Hiển thị các bài đăng có nhãn tự do. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tự do. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 26 tháng 4, 2024

Ở VIỆT NAM QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ ĐƯỢC ĐẢM BẢO VÀ THỰC HIỆN NGHIÊM TÚC

Vừa qua, có những quan điểm cho rằng: Việt Nam không tôn trọng các quyền này và một số luật đặc biệt xâm phạm quyền tự do ngôn luận; quyền tự do ngôn luận của nhân dân bị hạn chế; Đảng, Nhà nước Việt Nam kiểm duyệt hoặc hạn chế nội dung đối với các thành viên của báo chí và các phương tiện truyền thông khác.... Đây là những nhận định sai sự thật, cố tình xuyên tạc, vu khống Việt Nam vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.

Trên thực tế, tôn trọng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là chủ trương, chính sách nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước Việt Nam và được thể chế hóa bằng Hiến pháp, pháp luật. Hiến pháp năm 2013 và các bộ luật liên quan như: Luật Tiếp cận thông tin, Luật Báo chí, Luật An ninh mạng và nhiều văn bản pháp luật khác tiếp tục thể chế hóa quyền này. Cụ thể: Hiến pháp năm 2013 quy định tại Điều 25: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Luật Báo chí năm 2016 quy định tại Điều 10 về Quyền tự do báo chí của công dân: Sáng tạo tác phẩm, cung cấp, phản hồi, tiếp cận thông tin báo chí, liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí, in, phát hành báo in; Điều 11 về Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân quy định công dân có quyền: phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức, cá nhân.

Nhà nước ta luôn tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Tính đến tháng 6-2023, Việt Nam có 127 cơ quan báo, 677 cơ quan tạp chí (trong đó 327 tạp chí lý luận chính trị và khoa học, 72 tạp chí văn học nghệ thuật); 71 cơ sở truyền thanh, truyền hình hoạt động độc lập; 666 cơ sở truyền hình - truyền thanh cấp huyện; 9.959 đài truyền thanh cấp xã (trong đó 1.757 đài truyền thanh ứng dụng công nghệ thông tin - viễn thông, 1.386 đài của xã nông thôn, miền núi); 57 nhà xuất bản. Số lượng lao động trong lĩnh vực báo chí ước khoảng 71.830 người (tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2022); Tỷ lệ người dùng internet đạt 78,59% (vượt mục tiêu kế hoạch năm 2023, năm 2023 là 76%); 253 cơ quan báo chí tham gia hoạt động thông tin đối ngoại, 59 văn phòng báo chí Việt Nam thường trú tại nước ngoài, 137 phóng viên Việt Nam thường trú tại nước ngoài trong năm 2022; số người được cấp thẻ nhà báo là 11.958. Bên cạnh các cơ quan báo chí trong nước, tại Việt Nam còn có nhiều hãng truyền thông quốc tế hoạt động như CNN, Reuters, AP, AFP, Kyodo, Asia, Rossiya Segodnya... Trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam luôn có tinh thần cầu thị, tích cực học hỏi, tiếp thu, tham khảo những kinh nghiệm tiến bộ của các quốc gia trên thế giới để thực hiện ngày càng tốt hơn quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí cho đại đa số người dân.  

Cần hiểu đúng, tự do ngôn luận, tự do báo chí không phải là không có giới hạn nhất định. Trong pháp luật quốc tế cũng như pháp luật của mỗi quốc gia, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí không phải là quyền tuyệt đối, tự do vô chính phủ. Tự do ngôn luận, tự do báo chí là những quyền cơ bản của con người, được pháp luật Việt Nam tôn trọng và bảo đảm. Tuy nhiên, quyền tự do nói chung, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí nói riêng đều phải trong khuôn khổ cho phép và không bị nghiêm cấm bởi luật pháp. Pháp luật Việt Nam cũng nghiêm cấm các hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để vu khống, bôi nhọ danh dự cá nhân, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, kích động, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; thông tin không đúng sự thật, gây hoang mang trong dư luận, xâm phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác... Các hành vi nghiêm cấm này được quy định cụ thể trong các văn bản: Luật báo chí năm 2016 (Điều 9), Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 (Điều 3), Luật An ninh mạng năm 2018 (Khoản 3, Điều 16); Bộ luật Hình sự năm 2015 (Điều 331). 

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2022

SỰ THẬT VỀ TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

Những năm gần đây, các thế lực thù địch, phản động với bản chất xuyên tạc và một thái độ áp đặt, chủ quan, đòi hỏi một “tiêu chuẩn kép” về “dân chủ, nhân quyền”, tự do tôn giáo; vẫn một thủ đoạn xuyên tạc, bóp méo sự thật một cách thô thiển bất chấp thực tế về những thành tựu to lớn của Việt Nam trong lĩnh vực nhân quyền, tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Họ muốn tạo sự hoài nghi về phương hướng lãnh đạo của Đảng Cộng sản, các chính sách, pháp luật của Nhà nước ta có liên quan đến tôn giáo và hoạt động tự do tôn giáo. Đồng thời, dùng mọi thủ đoạn thâm độc xuyên tạc sai sự thật về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

Việc làm trên của các thế lực phản động, thù địch vừa tạo phản ứng tiêu cực của các chức sắc cực đoan và số tín đồ cuồng tín tìm cách tạo dựng các vụ việc phức tạp mang màu sắc của tôn giáo hòng phá hoại an ninh chính trị, trật tự xã hội và mục đích cao nhất là dùng sức mạnh của tôn giáo để lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hiến pháp 2013 của Việt Nam quy định tại Điều 12 Chương I khẳng định: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng Hiến chương Liên Hợp Quốc và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việt Nam là một trong những nước sớm phê chuẩn Công ước quốc tế về nhân quyền.

Với nguyên tắc đó, Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2017 và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác của Quốc hội, của Nhà nước Việt Nam đã quán triệt và thể chế hóa đầy đủ những quan điểm, chủ trương, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Các quy định pháp lý đó không những phù hợp với tinh thần và nội dung tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Công ước quốc tế, mà còn đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, củng cố niềm tin, tạo động lực để đồng bào các tôn giáo “đồng hành cùng dân tộc”, góp phần quan trọng vào củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Văn kiện Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo Hiến chương, Điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước”.

Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, Đảng ta nhấn mạnh: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo; có những chính sách đặc thù giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước”.

Là một nước đa tôn giáo, nhưng cộng đồng các tôn giáo hoạt động ở Việt Nam luôn gắn bó với dân tộc; đồng thời, là nhân tố xã hội và văn hoá tích cực góp phần làm cho nền văn hoá Việt Nam phong phú, đa dạng và đặc sắc. Việt Nam còn là một đất nước rất ôn hoà trong quan hệ giữa các tôn giáo, có truyền thống đoàn kết tôn giáo, đoàn kết toàn dân trong quá trình dựng nước và giữ nước. Việc chung sống hoà bình và bao dung giữa các tôn giáo cùng với tính nhân ái, nhân bản của con người và xã hội Việt Nam đã tạo ra một bức tranh sinh động về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam: thuần tuý nhưng phong phú, đan xen nhưng không mâu thuẫn.

Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, quan hệ tích cực và mang tính xây dựng giữa các tôn giáo và Nhà nước đã được thể hiện rất rõ và ngày càng được củng cố. Đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có đoàn kết hoà hợp các tôn giáo là nguồn sức mạnh và là nhân tố quyết định bảo đảm cho mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng, tôn giáo; thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết lương - giáo và giữa các tôn giáo; khắc phục thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, chống mọi hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, đồng thời nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc.

Ngày nay, trong điều kiện hội nhập quốc tế, mở rộng quan hệ, hợp tác đầu tư với nước ngoài, cũng đang nảy sinh tình trạng sơ hở, mất cảnh giác trong các lĩnh vực đối ngoại, kinh tế, văn hoá, tư tưởng và trong quản lý nhà nước về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, cùng với những biểu hiện tiêu cực của cơ chế thị trường, là những điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá ta trên các mặt trận chính trị, tư tưởng văn hoá, xã hội bằng những âm mưu, thủ đoạn mà các thế lực thù địch thường làm là: phản bác chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phủ định tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội.Tuyên truyền đề cao các giá trị của chủ nghĩa tư bản về thể chế chính trị, đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, dựng ngọn cờ “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”; chia rẽ giữa nhân dân, Quân đội, Công an với Đảng, Nhà nước; chia rẽ lương giáo với các tổ chức quần chúng khác trong hệ thống chính trị, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân; tuyên truyền chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, chạy theo ham muốn vật chất tầm thường, gieo rắc văn hoá đồi truỵ, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan. Suy cho cùng hòng làm cho tình hình chính trị ở Việt Nam mất ổn định. Đây là “bài học” mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã dành nhiều thời gian, công sức “nghiên cứu, đúc kết” từ những cuộc xung đột chính trị xảy ra ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới những năm gần đây.

