Hiển thị các bài đăng có nhãn khách quan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn khách quan. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2022

THỜI CƠ VÀ THUẬN LỢI CỦA THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Về tổng thể, xét trên cả bình diện thế giới và trong nước, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay diễn ra trong điều kiện có những thời cơ và thuận lợi to lớn đan xen với nhiều khó khăn, thách thức.

Việt Nam quá độ lên CNXH là phù hợp với qui luật phát triển khách quan của lịch sử và nguyện vọng của nhân dân ta. Vì vậy, Việt Nam đã và đang nhận được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới và đông đảo bạn bè quốc tế. Hiện nước ta đã có quan hệ ngoại giao với hơn 180 quốc gia. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang kiên định thực hiện có hiệu quả mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam - một đảng cách mạng đã được tôi luyện qua các thời kỳ cách mạng. Thời kỳ quá độ lên CNXH nước ta đã chuyển sang chặng đường phát triển mới: thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã vạch rõ: “Chúng ta có nhiều thuận lợi cơ bản: có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, có bản lĩnh chính trị vững vàng dày dặn kinh nghiệm lãnh đạo; dân tộc ta là một dân tộc anh hùng; nhân dân ta có lòng yêu nước nồng nàn, có truyền thống đoàn kết và nhân ái, cần cù lao động và sáng tạo, luôn ủng hộ và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; chúng ta đã từng bước xây dựng được những cơ sở vật chất - kỹ thuật rất quan trọng; cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, sự hình thành và phát triển của kinh tế tri thức cùng với quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là một thời cơ để phát triển”. Hơn nữa, con đường đi lên CNXH của Đảng và nhân dân ta ngày càng sáng rõ. Mục tiêu, đặc trưng, những phương hướng cơ bản và những quan hệ lớn mang tính quy luật trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc tiếp tục được bổ sung, cụ thể hoá, phát triển với những nhận thức quan trọng. Đó chính là những yếu tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Một thuận lợi cơ bản trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay là chúng ta có những tiềm năng, thế mạnh về tài nguyên, vị trí địa lý, nguồn lao động dồi dào của thời kỳ dân số vàng, những giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc, nền văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc các dân tộc, ý chí và nghị lực của con người Việt Nam. Đây là những lợi thế so sánh trong hội nhập phát triển của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên; nguồn nhân lực, đội ngũ công nhân kỹ thuật cao, lành nghề. Đây là tiền đề quan trọng để đất nước ta tiếp thu, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới, là cơ hội lớn để Việt Nam thu hút đầu tư, chuyển giao khoa học công nghệ.

Cùng với đó, thành tựu, kinh nghiệm của thời kỳ đổi mới đã tạo ra cho đất nước thế và lực mới, có sức mạnh tổng hợp to lớn về nhiều mặt. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.Điều đó tạo ra cho đất nước thời cơ và vận hội mới, nâng tầm Việt Nam trên trường quốc tế. Những năm tới là giai đoạn kinh tế nước ta tiếp tục phục hồi, lấy lại đà tăng trưởng sau thời kỳ suy giảm. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên. Nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước có thu nhập trung bình. Các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá, an sinh xã hội có nhiều tiến bộ. Tình hình chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ XHCN, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được củng cố và phát huy. Nước ta mở rộng giao lưu, nâng tầm hợp tác với các nước lớn, với các nước khắp năm châu, tạo điều kiện cho hoạt động kinh tế phát triển và thu hút vốn đầu tư, khoa học công nghệ tiên tiến của các nước.

Bên cạnh đó, tình hình thế giới và những đặc điểm của thời đại hiện nay đã mở ra thời cơ lớn để nước ta có thể phát triển nhanh và bền vững, tạo những điều kiện thuận lợi cho nước ta quá độ đi lên CNXH. Hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển là xu thế lớn. Trật tự thế giới mới theo xu hướng đa cực ngày càng rõ. Các nước tăng cường hợp tác và giao lưu quốc tế trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền, lãnh thổ của nhau. Cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội tiếp tục phát triển dù có những khó khăn, phức tạp. Một số nước kiên định con đường XHCN đã tiến hành cải cách, đổi mới và thu được nhiều thành tựu phát triển như Trung Quốc, Cu Ba. Phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế đã có sự phục hồi và phát huy ảnh hưởng trên con đường đấu tranh vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ.

Loài người đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với nền tảng công nghệ kỹ thuật số, nền kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ. Mặc dù có những “cấm vận” với một vài quốc gia nhưng toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ, tác động đa chiều đến các nước, mang tính vừa hợp tác vừa cạnh tranh, tùy thuộc vào nhau. Quá trình quốc tế hóa sản xuất và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu rộng. Kinh tế thế giới tuy còn nhiều khó khăn sau đại dịch Covid - 19 và bất ổn chiến tranh, xung đột nhưng sẽ phục hồi. Sự phát triển của cách mạng khoa học, công nghệ và đặc điểm giai đoạn hiện nay của thời đại đã tạo ra cơ hội thuận lợi để nước ta tiếp cận với nguồn vốn, khoa học công nghệ, trình độ quản lý kinh tế - xã hội tiên tiến của thế giới trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đảng và Nhà nước ta đã chủ động nắm bắt xu thế quốc tế, mở rộng quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội với các nước, các tổ chức quốc tế, đem lại thời cơ thuận lợi để Việt Nam xây dựng cơ sở kinh tế - xã hội của CNXH, có điều kiện phát triển kinh tế nhanh, bền vững. Vì vậy, chúng ta cần nắm bắt thời cơ, tranh thủ các cơ hội quốc tế thuận lợi để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trên cơ sở độc lập, tự chủ, nhằm phát triển đất nước, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, tăng cường vị thế và tiềm lực đất nước. Có như vậy, nước ta mới có thể rút ngắn thời gian phát triển trong chặng đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Thứ Tư, 9 tháng 3, 2022

TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA VIỆC THỰC THI QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ VÀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ

Xã hội nào muốn tồn tại, phát triển cũng đều phải được quản trị bằng hệ thống chuẩn mực đạo đức xã hội và bằng hệ thống luật pháp, nhất là trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng diễn đạt thật dung dị, dễ hiểu, dễ nhớ về tính tất yếu phải thực hiện những chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật ở mỗi thể chế chính trị: “Chúng ta ai cũng biết, một gia đình muốn êm ấm, hoà thuận hạnh phúc thì cùng với sự dạy bảo, khuyên nhủ còn phải có khuôn phép, gia phong, nền nếp (nếp nhà): “Trên kính dưới nhường”, tôn ti trật tự, không thể vô lễ, vô phép, “cá mè một lứa”, “thượng hạ bằng đẳng”...; không có cái kiểu “Nhà kia lỗi phép con khinh bố/Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng” như cụ Tú Xương đã từng phê phán; như thế là một gia đình vô phúc. Một làng, một xã, một dòng họ cũng có hương ước, quy ước, lệ làng; một cơ quan, một công sở phải có “nội quy”; một tổ chức, đoàn thể phải có “quy chế”, có “điều lệ”...”; Một đất nước, một xã hội muốn tốt đẹp thì bên cạnh sự giáo dục, sự khuyên nhủ, càng phải có kỷ cương, phép nước, phải có pháp luật nghiêm minh để bảo vệ cái tốt, cái đúng; răn đe, trừng trị những cái xấu, cái sai, có hại cho dân cho nước, tức là phải có sự quản lý bằng cơ chế, pháp luật, phải có phép nước”.

