Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Tất Thành. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Tất Thành. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 9 tháng 6, 2021

KHẲNG ĐỊNH TẦM VÓC, GIÁ TRỊ SỰ KIỆN NGÀY 5/6/1911

Sự thật hành trình ra đi tìm đường cứu nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước để lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là như vậy. Từng chặng đường Người đã trải qua, những hoạt động của Người từ năm 1890-1969 đều được cập nhật khá đầy đủ trong các bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập 15 tập, Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử 10 tập, trong các cuốn sách Hồ Chí Minh tiểu sử chi tiết và tóm tắt; trong các công trình nghiên cứu khoa học của các học giả ở trong và ngoài nước… Tuy nhiên, bất chấp các thông tin chính xác đã có, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị không chỉ thường bịa đặt, bẻ cong sự thật, xuyên tạc về động cơ sang phương Tây tìm đường cứu nước của Người mà còn hồ đồ suy diễn để bôi đen nội dung lá đơn xin học ở Trường Thuộc địa của Người.

Đối với sự kiện lá đơn xin học và động cơ ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành, có thể khẳng định rằng:

Một là, không thể xuyên tạc mục đích xin học Trường Thuộc địa của Nguyễn Tất Thành, bởi nơi đây chỉ dạy ngôn ngữ và văn minh Pháp cho những thanh niên Việt Nam do Toàn quyền Đông Dương gửi sang học. Trong đó, học viên của Trường Thuộc địa không nhất thiết phải trở thành quan chức (mà Bùi Kỷ, Lê Văn Miến và nhiều người khác là những ví dụ thực tế). Hơn nữa, từ năm 1896 trở đi, cùng với việc đào tạo học viên trở thành nhà cai trị thuộc địa tương lai thì Trường Thuộc địa còn có những lớp dạy cho những người bản xứ các nghề chuyên môn như điện báo, kế toán, công xưởng…

Đồng thời, cũng không thể suy luận và xuyên tạc mục đích xin học Trường Thuộc địa của Người khi cho rằng: Nguyễn Tất Thành ban đầu học tập là vì theo ý muốn của cha để sau này sẽ làm quan triều đình nhà Nguyễn. Tuy nhiên, vì cha đã bị mất chức, nên việc làm quan triều đình nhà Nguyễn không thành, do đó mới tìm cơ hội sang Pháp, xin học ở Trường Thuộc địa, với “mộng làm quan cho thực dân Pháp". Thực chất, Người chưa bao giờ có ý định làm quan cho triều đình nhà Nguyễn, lại càng không bao giờ muốn trở thành quan cai trị thuộc địa tương lai, vì Người không chỉ thấu hiểu rất rõ tâm tư của người cha: “Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ, hựu nô lệ”/nghĩa là “Quan trường là nô lệ trong những người nô lệ, lại càng nô lệ hơn” mà còn có khát vọng lớn lao là "tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những gì tôi muốn, tất cả những điều tôi hiểu!”.

Hơn nữa, luận bàn về lá đơn xin học ở ở Trường Thuộc địa này, nhà sử học Pháp khá nổi tiếng D.Hémery từng nhấn mạnh rằng: "Lá đơn trước hết thể hiện ý muốn tạm thời được học, nhưng đơn xin học còn bao hàm một ý nghĩa khác, tóm tắt trong khẩu hiệu lưu hành lúc đó trong các thanh niên học sinh "xuất dương du học rồi về nhà cứu nước"…, để phổ biến tri thức hiện đại trong các dân tộc thuộc địa". Vì thế, có thể thấy, thực chất của việc xin học ở Trường Thuộc địa là Người muốn được học tập để làm giàu tri thức của mình, với "ý muốn trở thành có ích cho đồng bào tôi, muốn cho họ được hưởng những lợi ích của học thức" như đã trình bày trong lá đơn.

