Hiển thị các bài đăng có nhãn tộc người. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tộc người. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 27 tháng 11, 2023

Ở VIỆT NAM, THUẬT NGỮ DÂN TỘC ĐƯỢC HIỂU NHƯ THẾ NÀO?

Thuật ngữ dân tộc chủ yếu được sử dụng với hai nghĩa:

Thứ nhất, thuật ngữ dân tộc dùng để chỉ cộng đồng tộc người (ethnic, ethnie) hình thành và phát triển trong lịch sử, trên một lãnh thổ nhất định, có chung nguồn gốc nhân chủng, ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác tộc người thông qua tự nhận tên gọi của dân tộc mình. Ví như dân tộc Thái, dân tộc Chăm, dân tộc Cơ Tu,v.v.  Mỗi dân tộc có thể bao gồm nhiều nhóm địa phương có tên gọi khác nhau, nhưng có đặc điểm về ngôn ngữ, văn hóa gần gũi nhau, như dân tộc Chứt có các nhóm: Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng.

Theo nghĩa này, dân tộc - tộc người được nhận biết qua các đặc trưng: chung nguồn gốc nhân chủng; chung phương thức sinh hoạt kinh tế; chung ngôn ngữ  (thường là tiếng mẹ đẻ); chung bản sắc văn hoá; chung một ý thức tự giác dân tộc, biểu hiện cao nhất là tự nhận tên gọi của dân tộc mình. Tuy nhiên, trong thực tế có dân tộc không có đủ các yếu tố trên, do vậy, ý thức tự giác tộc người là căn cứ cuối cùng để xác định dân tộc. Trong cuốn sách này, thuật ngữ dân tộc chủ yếu được hiểu theo nghĩa tộc người.

Thứ hai, thuật ngữ dân tộc dùng để chỉ một cộng đồng người cùng sinh sống trong một quốc gia (Nation),  có chung một nhà nước, lãnh thổ, nền kinh tế, chế độ chính trị, có ngôn ngữ và văn hóa thống nhất. Ví như: dân tộc Trung Hoa, dân tộc Việt Nam... Theo nghĩa này, dân tộc có các đặc trưng: Có một lãnh thổ chung; có một nền kinh tế chung; có một ngôn ngữ giao tiếp chung trong dân tộc quốc gia - quốc ngữ, thường là ngôn ngữ của dân tộc đa số; có tâm lý văn hóa chung; có một thể chế chính trị với một nhà nước thống nhất. Trong các đặc trưng đó, đặc trưng cộng đồng kinh tế, chính trị - xã hội quan trọng nhất, đặc trưng văn hoá tạo nên bản sắc dân tộc. 

Thứ Năm, 14 tháng 2, 2019

CÁC HÌNH THỨC TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN CỦA TỘC NGƯỜI VIỆT

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, dòng họ. Người Việt tin rằng, tổ tiên  ông bà, tuy đã chết nhưng vẫn "sống" ở thế giới bên kia, vẫn “quan tâm” đến con cháu hiện tại, con cháu phải thờ cúng để cầu và mong sự phù hộ độ trì
Tín ngưỡng thờ các anh hùng dân tộc. Người Việt có văn hóa “uống nước nhớ nguồn”, tri ân những người có công với làng, nước và “nâng” họ lên thành các lực lượng siêu nhiên để thờ cúng, mong sự giúp đỡ.
Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt rất phong phú như: Mẫu tam phủ (Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải), tứ phủ (Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải và Mẫu Liễu Hạnh cai quản Nhân phủ). Người Việt còn “nữ hóa” các vị thần trong các tôn giáo, kết hợp thờ cô, thờ mẫu trong các điện thần của các tôn giáo khác.
Tín ngưỡng nghề nghiệp. Người Việt chủ yếu sản xuất nông nghiệp nên thực hành các tín ngưỡng, lễ nghi gắn với sản xuất nông nghiệp: tín ngưỡng phồn thực, tôn thờ cây lúa, thần lúa, Tết cơm mới… để mong sinh sôi nảy nở “của nhiều, vật thịnh”.
Tín ngưỡng tổ nghề. Người Việt luôn tri ân, tôn thờ những người có công lập nghề, truyền nghề thủ công, ca kỹ, nghệ thuật cho dân làng, dân làng đều lập đền thờ, thực hiện các lễ nghi tôn thờ các vị tổ đó. Những người Việt buôn bán thường thờ thần Tài.
Tín ngưỡng ngư nghiệp, người Việt thờ thần Cá Ông, Tứ vị Thánh Nương, thờ Cô bác… Đi dọc ven biển Việt Nam ta gặp nhiều đền thờ cá Ông, nghĩa địa cá Ông… được chăm nom như nghĩa địa của tổ tiên, ông bà.
Tín ngưỡng theo nghi lễ vòng đời của con người như: Người Việt thờ Bà Mụ, lễ đầy tháng, lễ thành đinh, lễ thờ ông tơ, bà nguyệt, mừng thọ, lên lão, thờ bản mệnh, tang ma… khá cẩn trọng. 
Sống trong thế giới tự nhiên đầy bất trắc, người Việt cũng có hệ thống tín ngưỡng tôn thờ các hiện tượng tự nhiên: thờ đá, thờ cây, thờ lửa, thờ nước, thờ mây, mưa, sấm chớp (tứ pháp) khá phong phú, theo tư tưởng vạn vật hữu linh, “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”. Người Việt còn tin, thực hành các hình thức ma thuật, phù thủy, bùa phép, bói toán.