Bởi vậy, Đảng ta yêu cầu: “Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch”. Chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc hoặc những hoạt động, tín ngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp luật.

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 – 2030 trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta xác định: “Thực hiện tốt mục tiêu đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người theo quy định của pháp luật. Phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo vào giữ gìn và nâng cao đạo đức truyền thống xã hội, xây dựng đời sống văn hóa ở các khu dân cư, góp phần ngăn chặn các tệ nạn xã hội”

Mặt khác, cần đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Đó là những cơ sở để chúng ta kiên quyết đấu tranh, phản bác mọi luận điệu xuyên tạc, cố tình phủ nhận quan điểm, chủ trương, chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam và những thành tựu về tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta sau hơn 35 năm đổi mới.

Đồng thời, là cơ sở để chúng ta kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, làm vô hiệu hóa các “đạo lạ”, “tạp giáo”; lợi dụng tự do tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2022

CHỈ CÓ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI MỚI ĐEM LẠI ĐỘC LẬP, TỰ DO THỰC SỰ!

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930, đã có không ít quan điểm sai trái, thù địch chống phá Đảng, xuyên tạc, phủ nhận con đường cách mạng mà Đảng và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn trong hơn 90 năm qua. Họ cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đẩy nhân dân Việt Nam vào những cuộc chiến tranh vô ích (?!); đưa dân tộc Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội không khác gì đẩy dân tộc vào “thiên đường mù”, vào “bến bờ ảo vọng”(?!).

Trong bài Diễn văn kỷ niệm 90 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 - 2020), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam trong 90 năm qua đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng một lần nữa khẳng định: “Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”.

Thực tế cho thấy, từ khi thành lập đến nay, với đường lối đúng đắn và bản lĩnh của một Đảng cách mạng chân chính, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo Nhân dân ta thực hiện thành công cách mạng giải phóng dân tộc và tiến hành công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng đạt được những kết quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Mặc dù vậy, cho đến nay, vẫn có những con người được sinh ra, được hưởng thành quả của sự nghiệp cách mạng ấy đã phủ nhận, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng và phủ nhận thành quả cách mạng của Nhân dân ta. Họ cho rằng, nếu không đi theo con đường xã hội chủ nghĩa thì dân tộc Việt Nam đã không chậm phát triển, không có tham nhũng…; rằng, nếu đi theo con đường tư bản chủ nghĩa đất nước sẽ phát triển nhanh, xã hội sẽ tiến bộ và công bằng…(?!). Thực chất, những luận điệu ấy, hoặc là quan điểm sai trái, thù địch, phản động; hoặc là không đủ khả năng nhận thức được xu thế tất yếu của lịch sử nhân loại.

Có thể khẳng định, từ khi lịch sử loài người xuất hiện giai cấp, áp bức, bóc lột bất công, thì tình trạng chiến tranh, thủ đoạn cướp đoạt bằng bạo lực, nô dịch cũng xuất hiện. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, tình trạng ấy ngày càng trở nên gay gắt. Từ đó, những khát vọng, mong muốn được giải phóng của những giai cấp bị áp bức, bóc lột cũng xuất hiện.

Nhiều thế hệ các nhà tư tưởng, các nhà cách mạng ưu tú đã cống hiến, hy sinh cả cuộc đời cho lý tưởng tốt đẹp, nhân đạo, cho sự tiến bộ của nhân loại. Từ những tư tưởng sơ khai của Aghit, Clêômen thế kỷ III trước Công nguyên đến những mô hình, hệ thống quan điểm ngày càng hoàn chỉnh, tiến bộ hơn như T.Moro, G.Babớp, Xanhximông. Ph.Phurie, R.Owen, N.Đôbzôliubốp. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa được khái quát thành hệ thống lý luận khoa học trong chủ nghĩa Mác. Và đến V.I.Lênin, lý luận đó là tiền đề cho sự ra đời chủ nghĩa xã hội hiện thực.

Chủ nghĩa xã hội được hiểu với 3 tư cách: đó là một học thuyết, một phong trào cách mạng và một chế độ xã hội. Học thuyết, phong trào, chế độ ấy hướng đến sự giải phóng triệt để con người, chấm dứt bạo lực, cường quyền, chiến tranh; để phát triển toàn diện con người, để sự tự do của mỗi người là tiền đề cho sự tự do của tất cả mọi người.

Xuất phát từ nhận thức rằng, áp bức giai cấp là nguyên nhân căn bản, sâu xa của áp bức dân tộc, thì các chế độ người áp bức, bóc lột người trong lịch sử đều dẫn đến tình trạng dân tộc này đi áp bức, bóc lột dân tộc khác. Tình trạng này xuất hiện là do giai cấp thống trị về kinh tế trong một dân tộc luôn muốn củng cố địa vị kinh tế của mình thông qua bóc lột, đồng thời mở rộng sự ảnh hưởng của mình thông qua áp bức, nô dịch các dân tộc khác. Sự đô hộ của các nước đế quốc đối với các nước thuộc địa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, về thực chất là sự bành trướng, áp bức bóc lột của giai cấp tư sản khi nó đã trở thành giai cấp lỗi thời về mặt lịch sử.

Mặt khác, ở mỗi dân tộc nhất định, tính chất tiến bộ cách mạng hay bảo thủ, phản động của giai cấp giữ địa vị thống trị trong phương thức sản xuất sẽ quyết định tính chất của dân tộc. Giai cấp cách mạng, tiến bộ sẽ thúc đẩy sự phát triển của dân tộc theo hướng tiến bộ, cách mạng. Giai cấp lỗi thời, bảo thủ, lạc hậu, phản động sẽ kìm hãm sự phát triển của chính dân tộc ấy. Chẳng hạn, sự thống trị, áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản nói lên tính chất tư bản chủ nghĩa của dân tộc đó. Trong xã hội ấy không thể có tự do thực sự cho tất cả mọi người. Khi giai cấp công nhân trở thành giai cấp lãnh đạo, xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công thì dân tộc tư sản chuyển hóa thành dân tộc có tính chất xã hội chủ nghĩa. Dân tộc ấy thực hiện “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” cho tất cả mọi người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” và “cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”.

Hơn nữa, chế độ xã hội chủ nghĩa ra đời sẽ tạo cơ sở kinh tế để nhân dân được ăn no, mặc ấm. Theo Hồ Chí Minh, “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”. Chế độ chính trị của chủ nghĩa xã hội sẽ đảm bảo quyền lực thực sự thuộc về nhân dân. Chế độ xã hội trong chủ nghĩa xã hội sẽ đảm bảo cho quyền tự do, dân chủ, bình đẳng và tiến bộ. Khi nhân dân được thụ hưởng những lợi ích thực sự mà cách mạng đem lại, nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa sẽ ra sức bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ, qua đó góp phần củng cố độc lập dân tộc bền lâu.

Thực tế là, từ năm 1945 đến nay, không chỉ có Việt Nam giành được độc lập từ sự đô hộ của chủ nghĩa thực dân, mà có nhiều nước từ Á, Phi đến Mỹ La tinh cũng giành được độc lập. Nhưng khi đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, nhiều nước vẫn chìm trong bạo lực, chiến tranh, mâu thuẫn sắc tộc, nghèo đói. Các nước ấy bị chi phối, thao túng, và thực sự không có độc lập, tự do.

Đến nay, Việt Nam chưa phải là quốc gia phát triển, nhưng nếu tính từ năm 1945 thì nền độc lập của dân tộc Việt Nam mới được 77 năm và nếu tính từ năm 1975 thì dân tộc Việt Nam mới chấm dứt chiến tranh được 47 năm. Với từng ấy thời gian cho việc xây dựng và kiến thiết đất nước thì còn quá ngắn so với chế độ tư bản đã có hơn 500 năm kiến tạo. Tuy nhiên, điều căn bản là, ngày nay, chế độ tư bản chủ nghĩa không phải là chế độ mà ở đó con người được giải phóng và phát triển thực sự; chế độ mà ở đó “Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội”, do đó “Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất”.