Như vậy, quyền lực trong thể chế chính trị là vấn đề không thể thiếu để duy trì trật tự xã hội, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng nhưng quyền lực chính trị cũng có xu hướng bị lạm dụng để vun vén lợi ích cá nhân bởi những người được trao nắm quyền. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân được nhân cử ra để duy trì trật tự pháp lý đó cũng có thể lạm quyền, lộng quyền và vi phạm pháp luật và vì thế, cũng cần phải có chế tài xử lý nghiêm minh để xã hội thực sự công bằng, thể hiện thượng tôn pháp luật. Vì vậy, kiểm soát quyền lực chính trị là tất yếu khách quan đối với bất cứ thể chế chính trị nào.


Thứ Tư, 16 tháng 2, 2022

VÌ SAO HỌ LẠI CHỐNG CHỦ NGHĨA MÁC MỘT CÁCH ĐIÊN CUỒNG VÀ QUYẾT LIỆT NHƯ VẬY

Như chúng ta đã biết, chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của các đảng cộng sản, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam. Tính cách mạng, khoa học và sáng tạo của chủ nghĩa Mác - Lênin đã được lý luận và thực tiễn khẳng định.

Chủ nghĩa Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX ở nước Đức, do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập. Vào thời điểm đó, lực lượng sản xuất của chủ nghĩa tư bản phát triển rất mạnh mẽ, ưu thế của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được khẳng định và cách mạng tư sản đã giành thắng lợi. Thế nhưng, ngọn cờ “tự do, bình đẳng, bác ái” và những lời hứa của giai cấp tư sản trong quá trình cách mạng lúc này chỉ còn lại là “chiếc bánh vẽ”. Thành quả và lợi ích của cuộc cách mạng tư sản đã bị giai cấp tư sản chiếm vđoạt mà không hề đếm xỉa đến lợi ích của những người bạn đồng minh là giai cấp vô sản. Bị lừa dối và phản bội, giai câp vô sản dã thúc tỉnh và họ hiểu rằng, kẻ thù của minh không phải là "máy móc mà chính là giai cấp tư sản. Vì vậy, họ đã liên hiệp lại, kiên quyết đứng lên đấu tranh đòi lại quyền sống cho mình. Cuộc đấu tranh "một mất một còn" của giai câp vô sản chống lai giai cấp tư sản ngày càng quyết liệt. Sống trong thời đại ấy, C.Mác và Ph.Ăngghen tận mắt chứng kiến các biến cô lịch sử và phát hiện ra vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân – những người "đào huyệt" chôn chủ nghĩa tư bản và xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Các ông đā xây dựng lý luân khoa hoc, cách mang để trang bị cho giai cấp công  nhân.

Như vây, chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời là tất yếu khách quan của lịch sử, từ các điêu kiện khách quan và các nhân tố chủ quan phát triển chín muồi chứ không phải “được nặn ra từ những cái đầu thiển cận”, mang nặn tính chủ quan, áp đặt; cũng không phải sự ba hoa của kẻ làm trò ảo thuật”, mà là sự chứng minh của khoa học hiện đại.

Thứ Hai, 18 tháng 10, 2021

ĐỪNG ĐỂ BỊ KẺ XẤU LỢI DỤNG

 Trong xã hội hiện nay, chúng ta không khó để nhận ra có những người rất hay than trách cuộc sống, nghi ngờ mọi thứ xung quanh, cho rằng mọi thứ đều xấu xa, tự cảm thấy mình chịu nhiều bất công, từ đó oán trách chế độ xã hội. Họ nhìn xã hội qua lăng kính màu đen nên mọi thứ xung quanh đều trở nên đen tối. Khi kinh tế phát triển họ nói rằng phát triển không thực chất, phải đánh đổi môi trường, lợi ích vào túi một số ít người. Khi một số cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, một số vụ tham nhũng bị phát giác, xử lý nghiêm theo pháp luật, thì họ cho rằng như thế là chưa đủ, mà thậm chí phải "đập chế độ này đi xây lại vì cả hệ thống tham nhũng". Khi một vài trường học xảy ra bạo lực học đường, thì họ kết luận cả nền giáo dục là bỏ đi. Thậm chí khi bóng đá Việt Nam giành được nhiều thành tích, nhiều chiến thắng vinh quanh ở tầm châu lục và vươn lên đứng đầu khu vực Đông Nam Á, họ cũng cho rằng đó là may mắn, rồi chỉ là thành tích của một lứa cầu thủ, một huấn luyện viên, còn cả nền bóng đá vẫn tồi tệ...

 Thực tế trong bất cứ xã hội nào cũng tồn tại những người bi quan và bất mãn. Điều này là kết quả, là ảnh hưởng từ xuất phát điểm của mỗi người; từ quá trình giáo dục, từ những kết quả công việc và cuộc sống cho đến cách tiếp nhận, phân tích thông tin của mỗi người và quan trọng là cách tự xác định tâm thế, vị trí của mỗi người đối với cuộc sống. Chúng ta có thể gặp không ít người có đời sống vật chất đủ đầy, có nhà lầu, xe hơi... nhưng vẫn bất mãn với cuộc sống, vẫn thấy nhiều người hơn mình, vẫn thấy mình thiệt thòi. Từ những bất mãn so bì đó, thay vì nỗ lực để mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn nữa cho bản thân như mong muốn, thì họ lại quay ra oán trách, thậm chí chửi bới, bôi nhọ chế độ xã hội.

 Những lúc bình thường thì tâm thế của kiểu người nêu trên gây tiêu cực cho chính bản thân họ và xã hội. Nhưng khi mà cuộc đấu tranh tư tưởng, đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" diễn ra rất quyết liệt, có nhiều sắc thái mới thì việc tồn tại trong xã hội kiểu người nói trên sẽ là cơ hội để các thế lực thù địch hướng tới, lôi kéo, nhằm đạt được mục đích là gây bất ổn xã hội, thậm chí gây rối loạn xã hội, tiến tới lật đổ chế độ.

 Để nói về điều này, cần phải nhìn lại giai đoạn vừa qua của lịch sử thế giới đã chứng kiến những kết cục đau lòng từ sự ngộ nhận, lầm tưởng của một lớp người trong xã hội. Năm 2011, các cuộc biểu tình có cái tên rất mỹ miều là "Mùa xuân Ả Rập" đồng loạt nổ ra tại một số quốc gia Bắc Phi, Trung Đông, như: Tunisia, Algerie, Ai Cập, Yemen, Libya, Iraq, Syria...  Các cuộc biểu tình này đã dẫn tới bạo động chống chính phủ, lan nhanh như một bệnh dịch khiến chính phủ ở một loạt nước như Ai Cập, Libya, Tunisia, Yemen bị lật đổ, xã hội hỗn loạn...

 Các nước Syria, Yemen chìm trong nội chiến. Theo ước tính đến năm 2016, "Mùa xuân Ả Rập" và các cuộc nội chiến từ hậu quả của nó đã làm Syria, Lybia, Iraq bị tàn phá, khoảng 500.000 người chết, hàng chục triệu người bị mất nhà cửa, phải chạy tị nạn sang các quốc gia khác.