Thứ Tư, 7 tháng 3, 2018

Những vấn đề dân tộc mới nảy sinh ở Việt Nam hiện nay

Vấn đề dân tộc là những việc cần phải giải quyết trong quan hệ giữa các tộc người ở một quốc gia và giữa các quốc gia dân tộc với nhau trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… nhằm thực hiện mục tiêu các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển.
Hiện nay, ở nước ta xuất hiện những vấn đề dân tộc mới, đó là:
Vấn đề đói nghèo và chênh lệch giàu nghèo giữa miền núi và miền xuôi, giữa các dân tộc thiểu số. Công tác giảm nghèo của nước ta đạt được thành tựu quan trọng, song người nghèo chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số. Khoảng cách giàu nghèo, chênh lệch thu nhập, mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng tăng so với mức bình quân của cả nước. Mặc dù chiếm 14% số dân nhưng hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo chiếm tỷ lệ lớn trong tổng hộ nghèo của cả nước, cao gấp 3,44 lần so với tỷ lệ nghèo chung và gấp gần 6 lần tỷ lệ nghèo của dân tộc Kinh. Thu nhập bình quân/người ở các xã đồng bào dân tộc thiểu số chỉ bằng 1/6 thu nhập bình quân/người của cả nước. Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo bình quân ở các xã đặc biệt khó khăn có đông đồng bào dân tộc thiểu sổ sinh sống là trên 45%.  Điều đó ảnh hưởng đến quan hệ giữa các dân tộc, tiềm ẩn những bất ổn định xã hội, quốc phòng, an ninh.
Vấn đề thiếu đất sản xuất ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đến nay, còn 326.909 hộ đồng bào thiếu đất, trong đó số cần hỗ trợ đất sản xuất là 293.934 hộ, số thiếu đất ở là 32.9745 hộ; cứ 5 hộ thì có 1 hộ thiếu hoặc không có đất sản xuất. Thiếu đất đã và đang là một trong các vấn đề bức xúc nhất ở vùng dân tộc thiểu số; là nguồn gốc tạo ra khoảng cách thu nhập, phân hóa giàu nghèo giữa các dân tộc, gia tăng mâu thuẫn giữa các dân tộc.
Tình trạng mai một văn hóa truyền thống. Trang phục truyền thống, nhà sàn, nhà dài, nhiều giá trị văn hóa phi vật thể đặc sắc, tiêu biểu như sử thi, âm nhạc cồng chiêng, lễ bỏ mả, dân ca, dân vũ của các dân tộc... đang mai một. Ngôn ngữ của một số dân tộc ít người, nhất là 5 dân tộc dưới 1.000 người (Pu Péo, La Ha, Ơ-đu, Brâu, Rơ-măm) đang mất dần.
Chất lượng nguồn nhân lực các dân thiểu số rất thấp so với cả nước. Tỷ lệ người lao động dân tộc thiểu số chưa qua đào tạo chiếm tới 98,9 %. Đến năm 2013 còn có 5 dân tộc chưa có người học đại học là Brâu, La Hủ, Lự, Ơ-đu, Si La; hơn 30 dân tộc chưa có người được đào tạo ở trình độ sau đại học[4]. Đây là “điểm nghẽn” lớn nhất đối với đồng bào, nhất là với thanh niên dân tộc.
Tỷ lệ cán bộ là người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị thấp, cơ cấu chưa hợp lý, chất lượng yếu đang là vấn đề bất cập lớn. Còn một số dân tộc chưa có đại biểu trong Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp. Tỷ lệ cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số trong bộ máy chính quyền chỉ khoảng 4%, trong khi tỷ lệ dân tộc thiểu số trong cả nước là 14%. Tỷ lệ đảng viên dân tộc thiểu số Đắk Nông chỉ có 4,4%, Gia Lai: 7,3%, Lâm Đồng: 9,8%.
Thành phần dân tộc, nhóm dân tộc và tên gọi dân tộc cần tiếp tục được nghiên cứu, chuẩn định. Gần đây, có hơn 20 nhóm dân tộc ở nhiều địa phương, đại diện một số dân tộc thiểu số đề nghị Nhà nước xác định lại thành phần, tên gọi dân tộc. Đây là một vấn đề mới, phức tạp đặt ra, cần nghiên cứu, điều tra, phân tích thấu đáo để góp phần ổn định chính trị - xã hội vùng dân tộc; là căn cứ quan trọng thực hiện chính sách bình đẳng dân tộc.
Các tệ nạn xã hội ở vùng dân tộc thiểu số gia tăng, gây những hậu quả xấu đến quan hệ cộng đồng địa phương, làng bản và gia đình. Hiện vùng Tây Bắc có số người nghiện ma túy cao gấp 10 lần so với cả nước. Trong 10 tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV/100.000 dân cao nhất năm 2012, có 7 tỉnh thuộc miền núi phía Bắc. Tệ nạn ma túy và HIV đã làm xáo trộn lớn các mối quan hệ gia đình, xã hội vùng dân tộc thiểu số, làm cho tỷ lệ ly hôn, bạo lực gia đình gia tăng.
Thách thức từ hội nhập quốc tế. Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế tạo sợi dây kết nối quan hệ đồng tộc giữa đồng bào các dân tộc trong và ngoài nước được thuận lợi, dễ dàng hơn; đồng thời, nó tạo điều kiện để các thế lực thù địch sẵn sàng tạo cớ, can thiệp vào công việc nội bộ tộc người và quốc gia, hòng gây bất ổn, chia cắt toàn vẹn lãnh thổ và chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đặc điểm của quan hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay

Xuyên suốt chiều dài lịch sử, quan hệ tộc người chủ đạo ở nước ta là cố kết, hòa hợp, giúp nhau cùng phát triển.
Các tộc người không phân biệt ở miền núi hay miền xuôi, đa số hay thiểu số đã gắn bó lâu dài, đồng cam cộng khổ lao động sản xuất và chiến đấu dựng xây và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Trong lịch sử dân tộc không có các cuộc chiến tranh sắc tộc, tôn giáo đẫm máu như nhiều quốc gia trên thế giới. Trái lại, trước những biến cố to lớn của lịch sử như họa xâm lăng, thiên tai khắc nghiệt thì tinh thần yêu nước, đoàn kết đó lại càng được phát huy cao độ. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, truyền thống và sức mạnh đoàn kết dân tộc ngày càng được phát huy, góp phần làm nên những thắng lợi vĩ đại của dân tộc.
Trong công cuộc đổi mới, truyền thống đoàn kết, tôn trọng, hợp tác và hòa hợp giữa các tộc người được nâng lên tầm cao mới. Nhà nước đảm bảo lợi ích và sự phát triển của mỗi tộc người, đồng thời mỗi tộc người là thành viên trong đại gia đình Việt Nam, phấn đấu cho sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc. Hòa hợp giữa các tộc người ngày càng được tăng cường thông qua sự gia tăng các mối quan hệ kinh tế, trao đổi hôn nhân, giao lưu văn hóa, ngôn ngữ.
Tộc người Việt đóng vai trò nòng cốt trong xây dựng đoàn kết dân tộc, phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong truyền bá khoa học - công nghệ, thương mại, dịch vụ ở vùng tộc người thiểu số. Các tộc người thiểu số tăng cường giao lưu, gia tăng hôn nhân hỗn hợp dân tộc.
Cố kết nội bộ tộc người trong nước và với đồng tộc ở nước ngoài ngày càng được mở rộng. Các tộc người tăng cường liên kết hợp tác trong làm ăn, buôn bán, trao đổi hôn nhân, sử dụng tiếng mẹ đẻ, có ý thức cao trong giữ gìn văn hóa, lợi ích truyền thống của tộc người mình cả ở phạm vi trong nước và giao lưu với đồng tộc ngoài nước.
Tuy nhiên, quan hệ dân tộc nước ta còn nảy sinh những vấn đề phức tạp.
 Đó là vấn đề chênh lệch trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các tộc người; tình trạng di dân tự do, tranh chấp về lợi ích giữa các tộc người; vấn đề phức tạp mới nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội; sự phát triển không bình thường của các tôn giáo; thực trạng nguồn nhân lực chất lượng thấp ở các dân tộc thiểu số; các tệ nạn xã hội, ma túy gia tăng; việc vi phạm quyền lợi, bản sắc văn hóa, phong tục tập quán của các tộc người thiểu số có thể gây nên những hậu quả tiêu cực.
Các thế lực thù địch tiếp tục triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng Việt Nam, tạo ra các “điểm nóng” về dân tộc, ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

Thứ Năm, 1 tháng 3, 2018

Nhân tố tác động đến quan hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay

Hiện nay, các nhân tố tác động đến quan hệ tộc người ở Việt Nam là:
Quan điểm, đường lối cách mạng, trực tiếp là quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước tác động mạnh mẽ, toàn diện đến đời sống, quan hệ, sự nỗ lực vươn lên của các tộc người và quốc gia, đến sự vận động, phát triển của các tộc người, quan hệ tộc người. Mặt khác vai trò tích cực, chủ động, nỗ lực vươn lên của các tộc người là hết sức quan trọng, là động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển của các tộc người cũng như quan hệ tộc người.
 Những điều kiện tự nhiên và vấn đề lịch sử - xã hội để lại hoặc mới phát sinh. Lịch sử quan hệ tộc người nước ta chủ yếu là đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, song còn có những va chạm, hiềm khích giữa các tộc người xảy ra đã ảnh hưởng đến quan hệ dân tộc hiện nay. Gần đây, quan hệ giữa các tộc người còn nảy sinh những vấn đề mới đòi hỏi phải giải quyết. Các nhân tố đó đã, đang và sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến mọi mặt đời sống đồng bào thiểu số. Tùy theo chính sách giải quyết của Nhà nước mà các nhân tố đó tác động tích cực, hay tiêu cực đến quan hệ tộc người.
Những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như vấn đề biến đổi, suy thoái môi trường sống, vấn đề di dân, tôn giáo, đất đai hay suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng ở một bộ phận cán bộ, đảng viên... tác động không nhỏ đến đời sống tộc người, quan hệ tộc người hiện nay.
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại và các yếu tố mới của thời đại, xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế có những tác động tích cực và tiêu cực đến sự vận động, phát triển tộc người, quan hệ tộc người. Một mặt, nó tạo điều kiện để các tộc người hội nhập mạnh mẽ trong nước và quốc tế, thúc đẩy và mở rộng quan hệ dân tộc trên mọi lĩnh vực; phát huy tiềm năng và thế mạnh tộc người. Các tộc người nước ta có cơ hội giao lưu, tiếp thu tinh hoa văn hóa, khoa học công nghệ, tri thức... để có thể phát triển nhanh. Mặt khác, nó làm mai một bản sắc tộc người, thâm nhập các yếu tố văn hóa xấu độc, sự tụt hậu trong phát triển do cạnh tranh gay gắt dẫn tới phụ thuộc và lệ thuộc.
Âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc chống phá cách mạng Việt Nam của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ảnh hưởng nhất định đến tộc người, quan hệ tộc người. Chúng luôn tìm cách lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo làm “ngòi nổ” trong chiến lược “diễn biến hòa bình” để chống phá cách mạng nước ta. Chúng xuyên tạc quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước; lợi dụng những khó khăn của đồng bào thiểu số, những hạn chế trong thực hiện chính sách dân tộc của ta để tuyên truyền, kích động phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc. 

Nội dung chủ yếu của quan hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay

Nội dung chủ yếu của quan hệ dân tộc ở nước ta có các vấn đề sau:
Quan hệ lãnh thổ. Các tộc người cư trú xen kẽ, không có lãnh thổ riêng. Các dân tộc thiểu số chủ yếu cư trú trên các vùng rừng núi, biên giới, có vị trí quan trọng về nhiều mặt. Đặc điểm này tạo ra khuynh hướng chủ đạo, xuyên suốt là: đoàn kết - đùm bọc - che chở. Hiện nay, còn những vấn đề đặt ra cần giải quyết liên quan đến lĩnh vực quan hệ lãnh thổ là: di dân, giao đất, giao rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, xâm canh, tranh chấp đất đai…
Quan hệ chính trị. Các tộc người ở Việt Nam đều bình đẳng về chính trị, có quyền làm chủ đất nước, quyền tham gia vào đời sống chính trị trong một quốc gia đa dân tộc. Đồng bào các tộc người, không phân biệt đa số hay thiểu số đều có quyền lợi và nghĩa vụ tham gia xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng phát triển đội ngũ cán bộ các tộc người, chống phân biệt đối xử.
Quan hệ kinh tế. Các tộc người đều có và được tạo cơ hội phát triển sản xuất, kinh doanh nâng cao đời sống. Đảng và Nhà nước nhất quán chủ trương ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng tộc người thiểu số nhằm tạo điều kiện để các tộc người thiểu số phát huy tiềm năng, nguồn lực của mình, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, từng bước khắc phục tình trạng chênh lệch trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các tộc người. Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc miền núi; tập trung phát triển kết cấu hạ tầng, xóa đói giảm nghèo; khai thác tiềm năng thế mạnh, bảo vệ môi trường.
Quan hệ ngôn ngữ. Tiếng Việt là quốc ngữ, phương tiện giao tiếp của tất cả các dân tộc. Tiếng mẹ đẻ của các dân tộc được tôn trọng, khuyến khích phát triển. Các tộc người được tự do sử dụng song ngữ hay đa ngữ. Ngôn ngữ các tộc người thiểu số có sự giao lưu, tiếp thu ngôn ngữ các tộc người trong vùng và tiếng Việt, có sự vay mượn lẫn nhau.
Quan hệ văn hóa. Các tộc người ở Việt Nam có quan hệ văn hóa lâu đời. Sự phát triển văn hóa nói chung và giao lưu văn hóa giữa các tộc người thường xảy ra quá trình đồng hóa tự nhiên, tiếp biến văn hóa lẫn nhau giữa các tộc người, góp phần bồi đắp nên truyền thống văn hóa đa dạng mà thống nhất.
Từ các mối quan hệ cơ bản tộc người, nội dung quan hệ tộc người đã hình thành nên ý thức tộc người ở mỗi tộc người và ý thức quốc gia dân tộc của tất cả các dân tộc ở Việt Nam.