Trong khi đó, với thành tựu của hơn 35 năm đổi mới đất nước, dân tộc Việt Nam đã thực sự được hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. “Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỷ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới”.

Cách mạng là sự nghiệp khó khăn, lâu dài, gian khổ, vì cách mạng là thay chế độ xã hội cũ bằng xã hội mới. Lịch sử cho thấy, chiếm hữu nô lệ chỉ tan rã sau 400 năm từ khi xuất hiện mầm mống của chế độ phong kiến trong lòng nó. Giai cấp tư sản lật đổ lật đổ chế độ phong kiến để xác lập địa vị thống trị của mình phải mất gần 300 năm, bắt đầu từ cách mạng tư sản Hà Lan năm 1560, đến tận khi vua Louis thứ XVI lên đoạn đầu đài ở Pháp vào thế kỷ thứ XVIII thì chủ nghĩa phong kiến ở châu Âu về đại thể mới chấm dứt sự thống trị. Thậm chí, tàn dư của chế độ phong kiến còn tồn tại cho đến ngày nay ở nhiều quốcgia. Tuy nhiên, “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”. Với ý nghĩa đó, “Chủ nghĩa cộng sản là hình thức tất yếu và là nguyên tắc kiên quyết của tương lai sắp tới”.

Do vậy, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cơ bản và lâu dài của cách mạng Việt Nam, bảo đảm cho dân tộc ta đi đến tương lai phồn vinh, hạnh phúc.

Quang Đặng - VNTV

Thứ Ba, 7 tháng 6, 2022

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN TỰ DO BÁO CHÍ, TỰ DO INTERNET Ở VIỆT NAM

Vừa qua, trên mạng xã hội Vietnamthoibao xuất hiện bài viết của Tử Long: “Việt Nam kiểm soát và bóp nghẹt quyền tự do báo chí, tự do internet”. Nội dung bài viết cho rằng ở Việt Nam “Không có tự do ngôn luận, tự do báo chí”; “Việt Nam kiểm soát và bóp nghẹt quyền tự do báo chí, tự do internet”… Mục đích của bài viết là cố tình xuyên tạc, bóp méo chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về các quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin, hòng làm giảm uy tín của Đảng, Nhà nước ta với nhân dân và với quốc tế.

Bởi vì, việc đảm bảo mọi công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí trong khuôn khổ quy định của pháp luật là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Hiến pháp năm 2013 nêu rõ “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin…Việc thực hiện các quy định này do pháp luật quy định”. Luật Báo chí sửa đổi năm 2016 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cũng nêu rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí; bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời, minh bạch, thuận lợi; Điều 11 Luật Báo chí sửa đổi năm 2016 quy định công dân có quyền: “Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức và cá nhân”. Rõ ràng, Luật Báo chí sửa đổi năm 2016 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 hoàn toàn tương thích về mặt luật định đối với các văn kiện quốc tế về quyền con người, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Đồng thời, Luật Báo chí sửa đổi năm 2016 cũng nêu rõ: “Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ; không tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân”.

Thực tế cho thấy, những năm qua, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin. Điều này được quy định cụ thể trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật liên quan, đồng thời được triển khai thực hiện trong thực tế đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của Việt Nam. Báo chí ở Việt Nam đã thể hiện được quyền tự do ngôn luận và đều được quyền thông tin. Báo chí đã có những đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; luôn tích cực đấu tranh với các biểu hiện sai trái, tiêu cực trong xã hội, góp tiếng nói quan trọng vào việc phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đồng thời là cầu nối quan trọng với bạn bè quốc tế. Theo nhà báo Phương Hồ (TTXVN ngày 07/7/2021), Việt Nam có khoảng 41.000 nhân sự đang tham gia hoạt động trong lĩnh vực báo chí, 779 cơ quan báo chí (trong đó có 142 báo, 612 tạp chí, 25 cơ quan báo chí điện tử độc lập), 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát thanh-truyền hình với tổng số 87 kênh phát thanh và 193 kênh truyền hình. Trong khi đó, sóng của các cơ quan truyền thông quốc tế lớn như CNN, BBC, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg… đều được tiếp cận dễ dàng tại Việt Nam. Việt Nam cũng được ghi nhận là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng và sử dụng Internet cao nhất thế giới với hơn 68 triệu người sử dụng Internet (chiếm 70% dân số).

Tại Việt Nam cũng không ai bị xét xử, bắt giữ vì bày tỏ chính kiến hay bảo vệ nhân quyền. Chỉ có những đối tượng lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, vi phạm pháp luật; tung tin giả, tin “xấu độc” hòng gây bất ổn tình hình đất nước, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, gây hoang mang dư luận… mới bị xử lý theo pháp luật. Đáng tiếc, Tử Long lại cố tình không biết đến những văn bản luật đã được đưa vào thực hiện từ nhiều năm ở Việt Nam. Tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin ở Việt Nam được thể hiện rất rõ qua sự phát triển đa dạng về loại hình và phong phú về nội dung của báo chí Việt Nam.

Chiêu bài mượn danh nghĩa tự do báo chí, tự do ngôn luận để chống phá Đảng, Nhà nước của các phần tử thù địch không đại diện cho quyền lợi, trách nhiệm xã hội của những người làm báo, cản trở và đi ngược lại xu thế đổi mới, phát triển toàn diện của đất nước, cần phải đấu tranh bác bỏ như những luận điệu phản động trên. Do vậy, để bảo vệ quyền lợi, tự do chính đáng, chúng ta luôn phải đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện, kiên quyết vạch trần, kịp thời bác bỏ mọi âm mưu của các thế lực thù địch, phản động, cố tình lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí nhằm đưa ra những thông tin sai trái, xuyên tạc, tác động tiêu cực dư luận xã hội, xâm hại an ninh quốc gia, chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2022

BA NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA HIẾN PHÁP NĂM 1946 CỦA NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

Ngày 20/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 34-SL về việc thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp của Chính phủ lâm thời gồm 7 người là: Hồ Chí Minh, Vĩnh Thụy (tên của vua Bảo Đại sau khi thoái vị), Đặng Thái Mai, Vũ Ngọc Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu (Trường Chinh), do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban. Nhiệm vụ của Ủy ban: nghiên cứu xác định mô hình, xây dựng cấu trúc của một bản Hiến pháp dân chủ hoàn toàn mới, vừa đảm bảo tính lâu dài, vừa phù hợp với điều kiện thực tế ở nước ta.

Tháng 11/1945, Ban dự thảo đã hoàn thành công việc và Bản dự thảo Hiến pháp được công bố cho toàn dân thảo luận. Người dân Việt Nam hăng hái tham gia đóng góp ý kiến cho Bản dự thảo Hiến pháp với những nội dung thể hiện mơ ước và khao khát ngàn đời về độc lập dân tộc, về các quyền và tự do của con người Việt Nam. Ngày 9/11/1946, tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa I đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Ba nguyên tắc cơ bản của bản Hiến pháp 1946 được trình bày gồm lời nói đầu: 1. Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái, trai, giai cấp, tôn giáo; 2. Bảo đảm các quyền tự do dân chủ; 3. Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân. Bản Hiến pháp 1946 của nước ta, có 7 chương, 70 điều. Chương I quy định chính thể của Việt Nam là Dân chủ cộng hòa. Chương II quy định nghĩa vụ và quyền lợi công dân, xác nhận sự bình đẳng về mọi phương diện của tất cả công dân Việt Nam trước pháp luật. Chương III quy định về nghị viện nhân dân. Chương IV quy định về Chính phủ - cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc. Chương V quy định phương diện hành chính, bộ, tỉnh, huyện, xã; quy định về cơ quan hành chính (ủy ban hành chính và hội đồng nhân dân) các cấp. Chương VI quy định về cơ quan tư pháp bao gồm tòa án tối cao, các tòa án phúc thẩm, các tòa án đệ nhị cấp và sơ cấp. Chương VII quy định về việc sửa đổi Hiến pháp, trong đó có quyền phúc quyết Hiến pháp của dân.

  Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “... một vết tích lịch sử Hiến pháp đầu tiên trong cõi Á Đông... Bản hiến pháp đó chưa hoàn toàn nhưng nó đã làm nên theo một hoàn cảnh thực tế. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do… Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp”.