 Nguyên nhân dẫn tới biểu tình và bạo động là những vấn đề xã hội đã tồn tại trong các quốc gia nêu trên chậm được cải thiện, những vấn đề tư tưởng, những ấm ức, bất mãn, tâm lý bị thiệt thòi của một bộ phận người dân không sớm được giải tỏa và tìm biện pháp khắc phục. Cùng với đó là sự can dự, giật dây của các nước phương Tây, tiếp sức bằng tiền và vũ khí cho các nhóm chống đối, kích động, lôi kéo người dân xuống đường biểu tình. Đó là vì các nước phương Tây muốn thay đổi các chế độ trái mắt họ, vì lợi ích của họ. Kết quả của "Mùa xuân Ả Rập" là một thứ mùa xuân chết chóc, hỗn loạn, tan vỡ, ly tán, vợ mất chồng, cha mất con, người dân mất nhà cửa, đất nước tan hoang. Những nhà lãnh đạo bị phương Tây gọi là những “nhà độc tài” đã bị lật đổ, để rồi thay thế vào đó là nhiều nhóm quyền lực mới nổi lên bắn giết nhau, bất chấp mạng sống của người dân để giành quyền lực. Nhiều người dân Ả rập đã hối tiếc, muốn mọi thứ trở lại giai đoạn “tiền Mùa xuân Ả Rập”.

Nhìn người để nghĩ tới ta. Đất nước Việt Nam hiện được đánh giá nằm ở nhóm quốc gia có tốc độ phát triển nhanh hàng đầu thế giới. Chúng ta có thể cảm nhận thấy rõ đời sống của người dân đang đi lên theo thời gian. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2018, 70% người dân Việt Nam đã được bảo đảm về mặt kinh tế, trong đó 13% thuộc tầng lớp trung lưu theo chuẩn thế giới. Tính từ năm 2014 tới nay, trung bình mỗi năm có 1,5 triệu người Việt Nam gia nhập vào tầng lớp trung lưu toàn cầu, cho thấy các hộ gia đình đang tiếp tục leo lên bậc thang kinh tế cao hơn sau khi thoát nghèo. Tất cả vấn đề xã hội, vấn đề về môi trường, phát triển bền vững đều được Đảng, Nhà nước quan tâm. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên được đặc biệt quan tâm và thực hiện thực chất, quyết liệt. Thế nhưng tất cả những thực tế rõ ràng đó, những con người có con mắt thiếu khách quan vẫn cố tình không thừa nhận.

NGUYÊN NHÂN CHỦ QUAN VÀ KHÁCH QUAN CỦA SỰ THA HÓA QUYỀN LỰC

Nguyên nhân khách quan: Mặt trái của cơ chế thị trường và toàn cầu hóa đã và đang tác động làm nảy sinh, phát triển sự tha hóa quyền lực của cán bộ nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp nói riêng với diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, gây khó khăn cho việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý. 

Chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, còn chồng chéo, mâu thuẫn hoặc chưa đủ rõ, chưa phù hợp, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thể chế của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp còn đan xen, nhiều kẽ hở, dễ bị lợi dụng... Nội dung các quy định của Đảng về vấn đề kiểm soát quyền lực, nhất là những nội dung về tính chất, mức độ và mối quan hệ giữa các biểu hiện của sự tha hóa quyền lực của cán bộ chưa được phân tích, làm rõ một cách đầy đủ, sâu sắc. 

Tâm lý “một người làm quan cả họ được nhờ”, “nể nang, né tránh, ngại va chạm”, “dễ người dễ ta”, “dĩ hòa vi quý”, tâm lý làng, xã, đồng hương cộng với tư duy tiểu nông đã ăn sâu trong nhiều người Việt, tạo ra một tâm lý xã hội ngại đấu tranh, ngại nói thẳng, hoặc có việc dính dáng đến bản thân, gia đình là đi “nhờ vả”,… đã tạo điều kiện để một số cán bộ, đảng viên thực thi công vụ lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác của mình để trục lợi. 

Nguyên nhân chủ quan: Nhận thức của một số cấp uỷ, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị và bản thân đội ngũ cán bộ, đảng viên nhất là người đứng đầu về phòng, chống sự tha hóa quyền lực chưa sâu sắc, toàn diện hoặc chưa đủ rõ. 

Chủ nghĩa cá nhân, tham vọng danh lợi, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa được coi trọng đúng mức. Không ít cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, nhân sinh quan cách mạng, tinh thần hy sinh cống hiến vì sự nghiệp của Đảng, lười học tập, xem nhẹ việc học tập lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện của một số cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu chưa nghiêm, thiếu công tâm, khách quan; vẫn còn mang nặng tư duy nhiệm kỳ, “lợi ích nhóm”, né tránh, thoả hiệp hoặc áp đặt độc đoán, mất dân chủ, chưa gương mẫu, thiếu tinh thần trách nhiệm, sợ trách nhiệm, lấy tập thể làm bình phong cho những ý đồ cá nhân. 

Công tác cán bộ, quản lý đội ngũ cán bộ chậm đổi mới, một số khâu chưa được chuẩn hóa, còn sơ hở và thiếu tính khoa học, quá nhiều tiêu chuẩn kiểu định tính mà ít tiêu chuẩn mang tính định lượng; phương pháp, quy trình tuyển chọn, quy hoạch, bố trí, sắp xếp, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, nhất là việc thay thế cán bộ có biểu hiện tha hóa quyền lực, yếu kém, miễn nhiệm, cho từ chức đối với cán bộ không đủ tiêu chuẩn chậm được thực hiện. 

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ còn lúng túng trong xác định mô hình tổ chức, bố trí cán bộ, nhất là chưa chuyển trọng tâm từ xử lý vấn đề lịch sử chính trị sang nắm bắt, giải quyết và xử lý những vấn đề chính trị hiện nay. 

Vai trò giám sát và phản biện của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên ở không ít nơi chưa được phát huy, chưa có cơ chế nêu cao vai trò, trách nhiệm của báo chí, các cơ quan truyền thông trong kiểm soát quyền lực. 

Chưa coi trọng việc sơ kết, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học, phát triển lý luận về kiểm soát quyền lực nói chung, phòng, chống sự tha hóa quyền lực nói riêng, đến Đại hội XII của Đảng, vấn đề này mới được đặt ra một cách quyết liệt. 

Công tác kiểm tra, giám sát còn chưa bảo đảm hiệu lực, liệu quả, còn biểu hiện trên nóng, dưới lạnh. Việc xử lý vi phạm của cán bộ, đảng viên tha hóa quyền lực trong không ít trường hợp chưa kịp thời, nghiêm minh, đồng bộ, triệt để, dứt điểm nên tính phòng ngừa, răn đe và giáo dục chưa cao.

Thứ Tư, 13 tháng 10, 2021

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO LÀ SỰ LỰA CHỌN KHÁCH QUAN CỦA LỊCH SỬ

Hiện nay, những chiêu bài về “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hay “phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)”… mà các thế lực thù địch vẫn không ngừng “lớn tiếng” lâu nay cũng chỉ nhằm hướng tới một mục tiêu: phủ nhận những vấn đề căn cốt - nền tảng tư tưởng chính trị của chúng ta.

Cần khẳng định lại rằng, những “lý lẽ” mà các đối tượng, thế lực chống phá luôn rêu rao, đòi hỏi đối với Đảng và chế độ ta là những điều hoàn toàn không có gì mới, nhất là vấn đề “đa nguyên đa đảng”. 

Như chúng ta đã biết, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam khai sinh, ở nước ta đã từng có mô hình “đa nguyên đa đảng”. Ngay cả khi Đảng ta ra đời thì “đa đảng” vẫn tồn tại. Nhưng từ chính những đòi hỏi khách quan của lịch sử mà cách mạng đã lựa chọn từ “đa đảng” đến một đảng. Đó là xu hướng chính trị gắn liền với hoàn cảnh lịch sử và điều kiện cụ thể Việt Nam. Để khắc phục tình trạng “độc quyền mất dân chủ”, trong suốt tiến trình cách mạng, mọi đường lối, phương thức lãnh đạo của Đảng đều được bàn thảo, xây dựng trên cơ sở ý chí, nguyện vọng của nhân dân.