Hai là, sau khi bị Trường Thuộc địa từ chối, với mong muốn tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, Người đã quyết định làm thuê cho một hãng tàu biển, tiếp tục hành trình lao động kiếm sống, học hỏi và hoạt động cách mạng ở nhiều quốc gia, nhiều châu lục. Trong những năm tháng đó, Người có thời gian khám phá, chiêm nghiệm để hiểu được thực chất của “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, của pháp quyền, dân chủ và mô hình tổ chức Nhà nước tư sản; của nhân quyền, pháp quyền, dân chủ, mô hình tổ chức Nhà nước Xô viết và con đường đấu tranh giải phóng dân tộc theo tinh thần của V.I.Lênin, để rồi sau khi đã “trưng cất” được những tinh hoa của nền văn minh phương Đông và phương Tây, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, Người quyết định trở về "giúp ích cho đồng bào mình", lãnh đạo đồng bào mình tiến hành cuộc cách mạng giải phóng, chứ không phải giống như các luận điệu phản động, bịa đặt là: khi “bị từ chối thì bất đắc phiêu lưu kiếm sống, không có thời giờ suy nghĩ chuyện đất nước” và Nguyễn Ái Quốc “đến Liên Xô học tập là hy vọng có việc làm kiếm lương hằng tháng, chứ không phải vì cách mạng Việt Nam”…

Thực tế là từ những tri thức tích luỹ được; từ sự thấu hiểu được nguồn sức mạnh nội lực “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước” và với niềm tin cháy bỏng về một Tổ quốc Việt Nam được độc lập, nhân dân Việt Nam được tự do; với mong muốn đem lại hạnh phúc “cho tất cả mọi người”, Người đã không chỉ tiến hành đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán cho cách mạng Việt Nam, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, xây dựng đường lối chính trị đúng đắn phù hợp điều kiện cụ thể của Việt Nam và xu thế của thời đại là gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, mà còn cùng Đảng xúc tiến xây dựng lực lượng cách mạng, lực lượng vũ trang cách mạng, căn cứ địa cách mạng, xây dựng và củng cố, mở rộng các hình thức Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi… thiết thực, hiệu quả để chuẩn bị cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.

Trong quá trình đó, Người không chỉ thành công trong việc vận dụng học thuyết Mác - Lênin vốn có cơ sở thực tế từ xã hội phương Tây vào thực tiễn một nước thuộc địa, nửa phong kiến, chưa phát triển như Việt Nam mà còn phát triển học thuyết đó lên một tầm cao mới, phù hợp với phần thế giới còn lại - đó là những nước chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, mà Việt Nam là một điển hình.

Ba là, thời gian càng lùi xa, càng khẳng định rằng, hoài bão lớn lao của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành cách đây hơn một thế kỷ đã trở thành sự thật. Từ một sự lựa chọn đúng và khởi đầu một hướng đi đúng, với ý chí, quyết tâm và sự phấn đấu không mệt mỏi cho con đường mình đã chọn, Người ra đi từ bến cảng Sài Gòn năm 1911 đã tìm thấy con đường cách mạng đúng đắn và lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh vì một nước Việt Nam độc lập và thống nhất, tự do và hạnh phúc, ngày một phát triển bền vững.

Đồng thời, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh và kiên định con đường cách mạng do Người cùng Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn, 110 năm sau - một nước Việt Nam "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc" trên hành trình đi lên chủ nghĩa xã hội "đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay" như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định.

Vì vậy, vượt lên sự chống phá, bôi đen, xuyên tạc, bẻ cong sự thật của các thế lực phản động, thù địch, thì vẫn có thể khẳng định rằng: Ngày 5/6/1911 không chỉ là một sự kiện đặc biệt đánh dấu một sự lựa chọn chính xác của Nguyễn Tất Thành mà còn cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam và nhân dân Việt Nam. Đi theo con đường Người đã chọn, đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã hòa mình vào dòng chảy chung của nhân loại; đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo nên sức mạnh tổng hợp về thế, về lực, về thời để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển vững mạnh và phồn vinh, từng bước khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế, sánh vai cùng bạn bè quốc tế./.

SỰ LỰA CHỌN CHÍNH XÁC CỦA NGUYỄN TẤT THÀNH

Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên khi đất nước đã đắm chìm trong đêm trường nô lệ. Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, nền độc lập của dân tộc bị xâm phạm, quyền được sống trong độc lập, tự do, hạnh phúc của mỗi người dân ở xứ An Nam thuộc địa đều bị chà đạp, tước bỏ. Không cam chịu làm nô lệ, các phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân Việt Nam liên tiếp nổ ra: Từ phong trào Cần Vương, Văn Thân đến cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế; từ phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân đến phong trào chống thuế ở Trung Kỳ…, song cuối cùng đều bị dìm trong bể máu.

