Hiển thị các bài đăng có nhãn tiêu chí. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tiêu chí. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 27 tháng 11, 2023

TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LÀ GÌ?

 

Trước năm 1996, Việt Nam phân loại vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo đơn vị hành chính là miền núi, vùng cao. Theo đó, các xã miền núi là xã có 2/3 diện tích đất đai tự nhiên có độ cao 600m trở lên so với mực nước biển. Huyện miền núi là huyện có 2/3 số xã là miền núi. Xã vùng cao là xã có 2/3 diện tích đất đai tự nhiên có độ cao 600m trở lên so với mặt biển. Huyện vùng cao là huyện có 2/3 số xã là vùng cao. Và đa số các xã, huyện, tỉnh miền núi đều có đông đông bào dân tộc thiểu số sinh sống, nên đây cũng là vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Từ năm 2011, Chính phủ xác định: “Vùng dân tộc thiểu số là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”[1].

Hiện nay, việc phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi được căn cứ  vào số lượng hộ gia đình người dân tộc thiểu số sinh sống ổn định thành cộng đồng trên một đơn vị hành chính cụ thể (tỉnh, huyện, xã, thôn) để xác định: “Các xã, phường, thị trấn có tỷ lệ số hộ dân tộc thiểu số trong tổng số hộ dân sinh sống ổn định thành cộng đồng từ 15% trở lên. Các thôn, bản, làng, phum, sóc, xóm, ấp, khu dân cư, tổ dân phố và tương đương (sau đây gọi chung là thôn) có tỷ lệ số hộ dân tộc thiểu số trong tổng số hộ dân sinh sống ổn định thành cộng đồng từ 15% trở lên.”[2]. Theo tiêu chí trên, hiện nay cả nước, có 5.468 xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi, chiếm 49,0% tổng số xã của toàn quốc; phân bố chủ yếu ở khu vực nông thôn (87,3%), thuộc phạm vi quản lý của 503/713 huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, 54/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương[3].

Việc phân vùng dân tộc thiểu số  và miền núi theo trình độ phát triển là cơ sở quan trọng để các cấp, các ngành xác định chính xác, cụ thể đối tượng, phạm vi thụ hưởng các chính sách dân tộc, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc, công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.



[1] Chính phủ (2011), Nghị định số 05/2011/NĐ-CP, ngày 05 tháng 11 năm 2011 về công tác dân tộc

[2] Quyết định Số: 33/2020/QĐ-TTg  ngày 12 tháng 11 năm 2020 về tiêu chí phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025 xác định

[3] Ủy ban Dân tộc - Tổng cục Thống kê (2019), Kết quả điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội 53 dân tộc thiểu số năm 2019, Nxb Thống Kê, Hà Nội, tr.37.

Thứ Sáu, 11 tháng 2, 2022

BAN HÀNH BỘ TIÊU CHÍ ỨNG XỬ TRONG GIA ĐÌNH

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa có quyết định ban hành bộ Tiêu chí ứng xử trong gia đình. Trong đó, các tiêu chí ứng xử chung trong gia đình Việt Nam là tôn trọng, bình đẳng, yêu thương và chia sẻ.

Theo đó, bộ Tiêu chí ứng xử trong gia đình xác định và từng bước đưa vào cuộc sống các chuẩn mực giá trị đạo đức, văn hóa con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; củng cố ý thức pháp luật, đề cao đạo đức, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân, gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước; ngăn chặn sự xuống cấp về đạo đức trong gia đình và xã hội; nâng cao nhận thức về xây dựng, giữ gìn hạnh phúc bền vững của mỗi gia đình, khơi gợi tình yêu thương, chia sẻ trách nhiệm giữa các thành viên gia đình trong xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh, làm nền tảng xây dựng cộng đồng hạnh phúc, quốc gia phồn thịnh, hạnh phúc.