Các mối quan hệ dân tộc cơ bản ở Việt Nam hiện nay

Các mối quan hệ dân tộc cơ bản ở nước ta hiện nay bao gồm:
Mối quan hệ giữa các tộc người với quốc gia dân tộc Việt Nam là quan hệ giữa nhân dân các tộc người với quốc gia dân tộc Việt Nam, được hình thành, phát triển sớm trong quá trình dựng nước và giữ nước. Đây là mối quan hệ lớn, bao trùm các mối quan hệ tộc người. Hiện mối quan hệ này được biểu hiện ở việc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân các tộc người làm chủ trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Thông qua đường lối, chính sách của mình mà Đảng, Nhà nước tác động đến toàn bộ đời sống các tộc người để phát triển các dân tộc. Các tộc người thực hiện các hoạt động xã hội tuân thủ sự lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước. Mức độ đúng đắn của đường lối, chủ trương, chính sách tạo nên sự đồng thuận hay những bất đồng trong mối quan hệ này.
Mối quan hệ giữa tộc người đa số với tộc người thiểu số là một trong những mối quan hệ cơ bản, phổ biến và ngày càng phát triển sâu rộng trên mọi lĩnh vực. Tộc người Kinh luôn đóng vai trò nòng cốt, tập hợp, đoàn kết các tộc người. Các tộc người thiểu số đóng vai trò quan trọng trong khối đại đoàn kết dân tộc. Để tăng cường mối đoàn kết giữa tộc người đa số với tộc người thiểu số, cần thực hiện tốt các nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước là: bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc; đẩy mạnh phát triển bền vững kinh tế - xã hội vùng tộc người thiểu số; khắc phục tư tưởng sôvanh, hẹp hòi, tự ti tộc người, phân biệt dân tộc.
Mối quan hệ giữa các tộc người thiểu số với nhau là một trong những mối quan hệ cơ bản, biểu hiện ở quan hệ láng giềng, cộng cư đan xen giữa các tộc người, giữa bản làng tộc người này với bản làng tộc người khác. Tính tộc người, lợi ích, bản sắc văn hóa của từng tộc người cần được tôn trọng, gìn giữ, phát huy. Các tộc người tăng cường giao lưu, tiếp thu văn hóa của nhau, làm giàu thêm văn hóa của mình trên cơ sở tôn trọng, hiểu biết và hòa hợp, đoàn kết. Tuy vậy, giữa các tộc người thiểu số còn những va chạm nảy sinh, chủ yếu liên quan đến đất đai, lợi ích kinh tế, văn hóa, xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo.
Mối quan hệ nội bộ tộc người ở phạm vi trong quốc gia và xuyên quốc gia. Ở trong nước, quan hệ nội bộ tộc người thể hiện qua các mối quan hệ trong làng bản, dòng họ, gia đình, giữa các nhóm địa phương. Các yếu tố có giá trị cố kết, bảo lưu văn hóa tộc người, duy trì quan hệ nội bộ tộc người là địa vực cư trú, ngôn ngữ, văn hóa, tập quán, tín ngưỡng, lịch sử, quan hệ dòng tộc. Đó là những yếu tố thiêng liêng của tộc người, liên quan đến tình cảm, lợi ích và niềm tin của mỗi tộc người.
Bên cạnh đó, quan hệ nội bộ tộc người còn biểu hiện ở mối quan hệ đồng tộc xuyên quốc gia. Hiện có khoảng 40 tộc người nước ta có người đồng tộc cư trú ở các quốc gia khác. Chẳng hạn, các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Hán - Tạng, Hmông - Dao có nhiều đồng tộc là cư dân ở Trung Quốc và Lào; cư dân nhóm Môn - Khơme với cư dân ở Lào, Campuchia; cư dân nhóm ngôn ngữ Nam Đảo ở Tây Nguyên với cư dân ở Malaixia, Campuchia, Thái Lan, Inđônêxia. Tính đến năm 2013, theo Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài (Bộ Ngoại giao), nước ta có hơn 4,5 triệu người Việt Nam thuộc nhiều tộc người khác nhau đang sinh sống ở 103 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới có quan hệ đồng tộc với người ở trong nước. 

Thứ Năm, 8 tháng 2, 2018

Xu hướng của quá trình tộc người ở Việt Nam diễn ra như thế nào?

Quá trình tộc người ở Việt Nam diễn ra theo hai xu hướng chung của quá trình tộc người trên thế giới, nhưng có những nét đặc thù sau:
Cố kết, hòa hợp tộc người là xu hướng chủ đạo diễn ra rộng khắp và mạnh mẽ trong quá trình hình thành, phát triển của dân tộc Việt Nam. Trong quá trình lịch sử, các tộc người sớm cố kết, hòa hợp để hình thành nên quốc gia dân tộc từ thuở các vua Hùng cách đây hàng nghìn năm. Các tộc người phát huy cao độ tính cố kết, hòa hợp để dựng nước và giữ nước. Đoàn kết, hòa hợp tộc người trở thành giá trị truyền thống và sức mạnh để dân tộc Việt Nam tồn tại, phát triển. Chính sách dân tộc tích cực của nhà nước phong kiến làm cho cố kết, hòa hợp tộc người càng trở nên bền chặt.
Đồng hóa tộc người (cả đồng hóa tự nhiên và đồng hóa cưỡng bức) là xu hướng đã từng diễn ra ở Việt Nam. Trong các thời kỳ lịch sử đều có một bộ phận tộc người thiểu số bị đồng hóa tự nhiên vào tộc người Việt, giữa các tộc người thiểu số cũng có sự đồng hóa lẫn nhau. Có lúc, tộc người Việt cũng bị đồng hóa vào một số tộc người thiểu số (thời nhà Mạc, cuối thế kỷ XVI).
Các thế lực phong kiến phương Bắc, thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đã thực hiện chính sách đồng hóa cưỡng bức các tộc người ở Việt Nam; nhưng các tộc người đã đoàn kết đấu tranh, bảo vệ sự tồn tại; bảo lưu, phát triển văn hóa của mình. Các tộc người ở Việt Nam không những không bị đồng hóa mà còn biết tiếp thu văn hóa các nước ngoại bang làm phong phú thêm văn hóa tộc người và quốc gia dân tộc.
Xu hướng phân tách tộc người đã và đang diễn ra ở Việt Nam. Quá trình di cư, phân chia tộc người từ Bắc vào Nam, từ Tây sang Đông dẫn đến sự xé lẻ, đan xen tộc người trên phạm vi cả nước. Trong lịch sử, nhiều tộc người đã chia tách thành các nhóm địa phương khác nhau. Có những bộ phận tộc người di cư ra nước ngoài, nhất là sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Hiện nay, xu thế phân tán, đan xen tộc người ngày càng gia tăng trên phạm vi cả nước do quá trình hội nhập, giao lưu tộc người mạnh mẽ và tác động của nền kinh tế thị trường..

Thứ Tư, 6 tháng 12, 2017

Đặc điểm kinh tế truyền thống của các tộc người thiểu số ở nước ta

- Các tộc người có trình độ phát triển kinh tế không đồng đều.
Nhóm tộc người thiểu số còn bảo lưu yếu tố kinh tế nguyên thủy, cư trú ở miền núi vùng cao, vùng sâu, vùng xa; gồm những tộc người nói ngôn ngữ Môn - Khơme ở Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Trường Sơn - Tây Nguyên; nhóm Hmông - Dao, Hán - Tạng ở vùng núi phía Bắc. Hoạt động kinh tế của nhóm này cơ bản là sản xuất nương rẫy du canh; công cụ sản xuất khá thô sơ, năng suất thấp. Săn bắn hái lượm đóng vai trò khá quan trọng trong đời sống kinh tế.
Nhóm tộc người cư trú lâu đời ở chân núi, thung lũng như Tày, Nùng, Thái, Mường...; canh tác lúa nước là chính, kết hợp với sản xuất nương rẫy; sản xuất và sinh hoạt định canh định cư, trình độ thâm canh của khá cao, canh tác bằng sức kéo; trao đổi thương mại diễn ra trong cộng đồng và khu vực.
Nhóm các tộc người là cư dân ở đồng bằng như Việt, Chăm, Khơme, Hoa, có nền văn minh lúa nước lâu đời, kỹ thuật thâm canh cao, kinh nghiệm sản xuất phong phú. Các hoạt động chăn nuôi, thủ công, trao đổi thương mại đều sớm phát triển hơn; đời sống kinh tế đa dạng về cơ cấu ngành nghề, vật nuôi cây trồng.
- Kinh tế truyền thống tộc người mang nặng tính tự cung, tự cấp của nền kinh tế tự nhiên.
Các tộc người sản xuất chủ yếu để đáp ứng nhu cầu tự túc lương thực, thực phẩm và phục vụ đời sống sinh hoạt tại chỗ. Trong các hình thái kinh tế - xã hội tiền tư bản, trình độ sản xuất lạc hậu, cơ sở hạ tầng kinh tế yếu kém nên đồng bào các dân tộc sản xuất trước hết nhằm phục vụ nhu cầu của gia đình, làng bản; tập trung vào sản xuất lương thực, chủ yếu là lúa gạo, hoa màu như ngô, khoai, sắn, kê, rau, đậu… nhằm tự túc lương thực, đảm bảo bữa ăn hàng ngày và một phần tích trữ.
Ở miền núi và vùng dân tộc, dù có giao thương nhưng hoạt động kinh tế còn khép kín, mang tính nội bộ làng bản. Các sản phẩm nông nghiệp của các dân tộc nghèo nàn và chất lượng thấp. Giao thông đi lại khó khăn đã hạn chế việc trao đổi và giao lưu kinh tế. Ở miền xuôi, giao lưu kinh tế đã vượt ra ngoài quy mô làng xã, song cũng chỉ ở mức độ nhất định.
- Kinh tế các tộc người dựa trên nền tảng nông nghiệp nhiệt đới gió mùa.
 Các tộc người sống trên lãnh thổ nước ta đều cùng chung hệ sinh thái nhiệt đới, đời sống kinh tế dựa trên nền tảng nông nghiệp nhiệt đới gió mùa, trồng trọt là chính, chăn nuôi là nghề phụ; hái lượm nổi trội hơn so với săn bắn, đánh cá. Mỗi tộc người đã tích lũy được những tri thức sản xuất nông nghiệp thích hợp với điều kiện tự nhiên khu vực nhiệt đới gió mùa. Có nhiều cây trồng, vật nuôi chính giống nhau, kinh nghiệm sản xuất khá tương đồng; lúa là cây trồng chủ đạo. Đồng bào miền núi thường canh tác lúa nương, sáng tạo ra nền văn hóa nương rẫy. Các tộc người ở vùng chân núi và đồng bằng có nền nông nghiệp lúa nước, văn hóa lúa nước phát triển.
- Đời sống kinh tế mang bản sắc văn hóa tộc người độc đáo.