Thứ Năm, 17 tháng 2, 2022

TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM - SỰ THẬT KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

Gần đây, trên mạng internet, Phạm Trần lại đăng tải bài viết với tựa đề “Báo chí CSVN không tay sai thì là gì” với những luận điệu xuyên tạc về tự do báo chí ở Việt Nam. Nội dung bài viết là những luận điệu quy chụp, thiếu khách quan, ngụy biện, với ý đồ đen tối nhằm vu cáo về quyền tự do báo chí ở Việt Nam khi cho rằng: “Việt Nam không có tự do báo chí và tự do tư tưởng như nhà nước khoe… Vậy, sự thật vấn đề này như thế nào?

Trong bài viết của mình, Phạm Trần đưa ra những đánh giá thiên lệch, thiếu khách quan và hoàn toàn không có cơ sở khi vu cáo Việt Nam không có tự do báo chí, y xuyên tạc rằng, “Đảng và nhà nước đã lãnh đạo và kiểm soát người làm báo từ chân đến đầu”. Hắn còn viện dẫn những đánh giá của các đồng chí lãnh đạo về những yếu kém của công tác báo chí trong năm qua, từ đó thổi phồng khuyết điểm, nhận định sai sự thật như “Đảng hóa báo chí”, “Tuyên giáo xuống cấp”. Nội dung bài viết của y chẳng những không có gì mới, mà còn cho thấy bản chất phản động của hắn khi cố tình xuyên tạc thực tế về bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam.

Trái ngược với luận điệu xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo của các thế lực thù địch bởi miệng lưỡi không xương của chúng. Trên thực tế, Việt Nam luôn quan tâm bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin. Điều này được quy định cụ thể trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật liên quan, đồng thời được triển khai thực hiện trong thực tế đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của Việt Nam. Điều 25 Hiến pháp năm 2013: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Luật Báo chí sửa đổi năm 2016 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cũng nêu rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí; bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân. Rõ ràng, Luật Báo chí sửa đổi năm 2016 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 hoàn toàn tương thích về mặt luật định đối với các văn kiện quốc tế về quyền con người, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Điều đó càng cho thấy âm mưu đen tối của Phạm Trần trong xuyên tạc quyền tự do báo chí ở Việt Nam.

Trên thực tế hiện nay, nước ta có 816 cơ quan báo chí (in và điện tử); 72 cơ quan có giấy phép hoạt động phát thanh, truyền hình và 5 đơn vị hoạt động truyền hình không có hạ tầng phát sóng truyền hình riêng. Cả nước có khoảng 40.000 người đang công tác tại các cơ quan báo chí với 17.161 người được cấp thẻ nhà báo. Trong khi đó, sóng của các cơ quan truyền thông quốc tế lớn như CNN, BBC, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg… đều được tiếp cận dễ dàng tại Việt Nam. Điều đó càng khẳng định quyền tự do báo chí ở Việt Nam là không thể phủ nhận.

Đặc biệt, trên mặt trận đấu tranh phòng, chống tham nhũng, báo chí là một lực lượng tham gia tích cực và có hiệu quả cao, nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực gần đây bị điều tra, xử lý có phần đóng góp quan trọng do báo chí phát hiện. Do đó, những tổ chức, cá nhân cố tình lợi dụng dân chủ, tự do báo chí để xâm hại đến lợi ích Nhà nước xã hội chủ nghĩa như Phạm Trần cần phải bị lên án và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Chúng ta tuyệt đối không chủ quan, lơ là, mà phải luôn đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện, kiên quyết vạch trần, kịp thời bác bỏ mọi âm mưu của các thế lực thù địch, phản động, cố tình đưa ra những thông tin sai trái, xuyên tạc về tự do báo chí ở Việt Nam./.

Thứ Tư, 20 tháng 10, 2021

TÔN TRỌNG QUYỀN TỰ DO, TÍN NGƯỠNG CỦA NHÂN DÂN TRÊN CƠ SỞ LỢI ÍCH QUỐC GIA, DÂN TỘC

Suốt nhiều năm qua, các thế lực thù địch luôn triệt để lợi dụng từ “tự do” trong cụm từ “quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật” của hệ thống pháp luật Việt Nam để tổ chức các hoạt động chống phá, hòng gây mất ổn định chính trị-xã hội.

Để thực hiện mưu đồ ấy, các thế lực thù địch dùng mọi thủ đoạn nhằm tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước; hậu thuẫn về vật chất, tinh thần cho các đối tượng chống đối, đưa tôn giáo ở Việt Nam trở thành lực lượng chính trị “đối trọng” với Đảng. Chúng xác định lấy “tự do tôn giáo” làm “ngòi nổ” để chống phá Việt Nam. 

Những năm gần đây, các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch nhằm tách quyền “tự do” ra khỏi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam thể hiện dưới các hình thức: Chống phá thông qua việc ra các đạo luật, nghị quyết từ ngoài nước; lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, lợi dụng sự mở rộng về dân chủ, nhân quyền của Nhà nước Việt Nam để tiến tới quốc tế hóa vấn đề tôn giáo, hòng can thiệp vào các vấn đề nội bộ của Việt Nam; tăng sức ép với Việt Nam qua thể chế hóa các vấn đề về tự do tôn giáo, tín ngưỡng nhạy cảm, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, vu khống về tự do tôn giáo ở Việt Nam... Chúng xúi giục, kích động số phần tử phản động trong tôn giáo người Việt ở nước ngoài tổ chức các hoạt động chống phá về tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam; tổ chức một số cuộc mít tinh, biểu tình do các hội, nhóm mang danh tôn giáo hải ngoại nhằm đưa ra những yêu sách đòi Việt Nam thực thi cái gọi là "các quyền tự do tôn giáo". Để đi sâu hơn, chúng hỗ trợ, kích động và chỉ đạo một số linh mục cực đoan trong nước đẩy mạnh hoạt động chống phá. Bên cạnh đó, các cơ quan đại diện chính thức của một số nước phương Tây thông qua đại sứ quán, lãnh sự quán đã có những hoạt động công khai, hoặc bí mật ủng hộ số đối tượng cực đoan nói trên. Họ trực tiếp, hoặc cử người đi điều tra, nắm những sai sót, sơ suất trong thực hiện chính sách tôn giáo của Việt Nam ở các địa phương, cơ sở để lợi dụng chống Đảng và Nhà nước, tố cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, cấm đoán tôn giáo, đàn áp giáo sĩ...

Thực tế cho thấy, được sự chỉ đạo và hỗ trợ của các thế lực thù địch, một số linh mục cực đoan đã viết và tán phát nhiều tài liệu đi ngược lại với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận những thành quả cách mạng mà nhân dân Việt Nam đã giành được qua các cuộc kháng chiến của dân tộc. Họ đòi hỏi xã hội phải thừa nhận vai trò của tôn giáo như vai trò của chính quyền trong việc điều hành xã hội... Những hoạt động nói trên tuy chưa phải phổ biến, song nó cho thấy tính chất thâm hiểm và xảo quyệt trong việc chống phá cách mạng Việt Nam, kích động, chia rẽ bà con giáo dân với cấp ủy đảng, chính quyền ở cơ sở, gây bất hòa giữa những người theo đạo và không theo đạo, làm phương hại đến khối đại đoàn kết toàn dân và lợi ích chung của dân tộc.

Ở các tỉnh miền núi, chúng lợi dụng việc đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn trong đời sống sinh hoạt và phát triển kinh tế, nhận thức còn hạn hẹp để truyền đạo trái phép, hòng lôi kéo, tập hợp quần chúng. Thời gian qua nổi lên là hiện tượng lôi kéo đồng bào dân tộc đi theo đạo Tin lành Đề-ga; đạo Dương Văn Mình... Thông qua việc giảng đạo, các đối tượng lồng ghép những vấn đề chính trị để chống lại đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Cụ thể, họ kích động đồng bào dân tộc thiểu số không thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình, không tham gia các tổ chức chính trị ở địa phương, không tham gia các hoạt động do cấp ủy, chính quyền địa phương triển khai... nhằm lôi kéo đồng bào ra khỏi sự quản lý của chính quyền, vô hiệu hóa chính quyền cơ sở.