Bộ tiêu chí này được phổ biến và áp dụng với mọi gia đình và các thành viên gia đình Việt Nam. Cụ thể, tiêu chí ứng xử chung trong gia đình là tôn trọng, bình đẳng, yêu thương và chia sẻ. Trong đó, thực hiện nguyên tắc “Tôn trọng”, các thành viên trong gia đình cần đánh giá đúng mực, coi trọng danh dự, phẩm giá, quan điểm, sự lựa chọn và lợi ích của nhau; tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau. Thực hiện nguyên tắc “Bình đẳng”, các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó. Thực hiện các nguyên tắc “Yêu thương” và “Chia sẻ”, các thành viên trong gia đình cần có tình cảm gắn bó, quan tâm chăm sóc nhau, cùng nhau vun đắp tình cảm, chia sẻ vui buồn, giúp đỡ nhau lúc khó khăn, hoạn nạn.

Các thành viên thuộc nhóm vợ chồng; ông bà, cha mẹ và con, cháu; anh, chị, em trong gia đình ngoài thực hiện tiêu chí ứng xử chung, có trách nhiệm thực hiện các tiêu chí cụ thể được quy định tại bộ tiêu chí này.

Tiêu chí ứng xử của vợ, chồng là chung thủy, nghĩa tình.

Tiêu chí ứng xử của cha mẹ với con, ông bà với cháu là gương mẫu, yêu thương.

Tiêu chí ứng xử của con với cha mẹ, cháu với ông bà là hiếu thảo, lễ phép.

Tiêu chí ứng xử của anh, chị, em trong gia đình là hòa thuận, chia sẻ.

Thứ Tư, 19 tháng 5, 2021

KIÊN QUYẾT KHÔNG BẦU NHỮNG NGƯỜI KHÔNG ĐỦ TIÊU CHUẨN VÀO QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP

Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Hội đồng nhân dân (HĐND) quyết định các vấn đề của địa phương do luật định, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND. Công dân nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND các cấp. Quyền bầu cử và ứng cử là của công dân, là quyền được hiến định và việc thực hiện các quyền này phải theo quy định của pháp luật. 

Do vị trí đặc biệt quan trọng của Quốc hội và HĐND nên những người tham gia ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND các cấp phải đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định theo quy định của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Trong đó, các tiêu chuẩn cơ bản đối với ứng viên là: Trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác; có trình độ văn hóa, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ ĐBQH; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm...

Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20-6-2020 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử ĐBQH khóa XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đã yêu cầu: “Kiên quyết không giới thiệu ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND các cấp những người không xứng đáng, không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người sa sút về phẩm chất đạo đức, tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, xu nịnh, kiêu ngạo, quan liêu, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, Nhà nước”.

Thứ Ba, 4 tháng 2, 2020

BÀN VỀ TIÊU CHÍ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO


Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam bước vào một môi trường rộng mở hơn, đã gia nhập nhiều tổ chức quốc tế. Ở môi trường rộng lớn này, con người Việt Nam có thể phát triển nhanh hơn trước. Sau hơn 30 năm tiến hành đổi mới, thế và lực của Việt Nam đã mạnh lên nhiều, biểu hiện ở tốc độ tăng trưởng GDP hằng năm, quyết tâm đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển trong lãnh đạo của Đảng; trình độ, tư duy bắt nhịp kịp với tư duy phát triển của thế giới. Để phấn đấu sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu. Do vậy, xác định những tiêu chí của nguồn lực chất lượng cáo có ý nghĩa quan trọng. Nguồn nhân lực chất lượng cao thì mỗi người lao động phải bảo đảm các yêu cầu cơ bản sau: (1) Có sức khỏe thể lực, sự dẻo dai và tâm lý tốt; (2) Trình độ về mọi mặt phải luôn luôn được nâng cao; (3) Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ luôn luôn được bảo đảm để hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ của mình; (4) Có văn hóa nghề nghiệp; (5) Có khả năng sáng tạo cao; (6) Có khả năng thích ứng với tình trạng nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng khan hiếm và sự sụt giảm các nguồn đầu tư tài chính; (7) Có phẩm chất đạo đức tốt.

Thứ Hai, 6 tháng 11, 2017

Các tiêu chí để phân định tộc người ở nước ta là gì?