Bản sắc văn hóa tộc người trong đời sống kinh tế thể hiện đa dạng ở tất cả các hoạt động kinh tế của từng tộc người từ phương thức canh tác, kỹ thuật, biện pháp sản xuất, tri thức, kinh nghiệm, cách thức tổ chức sản xuất, công cụ sản xuất, giống cây trồng vật nuôi, các sản phẩm làm ra… Các nghề và sản phẩm thủ công mang dấu ấn tộc người nổi bật: nghề rèn của người Hmông, nghề dệt của người Thái, nghề đan lát của người Khơ mú... Đời sống kinh tế tộc người còn phản ánh sắc thái tộc người trên các lĩnh vực văn hóa; là nền tảng tồn tại và phát triển của tộc người, phản ánh truyền thống tộc người. 

Ngữ hệ và nhóm ngôn ngữ các tộc người ở Việt Nam hiện nay

Ngôn ngữ của các tộc người ở Việt Nam hiện nay được phân loại thành 4 ngữ hệ: Nam Á, Thái, Nam - Đảo, Hán - Tạng bao gồm 6 nhóm ngôn ngữ. Trong đó, ngữ hệ Nam Á có số tộc người sử dụng đông nhất, gồm ngôn ngữ của các tộc người tại chỗ, cư trú từ miền núi đến đồng bằng trên cả nước. Ngữ hệ Thái và ngữ hệ Hán - Tạng chủ yếu phân bố ở miền Bắc. Ngữ hệ Nam - Đảo gồm một số tộc người ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Cụ thể:
Ngữ hệ Nam Á gồm 32 ngôn ngữ tộc người với 4 nhóm ngôn ngữ:
Nhóm Việt - Mường có 4 ngôn ngữ chính: Việt, Mường, Thổ, Chứt.
Nhóm Môn - Khơme có 21 ngôn ngữ: Khơ-me, Ba-na, Cờ-ho, Xơ-đăng, Hrê, Mnông, Xtiêng, Bru - Vân Kiều, Cơ-tu, Khơ-mú, Tà-ôi, Mạ, Co, Gié - Triêng, Xinh-mun, Chơ-ro, Mảng, Kháng, Rơ-măm, Ơ-đu, Brâu.
Nhóm Hmông - Dao có 3 ngôn ngữ: Hmông (Mèo), Dao, Pà Thẻn.
Nhóm hỗn hợp có 4 ngôn ngữ: La Chí, La Ha, Cơ Lao, Pu Péo.
Ngữ hệ Thái gồm 8 ngôn ngữ: Tày, Thái, Nùng, Sán Chay, Giáy, Lào, Lự, Bố Y.
Ngữ hệ Nam - Đảo gồm 5 ngôn ngữ: Raglai, Êđê, Chăm, Gia rai, Churu.
Ngữ hệ Hán - Tạng gồm 9 ngôn ngữ:
Nhóm Hán có 3 ngôn ngữ: Hoa (Hán), Sán dìu, Ngái.
Nhóm Tạng - Myanma có 6 ngôn ngữ: Hà Nhì, Phù Lá, La Hủ, Lô Lô, Cống (Coóng), Si La.

Nguồn gốc nhân chủng của tộc người Việt (Kinh)

Vấn đề nguồn gốc tộc người Việt (Kinh) đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước. Hiện nay, các quan điểm đều thống nhất cho rằng, người Việt là kết quả hỗn chủng giữa đại chủng Môngôlôit và  cư dân thuộc loại hình nhân chủng Anhđônêdiêng tại chỗ.
Vào thời kỳ đồ đá mới cách đây 4-5 nghìn năm, qua nghiên cứu nhân chủng di cốt đào được ở các di chỉ Bình Gia, Làng Cườm (Lạng Sơn) cho thấy rằng, loại hình nhân chủng Anhđônêdiêng đã cư trú từ lâu ở Việt Nam. Loại hình này là kết quả hỗn chủng lâu dài giữa tiểu chủng Nam Môngôlôit ở phía Bắc xuống và cư dân tại chỗ thuộc chủng tộc Ôtxtralôit từ thời kỳ đồ đá giữa sang đầu thời kỳ đồ đá mới (8 - 15.000 năm). Họ là chủ nhân của các nền văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn... ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam.
Đến thời đại đồ đồng, cách đây khoảng 3,5-4 nghìn năm, các di cốt của loại hình nhân chủng Nam Á cổ đã xuất hiện ở Bắc Việt Nam và là tổ tiên trực tiếp của người Việt. Từ các di chỉ khảo cổ cho thấy, hình dáng người Việt cổ bấy giờ đã khá điển hình cho người Việt hiện nay. Qua đo đạc các di cốt hóa thạch tìm được, các nhà khoa học kết luận, loại hình Nam Á cổ (Việt cổ) là kết quả chuyển biến hình thái của cư dân Anhđônêdiêng tại chỗ, song không phải là quá trình tự động tiến hóa mà bao gồm nhiều giai đoạn, khi thì mang tính nội tại, khi thì pha trộn nhiều yếu tố nhân chủng; và là kết quả hỗn chủng giữa  tiểu chủng Nam Môngôlôit ở phía Bắc di cư xuống với người Anhđônêdiêng đã cư trú lâu dài trước đó. Từ Bắc Đông Dương, loại hình Nam Á cổ tiếp tục phát triển và tác động ngày một sâu đậm ra xung quanh tới tận các vùng hải đảo Đông Nam Á.
Như vậy, người Việt cổ là kết quả hỗn chủng hàng nghìn năm của nhiều loại hình nhân chủng với yếu tố chủng tộc Môngôlôit ngày càng vượt trội. Vào thời đại đồ đồng thau, người Việt cổ đã cư trú ổn định ở Bắc Việt Nam, đã sáng tạo ra văn minh Sông Hồng, Sông Mã với nền văn hóa Đông Sơn nổi tiếng, tạo dựng nền móng vững chắc cho quốc gia dân tộc Việt Nam.