Những vấn đề dẫn ra ở trên cho thấy, cuộc đấu tranh chống âm mưu và hoạt động lợi dụng tôn giáo đang đặt ra thật sự cấp bách. Bởi sự chống phá của các thế lực thù địch thông qua vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo có tác động trực tiếp đến sự ổn định chính trị, làm suy giảm những thành tựu của sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Vì vậy, việc đấu tranh với các thế lực thù địch lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới đất nước là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, lâu dài của toàn Đảng, toàn dân ta. Điều đó đòi hỏi sự kiên quyết, kiên trì vào cuộc của cả hệ thống chính trị, của mọi tầng lớp nhân dân, trong đó có đồng bào tôn giáo.

Để đập tan những âm mưu, thủ đoạn phản động, trước hết phải nhận thức rõ âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch trong việc lợi dụng vấn đề tôn giáo mà cụ thể là chiêu bài lợi dụng tự do tôn giáo, tín ngưỡng, từ đó nâng cao tinh thần cảnh giác, kịp thời đấu tranh hiệu quả với mọi âm mưu và hoạt động chống phá của chúng. Cần phải hiểu rằng, cuộc đấu tranh chống hoạt động lợi dụng tôn giáo và âm mưu “diễn biến hòa bình” trong khu vực và trên thế giới ngày nay sẽ còn nhiều biến động phức tạp, các nước xã hội chủ nghĩa còn lại trong đó có Việt Nam vẫn tiếp tục là mục tiêu chống phá của chủ nghĩa đế quốc. Trong những năm tới, vấn đề tôn giáo, dân chủ và nhân quyền vẫn tiếp tục là mục tiêu tiến công, chống phá của các thế lực thù địch, cần phải đặc biệt quan tâm.

 Phải xác định rõ đấu tranh chống âm mưu và hoạt động lợi dụng tôn giáo, lợi dụng tự do tôn giáo, tín ngưỡng của các thế lực thù địch chính là giữ vững được sự ổn định bên trong; linh hoạt, mềm dẻo giải quyết hài hòa các lợi ích giữa đồng bào theo đạo và đồng bào không theo đạo trên cơ sở lợi ích chung của cả cộng đồng dân tộc. Trong đó khẳng định việc đấu tranh chống âm mưu và hoạt động lợi dụng tôn giáo, lợi dụng tự do tôn giáo, tín ngưỡng phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết và phải lấy đó làm điểm tương đồng để đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc và tập hợp các lực lượng cho cuộc đấu tranh ấy. Cần phải thực hiện các biện pháp để đấu tranh chống âm mưu và hoạt động lợi dụng tôn giáo, lợi dụng tự do tôn giáo, tín ngưỡng nhưng vẫn thực hiện tốt mục tiêu, đường lối đối ngoại rộng mở của Đảng, ngày càng thu hút bạn bè quốc tế theo tinh thần “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”.

Để có cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh này, chúng ta cần xây dựng được "thế trận lòng dân" vững chắc. Trong đó phải chú trọng xây dựng được niềm tin với nhân dân, tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; hướng các chức sắc, chức việc tôn giáo vào việc vừa phụng sự đạo giáo, vừa phục vụ sự hưng thịnh của quốc gia, dân tộc. Để làm được điều đó phải dựa chắc vào dân, tổ chức liên kết nhân dân thành một khối đoàn kết, thống nhất, phát huy dân chủ và sức mạnh tổng hợp của nhân dân, nhất là trong đồng bào có đạo, định hướng cho đồng bào luôn hành động theo mục tiêu sống tốt đời, đẹp đạo. Bên cạnh đó chúng ta phải phát huy vai trò của cấp ủy, chính quyền các địa phương, thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế-xã hội mà trực tiếp là chính sách dân tộc, tôn giáo; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân trên tất cả vùng, miền của Tổ quốc. Làm tốt những vấn đề trên chắc chắn chúng ta sẽ tạo ra được một khối đoàn kết thống nhất giữa Đảng với nhân dân và trong các tầng lớp nhân dân với nhau mà không một thế lực nào có thể phá vỡ.

Thứ Hai, 18 tháng 10, 2021

TỰ DO NGÔN LUẬN, BÁO CHÍ VÀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

Về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, Việt Nam luôn coi trọng chính sách đoàn kết và hòa hợp giữa các tôn giáo, đảm bảo sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo. Pháp luật Việt Nam đã tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc để bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân. 

Ở Việt Nam, không có việc cưỡng ép từ bỏ niềm tin, theo dõi, đe dọa, xúc phạm, giam giữ, tra tấn, hạn chế quyền tiếp cận tôn giáo. Việt Nam nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để kích động hận thù, chia rẽ, gây mâu thuẫn và xung đột, làm tổn hại đến an ninh, ổn định của đất nước và cuộc sống yên bình của người dân. Các tôn giáo ở Việt Nam chung sống hòa hợp trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Hiện có 42 tổ chức thuộc 15 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân; 60 cơ sở đào tạo tôn giáo, thuộc Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo. Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo in ấn, phát hành kinh sách và đồ dùng việc đạo; đảm bảo tự do tôn giáo tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số.

Về quyền tự do ngôn luận, báo chí, tự do hội họp, thực tiễn cuộc sống là bằng chứng rất rõ nét về việc thụ hưởng quyền này ở Việt Nam. Có thể thấy, báo chí ở Việt Nam đã phát triển không ngừng, trở thành diễn đàn ngôn luận của các tổ chức xã hội, nhân dân, là công cụ bảo vệ quyền của người dân, lợi ích của xã hội, hỗ trợ công tác kiểm tra, giám sát thực thi pháp luật, chính sách. 

Tính đến tháng 6-2018, cả nước đã có tới có 857 cơ quan báo chí với 1.119 ấn phẩm, số lượng trang thông tin điện tử tổng hợp được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép đến hết tháng 6-2018 là 1.510. Hơn 20 cơ quan báo chí nước ngoài có phóng viên thường trú tại Việt Nam. Internet phát triển vô cùng nhanh chóng đang tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận thông tin, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa. Tỷ lệ hộ gia đình có truy cập internet là 28,35%, số người dùng Internet ở Việt Nam là khoảng 50 triệu người, chiếm 54% dân số (so với 30,8 triệu người năm 2013). Việt Nam có 58 triệu tài khoản sử dụng Facebook.

Quyền lập hội đã được quy định trong Hiến pháp 2013, Bộ luật hình sự 2015 và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Đến năm 2017, Việt Nam có 68.125 hội, trong đó có các tổ chức, hiệp hội của thanh niên, phụ nữ, công nhân, nông dân, người cao tuổi, người khuyết tật, các hội từ thiện, các tổ chức khoa học, nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ. 5 tổ chức chính trị-xã hội lớn có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội là: Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng Luật về Hội. Dự thảo Luật về Hội đã được tham vấn nhiều lần ý kiến của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức phi chính phủ, các chuyên gia và người dân để trình Quốc hội cho ý kiến.

Quyền bình đẳng trước tòa án và quyền được xét xử công bằng đã được quy định trong Hiến pháp, các đạo luật liên quan và đã đi vào thực tế. Năm 2017, Tòa án gia đình và người chưa thành niên đã được thành lập nhằm bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ và trẻ em dưới 18 tuổi. Các cơ chế tố tụng được bảo đảm theo hướng công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người; thủ tục phiên tòa được đổi mới. Việc tiếp cận công lý của người dân luôn được khẳng định … Năm 2018, các Trung tâm trợ giúp pháp lý (TGPL) đã tiếp nhận, thực hiện 58.887 vụ việc TGPL cho 51.608 lượt người, trong đó có 18.358 vụ việc tham gia tố tụng (tăng 12,7% so với năm 2017). Đặc biệt, 100% các vụ án hình sự mà yêu cầu phải chỉ định luật sư bào chữa thì đều có sự tham gia của luật sư, trợ giúp viên pháp lý.

Lĩnh vực hành chính và tư pháp - lĩnh vực gắn chặt với người dân, doanh nghiệp - đã được chú trọng nâng cao chất lượng. Một khối lượng lớn nhu cầu liên quan đến vấn đề hộ tịch, quốc tịch, chứng thực đã được giải quyết, trong đó các cơ quan có chức năng của Việt Nam thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính, từng bước hiện đại hóa, tạo thuận lợi cho người dân cũng như đáp ứng tốt hơn yêu cầu quản lý nhà nước. 