Việc xác định thành phần tộc người ở nước ta được coi là một nhiệm vụ quan trọng của ngành dân tộc học dưới chế độ mới trong những thập kỷ 60, 70 của thế kỷ XX.
Các nhà dân tộc học Việt Nam, có sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô (cũ) đã tham khảo các tiêu chí phân định tộc người trên thế giới nhưng tính đến đặc thù điều kiện lịch sử - xã hội và đặc điểm tình hình dân tộc ở nước ta để xây dựng các tiêu chí. Năm 1973 tại Hà Nội, 2 cuộc hội thảo khoa học lớn (tháng 6 và 11) đã thống nhất lấy dân tộc (nghĩa tộc người - ethnic) làm đơn vị cơ bản trong xác định thành phần tộc người ở Việt Nam.
Sau nhiều lần trao đổi bằng các hội thảo khoa học, các nhà khoa học đã thống nhất đưa ra 3 tiêu chí xác định thành phần tộc người ở Việt Nam gồm:
1) Sự cộng đồng về ngôn ngữ.
2) Có các đặc điểm chung về sinh hoạt - văn hóa.
3) Có ý thức tự giác tộc người.
Từ các tiêu chí này, ngày 02 tháng 3 năm 1979, Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chính thức công bố danh mục 54 tộc người (và các nhóm địa phương) hay còn gọi là dân tộc hoặc thành phần dân tộc, sắp xếp theo thứ tự số lượng dân cư.

Sở dĩ, chúng ta không căn cứ hoàn toàn vào các tiêu chí trên thế giới vì đặc điểm tình hình dân tộc ở nước ta có nhiều khác biệt. Các tộc người nước ta có lịch sử cư trú khác nhau, vừa là cư dân tại chỗ, vừa thiên di đến vào các thời điểm khác nhau; các tộc người không có lãnh thổ tộc người riêng mà cư trú xen kẽ từ hàng nghìn năm nay; hầu hết các tộc người đều dựa trên nền tảng cơ sở kinh tế nông nghiệp trồng lúa miền nhiệt đới gió mùa với nhiều đặc điểm tương tự nhau... Nên, có những tiêu chí xác định tộc người được áp dụng phổ biến trên thế giới như: nguồn gốc, tâm lý, lãnh thổ, cơ sở kinh tế nhưng lại không phù hợp với thực tiễn dân tộc nước ta.

Thứ Năm, 27 tháng 4, 2017

Vì sao phải xây dựng các tiêu chí đánh giá bình đẳng giới trong quản lý cán bộ, công chức?

Việc xây dựng các tiêu chí đánh giá bình đẳng giới trong quản lý cán bộ, công chức là cấp thiết, xuất phát từ một số lý do cơ bản sau: 
Một là, tiêu chí là cơ sở để đánh giá hiện trạng bình đẳng giới trong quản lý cán bộ, công chức, từ đó chỉ ra những điểm chưa hợp lý từ góc độ bình đẳng giới trong quản lý cán bộ, công chức. Tiêu chí đánh giá có vai trò như thước đo về bình đẳng giới trên các phương diện về xây dựng chính sách, pháp luật, tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá và kết quả thực hiện chính sách, pháp luật về bình đẳng giới. 
Hai là, tiêu chí đánh giá là định hướng để bảo đảm công bằng và nâng cao bình đẳng giới trong quản lý cán bộ, công chức. Nếu có tiêu chí đánh giá xác đáng sẽ bảo đảm công bằng, bảo đảm tính đại diện về giới trong hoạt động công vụ, thể hiện như sau: 
Bảo đảm sự công bằng trong hoạt động công vụ: Phụ nữ và nam giới đều có những lợi thế, những mặt mạnh riêng, vì vậy, giới không thể là rào cản trong việc gia nhập và phục vụ nền công vụ của mỗi cá nhân. Ở mỗi quốc gia, vấn đề bảo đảm sự tham gia của nữ giới vào hoạt động công vụ đều được chú ý và có những biện pháp để tăng tỷ lệ nữ giới gia nhập nền công vụ, tham gia vào các hoạt động quản lý nhà nước. 
Bảo đảm tính đại diện của mỗi giới trong hoạt động công vụ: Mỗi chính sách đều có những tác động khác nhau đối với nam và nữ, xuất phát từ sự khác biệt giữa nam và nữ về trách nhiệm gia đình, hình thức công việc đảm nhận trong thị trường lao động, khả năng tiếp cận các nguồn lực cơ bản, như nguồn vốn, tài sản và tín dụng. Đặc biệt, đối với các cơ quan hành chính nhà nước, công chức còn phải chịu trách nhiệm trước người dân, đại diện và phục vụ cho lợi ích của nhân dân.