Vì thế, chúng ta khẳng định, ở Việt Nam không có sự cần thiết khách quan phải thực hiện cơ chế chính trị đa nguyên, đa đảng đối lập. Hơn lúc nào hết, trong tình hình hiện nay, nếu “thỏa hiệp” để thực hiện đa đảng đối lập cũng đồng nghĩa với việc đánh mất sự ổn định chính trị, rối loạn xã hội; tạo điều kiện cho sự trỗi dậy của các tư tưởng chính trị xa lạ - đi ngược lại lợi ích của quảng đại quần chúng và mục tiêu xây dựng xã hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Điều mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nhấn mạnh: “tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ” dù có thể thay đổi chính phủ nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản”. 

Đại hội XIII của Đảng cũng đã xác định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. 

Để đấu tranh có hiệu quả với những luận điệu thù địch nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng một cách đúng đắn, khách quan và khoa học, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải nắm vững và thường xuyên củng cố nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tăng cường tuyên truyền “phổ cập” tới mọi tầng lớp nhân dân về mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Qua đó tạo lập một mặt bằng chung trong toàn xã hội về ý thức tư tưởng chính trị; nâng cao khả năng “tự miễn dịch” trước những âm mưu xâm nhập, lây lan của những tư tưởng đi ngược lợi ích nhân dân, trái với lý tưởng và mục tiêu XHCN. 

Nghiêm túc quán triệt và thực hiện việc “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, thiết thực, kịp thời và hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục, tính giáo dục trong tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập Nghị quyết của Đảng. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp chiến lược; tiếp tục đổi mới hệ thống chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo hướng nâng cao chất lượng, chú trọng tính hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng. 

Đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” nói chung, chống các quan điểm sai trái, thù địch nói riêng chỉ phát huy hiệu quả thực chất khi việc chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong nội bộ Đảng thực sự có chất lượng. Theo đó, sự gương mẫu “nói đúng làm đúng” từ mỗi cán bộ đảng viên là cách tốt nhất để lan tỏa những quan điểm, chủ trương của Đảng tới mọi “ngõ ngách cuộc sống”, để mọi tầng lớp nhân dân luôn “tâm phục khẩu phục”, một lòng theo Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ./. 

Thứ Tư, 6 tháng 10, 2021

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO LÀ SỰ LỰA CHỌN KHÁCH QUAN CỦA LỊCH SỬ

Hiện nay, những chiêu bài về “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hay “phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)”… mà các thế lực thù địch vẫn không ngừng “lớn tiếng” lâu nay cũng chỉ nhằm hướng tới một mục tiêu: phủ nhận những vấn đề căn cốt - nền tảng tư tưởng chính trị của chúng ta.

Cần khẳng định lại rằng, những “lý lẽ” mà các đối tượng, thế lực chống phá luôn rêu rao, đòi hỏi đối với Đảng và chế độ ta là những điều hoàn toàn không có gì mới, nhất là vấn đề “đa nguyên đa đảng”. 

Như chúng ta đã biết, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam khai sinh, ở nước ta đã từng có mô hình “đa nguyên đa đảng”. Ngay cả khi Đảng ta ra đời thì “đa đảng” vẫn tồn tại. Nhưng từ chính những đòi hỏi khách quan của lịch sử mà cách mạng đã lựa chọn từ “đa đảng” đến một đảng. Đó là xu hướng chính trị gắn liền với hoàn cảnh lịch sử và điều kiện cụ thể Việt Nam. Để khắc phục tình trạng “độc quyền mất dân chủ”, trong suốt tiến trình cách mạng, mọi đường lối, phương thức lãnh đạo của Đảng đều được bàn thảo, xây dựng trên cơ sở ý chí, nguyện vọng của nhân dân.

Vì thế, chúng ta khẳng định, ở Việt Nam không có sự cần thiết khách quan phải thực hiện cơ chế chính trị đa nguyên, đa đảng đối lập. Hơn lúc nào hết, trong tình hình hiện nay, nếu “thỏa hiệp” để thực hiện đa đảng đối lập cũng đồng nghĩa với việc đánh mất sự ổn định chính trị, rối loạn xã hội; tạo điều kiện cho sự trỗi dậy của các tư tưởng chính trị xa lạ - đi ngược lại lợi ích của quảng đại quần chúng và mục tiêu xây dựng xã hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Điều mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nhấn mạnh: “tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ” dù có thể thay đổi chính phủ nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản”. 

Đại hội XIII của Đảng cũng đã xác định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. 

Để đấu tranh có hiệu quả với những luận điệu thù địch nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng một cách đúng đắn, khách quan và khoa học, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải nắm vững và thường xuyên củng cố nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tăng cường tuyên truyền “phổ cập” tới mọi tầng lớp nhân dân về mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Qua đó tạo lập một mặt bằng chung trong toàn xã hội về ý thức tư tưởng chính trị; nâng cao khả năng “tự miễn dịch” trước những âm mưu xâm nhập, lây lan của những tư tưởng đi ngược lợi ích nhân dân, trái với lý tưởng và mục tiêu XHCN. 

Nghiêm túc quán triệt và thực hiện việc “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, thiết thực, kịp thời và hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục, tính giáo dục trong tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập Nghị quyết của Đảng. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp chiến lược; tiếp tục đổi mới hệ thống chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo hướng nâng cao chất lượng, chú trọng tính hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng. 

Đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” nói chung, chống các quan điểm sai trái, thù địch nói riêng chỉ phát huy hiệu quả thực chất khi việc chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong nội bộ Đảng thực sự có chất lượng. Theo đó, sự gương mẫu “nói đúng làm đúng” từ mỗi cán bộ đảng viên là cách tốt nhất để lan tỏa những quan điểm, chủ trương của Đảng tới mọi “ngõ ngách cuộc sống”, để mọi tầng lớp nhân dân luôn “tâm phục khẩu phục”, một lòng theo Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ./. 

Thứ Ba, 24 tháng 8, 2021

VIỆT NAM QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ TẤT YẾU KHÁCH QUAN

Thời gian qua trên một số trang mạng xã hội xuất hiện bài viết: “Quá độ – nói phét vượt thời gian”, của bọn cơ hội chính trị, chống đối Đảng, Nhà nước nhằm xuyên tạc và phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nhưng chúng đã sai lầm, bởi lẽ: Con đường phát triển của mỗi chế độ xã hội nói chung, của chế độ xã hội chủ nghĩa trên thế giới và ở Việt Nam nói riêng là quá trình quanh co phức tạp. Sau sự khủng hoảng, sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên xô, một số nước Đông Âu, Đảng ta khẳng định: Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử. Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định: Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.

