Hiển thị các bài đăng có nhãn phân định. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phân định. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 6 tháng 11, 2017

Các tiêu chí để phân định tộc người ở nước ta là gì?

Việc xác định thành phần tộc người ở nước ta được coi là một nhiệm vụ quan trọng của ngành dân tộc học dưới chế độ mới trong những thập kỷ 60, 70 của thế kỷ XX.
Các nhà dân tộc học Việt Nam, có sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô (cũ) đã tham khảo các tiêu chí phân định tộc người trên thế giới nhưng tính đến đặc thù điều kiện lịch sử - xã hội và đặc điểm tình hình dân tộc ở nước ta để xây dựng các tiêu chí. Năm 1973 tại Hà Nội, 2 cuộc hội thảo khoa học lớn (tháng 6 và 11) đã thống nhất lấy dân tộc (nghĩa tộc người - ethnic) làm đơn vị cơ bản trong xác định thành phần tộc người ở Việt Nam.
Sau nhiều lần trao đổi bằng các hội thảo khoa học, các nhà khoa học đã thống nhất đưa ra 3 tiêu chí xác định thành phần tộc người ở Việt Nam gồm:
1) Sự cộng đồng về ngôn ngữ.
2) Có các đặc điểm chung về sinh hoạt - văn hóa.
3) Có ý thức tự giác tộc người.
Từ các tiêu chí này, ngày 02 tháng 3 năm 1979, Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chính thức công bố danh mục 54 tộc người (và các nhóm địa phương) hay còn gọi là dân tộc hoặc thành phần dân tộc, sắp xếp theo thứ tự số lượng dân cư.

Sở dĩ, chúng ta không căn cứ hoàn toàn vào các tiêu chí trên thế giới vì đặc điểm tình hình dân tộc ở nước ta có nhiều khác biệt. Các tộc người nước ta có lịch sử cư trú khác nhau, vừa là cư dân tại chỗ, vừa thiên di đến vào các thời điểm khác nhau; các tộc người không có lãnh thổ tộc người riêng mà cư trú xen kẽ từ hàng nghìn năm nay; hầu hết các tộc người đều dựa trên nền tảng cơ sở kinh tế nông nghiệp trồng lúa miền nhiệt đới gió mùa với nhiều đặc điểm tương tự nhau... Nên, có những tiêu chí xác định tộc người được áp dụng phổ biến trên thế giới như: nguồn gốc, tâm lý, lãnh thổ, cơ sở kinh tế nhưng lại không phù hợp với thực tiễn dân tộc nước ta.

Thứ Sáu, 14 tháng 4, 2017

Các tiêu chí để phân định tộc người ở Việt Nam

Việc xác định thành phần tộc người ở nước ta được coi là một nhiệm vụ quan trọng của ngành dân tộc học dưới chế độ mới trong những thập kỷ 60, 70 của thế kỷ XX.
Các nhà dân tộc học Việt Nam, có sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô (cũ) đã tham khảo các tiêu chí phân định tộc người trên thế giới nhưng tính đến đặc thù điều kiện lịch sử - xã hội và đặc điểm tình hình dân tộc ở nước ta để xây dựng các tiêu chí. Năm 1973 tại Hà Nội, 2 cuộc hội thảo khoa học lớn (tháng 6 và 11) đã thống nhất lấy dân tộc (nghĩa tộc người - ethnic) làm đơn vị cơ bản trong xác định thành phần tộc người ở Việt Nam.
Sau nhiều lần trao đổi bằng các hội thảo khoa học, các nhà khoa học đã thống nhất đưa ra 3 tiêu chí xác định thành phần tộc người ở Việt Nam gồm:
1) Sự cộng đồng về ngôn ngữ.
2) Có các đặc điểm chung về sinh hoạt - văn hóa.
3) Có ý thức tự giác tộc người.
Từ các tiêu chí này, ngày 02 tháng 3 năm 1979, Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chính thức công bố danh mục 54 tộc người (và các nhóm địa phương) hay còn gọi là dân tộc hoặc thành phần dân tộc, sắp xếp theo thứ tự số lượng dân cư.

Sở dĩ, chúng ta không căn cứ hoàn toàn vào các tiêu chí trên thế giới vì đặc điểm tình hình dân tộc ở nước ta có nhiều khác biệt. Các tộc người nước ta có lịch sử cư trú khác nhau, vừa là cư dân tại chỗ, vừa thiên di đến vào các thời điểm khác nhau; các tộc người không có lãnh thổ tộc người riêng mà cư trú xen kẽ từ hàng nghìn năm nay; hầu hết các tộc người đều dựa trên nền tảng cơ sở kinh tế nông nghiệp trồng lúa miền nhiệt đới gió mùa với nhiều đặc điểm tương tự nhau... Nên, có những tiêu chí xác định tộc người được áp dụng phổ biến trên thế giới như: nguồn gốc, tâm lý, lãnh thổ, cơ sở kinh tế nhưng lại không phù hợp với thực tiễn dân tộc nước ta.