Cũng trong những năm tháng đó, không chỉ sống ở xứ Nghệ, Nguyễn Tất Thành còn được sống ở kinh thành Huế. Người không chỉ được học chữ Hán, bước đầu làm quen với thời đại qua những sách Tân thư, Tân văn bằng tiếng Hán; được nghe các thầy giảng giải về nền dân chủ và văn minh phương Tây mà khi theo học lớp dự bị (préparatoire) ở Trường tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố Vinh trước đó, lần đầu tiên Nguyễn Tất Thành được tiếp xúc với khẩu hiệu "Tự do, Bình đẳng, Bác ái" nổi tiếng của cách mạng tư sản Pháp 1789. Sau này, Người kể lại với nhà văn Liên Xô Ôxíp Manđenxtam rằng: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cùng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy”.

Truyền thống của quê hương và gia đình, sự tác động về nhiều mặt của thời cuộc đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Nguyễn Tất Thành. Vì vậy mà, dù rất khâm phục lòng yêu nước của các bậc tiền nhân theo tư tưởng phong kiến hoặc dân chủ tư sản, nhưng khác họ, qua những kiến thức mới mẻ tiếp thu được từ Tân thư, từ những năm tháng học tập, sinh sống ở Huế và bằng nội lực bẩm sinh, Nguyễn Tất Thành hiểu rằng một thời đại mới, đòi hỏi một con đường đi mới, một phương thức đấu tranh mới - Đó chính là làm cách mạng và nó khác hẳn những con đường đấu tranh yêu nước đã từng diễn ra.

Vì thế mà, Nguyễn Tất Thành đã quyết định không sang phương Đông, không nhờ cậy vào những người “anh lớn” Trung Quốc và Nhật Bản, mà muốn làm quen với văn minh Pháp, muốn xem những gì ẩn giấu đằng sau những mỹ từ “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” của cách mạng Pháp. Nguyễn Tất Thành đã muốn học hỏi nhiều hơn những gì mình đang có, dân tộc mình đang có, để không chỉ làm giàu tri thức cho mình mà chính là hướng đến mục tiêu giải phóng dân tộc mình. Từ xuất phát điểm này, từ sự vượt lên chính mình này đã quyết định sự lựa chọn, con đường đi sau đó của Người - đó là rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước, mở đầu một chặng đường dài xa Tổ quốc.

Với ý chí và quyết tâm của một người dân mất nước, với nhiệt huyết và sức trẻ của tuổi thanh xuân, Nguyễn Tất Thành đã khởi đầu một con đường đúng khi quyết định xin làm thuê trên tàu Đô đốc Latútxơ Trêvilơ (Amiran Latusơ Tơrêvin), rời Tổ quốc ngày 5/6/1911 để “tìm đường đi cho dân tộc theo đi”. Có thể nói, đây là một suy nghĩ đúng đắn, hợp quy luật và thời đại.

Theo hành trình của tàu, Người đã đến Marseille, Le Havre, Dunkerque, Manche của Pháp… Ngày 15/9/1911, Người viết đơn gửi Tổng thống Pháp và Bộ trưởng Thuộc địa Pháp trình bày nguyện vọng muốn được xin vào học tại Trường Thuộc địa. Đơn của Người được gửi từ Marseille; trong đó có đoạn viết: “Tôi vinh hạnh, xin một đặc ân với lòng nhân từ cao cả của ông được thu nhận vào học Trường Thuộc địa như một học sinh nội trú. Hiện tại tôi là nhân viên của Hãng Sácgiơ Rêuyni (Chargeurs Réunis) tàu Amiran Latusơ Tơrêvin”, với mong muốn "trở thành có ích cho đồng bào tôi, muốn cho họ được hưởng những lợi ích của học thức". Tuy nhiên yêu cầu này đã bị từ chối vào tháng 10/1911 và theo hành trình của tàu, Người trở lại Sài Gòn.