Mặc dù Chủ nghĩa tư bản đã có những thay đổi để thích ghi với thực tiễn, song bản chất không bao giờ thay đổi vẫn là chế độ người bóc lột người và chế độ đó không phải khát vọng của nhân loại. Ngày nay chủ nghĩa tư bản hiện đại bước sang giai đoạn cao là chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa, tuy đạt được nhiều thành tựu giải phóng, phát triển lực lượng sản xuất, phát triển khoa học và công nghệ nên đã đạt được năng suất lao động cao. Song chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó, khi dịch Covid – 19 bùng phát lại càng bộc lộ rõ bản chất chế độ chính trị – xã hội là không phải vì nhân dân lao động. Mặt khác, Việt Nam là nước nông nghiệp lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề về mọi mặt. Sau đại thắng mùa xuân 1975, đất nước thống nhất, Đảng lãnh đạo cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Với đường lối đổi mới, hội nhập quốc tế, trong 35 năm qua chúng ta đã đạt được nhiều thành tự to lớn trên tất cả các lĩnh vực, đúng như Đại hội XIII đã đánh giá: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Những thành tựu to lớn ấy khẳng định con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, không thể thay đổi. Do đó, các phần tử cơ hội chính trị có nói gì đi chăng nữa, cũng chỉ là tìm cách xuyên tạc, phủ định con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lực chọn. Mục đích cuối cùng của chúng là muốn chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân nhằm làm suy yếu nội bộ, tạo thời cớ can thiệp để làm đổi màu chế độ chính trị của nước ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Vì thế, mỗi người dân Việt Nam cần cảnh giác, không bị mắc mưu của những luận điểm xuyên tạc và phản động đó của chúng.

Thứ Ba, 4 tháng 5, 2021

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG - RẤT CẦN CÁI NHÌN KHÁCH QUAN, TỈNH TÁO

Thời gian gần đây, khi tình hình Biển Đông xuất hiện những biến động phức tạp, các thế lực thù địch một lần nữa lại lợi dụng vấn đề này để bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, từ đó khuấy động lòng dân, hòng gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự trong nước và làm tổn hại đến quan hệ của Việt Nam với các nước liên quan.

Trước hết, phải tái khẳng định rằng, chủ quyền quốc gia là không thể từ bỏ và đây cũng là nguyên tắc bất biến trong quá trình dựng và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Riêng với vấn đề Biển Đông, những người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển ở Biển Đông được xác định theo đúng các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) mà Việt Nam và các nước ở Biển Đông đều là thành viên. Với vấn đề chủ quyền lãnh thổ nói chung và vấn đề Biển Đông nói riêng, lập trường nhất quán của Việt Nam là giải quyết mâu thuẫn thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982 và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng, Nhà nước luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, cụ thể là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao... Những năm gần đây, khi vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, chúng ta càng có thêm nhiều cơ hội để đưa ra tiếng nói, khẳng định chủ quyền ở Biển Đông tại các cơ chế, diễn đàn đa phương. Ví dụ điển hình nhất là trong thời gian đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021, Việt Nam đã nhiều lần nêu vấn đề Biển Đông để cộng đồng quốc tế có cái nhìn khách quan, đúng đắn về vấn đề này.

Bởi vậy, dù tình hình trên biển nhiều lúc căng thẳng, phức tạp, Việt Nam vẫn đạt được mục tiêu, đó là giữ vững chủ quyền biển, đảo, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, không để xảy ra xung đột. Qua đó càng chứng minh chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế chung của thế giới.

Ấy vậy mà gần đây, trước những thông tin mới về tình hình Biển Đông, dù chưa biết diễn biến ở thực địa "nóng, lạnh" ra sao, một số đối tượng vẫn “cầm đèn chạy trước ô tô”, kích động dư luận bằng những nhận định xuyên tạc, bóp méo sự thật... Những luận điệu đó thực chất là chiêu bài kích động hận thù dân tộc, khiến cho tình hình thêm căng thẳng, nhằm thực hiện chia rẽ nội bộ và làm căng thẳng quan hệ đối ngoại của Việt Nam, mưu đồ tạo ra một cuộc xung đột quân sự với hậu quả khó lường.

Lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam và những cuộc chiến tranh trên thế giới đã chứng minh cho hậu quả nghiêm trọng của xung đột vũ trang. Người dân Việt Nam hơn ai hết mong muốn hòa bình, ổn định và phát triển. Do đó, với vấn đề Biển Đông, ưu tiên hàng đầu của Việt Nam là giải quyết bất đồng bằng các biện pháp hòa bình. Chiến tranh chỉ là giải pháp cuối cùng, bất khả kháng để tự vệ và bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc.

Nhân đây, cũng cần khẳng định lại rằng, bên cạnh việc kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông bằng các biện hòa bình, dựa trên chứng cứ pháp lý, lịch sử và luật pháp quốc tế, lực lượng vũ trang Việt Nam vẫn ngày đêm bám biển, sẵn sàng canh giữ và thực hiện các phương án bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Cũng từ vấn đề Biển Đông, các thế lực thù địch rêu rao rằng Việt Nam đi với nước này chống nước kia. Thực tế có phải như vậy?

Nên nhớ rằng, trong xu thế hợp tác và phát triển của thế giới, Việt Nam ngày càng mở rộng quan hệ, tăng cường hợp tác với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế, song tuyệt nhiên không có tư tưởng và hành động dựa dẫm, ỷ lại hoặc "lôi bè kéo cánh" để giải quyết bất đồng về chủ quyền lãnh thổ. Chính sách không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế của Việt Nam, là những quan điểm, chính sách nhất quán, đến nay vẫn giữ nguyên giá trị. Bởi vậy, cái gọi là Việt Nam đi với nước này chống lại nước kia là luận điệu xuyên tạc, tuyệt nhiên không có trong đường lối đối ngoại, hoặc trong chủ trương giải quyết vấn đề Biển Đông mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định.

Tiếc rằng, một số người vẫn dễ dàng sập bẫy bởi những quan điểm xuyên tạc kiểu này trên mạng xã hội hoặc trong lúc trà dư tửu hậu. Hậu quả là tâm lý của một bộ phận dư luận trong nước bất an, thậm chí dẫn tới những hành động gây mất ổn định trật tự xã hội, ít nhiều làm tổn hại đến những nỗ lực của Việt Nam và các nước liên quan trong giải quyết vấn đề Biển Đông.

Suy cho cùng, vấn đề Biển Đông không phải là việc có thể giải quyết trong một sớm một chiều, mà cần sự kiên trì, lâu dài. Để góp phần đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, mỗi người dân Việt Nam yêu nước rất cần có cái nhìn khách quan về tình hình Biển Đông, về đường lối, chủ trương giải quyết vấn đề này của Đảng và Nhà nước, đồng thời tỉnh táo, cảnh giác, phản bác mạnh mẽ các luận điệu xuyên tạc, kích động mà những phần tử xấu đã và đang rắp tâm tạo ra.

Thứ Sáu, 5 tháng 3, 2021

CẦN PHẢI CÓ THÁI ĐỘ KHÁCH QUAN, CÔNG TÂM KHI NHÌN NHẬN NHỮNG KHUYẾT ĐIỂM, THIẾU SÓT CỦA ĐẢNG TRONG QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO ĐẤT NƯỚC

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không tránh khỏi những sai lầm, thiếu sót do giáo điều, chủ quan, duy ý chí. Tuy nhiên, như một thông lệ không thể thiếu, trước mỗi kỳ Đại hội Đảng, nhất là kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, khi đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội qua một nhiệm kỳ, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật”, “tôn trọng hiện thực khách quan”, Đảng ta luôn thẳng thắn nhìn nhận những sai lầm, khuyết điểm. Đảng ta coi những sai lầm, khuyết điểm là yêu cầu, đòi hỏi Đảng phải tiếp tục đổi mới, nhân dân phải tiếp tục đồng lòng để vượt qua những khó khăn, thử thách. Điều này được khẳng định rõ trong Báo cáo tổng kết chặng đường 30 năm đổi mới của Đảng: “Những hạn chế, khuyết điểm đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải nỗ lực phấn đấu không ngừng để khắc phục, tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững theo con đường xã hội chủ nghĩa”.