Bảo đảm tính hình mẫu và định hướng xã hội của hoạt động công vụ: Công vụ là hình ảnh của Nhà nước trước cộng đồng xã hội. Thực tiễn sử dụng lao động của Chính phủ sẽ là chuẩn mực cho các cơ quan khác. Sự cân bằng giữa nam và nữ trong các cơ quan hành chính nhà nước sẽ là một mô hình mẫu, định hướng giá trị cho các cơ quan, tổ chức khác trong xã hội.

Thứ Sáu, 14 tháng 4, 2017

Các tiêu chí để phân định tộc người ở Việt Nam

Việc xác định thành phần tộc người ở nước ta được coi là một nhiệm vụ quan trọng của ngành dân tộc học dưới chế độ mới trong những thập kỷ 60, 70 của thế kỷ XX.
Các nhà dân tộc học Việt Nam, có sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô (cũ) đã tham khảo các tiêu chí phân định tộc người trên thế giới nhưng tính đến đặc thù điều kiện lịch sử - xã hội và đặc điểm tình hình dân tộc ở nước ta để xây dựng các tiêu chí. Năm 1973 tại Hà Nội, 2 cuộc hội thảo khoa học lớn (tháng 6 và 11) đã thống nhất lấy dân tộc (nghĩa tộc người - ethnic) làm đơn vị cơ bản trong xác định thành phần tộc người ở Việt Nam.
Sau nhiều lần trao đổi bằng các hội thảo khoa học, các nhà khoa học đã thống nhất đưa ra 3 tiêu chí xác định thành phần tộc người ở Việt Nam gồm:
1) Sự cộng đồng về ngôn ngữ.
2) Có các đặc điểm chung về sinh hoạt - văn hóa.
3) Có ý thức tự giác tộc người.
Từ các tiêu chí này, ngày 02 tháng 3 năm 1979, Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chính thức công bố danh mục 54 tộc người (và các nhóm địa phương) hay còn gọi là dân tộc hoặc thành phần dân tộc, sắp xếp theo thứ tự số lượng dân cư.

Sở dĩ, chúng ta không căn cứ hoàn toàn vào các tiêu chí trên thế giới vì đặc điểm tình hình dân tộc ở nước ta có nhiều khác biệt. Các tộc người nước ta có lịch sử cư trú khác nhau, vừa là cư dân tại chỗ, vừa thiên di đến vào các thời điểm khác nhau; các tộc người không có lãnh thổ tộc người riêng mà cư trú xen kẽ từ hàng nghìn năm nay; hầu hết các tộc người đều dựa trên nền tảng cơ sở kinh tế nông nghiệp trồng lúa miền nhiệt đới gió mùa với nhiều đặc điểm tương tự nhau... Nên, có những tiêu chí xác định tộc người được áp dụng phổ biến trên thế giới như: nguồn gốc, tâm lý, lãnh thổ, cơ sở kinh tế nhưng lại không phù hợp với thực tiễn dân tộc nước ta.

Thứ Năm, 30 tháng 3, 2017

Các tiêu chí để phân loại chủng tộc trên thế giới hiện nay?