Thứ Sáu, 15 tháng 10, 2021

FREEDOM HOUSE VU CÁO VIỆT NAM "KHÔNG CÓ TỰ DO INTERNET"

Ngày 21/9 vừa qua, Freedom House (FH) tiếp tục vu cáo Việt Nam bằng cách xếp Việt Nam vào nhóm “không có tự do Internet”. Và như thường lệ, đây cũng là lúc các tổ chức phản động, cơ hội chính trị được dịp “đục nước béo cò”. Trên các trang mạng Facebook, Blog, YouTube của tổ chức phản động Việt Tân, các đài VOA, RFA đua nhau khai thác, chia sẻ, bình luận, cổ súy. Nguy hại hơn khi họ vừa hả hê với kết luận của FH, vừa lợi dụng vào đó để tiếp tục vu khống Việt Nam.

Đánh giá, xếp hạng của FH rất không chính xác, thông tin mà FH tiếp cận, thu thập không phải từ các nguồn chính thống, khách quan. Với Việt Nam, FH chủ yếu khai thác từ các trang mạng, các địa chỉ truyền thông vốn có thái độ thù địch hoặc thiếu thiện chí với Việt Nam; các thông tin sai lệch này chủ yếu xuất phát từ một số cá nhân, hội nhóm đội lốt “dân chủ, nhân quyền”, thực chất là các thế lực chống phá Việt Nam ở nước ngoài, một số phần tử vi phạm pháp luật ở trong nước.

Tổ chức này không hề có bất cứ hoạt động khảo sát trải nghiệm thực tế nào ở nước ta, khi không có nguồn thông tin chính thống và không có các hoạt động kiểm chứng thông tin, mọi đánh giá, xếp hạng, kết luận vì thế đều phiến diện. Không những thế, trong đánh giá của FH đã vô cớ công kích, bóp méo pháp luật Việt Nam, nhất là pháp luật trong lĩnh vực không gian mạng. Đây là những biểu hiện cực đoan của FH đối với vấn đề tự do Internet ở nước ta.

Thực tế, không một quốc gia nào trên thế giới lại cho phép các thế lực thù địch, phản động, chống phá tự tung tự tác, đặt lợi ích của cá nhân, tổ chức mình lên trên tất cả, đặt điều vu khống, thậm chí là giẫm đạp lên lợi ích quốc gia, dân tộc hay bôi xấu chế độ, phỉ báng chính quyền. Cũng không một quốc gia nào nhân danh tự do để số đối tượng xấu vi phạm pháp luật, ngăn cản, chống phá sự phát triển đất nước cũng như những quyền và lợi ích hợp pháp của dân tộc, của người dân, đi ngược lại sự phát triển của thế giới. Quyền tự do Internet không thể nằm ngoài, đứng trên pháp luật.

Đối với Việt Nam, để phù hợp sự biến đổi mau lẹ của thực tiễn, trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nước ta đã điều chỉnh, bổ sung, không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đề cao, tôn trọng các quyền cơ bản, chính đáng của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do Internet. Tại Điều 25, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Để bảo đảm các quyền trên, Luật Báo chí (năm 2016), Luật Tiếp cận thông tin (năm 2016), Luật An ninh mạng (năm 2018)… ra đời, phát huy hiệu quả trên thực tế, một mặt làm cho tính tích cực tự do Internet góp phần thúc đẩy sự phát triển, mặt khác ngăn ngừa tiêu cực gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.

Đi sâu vào mặt tích cực, mặt tiêu cực của tự do Internet, suy đến cùng là do con người sử dụng nó vào mục đích tốt hay xấu. Tự do Internet không phải là thích viết gì thì viết, thích làm gì thì làm như cách mà FH cổ súy, tán dương. Dù cho những giọng điệu này có xuất hiện nhiều hơn trong thời gian tới thì tự do Internet ở Việt Nam theo đúng tên gọi của nó, vẫn là một thực tế không thể phủ nhận.

VIỆT NAM LUÔN TÔN TRỌNG VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO

Với chính sách tôn giáo đúng đắn, tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền theo hoặc không theo tôn giáo của mọi người, các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng của mọi người, số lượng chức sắc, chức việc, cơ sở thờ tự ngày càng gia tăng; quy mô hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo lớn; chính quyền các cấp đảm bảo an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các hoạt động tôn giáo có đông người dân và du khách nước ngoài tham dự... Cụ thể, người có tín ngưỡng, tín đồ các tôn giáo được tự do bày tỏ đức tin tại gia đình, cơ sở thờ tự hoặc điểm nhóm đăng ký với chính quyền. Tổ chức tôn giáo được hoạt động theo Hiến chương, điều lệ, được tạo điều kiện in ấn, phát hành kinh, sách tôn giáo; nâng cấp, xây mới cơ sở thờ tự; mở rộng quy mô và hình thức sinh hoạt; tăng cường, mở rộng hoạt động quốc tế… Việc công nhận tổ chức tôn giáo theo quy định của pháp luật nhận được sự đồng tình, ủng hộ của người dân và sự đánh giá cao của cộng đồng quốc tế.

Tính đến nay, cả nước có khoảng 45.000 cơ sở tín ngưỡng, trong đó có hơn 2.900 di tích gắn với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, một số di tích được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Hàng năm, Việt Nam có gần 13.000 lễ hội, gồm 5 loại: lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hội tôn giáo, lễ hội du nhập từ nước ngoài, lễ hội văn hóa - thể thao và ngành nghề. Riêng trong lĩnh vực tôn giáo, Việt Nam có khoảng hơn 26,5 triệu tín đồ (chiếm 27% dân số), 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được nhà nước công nhận hoặc cấp chứng nhận đăng ký hoạt động. Cả nước hiện có hơn 57,4 ngàn chức sắc, trên 147 ngàn chức việc, hơn 29,6 ngàn cơ sở thờ tự. Số lượng tín đồ theo các tôn giáo hiện nay khoảng: Phật giáo: 15,1 triệu; Công giáo: 7,1 triệu; Cao đài: 1,1 triệu; Tin lành: 1 triệu; Hồi giáo: 80.000; Phật giáo Hòa hảo: 1,3 triệu, còn lại là các tôn giáo khác (Tịnh độ Cư sỹ Phật hội, Tứ ân Hiếu nghĩa, Bà La môn, Bửu Sơn Kỳ Hương, Minh sư đạo, Minh lý đạo…).

Còn đối với các nhóm người theo tôn giáo chưa được công nhận về mặt tổ chức hoặc chưa được cấp đăng ký hoạt động, chính quyền các địa phương vẫn bảo đảm tự do sinh hoạt tôn giáo cho các tín đồ tại gia đình, điểm nhóm đăng kí với chính quyền hoặc địa điểm hợp pháp theo quy định của Luật. Hiện nay, có hàng trăm điểm nhóm được cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, trong đó có cả điểm nhóm của người nước ngoài. Tính đến năm 2020, khu vực Tây Nguyên hiện có khoảng 580.000 tín đồ đạo Tin lành thuộc 33 tổ chức, hệ phái, nhóm Tin lành đang sinh hoạt tại 311 chi hội, 183 nhà thờ, hơn 1.700 điểm nhóm được chính quyền địa phương cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung. Tại khu vực miền núi phía Bắc có khoảng 250.000 tín đồ đạo Tin lành đang sinh hoạt tại 14 chi hội và hơn 1.600 điểm nhóm, trong đó chính quyền địa phương đã cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung cho gần 800 điểm nhóm.

Nói về những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong việc tự do tôn giáo, từ năm 2017, mục sư F.Graham - Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Hiệp hội truyền bá phúc âm Billy Graham và là một trong các mục sư nổi tiếng nhất ở Mỹ, người trực tiếp chủ trì hai buổi truyền giảng với sự tham dự của hơn mười nghìn người tại Hà Nội từng trả lời phỏng vấn hãng AP rằng: “Chính quyền Việt Nam đã không đặt ra bất kỳ điều kiện nào cho việc tổ chức hai buổi truyền giảng. Chúng tôi chỉ là khách, chính quyền chưa nói với tôi là được nói gì hoặc không được nói gì” rằng “tự do tôn giáo tại Việt Nam đang được cải thiện”.

A ĐẢO - KẺ BÁN RẺ ĐỒNG BÀO

Những năm qua, lợi dụng niềm tin, tín ngưỡng tôn giáo, các đối tượng cầm đầu tổ chức “Tin lành Đấng Christ” ở Mỹ đã câu kết với các đối tượng phản động người Việt, lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để chống phá Việt Nam... Lợi dụng đức tin và sự thiếu hiểu biết của một bộ phận người dân tộc thiểu số, các đối tượng chống đối bên ngoài đã tăng cường lôi kéo, móc nối, gây dựng A Đảo (sinh năm 1982  trong một gia đình thuần nông  tại xã Rờ Kơi, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum) trở thành kẻ cộm cán, là công cụ để các đối tượng bên ngoài điều khiển, chỉ đạo các hoạt động chống phá chính quyền.