Nhìn nhận lại những chủ trương của Đảng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời gian qua thông qua những Nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI (năm 2012), Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII (năm 2016), có thể nhận thấy tinh thần nghiêm túc trong tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn, giữ vững bản chất cách mạng, làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân và của toàn dân tộc. Đây không phải là sự “chắp vá”, “giật gấu vá vai” như những luận điệu mà các thế lực thù địch vẫn rêu rao mà nó thể hiện quyết tâm chính trị rất lớn của Đảng trong việc “tự sửa mình” và đào tạo, huấn luyện cán bộ, đảng viên. Do đó, cần có thái độ khách quan, công tâm khi xem xét những sai lầm, khuyết điểm của Đảng. Cần tránh cả hai xu hướng xem nhẹ, bỏ qua những khiếm khuyết hoặc tuyệt đối hóa, thổi phồng những khuyết điểm bởi cả hai xu hướng này hoặc là dẫn đến thái độ chủ quan, lơ là; hoặc dẫn đến thái độ cực đoan, bất mãn. Sai lầm, khuyết điểm của Đảng, nhất là của một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp trong thời gian qua là một bài học đắt giá cho công tác xây dựng Đảng nhưng không vì thế mà đánh đồng với đóng góp của biết bao thế hệ đảng viên với sự nghiệp cách mạng của đất nước. Cũng không vì thế mà đưa ra những lời rêu rao theo kiểu chụp mũ, vô căn cứ là “không ai muốn sống ở Việt Nam”, “những kẻ lắm tiền, nhiều của là thành phần cán bộ có chức có quyền đã tìm mọi cách đem gia đình chạy khỏi Việt Nam sau khi đã vơ vét đầy túi”.

Thứ Tư, 3 tháng 2, 2021

CƠ SỞ LÝ LUẬN KHẲNG ĐỊNH VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC VÀ XÃ HỘI LÀ CẦN THIẾT, TẤT YẾU VÀ KHÁCH QUAN

Vấn đề Đảng Cộng sản cầm quyền là một trong những nội dung quan trọng được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đề cập. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: giai cấp công nhân là giai cấp cách mạng nhất, tiên tiến nhất, giai cấp có sứ mệnh lịch sử đào huyệt chôn CNTB. Nhưng muốn thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình thì giai cấp công nhân phải có “đội tiên phong với lý luận tiên phong và hành động tiên phong” để lãnh đạo. Đội tiên phong chính là Đảng Cộng sản - bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh, chính đảng của giai cấp công nhân ra đời là một đòi hỏi tất yếu khách quan của cuộc đấu tranh giai cấp cần có lực lượng lãnh đạo giai cấp thực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của mình. Ph.Ăngghen cho rằng, Đảng Cộng sản ra đời là điều kiện tiên quyết để bảo đảm cho cách mạng XHCN giành thắng lợi và thực hiện được mục tiêu cuối cùng của nó là thủ tiêu giai cấp.

Kế thừa tư tưởng trên của Mác - Ăngghen, Lênin khẳng định: “Về nguyên tắc, Đảng Cộng sản phải giữ vai trò lãnh đạo, đó là điều không còn phải nghi ngờ gì nữa”(1). Bởi Đảng Cộng sản là đội tiên phong giác ngộ có tổ chức, và là tổ chức chặt chẽ nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, chỉ có Đảng Cộng sản mới có đủ phẩm chất chính trị và năng lực, xứng đáng là người lãnh đạo xã hội mới. Lênin cũng chỉ rõ: “Đảng Cộng sản…. cầm quyền tức là Đảng không chỉ lãnh đạo Nhà nước mà là lãnh đạo cả xã hội”. Và trong điều kiện cầm quyền đó, Đảng phải là “trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại”.

Giải đáp vấn đề “Cách mệnh trước hết phải có cái gì?”, Hồ Chí Minh chỉ rõ “trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững mạnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy”. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Đây là một bước ngoặt lịch sử trọng đại, chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về tổ chức và đường lối của cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. “Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”.

Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2020

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO LÀ YÊU CẦU KHÁCH QUAN

Thực tế cho thấy, không thể có quyền tự do tôn giáo tuyệt đối. Xét về bản chất, tôn giáo là một tổ chức tập hợp những người tin theo một đối tượng tôn thờ, được sắp xếp theo cơ cấu nhất định. Mọi tổ chức tồn tại, hoạt động trong xã hội đều phải chịu sự quản lý, giám sát của Nhà nước, tuân thủ quy định của pháp luật. Do vậy, các tôn giáo phải chịu sự quản lý của Nhà nước, phải chấp hành quy định của pháp luật. Việc ban hành các văn bản pháp luật để tiến hành quản lý nhà nước đối với các tôn giáo là nhu cầu tất yếu, khách quan của mọi quốc gia trên thế giới

Điều 18 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị quy định: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội hoặc để bảo vệ quyền và tự do cơ bản của người khác”.

Ở nhiều nước trên thế giới, hoạt động tôn giáo cũng phải tuân thủ luật pháp như: Điều 26, Luật của Cộng hòa Pháp về tách Giáo hội khỏi Nhà nước quy định: “Việc tụ tập để thực hiện các nghi lễ tôn giáo phải báo cáo và chịu sự kiểm soát của các cơ quan chính quyền có chức năng gìn giữ trật tự công cộng. Ở những nơi chuyên vào việc thờ tự và thực hành nghi lễ tôn giáo cấm việc hội họp có tính chất chính trị”. Điều 27 quy định: “Các nghi lễ, các cuộc rước tôn giáo tiến hành bên ngoài khu vực nhà thờ và việc kéo chuông phải tuân theo những quy định của chính quyền tỉnh, thành phố”.

Luật pháp Cộng hòa Bỉ quy định trách nhiệm hình sự đối với những giáo sĩ có hành vi và lời nói xúc phạm tới Chính phủ, luật pháp, sắc lệnh của nhà vua cũng như đối với các hoạt động của chính quyền.

Ở Cộng hòa Liên bang Đức, giáo sĩ cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự như công dân khác trong trường hợp vi phạm hiến pháp, pháp luật. Cũng ở Đức, các giám mục Thiên chúa giáo khi nhậm chức phải tuyên thệ: “Tôi xin thề và hứa sẽ tôn trọng Chính phủ hợp hiến. Chiểu theo nghĩa vụ phải quan tâm tới lợi ích của Nhà nước Đức trước bất kỳ sự gì khả dĩ tác hại tới lợi ích đó”.

Ở Mỹ, hoạt động của các tổ chức tôn giáo được quản lý theo luật pháp của các bang. Luật của các bang quy định về hoạt động tôn giáo có những điểm khác nhau về chi tiết, song nhìn chung đều dựa trên yêu cầu thống nhất trong toàn liên bang như: Việc đăng ký thủ tục bắt buộc đối với các tổ chức tôn giáo trong toàn liên bang, lệ phí phải nộp cho chính quyền về việc đăng ký là 15 đô la; các cơ quan chính quyền của bang trực tiếp thi hành việc giám sát các hoạt động của các tổ chức tôn giáo trên địa bàn hành chính của bang. Chỉ sau khi được chính quyền xem xét, đồng ý cho phép thành lập thì các tổ chức tôn giáo mới được phép hoạt động và có tư cách pháp nhân.

Ở Nhật Bản, Luật về các tổ chức tôn giáo có tư cách pháp nhân quy định rõ: Các cấp chính quyền quản lý các tổ chức tôn giáo là Bộ Văn hóa, tỉnh, huyện. Các tổ chức tôn giáo đều phải đăng ký ở Bộ Văn hóa và chỉ sau khi đã được đăng ký mới được hoạt động tại nơi đặt văn phòng của tổ chức đó.