Thứ Tư, 23 tháng 11, 2016

Các tiêu chí phân định tộc người trên thế giới như thế nào?

Hầu hết các nhà dân tộc học trên thế giới đã thống nhất phân định các tộc người theo 5 tiêu chí sau:
Có chung một ngôn ngữ tộc người. Mỗi một tộc người thường có một ngôn ngữ riêng do họ sáng tạo ra trong lịch sử, gọi là ngôn ngữ tộc người hay tiếng mẹ đẻ. Nó là phương tiện giao tiếp, là đặc trưng quan trọng, dễ nhận biết để phân biệt các tộc người. Qua sử dụng ngôn ngữ, các thành viên phân biệt ra nhau và xác định cá nhân thuộc tộc người nào… Tuy nhiên, thực tế có tộc người từ bỏ ngôn ngữ của mình, sử dụng ngôn ngữ của tộc người khác hoặc một tộc người nhưng sử dụng song ngữ hoặc đa ngữ.
Có chung một lãnh thổ tộc người. Đây là tiêu chí vật chất xác định một tộc người, là điều kiện xuất hiện, gắn bó với tộc người, sau trở thành đặc trưng tộc người quan trọng. Từ chỗ là phương tiện sinh sống, lãnh thổ đã trở thành cơ sở tồn tại, phát triển của tộc người, là không gian sinh tồn thiêng liêng gắn bó với tộc người nên ý thức về lãnh thổ tộc người ngày càng sâu sắc. Khi xã hội có giai cấp, lãnh thổ tộc người nằm trong lãnh thổ quốc gia hoặc trở thành lãnh thổ quốc gia; có trường hợp lãnh thổ tộc người trải rộng ở nhiều nước. Lãnh thổ tộc người là một phạm trù lịch sử, có sự biến động về mở rộng hay thu hẹp do yếu tố lịch sử xã hội - tự nhiên tạo nên.
Có cơ sở kinh kế tộc người. Do cùng sinh sống trên một khu vực lãnh thổ đã hình thành nên cách ứng xử giống nhau trong sinh hoạt kinh tế, tạo ra một cơ sở kinh tế chung của tộc người. Từ đó, hình thành và phát triển các mối liên hệ, quan hệ kinh tế nội bộ tộc người. Mối liên hệ kinh tế là một trong những điều kiện để xuất hiện tộc người (cùng với lãnh thổ), là chất keo cố kết tộc người. Cơ sở kinh tế là đặc trưng, là nguyên nhân, điều kiện cho phát sinh, tồn tại của các loại hình thị tộc - bộ lạc, bộ tộc, dân tộc. Sự thay đổi các mối quan hệ và liên hệ kinh tế tộc người làm thay đổi các hình thái kinh tế - xã hội và ra đời các loại hình cộng đồng tộc người khác nhau.
Có các đặc trưng văn hóa tộc người. Quá trình sinh tồn, ứng xử của con người với tự nhiên và xã hội đã tạo ra các đặc trưng văn hóa riêng của từng tộc người và trở thành bản sắc tộc người. Văn hóa tộc người thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, bao giờ cũng mang cốt cách, bản sắc riêng, phân biệt với văn hóa các tộc người khác. Đặc trưng văn hóa truyền từ đời này sang đời khác tạo sự cố kết tộc người, là yếu tố phân biệt tộc người sâu sắc nhất nên văn hóa là tiêu chí quan trọng nhất để xác định tộc người.

Có ý thức tự giác tộc người. Tổng hòa các yếu tố ngôn ngữ, lãnh thổ, đặc trưng văn hóa, cơ sở kinh tế tộc người tạo thành một hiện tượng xã hội quan trọng gọi là ý thức tự giác tộc người. Đó là ý thức của mỗi thành viên cộng đồng và toàn thể cộng đồng về những đặc trưng của cộng đồng mình khác biệt so với các tộc người khác. Ý thức tự giác tộc người được hình thành lâu dài trong lịch sử tộc người, được cá nhân hấp thụ từ thuở nhỏ trong môi trường tộc người, gia đình, nhà trường, xã hội. Nó đóng vai trò quan trọng trong xác định thành phần tộc người của con người. Mất ý thức tự giác tộc người thì tộc người không còn tồn tại, cá nhân không còn bao hàm ở tộc người.