Tháng 7-2014, theo chỉ đạo của số cầm đầu tổ chức “Tin lành đấng Christ” bên ngoài, A Đảo cùng Y Nuen Ayun ra Hà Nội gặp một số đối tượng là nhân viên đại sứ quán các nước và Nguyễn Bắc Truyển, Nguyễn Văn Đài để cung cấp một số tài liệu xuyên tạc, vu khống chính quyền Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, đàn áp, sách nhiễu người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên để nhận thù lao với số tiền 5 triệu đồng do Nguyễn Bắc Truyển trả và 4 triệu đồng do Nguyễn Văn Đài trả. Từ tháng 2 đến tháng 12-2015, A Ga tại Thái Lan tiếp tục chỉ đạo A Đảo lôi kéo các đối tượng tham gia học lớp trực tuyến để tuyển chọn, đào tạo, huấn luyện các đối tượng này tham gia hoạt động chống đối và nhận được số tiền hỗ trợ khoảng 500.000 đồng/tuần/đối tượng tham gia. Sau đó, A Đảo cùng Y Bét, A Trung tiếp cận đoàn đại sứ các nước đến Tây Nguyên cung cấp thông tin xuyên tạc với mục đích xin tiền, phục vụ tiêu xài cá nhân.

Từ ngày 25-7 đến 11-8-2016, theo chỉ đạo của số cầm đầu “Tin lành đấng Christ” bên ngoài, A Đảo cùng Y Bét xuất cảnh sang Đông Timor dự “Hội nghị tự do tôn giáo khu vực Đông Nam Á - SEAFOR” để gặp gỡ, vận động, kêu gọi hỗ trợ tài chính, nhằm thu lợi bất chính. Chuyến đi này, A Đảo, Y Bét được các đối tượng chống đối bên ngoài tài trợ toàn bộ chi phí và hỗ trợ thêm mỗi đối tượng 500 USD.

Từ tháng 3-2016 đến tháng 8-2016, A Ga chỉ đạo A Đảo, Nay Them (trú tại Gia Lai) móc nối, lôi kéo nhiều người dân tộc thiểu số tại các tỉnh Tây Nguyên xuất cảnh và định cư trái phép tại Thái Lan để thu lợi bất chính. Ngày 18-8-2016, A Đảo bị lực lượng chức năng phát hiện và bắt quả tang khi đang tổ chức đưa 5 người dân tộc thiểu số xuất cảnh trái phép sang Thái Lan; cơ quan chức năng cũng thu giữ số tiền 160 USD, 49.735.000 đồng A Đảo thu lợi bất chính. Quá trình điều tra, A Đảo khai nhận từ tháng 3 đến tháng 8-2016, A Ga đã chỉ đạo A Đảo và Nay Them lôi kéo, tổ chức 3 đợt đưa 10 người dân tộc thiểu số trốn sang Thái Lan thu lợi bất chính hàng trăm triệu đồng. Với hành vi phạm tội, TAND tỉnh Gia Lai đã tuyên phạt A Đảo mức án 5 năm tù về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”. Sau khi ra tù, A Đảo thường xuyên sử dụng mạng xã hội để đăng tải các bài viết, video clip sai sự thật, chối cãi việc đi tù vì hành vi vi phạm pháp luật, vu cáo chính quyền, lực lượng công an đã quấy rối, sách nhiễu, ép buộc vợ của y (Nguyễn Thị Tươi) bán đất đai, bỏ chồng, bỏ con..., ngộ nhận việc được ông Sam Browblack (Đại sứ về tự do tôn giáo quốc tế của Mỹ) công bố, bảo trợ, ảo tưởng về tầm ảnh hưởng của bản thân. Tháng 11-2020, A Đảo tiếp tục bị Nguyễn Đình Thắng móc nối, lôi kéo tham gia “Hội luận trực tuyến về tự do tôn giáo”, nhằm lợi dụng, sử dụng A Đảo đóng vai “nạn nhân” bị chính quyền Việt Nam đàn áp về niềm tin tôn giáo. Tại hội luận này, A Đảo đã xuyên tạc sự thật, cho rằng “Lực lượng chức năng đã ép cung, tra tấn, buộc phải nhận tội nhưng tôi không chịu nhận...”.

Trên thực tế, tại phiên tòa xét xử, A Đảo đã trình bày rành rọt, chi tiết về phương thức, thủ đoạn lừa gạt đồng bào, buộc họ phải bán hết tài sản để trông chờ vào “miền đất hứa” tại Thái Lan, khiến biết bao gia đình chia ly, tán gia bại sản, thậm chí có người đứng trước bờ vực cái chết và thái độ thành khẩn nhận tội, xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. A Đảo đeo chiếc mặt nạ là một “người đấu tranh, đòi công lý, tự do tôn giáo cho đồng bào dân tộc thiểu số” nhưng đã bán rẻ đồng bào, bán rẻ niềm tin để thu lợi bất chính.

Thứ Tư, 22 tháng 9, 2021

TỰ DO NGÔN LUẬN VÀ TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN MẠNG XÃ HỘI

Gần đây, nhiều người hay đề cập đến thuật ngữ “tự do ngôn luận trên mạng”. Tất nhiên, để có thể nói về điều đó đòi hỏi hai điều kiện cơ bản: Một là, xuất phát từ quyền tự nhiên của con người được tôn trọng, bảo vệ và thực thi trên thực tế và, hai là, kể từ khi Internet (nhất là mạng xã hội) trở nên phổ biến.

Tự do và tự do ngôn luận - đó là giá trị và là quyền con người. Đề cập đến điều này, không phải tới tận xã hội cận hiện đại mới có, mà từ thời cổ đại cả ở phương Tây và phương Đông đều nêu lên rồi. Chẳng hạn, Solon, vị chính khách thời cổ đại Hy Lạp cho rằng, muốn có tự do và công bằng thì chúng ta phải đặt luật pháp ngang hàng với sức mạnh (chính trị). Tới thế kỷ XVIII, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp đã chính thức khẳng định: “tự do là quyền của con người được làm tất cả những gì mà không phương hại đến quyền của người khác”.

Ở Trung Quốc cổ đại, Tử Sản, khi còn làm quan nước Trịnh (thời Xuân Thu) đã đặt ra quy định cho phép mọi người dân được phê bình kẻ chấp chính, hay Chiêu Công Hổ - một quan đại thần nhà Tây Chu đã ví việc tạo điều kiện cho người dân có thể nêu ý kiến về mọi việc trong đời sống xã hội chẳng khác gì khơi thông dòng nước cho con sông chảy ra biển.

Đối với Việt Nam, vào năm 1919, quyền tự do ngôn luận lần đầu tiên được nêu lên khi người thanh niên Nguyễn Tất Thành chính thức sử dụng tên Nguyễn Ái Quốc để thay mặt cho những người Việt Nam yêu nước ký vào Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị các nước Đồng minh thắng trận trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất được tổ chức tại Véc-xây (cách thủ đô Paris của nước Pháp 14 km) mà trong đó, quyền tự do ngôn luận được đặt ở vị trí thứ 3 trong 8 điều của bản Yêu sách. Kể từ đó, nhân dân Việt Nam đã trải qua hơn 25 năm đấu tranh đầy cam go, gian khổ để hiện thực hóa thành công cuộc cách mạng vô sản, giành lại nền độc lập và tự do cho dân tộc Việt Nam vào năm 1945. Đặc biệt, năm 1946, quyền tự do ngôn luận được trịnh trọng ghi nhận và bảo đảm thực hiện tại điều 10 Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Cho tới hiện nay, quyền tự do ngôn luận tiếp tục được khẳng định và bảo đảm thực hiện tại điều 25 Hiến pháp 2013.

