514 (XV) thông qua Tuyên bố về “Trao trả độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa”; tại Điều 2, nghị quyết chỉ rõ: “Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết, trong đó có quyền thiết lập chế độ chính trị và thực hiện sự phát triển KT-XH và văn hóa của mình”. Điều này, tiếp tục được khẳng định tại Điều 1, Công ước Quốc tế về các quyền KT-XH và văn hóa năm 1966: “Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển KT-XH và văn hóa”. Tuyên bố năm 1970 về Các nguyên tắc của luật quốc tế của LHQ cũng nhấn mạnh: “Việc thiết lập một nhà nước độc lập có chủ quyền hay tự do gia nhập vào nhà nước độc lập khác hoặc liên kết với quốc gia đó, cũng như việc thiết lập bất cứ chế độ chính trị nào do nhân dân tự do quyết định là các hình thức thể hiện quyền dân tộc tự quyết” và “mỗi quốc gia đều có nghĩa vụ tôn trọng quyền này, phù hợp với Hiến chương LHQ”.
Nguyên tắc dân tộc tự quyết bao hàm các nội dung sau: Được thành lập quốc gia độc lập hay cùng với các dân tộc khác thành lập quốc gia liên bang (hoặc đơn nhất) trên cơ sở tự nguyện; tự lựa chọn cho mình chế độ chính trị, KT-XH; tự giải quyết các vấn đề đối nội không có sự can thiệp từ bên ngoài; quyền các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc tiến hành đấu tranh, kể cả đấu tranh vũ trang để giành độc lập và nhận sự giúp đỡ, ủng hộ từ bên ngoài, kể cả giúp đỡ về quân sự; tự lựa chọn con đường phát triển phù hợp với truyền thống, lịch sử văn hóa, tín ngưỡng, điều kiện địa lý. Tất cả các quyền nêu trên của mỗi dân tộc đều được các dân tộc và các quốc gia khác tôn trọng. Như vậy, "quyền dân tộc tự quyết”"được hiểu là việc một quốc gia - dân tộc hoàn toàn tự do trong tiến hành cuộc đấu tranh giành độc lập cũng như lựa chọn thể chế chính trị, đường lối phát triển đất nước. 

Thứ Năm, 19 tháng 4, 2018

LUẬT PHÁP QUỐC TẾ VỀ QUYỀN TỰ QUYẾT DÂN TỘC

Những năm qua, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, một trong những thủ đoạn thâm hiểm được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng là "quyền dân tộc tự quyết” hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định chính trị, trật tự xã hội, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam.
Xét trên bình diện quốc tế, quyền dân tộc tự quyết là quyền của mỗi dân tộc trong việc thiết lập chế độ chính trị và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) trên cơ sở chủ quyền quốc gia. Trong Hiến chương Liên Hợp Quốc (LHQ), dân tộc tự quyết được coi là nguyên tắc để duy trì hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc. Hiến chương khẳng định: “Phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc”; đó là quan hệ giữa các quốc gia độc lập, có chủ quyền và có quyền tự định đoạt vận mệnh của mình.
Ngày 14-12-1960, Đại hội đồng LHQ ban hành Nghị quyết số 1514 (XV) thông qua Tuyên bố về “Trao trả độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa”; tại Điều 2, nghị quyết chỉ rõ: “Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết, trong đó có quyền thiết lập chế độ chính trị và thực hiện sự phát triển KT-XH và văn hóa của mình”. Điều này, tiếp tục được khẳng định tại Điều 1, Công ước Quốc tế về các quyền KT-XH và văn hóa năm 1966: “Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển KT-XH và văn hóa”. Tuyên bố năm 1970 về Các nguyên tắc của luật quốc tế của LHQ cũng nhấn mạnh: “Việc thiết lập một nhà nước độc lập có chủ quyền hay tự do gia nhập vào nhà nước độc lập khác hoặc liên kết với quốc gia đó, cũng như việc thiết lập bất cứ chế độ chính trị nào do nhân dân tự do quyết định là các hình thức thể hiện quyền dân tộc tự quyết” và “mỗi quốc gia đều có nghĩa vụ tôn trọng quyền này, phù hợp với Hiến chương LHQ”.
Nguyên tắc dân tộc tự quyết bao hàm các nội dung sau: Được thành lập quốc gia độc lập hay cùng với các dân tộc khác thành lập quốc gia liên bang (hoặc đơn nhất) trên cơ sở tự nguyện; tự lựa chọn cho mình chế độ chính trị, kinh tế - xã hội; tự giải quyết các vấn đề đối nội không có sự can thiệp từ bên ngoài; quyền các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc tiến hành đấu tranh, kể cả đấu tranh vũ trang để giành độc lập và nhận sự giúp đỡ, ủng hộ từ bên ngoài, kể cả giúp đỡ về quân sự; tự lựa chọn con đường phát triển phù hợp với truyền thống, lịch sử văn hóa, tín ngưỡng, điều kiện địa lý. Tất cả các quyền nêu trên của mỗi dân tộc đều được các dân tộc và các quốc gia khác tôn trọng. Như vậy, “quyền dân tộc tự quyết” được hiểu là việc một quốc gia-dân tộc hoàn toàn tự do trong tiến hành cuộc đấu tranh giành độc lập cũng như lựa chọn thể chế chính trị, đường lối phát triển đất nước./.