12 tiêu chí phân loại các chủng tộc trên thế giới như sau:
Dựa vào màu sắc của da, mắt, tóc được chia ra làm 3 màu cơ bản là: màu tối, màu trung gian và màu sáng. Ví dụ: Da có ba màu: đen, nâu sẫm; hơi nâu, vàng; da trắng.
Hình dạng tóc, có 3 dạng tóc: xoăn, sóng và thẳng.
Số lượng lớp lông lần 3 trên cơ thể ở người trưởng thành.
Hình dạng khuôn mặt, được chia ra làm ba loại: mặt rộng, mặt hẹp và trung bình.
Kích thước của đu và hộp sọ, có các chuẩn đầu loài người: dài; trung bình, tròn, quá ngắn. Ví dụ: Thổ dân Úc, người Phi thuộc loại đầu dài, người Đông Nam Á hải đảo thuộc loại đầu trung bình, người Việt thuộc loại đầu tròn.
Hình dạng mắt - sự phát triển của nếp mí mắt có 4 chuẩn số: không có nếp, ít phát triển, phát triển trung bình, phát triển nhiều.
Hình dạng mũi, có 3 dạng mũi theo các thông số: cao, hẹp; trung bình; bẹt, rộng. Hình dạng mũi chủ yếu do xương sống mũi và sụn quy định tạo ra mũi cao hay thấp, sống mũi thẳng khoằm hay lõm, rộng hay hẹp.
Căn cứ vào độ dày của môi, được chia ra làm 3 loại: dày, trung bình, mỏng. Đồ dày môi được tính khi ngậm miệng lại và môi dưới luôn dày hơn.
Tầm vóc và kích thước của thân thể, được xác định có các loại: lùn, rất thấp, thấp, trung bình thấp, trung bình, cao, rất cao, khổng lồ. Chiều cao là đặc điểm phân loại chủng tộc tương đối điển hình.
Tỷ lệ thân hình - cách tính phổ biến là dựa vào kích thước giữa xương chi và chiều ngang của vai so với chiều dài toàn thân. Theo đo đạc nhân trắc học, loài người có 3 loại thân hình: ngắn, trung bình và dài.
Hình thái răng, ở các chủng tộc có sự khác nhau. Chủng tộc Môngôlôit và Ôtxtralôit, số người có răng cửa hình lưỡi xẻng chiếm tới hơn 60% (dân gian gọi là răng bàn cuốc). Chủng tộc Nêgrôit và Ơrôpôit, răng hàm trên có núm phụ rất phổ biến.
Hình dạng vân tay, có 3 dạng: xoáy, móc và vòng cung.

Ngoài các tiêu chí cơ bản trên, người ta còn căn cứ vào một số đặc điểm khác để phân loại chủng tộc như: dáng cằm, kích thước miệng, mức độ phát triển của lông mày, vành tai, nhóm máu...

Thứ Tư, 22 tháng 3, 2017

Các tiêu chí để phân loại chủng tộc trên thế giới hiện nay

12 tiêu chí phân loại các chủng tộc trên thế giới như sau:
Dựa vào màu sắc của da, mắt, tóc được chia ra làm 3 màu cơ bản là: màu tối, màu trung gian và màu sáng. Ví dụ: Da có ba màu: đen, nâu sẫm; hơi nâu, vàng; da trắng.
Hình dạng tóc, có 3 dạng tóc: xoăn, sóng và thẳng.
Số lượng lớp lông lần 3 trên cơ thể ở người trưởng thành.
Hình dạng khuôn mặt, được chia ra làm ba loại: mặt rộng, mặt hẹp và trung bình.
Kích thước của đu và hộp sọ, có các chuẩn đầu loài người: dài; trung bình, tròn, quá ngắn. Ví dụ: Thổ dân Úc, người Phi thuộc loại đầu dài, người Đông Nam Á hải đảo thuộc loại đầu trung bình, người Việt thuộc loại đầu tròn.
Hình dạng mắt - sự phát triển của nếp mí mắt có 4 chuẩn số: không có nếp, ít phát triển, phát triển trung bình, phát triển nhiều.
Hình dạng mũi, có 3 dạng mũi theo các thông số: cao, hẹp; trung bình; bẹt, rộng. Hình dạng mũi chủ yếu do xương sống mũi và sụn quy định tạo ra mũi cao hay thấp, sống mũi thẳng khoằm hay lõm, rộng hay hẹp.
Căn cứ vào độ dày của môi, được chia ra làm 3 loại: dày, trung bình, mỏng. Đồ dày môi được tính khi ngậm miệng lại và môi dưới luôn dày hơn.
Tầm vóc và kích thước của thân thể, được xác định có các loại: lùn, rất thấp, thấp, trung bình thấp, trung bình, cao, rất cao, khổng lồ. Chiều cao là đặc điểm phân loại chủng tộc tương đối điển hình.
Tỷ lệ thân hình - cách tính phổ biến là dựa vào kích thước giữa xương chi và chiều ngang của vai so với chiều dài toàn thân. Theo đo đạc nhân trắc học, loài người có 3 loại thân hình: ngắn, trung bình và dài.
Hình thái răng, ở các chủng tộc có sự khác nhau. Chủng tộc Môngôlôit và Ôtxtralôit, số người có răng cửa hình lưỡi xẻng chiếm tới hơn 60% (dân gian gọi là răng bàn cuốc). Chủng tộc Nêgrôit và Ơrôpôit, răng hàm trên có núm phụ rất phổ biến.
Hình dạng vân tay, có 3 dạng: xoáy, móc và vòng cung.