Nguồn gốc và đặc điểm nhân chủng của các tộc người ở Việt Nam

Hiện nay, 54 tộc người ở Việt Nam đều thuộc 2 loại hình nhân chủng là Anhđônêdiêng và Nam Á của tiểu chủng Nam Môngôlôit, chủng tộc Môngôlôit. Trong đó, loại hình nhân chủng Nam Á chiếm số lượng chủ yếu. Các tộc người lớn như Việt, Mường, Tày, Thái, Hmông, Dao, Khơme, Chăm... đều thuộc loại hình nhân chủng Nam Á. Các tộc người nhóm ngôn ngữ Việt - Mường là loại hình Nam Á điển hình. Các tộc người thuộc loại hình Anhđônêdiêng như: các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên, người Bru-Vân Kiều, Tà-ôi ở Trung Trung Bộ. Các cư dân nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme ở Tây Bắc là các tộc người trung gian giữa loại Nam Á và Anhđônêdiêng, nhưng họ giống loại hình nhân chủng Nam Á hơn; họ tập trung chủ yếu ở phía Bắc, càng về phía Nam thì yếu tố nhân chủng Nam Á nhạt dần.
Các tộc người ở Việt Nam có chung các đặc điểm nhân chủng như: tóc đen thẳng, lông trên người ít phát triển, gò má nhô trung bình, cánh mũi bè và dẹt thiên về trung bình, kích thước đầu và mặt thuộc loại trung bình, tầm vóc trung bình thiên về thấp. Giữa hai loại hình nhân chủng ở Việt Nam cũng có sự khác biệt nhất định như sau:
Đặc điểm
Loại hình Nam Á
Loại hình Anhđônêdiêng
Tầm vóc
Cao hơn
Thấp hơn
Màu da
Sáng hơn
Thẫm hơn
Dạng đầu
Đầu ngắn
Đầu dài thiên về trung bình
Hình dạng mũi
Hẹp hơn
Rộng và bẹt hơn
Tóc
Đen, thẳng, tóc sóng rất ít
Tỷ lệ uốn sóng nhiều hơn
Khuôn mặt
Trung bình
Mặt ngắn, bè
Như vậy, ở loại hình nhân chủng Nam Á ,yếu tố Môngôlôit trội hơn, trong khi đó các tộc người thuộc loại hình Anhđônêdiêng còn mang một số đặc điểm hình thái của chủng tộc Ôxtralôit. Nhưng cần phải tính đến điều kiện môi trường cư trú vì nó tác động không nhỏ đến đặc điểm hình thái cơ thể.

Thứ Hai, 6 tháng 11, 2017

Các hình thức cộng đồng tộc người ở Việt Nam trong lịch sử

Việt Nam nằm trong cái nôi nguyên thủy của loài người. Các tộc người nước ta đã trải qua đầy đủ các hình thức cộng đồng tộc người trong lịch sử.
Thời kỳ thị tộc - bộ lạc
Giai đoạn đầu của thị tộc mẫu hệ ở nước ta đã được các nhà khảo cổ học tìm thấy thông qua nền văn hóa khảo cổ Sơn Vi (Phú Thọ) có niên đại cách đây 15-20 nghìn năm. Lúc này, các thị tộc - bộ lạc đã có sự phân bố rộng, mật độ cư trú khá dày, có nơi cư trú ở ngoài trời, có nơi ở hang động (miền núi, trung du phía Bắc: Phú Thọ, Yên Bái, Bắc Giang,...). Tiếp đó, thị tộc mẫu hệ phát triển cao qua thời kỳ Văn hóa Hòa Bình (Hòa Bình) có niên đại cách đây 8-11 nghìn năm, phân bố rộng ở Việt Nam. Nông nghiệp trồng lúa đã nảy sinh, thị tộc mẫu hệ đạt cực thịnh với biểu hiện là ngôi nhà dài còn đến ngày nay.
Giai đoạn thị tộc phụ hệ là thời kỳ Văn hóa Phùng Nguyên (niên đại khoảng 4.000 năm nay), rồi phát triển mạnh mẽ qua các giai đoạn kế tiếp: Văn hóa Đồng Đậu (3.500-3.100 năm), Văn hóa Gò Mun (3.000 năm). Các thị tộc - bộ lạc phân bố trải rộng ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ. Đứng đầu bộ lạc là thủ lĩnh có uy tín gọi là Pò Khun (Khun - Hùng), Cun - Lang Cun. Lúc này, nông nghiệp lúa nước đã thuần thục, chăn nuôi khá phát triển, công cụ lao động đồ đá được chế tác tinh xảo, công cụ đồ đồng đã xuất hiện. Người đàn ông chiếm vị trí quan trọng trong gia đình và xã hội, hôn nhân cư trú bên chồng, con tính theo họ của cha, vai trò của già làng, trưởng bản trở nên quan trọng...
Thời kỳ bộ tộc
Vào cuối thời kỳ thị tộc - bộ lạc, cách đây 3-4 nghìn năm, công cụ lao động đồ kim khí bắt đầu xuất hiện ở miền núi và trung du Bắc Bộ, năng suất lao động tăng lên, tư hữa ra đời. Tầng lớp trên của các bộ lạc đã hình thành nên một cộng đồng chính trị xã hội - cộng đồng bộ tộc, thành lập nên nhà nước Văn Lang. Bộ tộc Văn Lang hay còn gọi là bộ tộc Lạc Việt ra đời trên cơ sở liên minh 15 bộ lạc ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, ngoài yếu tố giai cấp còn do yêu cầu trị thủy, canh tác lúa nước và chống ngoại xâm phương Bắc. Đến thế kỷ VII tr.CN, liên minh các bộ lạc đã cố kết với nhau tạo thành bộ tộc Lạc Việt, hình thành nên nhà nước Văn Lang - nhà nước của các vua Hùng. Dấu ấn bộ tộc về sau có thể thấy ở xã hội của người Thái, Tày, Nùng, Hmông, Mường tính đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Thời kỳ dân tộc
Loại hình cộng đồng tộc người dân tộc ở Việt Nam đã hình thành từ sớm, do những đặc điểm của các hình thái kinh tế - xã hội tiền tư bản nước ta và điều kiện lịch sử cụ thể đặc thù ở Việt Nam quy định. Trên nền tảng bản sắc độc đáo thời kỳ bộ tộc, có tiếp thu tinh hoa văn hóa Hán thời Bắc thuộc, dân tộc Việt Nam đã hình thành và xác lập cùng với sự hình thành và xác lập của chế độ phong kiến Việt Nam giai đoạn thế kỷ XI - XV.