Khái lược một số thông tin lịch sử để thấy rằng, nhân loại, trong đó có nhân dân Việt Nam, khi thức tỉnh và đấu tranh cho những quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, đã phải trải qua những cuộc đấu tranh khốc liệt, thậm chí hy sinh xương máu của bao thế hệ. Vì lẽ đó, quyền tự do ngôn luận nhất quyết không phải là thứ mà những kẻ nào đó đem tới đất nước này để rao giảng, dạy dỗ hay xuyên tạc, bịa đặt về việc thực hiện nó trong cuộc sống. Nó cũng không phải là một quyền mà một bộ phận với nhận thức nông cạn, nửa vời, thô thiển có thể sử dụng để dễ dãi lên tiếng phê phán, chỉ trích, kích động, nói xấu vô căn cứ đối với các cá nhân, tổ chức. Thậm chí, trong bối cảnh hiện nay, một bộ phận xã hội tự cho mình cái quyền tự do ngôn luận lại “tung tăng buông lời trên mạng” một cách vô nguyên tắc.

Vậy thì, muốn thực hiện tự do ngôn luận, trong đó cụ thể ở đây là tự do ngôn luận trên mạng, đòi hỏi mỗi cá nhân công dân phải tuân thủ và đáp ứng một số yêu cầu sau:

Một là, phải nắm vững, hiểu rõ những quy định của pháp luật có liên quan. Nhà triết học cổ điển Đức G.W.F. Hegel từng có luận điểm nổi tiếng: “Tự do là nhận thức được cái tất yếu”. C.Mác tán thành quan điểm này và còn làm rõ thêm: “Luật pháp không phải là những biện pháp đàn áp chống lại tự do… Ngược lại, luật pháp là những tiêu chuẩn khẳng định rõ ràng, phổ biến, trong đó tự do có một sự tồn tại vô ngã, có tính chất lý luận, không phụ thuộc vào sự tùy tiện của cá nhân riêng lẻ. Bộ luật là kinh thánh của tự do của nhân dân”. Công dân Việt Nam phải hiểu biết đầy đủ, chính xác pháp luật, biết được quyền và nghĩa vụ của mình khi thực hiện quyền tự do ngôn luận. Chỉ khi thực hiện quyền tự do ngôn luận trong khuôn khổ pháp luật sẽ mang đến cho họ quyền tự do, không xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người khác.

Hai là, tự do ngôn luận, nhất là tự do ngôn luận trên mạng là tự tương tác của cá nhân có thể diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi, ít chịu sự giám sát, phê duyệt mang tính tổ chức, chính vì vậy đòi hỏi mỗi cá nhân công dân phải tự chịu trách nhiệm đối với mỗi lời nói, câu viết của mình trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên mạng xã hội, không phải thích nói và viết một cách bừa bãi, cảm tính nhất thời. Thực hiện quyền tự do ngôn luận trên mạng phải chính đáng, có tính mục đích tiến bộ rõ ràng, mang tính xây dựng, mang đến điều tốt đẹp, tích cực cho bản thân, cộng đồng, xã hội và quốc gia.

Ba là, tự do ngôn luận trên mạng là được bày tỏ quan điểm, chính kiến trên các báo mạng, diễn đàn, mạng xã hội, v.v.. Cho nên, cá nhân công dân bên cạnh việc tuân thủ những quy định của pháp luật chung, còn phải tuân thủ Luật Báo chí, đưa tin lên mạng phải trung thực, đúng sự thật, không được bóp méo, cắt gọt gây hiểu lầm hoặc khi đánh giá, phê bình phải có căn cứ rõ ràng.

Bốn là, thực hiện quyền tự do trên mạng phải phù hợp với văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, lời nói hay câu viết cần phải phù hợp với thuần phong mỹ tục của người Việt. Khi bình phẩm, nhận xét phải có lời lẽ ôn hòa, văn minh, lịch sự, không được sử dụng ngôn từ cực đoan, gay gắt hay lai căng mang tính lăng mạ, sỉ nhục, kỳ thị người khác.

Thực hiện quyền tự do ngôn luận nói chung và tự do ngôn luận trên mạng nói riêng là điều hoàn toàn chính đáng và được bảo đảm thực hiện trong xã hội. Mỗi cá nhân công dân cần nhận rõ quy định pháp luật liên quan, nhận rõ tư duy và hành vi xử sự của bản thân, góp phần xây dựng một xã hội Việt Nam tiến bộ, văn minh và phát triển.


Thứ Sáu, 27 tháng 8, 2021

PHÁP LUẬT VIỆT NAM BẢO VỆ CÁC QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ, NHƯNG KHÔNG DUNG THỨ CHO HÀNH VI LỢI DỤNG TỰ DO, DÂN CHỦ ĐỂ VI PHẠM PHÁP LUẬT, CHỐNG PHÁ ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC

Các quyền tự do, dân chủ luôn là các quyền thiêng liêng, cần thiết cho cuộc sống, là một biểu hiện cho tiến bộ và là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Nhưng tự do chưa bao giờ và không bao giờ là tự do chung chung, tự do vô bờ bến. Điều này được thể hiện rõ nét trong pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế. Pháp luật Việt Nam chỉ hạn chế quyền tự do của những người lợi dụng pháp luật xâm hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cộng đồng. Ví dụ, khoản 1, Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Việc quy định chỉ hạn chế quyền tự do của những người lợi dụng pháp luật xâm hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cộng đồng cũng phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Cụ thể là, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) đề cập cụ thể trong một số điều quy định về các quyền có thể chịu sự giới hạn (Điều 4, Điều 19). Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789 đưa ra các giới hạn đối với quyền tự do ngôn luận theo đúng định nghĩa của nó (Điều 4, Điều 10, Điều 11).

Nhằm ngăn chặn tình trạng lợi dụng quyền tự do ngôn luận để phát ngôn tiêu cực, thù địch trên in-tơ-nét, Ủy ban châu Âu (European Commission) đã ký Quy tắc ứng xử về chống lại lời nói có nội dung tiêu cực, thù địch bất hợp pháp trực tuyến với Google (YouTube), Facebook, Twitter và Microsoft năm 2016. Instagram, Google+, Dailymotion, Snap và Jeuxvideo.com sau đó đã tham gia Quy tắc này.

Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến việc bảo đảm quyền dân chủ, sự tham gia của người dân vào các hoạt động của Nhà nước và xã hội. Tuy nhiên, dân chủ phải gắn với kỷ cương, thượng tôn pháp luật. Thông qua đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến việc bảo đảm sự tham gia của người dân vào các hoạt động của Nhà nước và xã hội, bảo đảm quyền giám sát, phản biện xã hội của các chủ thể. Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các chủ thể, ủng hộ phản biện xã hội chân chính để hoàn thiện chính sách, pháp luật, xây dựng xã hội thượng tôn pháp luật. Nhưng việc lợi dụng cái gọi là bất tuân dân sự để cổ xúy và bảo vệ những hành vi vi phạm pháp luật, cổ xúy cho việc gây trở ngại đến hoạt động công quyền cần phải được ngăn chặn, đẩy lùi./.

Thứ Hai, 14 tháng 6, 2021

MỤC TIÊU NHẤT QUÁN CỦA ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN TA LÀ ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP, TỰ DO, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC, TIẾN LÊN XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt của cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua. Trong gần một thế kỷ đấu tranh, lao động, sáng tạo, Đảng và nhân dân ta đã từng bước nhận thức đầy đủ hơn, hình dung rõ ràng hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Chúng ta thực hiện mục tiêu, lý tưởng đó trong bối cảnh gặp nhiều khó khăn, thách thức. Song dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng đã đưa đất nước ta vượt qua khó khăn, đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và khởi xướng đường lối đổi mới, mở cửa hội nhập với thế giới.

30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 (bổ sung phát triển năm 2011) và 35 năm đổi mới: “đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, là nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững đất nước”1. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hình thành, phát triển; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được đẩy mạnh; kinh tế vĩ mô ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức cao, chất lượng tăng trưởng được cải thiện, quy mô và tiềm lực kinh tế đất nước tăng lên. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, phát triển con người, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu được coi trọng và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Các chính sách, bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, chính sách dân tộc, tôn giáo được thực hiện có kết quả. Chính trị xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đạt nhiều thành tựu nổi bật. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, dân chủ xã hội chủ nghĩa được tăng cường. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có nhiều tiến bộ, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn; tổ chức bộ máy lập pháp, hành pháp và tư pháp ngày càng được hoàn thiện. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả rõ rệt. Nhìn một cách tổng thể, mọi lĩnh vực trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước được thực hiện một cách đồng bộ, mạnh mẽ, hiệu quả, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng lòng ủng hộ, tin tưởng, bạn bè quốc tế tín nhiệm.