Ngoài các tiêu chí cơ bản trên, người ta còn căn cứ vào một số đặc điểm khác để phân loại chủng tộc như: dáng cằm, kích thước miệng, mức độ phát triển của lông mày, vành tai, nhóm máu...

Thứ Tư, 23 tháng 11, 2016

Các tiêu chí phân định tộc người trên thế giới như thế nào?

Hầu hết các nhà dân tộc học trên thế giới đã thống nhất phân định các tộc người theo 5 tiêu chí sau:
Có chung một ngôn ngữ tộc người. Mỗi một tộc người thường có một ngôn ngữ riêng do họ sáng tạo ra trong lịch sử, gọi là ngôn ngữ tộc người hay tiếng mẹ đẻ. Nó là phương tiện giao tiếp, là đặc trưng quan trọng, dễ nhận biết để phân biệt các tộc người. Qua sử dụng ngôn ngữ, các thành viên phân biệt ra nhau và xác định cá nhân thuộc tộc người nào… Tuy nhiên, thực tế có tộc người từ bỏ ngôn ngữ của mình, sử dụng ngôn ngữ của tộc người khác hoặc một tộc người nhưng sử dụng song ngữ hoặc đa ngữ.
Có chung một lãnh thổ tộc người. Đây là tiêu chí vật chất xác định một tộc người, là điều kiện xuất hiện, gắn bó với tộc người, sau trở thành đặc trưng tộc người quan trọng. Từ chỗ là phương tiện sinh sống, lãnh thổ đã trở thành cơ sở tồn tại, phát triển của tộc người, là không gian sinh tồn thiêng liêng gắn bó với tộc người nên ý thức về lãnh thổ tộc người ngày càng sâu sắc. Khi xã hội có giai cấp, lãnh thổ tộc người nằm trong lãnh thổ quốc gia hoặc trở thành lãnh thổ quốc gia; có trường hợp lãnh thổ tộc người trải rộng ở nhiều nước. Lãnh thổ tộc người là một phạm trù lịch sử, có sự biến động về mở rộng hay thu hẹp do yếu tố lịch sử xã hội - tự nhiên tạo nên.
Có cơ sở kinh kế tộc người. Do cùng sinh sống trên một khu vực lãnh thổ đã hình thành nên cách ứng xử giống nhau trong sinh hoạt kinh tế, tạo ra một cơ sở kinh tế chung của tộc người. Từ đó, hình thành và phát triển các mối liên hệ, quan hệ kinh tế nội bộ tộc người. Mối liên hệ kinh tế là một trong những điều kiện để xuất hiện tộc người (cùng với lãnh thổ), là chất keo cố kết tộc người. Cơ sở kinh tế là đặc trưng, là nguyên nhân, điều kiện cho phát sinh, tồn tại của các loại hình thị tộc - bộ lạc, bộ tộc, dân tộc. Sự thay đổi các mối quan hệ và liên hệ kinh tế tộc người làm thay đổi các hình thái kinh tế - xã hội và ra đời các loại hình cộng đồng tộc người khác nhau.
Có các đặc trưng văn hóa tộc người. Quá trình sinh tồn, ứng xử của con người với tự nhiên và xã hội đã tạo ra các đặc trưng văn hóa riêng của từng tộc người và trở thành bản sắc tộc người. Văn hóa tộc người thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, bao giờ cũng mang cốt cách, bản sắc riêng, phân biệt với văn hóa các tộc người khác. Đặc trưng văn hóa truyền từ đời này sang đời khác tạo sự cố kết tộc người, là yếu tố phân biệt tộc người sâu sắc nhất nên văn hóa là tiêu chí quan trọng nhất để xác định tộc người.