Đến thế kỷ XV, dân tộc Việt Nam đã là một dân tộc trưởng thành với các đặc trưng dân tộc sâu sắc trên các phương diện lãnh thổ, ngôn ngữ (chữ Nôm và tiếng Việt), cơ sở kinh tế nông nghiệp lúa nước, đặc trưng văn hóa (kiến trúc, điêu khắc, tư tưởng, tinh thần, giáo dục khoa bảng, văn học, nghệ thuật), lãnh thổ quốc gia, ý thức dân tộc.

Lịch sử cư trú của các tộc người ở Việt Nam có gì khác nhau?

Lịch sử cư trú của 54 tộc người nước ta được chia thành 2 nhóm: nhóm các tộc người tại chỗ (bản địa) và nhóm các tộc người thiên di đến Việt Nam.
- Các tộc ng­ười tại chỗ là những tộc người đã cư trú từ thời cổ đại ở Việt Nam, có quá trình phát triển liên tục từ thời kỳ đồ đá mới cách đây 4-5 nghìn năm đến nay. Các tộc người tại chỗ nước ta thuộc ba nhóm ngôn ngữ: Việt - Mường, Môn - Khơme và Nam Đảo. Đồng bào cư­ trú từ Bắc Bộ vào đến Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ.
Nhóm ngôn ngữ Việt - M­ường gồm: Việt, Mường, Thổ, Chứt. Nhóm này là những cư dân tại chỗ lâu đời có vai trò quan trọng bậc nhất ở Việt Nam. Người Việt - Mường cổ là chủ nhân của nền văn hóa Đông Sơn thế kỷ thứ VII tr.CN, giữ vai trò chủ đạo thành lập nên nhà nước Văn Lang thời Hùng vương.
Nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme gồm: Ba-na, Xơ-đăng, Cơ-ho, Hrê, Mnông, Xtiêng, Bru - Vân Kiều, Cơ-tu, Khơ-mú, Tà-ôi, Mạ, Co, Giẻ-Triêng, Xinh-mun, Chơ-ro, Mảng, Kháng, Ơ-đu. Nhóm Môn - Khơme phía Bắc có các tộc người: Kháng, Khơ-mú, Mảng, Xinh-mun là chủ thể miền núi Tây Bắc, Bắc Trung Bộ. Hầu hết các dân tộc phân bố ở Tây Nguyên là cư dân tại chỗ như: Ba-na, Xtiêng, Mạ, Mnông, Chơ-ro…
Nhóm ngôn ngữ Nam Đảo gồm: Gia-rai, Ê-đê, Chăm, Ra-glai, Chu-ru. Họ là chủ nhân lâu đời ở Tây Nguyên và vùng Nam Trung Bộ.
Các tộc người tại chỗ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme và Nam Đảo đều có mặt ở Tây Nguyên từ thời kỳ đồ đá mới cách đây 4-5 nghìn năm.
Ngoài ra, các tộc người Tày, Nùng ở miền núi phía Bắc vừa được coi là cư dân tại chỗ nước ta vừa là cộng đồng thiên di đến. Bởi vào thế kỷ thứ III tr.CN, ở lưu vực sông Cầu, sông Thương, sông Hồng, nước Âu Lạc ra đời với vị thủ lĩnh của người Âu Việt (Tày, Nùng cổ) là An Dương Vương Thục Phán (tiếng Tày - Nùng là Túc Phằn) trên cơ sở thống nhất hai bộ phận cư dân Lạc Việt và Âu Việt. Từ thế kỷ XIII, các nhóm Nùng ở Trung Quốc không chịu nổi chính sách phân biệt đối xử của các triều đại phong kiến đã từng đợt di cư vào Việt Nam, hội nhập với các nhóm Tày và Thái có mặt từ trước.
- Các tộc ng­ười di c­ư vào Việt Nam tập trung trong các nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, Hmông - Dao, Hán - Tạng.
Nhóm ngôn ngữ Tày - Thái gồm: Tày, Thái, Nùng, Sán chay, Lào, Lự, Giáy, Bố Y. Họ là các tộc người tại chỗ ở Nam Trung Quốc và Bắc Lào. Hầu hết, các dân tộc này di cư vào nước ta làm nhiều đợt theo hai hướng từ phía Bắc xuống và từ phía Tây sang.
Nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao gồm: Hmông, Dao, Pà Thẻn đều di cư từ Nam Trung Quốc vào Việt Nam khoảng từ thế kỷ XII đến nửa đầu thế kỷ XX.
Nhóm ngôn ngữ Hán - Tạng gồm: Hoa (Hán), Sán Dìu, Ngái, Hà Nhì, Phù Lá, La Hủ, Lô Lô, Cống, Si La. Hầu hết các tộc người này đều thiên di từ phía Bắc vào Việt Nam.

Ngoài ra, có 3 tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme là: Khơ-me, Brâu, Rơ-măm đã di cư đến Việt Nam. Người Brâu có tổ tiên ở Nam Lào và Đông Bắc Campuchia. Họ di cư đến nước ta khoảng 5 - 6 đời nay. Người Khơ-me có mặt sớm nhất ở vùng Tây Nam Bộ nước ta kể từ thế kỷ VII sau CN.

Các tiêu chí để phân định tộc người ở nước ta là gì?

Việc xác định thành phần tộc người ở nước ta được coi là một nhiệm vụ quan trọng của ngành dân tộc học dưới chế độ mới trong những thập kỷ 60, 70 của thế kỷ XX.
Các nhà dân tộc học Việt Nam, có sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô (cũ) đã tham khảo các tiêu chí phân định tộc người trên thế giới nhưng tính đến đặc thù điều kiện lịch sử - xã hội và đặc điểm tình hình dân tộc ở nước ta để xây dựng các tiêu chí. Năm 1973 tại Hà Nội, 2 cuộc hội thảo khoa học lớn (tháng 6 và 11) đã thống nhất lấy dân tộc (nghĩa tộc người - ethnic) làm đơn vị cơ bản trong xác định thành phần tộc người ở Việt Nam.
Sau nhiều lần trao đổi bằng các hội thảo khoa học, các nhà khoa học đã thống nhất đưa ra 3 tiêu chí xác định thành phần tộc người ở Việt Nam gồm:
1) Sự cộng đồng về ngôn ngữ.
2) Có các đặc điểm chung về sinh hoạt - văn hóa.
3) Có ý thức tự giác tộc người.
Từ các tiêu chí này, ngày 02 tháng 3 năm 1979, Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chính thức công bố danh mục 54 tộc người (và các nhóm địa phương) hay còn gọi là dân tộc hoặc thành phần dân tộc, sắp xếp theo thứ tự số lượng dân cư.

Sở dĩ, chúng ta không căn cứ hoàn toàn vào các tiêu chí trên thế giới vì đặc điểm tình hình dân tộc ở nước ta có nhiều khác biệt. Các tộc người nước ta có lịch sử cư trú khác nhau, vừa là cư dân tại chỗ, vừa thiên di đến vào các thời điểm khác nhau; các tộc người không có lãnh thổ tộc người riêng mà cư trú xen kẽ từ hàng nghìn năm nay; hầu hết các tộc người đều dựa trên nền tảng cơ sở kinh tế nông nghiệp trồng lúa miền nhiệt đới gió mùa với nhiều đặc điểm tương tự nhau... Nên, có những tiêu chí xác định tộc người được áp dụng phổ biến trên thế giới như: nguồn gốc, tâm lý, lãnh thổ, cơ sở kinh tế nhưng lại không phù hợp với thực tiễn dân tộc nước ta.