Thứ Ba, 26 tháng 12, 2017

HỘI NHẬP QUỐC TẾ LÀ XU THẾ KHÁCH QUAN CỦA VIỆT NAM

Trong bối cảnh của tình hình quốc tế hiện nay, không một quốc gia dân tộc nào trên thế giới (kể cả các nước giầu hay nước nghèo; nước lớn hay nước nhỏ, nước phát triển hay chậm phát triển; dù đó là các quốc gia có chế độ chính trị khác nhau...) muốn hay không, vẫn phải chấp nhận và tham gia vào tiến trình hội nhập của nền kinh tế khu vực và thế giới. Việt Nam là một nước đang phát triển, chủ trương thực hiện một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trước bối cảnh quốc tế hiện nay, chúng ta tiến hành hội nhập với khu vực và quốc tế là một tất yếu khách quan. Bởi xuất phát từ mấy lý do sau:
Thứ nhất, đây là một xu thế chung của nhân loại - xu thế của quá trình toàn cầu hoá. Toàn cầu hoá đang và sẽ là một xu thế lớn tác động sâu sắc tới các lĩnh vực của đời sống quốc tế, nó đi sâu vào từng quốc gia và buộc các chủ thể này phải có những thay đổi về chiến lược, sách lược phát triển đất nước cho phù hợp với bối cảnh toàn cầu hoá đang ngày càng lan rộng. xét về bản chất, toàn cầu hoá là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới.
Bởi thực tế hiện nay sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, sự hình thành mạng Internet bao trùm toàn cầu, đã làm cho sức sản xuất hàng hóa có hàm lượng trí tuệ phát triển nhanh, mối liên hệ giữa các dân tộc, các quốc gia và khu vực ngày càng được tăng cường. Toàn cầu hoá đang là một xu thế khách quan tác động mạnh mẽ tới các lĩnh vực của đời sống xã hội, tới mọi chủ thể trong quan hệ quốc tế không phân biệt các nước có chế độ chính trị khác nhau. Toàn cầu hoá làm cho mối liên hệ và sự phụ thuộc vào nhau của các nền kinh tế tăng lên, đồng thời kéo theo hàng loạt các vấn đề chính trị xã hội. Vì thế, trong xu thế chung này, Việt Nam không thể nằm ngoài xu thế chung đó.
 Thứ hai, xuất phát từ đặc điểm, điều kiện của nước ta, đi lên CNXH từ một nền kinh tế nghèo nàn và lạc hậu, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, cơ sở vật chất, kỹ thuật nghèo nàn, lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Cùng với đó là những tâm lý, tư tưởng, thói quen, tập quán sản xuất nhỏ hàng ngàn năm đè nặng trong suy nghĩ và hành động, còn ăn sâu bám rễ trong mỗi người dân Việt Nam. Có thể nói, chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội gặp muôn vàn khó khăn cùng những trở ngại. Cho nên, chúng ta tham gia hội nhập vào đời sống quốc tế và khu vực là điều tất yếu, là một trong những con đường để đưa đất nước vượt lên, thoát khỏi sự nghèo nàn, lạc hậu, là sự rút ngắn giai đoạn quá độ và khoảng cách chênh lệch giữa nước ta với các nước trên thế giới.
Thứ ba, do yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Công nghiệp hoá- hiện đại hoá là con đường duy nhất đưa nước ta thoát ra khỏi tình trạng nước nghèo kém phát triển, là quá trình chúng ta xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Để đẩy mạnh sự nghiệp CNH,HĐH và hoàn thành mục tiêu “sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiẹp theo hướng hiện đại” mà Đảng ta đã xác định thì chúng ta cần thiết phải thực hiện quá trình hội nhập, mở cửa với khu vực và quốc tế. Quá trình hội nhập sẽ mang lại cho chúng ta vốn, trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ đặc biệt là các công nghệ hiện đại như: công nghệ vật liệu mới, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học…và đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn.
Với những lý do trên, có thể khẳng định rằng, Việt Nam tham gia hội nhập vào khu vực, quốc tế là tất yếu khách quan, là xu thế hợp quy luật, hợp với sự vận động của đời sống quốc tế hiện nay. Sự hội nhập này vừa là một xu thế không thể cưỡng lại nhưng cũng là nhu cầu phát triển nội tại của Việt Nam, là chính sách và cũng là chiến lược phát triển đất nước của chúng ta trong thế kỷ XXI.

Thứ Hai, 18 tháng 9, 2017

Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là tất yếu khách quan

Nhà nước pháp quyền là một trong những giá trị xã hội quý báu được tích lũy và phát triển trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Tư tưởng về nhà nước pháp quyền phát triển không ngừng, là thành quả của nhân loại, nó hình thành và phát triển cùng với sự tiến bộ xã hội và cho đến nay đã được thế giới thừa nhận về mặt lý luận như một học thuyết về nhà nước pháp quyền. Hiện nay các nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa đang nỗ lực xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Việc xác định mục đích, nội dung, phương hướng và biện pháp xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không chỉ được đông đảo người dân ở các nước này, mà còn cả những người dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới đồng tình, ủng hộ.
Nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước mà là giá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ. Xuất phát từ nhu cầu, khát vọng của con người mong muốn có một xã hội tiến bộ, công bằng, không có áp bức, bóc lột mà ở đó pháp luật giữ vị trí thượng tôn trong xã hội mà các nhà hiền nhân trí sĩ đã hướng con người tới việc phải xây dựng cho được Nhà nước pháp quyền là tổ chức chính trị của nhân dân, bảo đảm chủ quyền của nhân dân là nhà nước tôn trọng, thực hiện và bảo vệ được các quyền tự do, dân chủ của công dân chịu trách nhiệm trước công dân về những hoạt động của mình, còn công dân phải thực hiện các nghĩa vụ đối với nhà nước và chịu trách nhiệm pháp lý về những hành vi vi phạm pháp luật của mình; bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước trong mọi tổ chức, hoạt động của nhà nước... Đồng thời, còn xuất phát từ bản chất và tính ưu việt của nhà nước xã hội chủ nghĩa trong việc đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ cho mọi người dân trên các phương diện khác nhau của đời sống xã hội, mà vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã chủ nghĩa đặt ra như một tất yếu khách quan. Không chỉ có vậy, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa luôn chứa đựng những rủi ro bởi sự chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, cùng với đó những biểu hiện của tệ quan liêu, tham nhũng, suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên cần có những cơ chế, chính sách, điều luật đủ mạnh để răn đe, phòng ngừa, ngăn chặn, tiêu diệt những hiện tượng đó, đảm bảo cho pháp luật của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực thi đi vào thực tiễn cuộc sống, phát huy được tác dụng của mình.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền mang bản chất của giai cấp công nhân. Đó là nhà nước tổ chức, quản lý, điều hành xã hội trên cơ sở hiến pháp và pháp luật với mục đích đảm bảo quyền lực cho nhân dân. Giá trị xã hội của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là việc tạo ra một hệ thống các quan hệ bảo đảm sự thống trị của pháp luật trong tất cả các lĩnh vực xã hội. Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quyền lực thực sự thuộc về nhân dân lao động, điều này được quy định một cách khách quan từ cơ sở kinh tế và chế độ chính trị của chủ nghĩa xã hội. Khi nhân dân được làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội thì đương nhiên mọi công dân đều có quyền lực. Toàn bộ hoạt động của nhà nước từ pháp luật, cơ chế, chính sách đến những nguyên tắc tổ chức đều thể hiện quan điểm của giai cấp công nhân, nhằm từng bước thực hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân, phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc. 