Có ý thức tự giác tộc người. Tổng hòa các yếu tố ngôn ngữ, lãnh thổ, đặc trưng văn hóa, cơ sở kinh tế tộc người tạo thành một hiện tượng xã hội quan trọng gọi là ý thức tự giác tộc người. Đó là ý thức của mỗi thành viên cộng đồng và toàn thể cộng đồng về những đặc trưng của cộng đồng mình khác biệt so với các tộc người khác. Ý thức tự giác tộc người được hình thành lâu dài trong lịch sử tộc người, được cá nhân hấp thụ từ thuở nhỏ trong môi trường tộc người, gia đình, nhà trường, xã hội. Nó đóng vai trò quan trọng trong xác định thành phần tộc người của con người. Mất ý thức tự giác tộc người thì tộc người không còn tồn tại, cá nhân không còn bao hàm ở tộc người. 

Tộc người là gì?

Tộc người (Ethnic) là một cộng đồng người hình thành và phát triển trong lịch sử, trên một lãnh thổ nhất định, có đặc trưng chung ổn định về ngôn ngữ,  đặc điểm sinh hoạt văn hoá văn hóa, có mối quan hệ nguồn gốc, có chung ý thức tự giác tộc người và tên tự gọi. Ví dụ: tộc người Thái, Tày, Ê-đê…
Tộc người là một phạm trù lịch sử. Nó ra đời là kết quả lâu dài của quá trình lịch sử, xã hội và tự nhiên. Khi quá trình hình thành loài người kết thúc, con người bước vào xã hội loài người, cộng đồng người đầu tiên đã là những cộng đồng tộc người (thị tộc) xuất hiện vào thời đại cộng sản nguyên thủy cách đây khoảng 4-5 vạn năm. Trong tiến trình lịch sử loài người, các tộc người đã hình thành và phát triển trên những vùng lãnh thổ khác nhau ở khắp năm châu. Nhưng do những nguyên nhân tự nhiên và xã hội nhất định đã có không ít tộc người bị tiêu vong. Ở các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, sự tác động của các nhân tố kinh tế, xã hội đã hình thành nên các hình thức cộng đồng tộc người khác nhau.
Thông thường, mỗi tộc người bao giờ cũng cư trú trên một khu vực địa lý nhất định gọi là lãnh thổ tộc người. Tộc người sử dụng một ngôn ngữ riêng, khác so với ngôn ngữ của các tộc người khác. Trong quá trình tộc người, các thế hệ đã tạo dựng nên các đặc trưng văn hóa chung mang tính ổn định tạo thành bản sắc văn hóa tộc người. Vì thế, tộc người có tính bền vững, có sự thống nhất và mối liên hệ chặt chẽ bên trong nội bộ tộc người, có bản sắc riêng để phân biệt với các tộc người khác.
Tộc người luôn có mối quan hệ nguồn gốc trên hai phương diện: 1) Về sinh học - có chung quan hệ huyết thống, dòng tộc, nhân chủng; 2) Truyền thống lịch sử - có chung ký ức, truyền thống lịch sử trên các lĩnh vực đời sống xã hội đã trải qua, biểu hiện ở các câu chuyện cổ tích, thần thoại và các cứ liệu lịch sử truyền miệng hoặc biên soạn thành văn.

Mỗi tộc người bao giờ cũng tự ý thức về sự thống nhất tộc người của mình, khác biệt so với các tộc người khác trên các yếu tố lãnh thổ cư trú, ngôn ngữ, nguồn gốc, đặc trưng văn hóa và tên gọi tộc người riêng.