Thứ Tư, 17 tháng 5, 2017

Các mối quan hệ dân tộc cơ bản ở Việt Nam hiện nay

Các mối quan hệ dân tộc cơ bản ở nước ta hiện nay bao gồm:
Mối quan hệ giữa các tộc người với quốc gia dân tộc Việt Nam là quan hệ giữa nhân dân các tộc người với quốc gia dân tộc Việt Nam, được hình thành, phát triển sớm trong quá trình dựng nước và giữ nước. Đây là mối quan hệ lớn, bao trùm các mối quan hệ tộc người. Hiện mối quan hệ này được biểu hiện ở việc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân các tộc người làm chủ trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Thông qua đường lối, chính sách của mình mà Đảng, Nhà nước tác động đến toàn bộ đời sống các tộc người để phát triển các dân tộc. Các tộc người thực hiện các hoạt động xã hội tuân thủ sự lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước. Mức độ đúng đắn của đường lối, chủ trương, chính sách tạo nên sự đồng thuận hay những bất đồng trong mối quan hệ này.
Mối quan hệ giữa tộc người đa số với tộc người thiểu số là một trong những mối quan hệ cơ bản, phổ biến và ngày càng phát triển sâu rộng trên mọi lĩnh vực. Tộc người Kinh luôn đóng vai trò nòng cốt, tập hợp, đoàn kết các tộc người. Các tộc người thiểu số đóng vai trò quan trọng trong khối đại đoàn kết dân tộc. Để tăng tường mối đoàn kết giữa tộc người đa số với tộc người thiểu số, cần thực hiện tốt các nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước là: bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc; đẩy mạnh phát triển bền vững kinh tế - xã hội vùng tộc người thiểu số; khắc phục tư tưởng sôvanh, hẹp hòi, tự ti tộc người, phân biệt dân tộc.
Mối quan hệ giữa các tộc người thiểu số với nhau là một trong những mối quan hệ cơ bản, biểu hiện ở quan hệ láng giềng, cộng cư đan xen giữa các tộc người, giữa bản làng tộc người này với bản làng tộc người khác. Tính tộc người, lợi ích, bản sắc văn hóa của từng tộc người cần được tôn trọng, gìn giữ, phát huy. Các tộc người tăng cường giao lưu, tiếp thu văn hóa của nhau, làm giàu thêm văn hóa của mình trên cơ sở tôn trọng, hiểu biết và hòa hợp, đoàn kết. Tuy vậy, giữa các tộc người thiểu số còn những va chạm nảy sinh, chủ yếu liên quan đến đất đai, lợi ích kinh tế, văn hóa, xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo.
Mối quan hệ nội bộ tộc người ở phạm vi trong quốc gia và xuyên quốc gia. Ở trong nước, quan hệ nội bộ tộc người thể hiện qua các mối quan hệ trong làng bản, dòng họ, gia đình, giữa các nhóm địa phương. Các yếu tố có giá trị cố kết, bảo lưu văn hóa tộc người, duy trì quan hệ nội bộ tộc người là địa vực cư trú, ngôn ngữ, văn hóa, tập quán, tín ngưỡng, lịch sử, quan hệ dòng tộc. Đó là những yếu tố thiêng liêng của tộc người, liên quan đến tình cảm, lợi ích và niềm tin của mỗi tộc người.
Bên cạnh đó, quan hệ nội bộ tộc người còn biểu hiện ở mối quan hệ đồng tộc xuyên quốc gia. Hiện có khoảng 40 tộc người nước ta có người đồng tộc cư trú ở các quốc gia khác. Chẳng hạn, các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Hán - Tạng, Hmông - Dao có nhiều đồng tộc là cư dân ở Trung Quốc và Lào; cư dân nhóm Môn - Khơme với cư dân ở Lào, Campuchia; cư dân nhóm ngôn ngữ Nam Đảo ở Tây Nguyên với cư dân ở Malaixia, Campuchia, Thái Lan, Inđônêxia. Tính đến năm 2013, theo Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài (Bộ Ngoại giao), nước ta có hơn 4,5 triệu người Việt Nam thuộc nhiều tộc người khác nhau đang sinh sống ở 103 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới có quan hệ đồng tộc với người ở trong nước.

Xu hướng của quá trình tộc người ở Việt Nam diễn ra như thế nào?

Quá trình tộc người ở Việt Nam diễn ra theo hai xu hướng chung của quá trình tộc người trên thế giới, nhưng có những nét đặc thù sau:
Cố kết, hòa hợp tộc người là xu hướng chủ đạo diễn ra rộng khắp và mạnh mẽ trong quá trình hình thành, phát triển của dân tộc Việt Nam. Trong quá trình lịch sử, các tộc người sớm cố kết, hòa hợp để hình thành nên quốc gia dân tộc từ thuở các vua Hùng cách đây hàng nghìn năm. Các tộc người phát huy cao độ tính cố kết, hòa hợp để dựng nước và giữ nước. Đoàn kết, hòa hợp tộc người trở thành giá trị truyền thống và sức mạnh để dân tộc Việt Nam tồn tại, phát triển. Chính sách dân tộc tích cực của nhà nước phong kiến làm cho cố kết, hòa hợp tộc người càng trở nên bền chặt.
Đồng hóa tộc người (cả đồng hóa tự nhiên và đồng hóa cưỡng bức) là xu hướng đã từng diễn ra ở Việt Nam. Trong các thời kỳ lịch sử đều có một bộ phận tộc người thiểu số bị đồng hóa tự nhiên vào tộc người Việt, giữa các tộc người thiểu số cũng có sự đồng hóa lẫn nhau. Có lúc, tộc người Việt cũng bị đồng hóa vào một số tộc người thiểu số (thời nhà Mạc, cuối thế kỷ XVI).
Các thế lực phong kiến phương Bắc, thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đã thực hiện chính sách đồng hóa cưỡng bức các tộc người ở Việt Nam; nhưng các tộc người đã đoàn kết đấu tranh, bảo vệ sự tồn tại; bảo lưu, phát triển văn hóa của mình. Các tộc người ở Việt Nam không những không bị đồng hóa mà còn biết tiếp thu văn hóa các nước ngoại bang làm phong phú thêm văn hóa tộc người và quốc gia dân tộc.
Xu hướng phân tách tộc người đã và đang diễn ra ở Việt Nam. Quá trình di cư, phân chia tộc người từ Bắc vào Nam, từ Tây sang Đông dẫn đến sự xé lẻ, đan xen tộc người trên phạm vi cả nước. Trong lịch sử, nhiều tộc người đã chia tách thành các nhóm địa phương khác nhau. Có những bộ phận tộc người di cư ra nước ngoài, nhất là sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Hiện nay, xu thế phân tán, đan xen tộc người ngày càng gia tăng trên phạm vi cả nước do quá trình hội nhập, giao lưu tộc người mạnh mẽ và tác động của nền kinh tế thị trường.