Thứ Ba, 4 tháng 4, 2017

“Đảng lãnh đạo kinh tế” là một tất yếu khách quan

Thời gian qua, trước những  hạn chế, khó khăn của đất nước, dựa vào những sự kiện thực tế, như: lạm phát, giảm phát, sự suy giảm tốc độ tăng trưởng, thất nghiệp, tham nhũng và các tiêu cực, tệ nạn xã hội, một số quan điểm cho rằng, “Đảng không lãnh đạo kinh tế”. Đây là một quan điểm sai trái, xuyên tạc thực tế lịch sử. Cả lý luận khoa học và thực tiễn lịch sử đã khẳng định “Đảng lãnh đạo kinh tế”  là một tất yếu khách quan 
Quan điểm “Đảng không lãnh đạo kinh tế” đã lẫn lộn hiện tượng với bản chất, tạo ra ranh giới giả tạo giữa kinh tế và chính trị, gieo rắc sự mù mờ trong nhận thức về chính trị, coi Đảng chỉ nên tự khuôn mình trong phạm vi “chính trị”, Đảng không nên can dự vào kinh tế, để kinh tế theo quy luật, mệnh lệnh của thị trường, để cho các nhà quản lý, quản trị nhà nước và doanh nghiệp đảm trách. Từ đó bộc lộ những mưu toan thâm độc, tinh vi hòng làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa, tạo ra những thẩm thấu tiêu cực và sai lầm trong đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, thì mọi vấn đề về cuộc sống của nhân dân, về sự ổn định và phát triển đất nước, cả đối nội và đối ngoại đều thuộc về nội dung, thẩm quyền và trách nhiệm lãnh đạo của Đảng. Đây là những lĩnh vực của tồn tại và phát triển con người và xã hội, đất nước và dân tộc, trong hiện tại và tương lai, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn liền với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa mà Đảng phải thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện. Đó là trọng trách lịch sử của Đảng, do dân tộc và nhân dân ủy thác. Điều 4, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.

Thực tiễn cho thấy, Đảng ta hoàn toàn có năng lực, kinh nghiệm và bản lĩnh lãnh đạo Nhà nước và trên mọi lĩnh vực của xã hội. Đó là điều không ai có thể phủ nhận. Kể từ khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và xã hội, trong đó có 30 năm Đảng lãnh đạo và tổ chức thực hiện đường lối đổi mới, chưa bao giờ Đảng xem nhẹ, buông lỏng vấn đề lãnh đạo kinh tế. Trái lại, nhờ chú trọng lãnh đạo kinh tế, bảo đảm sự đúng đắn và nhất quán về quan điểm chính trị trong lãnh đạo kinh tế mà Đảng ta đã giải quyết thành công nhiều nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế quan trọng ở tầm chiến lược, vĩ mô, tạo ra những đột phá trong đổi mới, mở cửa và hội nhập, đưa đất nước phát triển với thế và lực như hiện nay. Hơn nữa, từ những trải nghiệm thực tiễn trong lãnh đạo kinh tế và quản lý kinh tế, Đảng đã từng bước trưởng thành về năng lực, không ngừng đổi mới phương thức và phương pháp lãnh đạo; tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển lý luận, đường lối lãnh đạo kinh tế - một lĩnh vực trọng yếu, huyết mạch của lãnh đạo xã hội.

Thứ Ba, 28 tháng 3, 2017

Cơ sở khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

CNTB ra đời đánh dấu một bước tiến vĩ đại và phát triển của LLSX. Sự ra đời của nền đại công nghiệp, một mặt tạo ra cơ sở vật chất, nhờ đó có thể xóa bỏ được chế độ bóc lột, xây dựng một xã hội công bằng, mặt khác sản sinh ra GCCN, lực lượng xã hội đại diện cho LLSX mới. Giai cấp công nhân xét về nguồn gốc ra đời là con đẻ của nền đại công nghiệp, sinh ra và phát triển theo đà phát triển của kỹ thuật và công nghiệp, họ chỉ trở thành một giai cấp ổn định khi sản xuất đại công nghiệp đã thay thế về cơ bản nền sản xuất thủ công.
Tuy nhiên, với sự phát triển không ngừng của GCCN, lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội hóa ngày càng cao, trong khi đó quan hệ sản xuất TBCN lại dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Chính điều đó đã tạo ra mâu thuẫn cơ bản trong lòng XHTB và được biểu hiện ra ngoài bằng mâu thuẫn gay gắt giữa GCCN - đại diện cho lực lượng sản xuất mới - với GCTS - đại diện cho quan hệ sản xuất lỗi thời. Theo quy luật khách quan, QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX. Một khi QHSX không phù hợp với LLSX sẽ xảy ra xung đột gay gắt trong xã hội, lúc đó giai cấp tiên tiến trong xã hội - đại diện cho LLSX mới - sẽ lãnh đạo cuộc đấu tranh lật đổ giai cấp thống trị, thiết lập QHSX mới, phù hợp với nhu cầu phát triển của LLSX, tạo nên phương thức sản xuất mới, tiến bộ hơn phương thức sản xuất cũ bị thay thế. Khi ấy HTKT-XH cũ sẽ thay đổi bằng HTKT-XH mới cao, tiến bộ hơn: đó là quy luật phát triển cơ bản của xã hội loài người đã được lịch sử chứng minh, không một học thuyết nào bác bỏ được
Như vậy, với mâu thuẫn trong xã hội tư bản, sớm hay muộn người đại diện cho LLSX mới sẽ lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh lật đổ GCTS - đại diện cho QHSX lỗi thời - thiết lập QHSX mới, mở đường cho LLSX tiếp tục phát triển. Giai cấp công nhân là LLSX tiên tiến, cơ bản nhất của phương thức sản xuất TBCN, vì vậy nó sẽ là người quyết định phá vỡ QHSX TBCN, hình thành phương thức sản xuất mới: phương thức sản xuất CSCN, nền tảng cho xã hội CSCN ra đời. Mặt khác, trong xã hội tư bản, GCCN luôn luôn phát triển ngày càng đông về số lượng và tăng về chất lượng cùng với sự phát triển không ngừng của công nghiệp và quá trình CNH-HĐH nền kinh tế. Tuy nhiên, sự phát triển của GCCN cũng đồng thời dẫn đến sự gia tăng mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa GCCN và GCTS tất yếu dẫn đến cách mạng xã hội nhằm xóa bỏ CNTB, hình thành xã hội mới, xã hội XHCN và CSCN.

Hiện nay, GCTS đã và đang tìm mọi cách để điều chỉnh các quan hệ TBCN nhằm cứu vãn chế độ thống trị của giai cấp mình và trên thực tế GCTS đã đạt được một số thành tựu và kết quả nào đấy nhưng vẫn không khắc phục được mâu thuẫn cơ bản của XHTB, vẫn phải thường xuyên đối đầu với các cuộc khủng hoảng nặng nề với nhiều cơn suy thoái và nạn thất nghiệp thường xuyên không tránh khỏi của hàng chục triệu người. Phong trào đấu tranh của GCCN tuy đang đứng trước những thử thách hết sức nặng nề nhưng bức tranh toàn cảnh của sự phát triển LLSX thế giới vẫn đang chuẩn bị những tiền đề khách quan cho GCCN thực hiện SMLS của mình, dù có trãi qua những bước thăng trầm, quanh co nhưng nó vẫn tiếp tục diễn ra theo quy luật khách quan của lịch sử.