Sau đó, Người quay lại Pháp và theo hành trình của hãng tàu Người bắt đầu hành trình lao động kiếm sống, tích luỹ tri thức, khảo nghiệm và tìm hiểu đời sống chính trị, xã hội các quốc gia, dân tộc và các nền văn hoá của nhiều châu lục… Vậy là, trải qua những tháng ngày lao động vất vả, bằng nghề làm phụ bếp trên tàu; thợ chụp ảnh, vẽ đồ giả cổ Trung Hoa ở thủ đô Paris của nước Pháp hoa lệ; làm người cào tuyết cho trường học, bồi bàn trong khách sạn ở nước Anh; học tập, nghiên cứu ở nước Nga; hoạt động ở  Trung Quốc, v.v.. Nguyễn Ái Quốc đã có một hành trình dài với biết bao điều lớn lao:

Thứ nhất, sống, học tập và hoạt động không mệt mỏi, thực sự hòa mình vào dòng chảy của các sự kiện trên thế giới và đi đến lựa chọn đúng, đó là đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với con đường cứu nước theo quỹ đạo cách mạng vô sản khi bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ III của Lênin/Quốc tế Cộng sản - trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp vào tháng 12/1920 (tại Đại hội Tua) khi hiểu rõ rằng: "Cách mạng Tháng Mười mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới". Vì thế, “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(và “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”…

Thứ hai, ham học hỏi, không sợ cường quyền, từng bước vượt qua mọi thử thách, gian truân, luôn phấn đấu cao độ với một nghị lực phi thường và một định hướng chính trị đúng để gom góp và đanh thép đưa ra bản cáo trạng tội ác thực dân - Bản án chế độ thực dân Pháp năm 1925. Đồng thời, được chứng kiến những diễn biến lớn của thời đại, Nguyễn Ái Quốc đã thấy những tồn tại, những khoảng cách và cả những bất công về quyền lợi và hưởng thụ trong lòng xã hội tư bản, tất yếu sẽ dẫn đến những “khủng hoảng” không thể tránh khỏi ở cả các nước chính quốc, như nước Mỹ (với bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776) và nước Pháp (với bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng 1791, để rồi đi tới khẳng định: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”. Vì thế, theo Người, vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng con người không chỉ là nhu cầu của dân tộc và con người Việt Nam mà là của tất cả các dân tộc bị áp bức và nhân dân cần lao trên thế giới.

Thứ ba, đi từ dân tộc đến nhân loại, Người đã nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin với thế giới quan khoa học và cách mạng, để phát hiện và nhận thức được quy luật tiến hóa, xu thế phát triển tất yếu của thời đại khi khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Với ý nghĩa đó, có thể thấy, Nguyễn Ái Quốc đã không chỉ tìm được con đường cứu nước, cứu dân phù hợp yêu cầu của đất nước và quy luật của thời đại mà còn trang bị cho mình một nhân sinh quan mới để định hình con đường phát triển cho dân tộc Việt Nam khi nhấn mạnh rằng, ở đó “chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước…Chiến tranh đã làm thay đổi chủ nghĩa dân tộc”. Đây là quá trình khảo nghiệm, thâu thái tinh hoa, tri thức các nền văn minh nhân loại theo cách "tiếp biến và vượt gộp" của Hồ Chí Minh, để vừa sáng tạo, vừa độc lập vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam khi quyết định trở về Quảng Châu, Trung Quốc (11/11/1924) chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam sau đó.

Thứ tư, trên cơ sở những nguyên lý của học thuyết Mác - Lênin về xây dựng Đảng, Nhà nước, về phương pháp vận động quần chúng, tập dượt đấu tranh cách mạng được tích luỹ trong những năm tháng hoạt động của tuổi trẻ, bằng những việc làm cụ thể như mở lớp huấn luyện chính trị, thành lập tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên năm 1925, sáng lập báo Thanh niên 6/1925, tuyên truyền về chủ nghĩa cộng sản, về Đảng Cộng sản, về Cách mạng Tháng Mười Nga, xuất bản tác phẩm Đường Kách mệnh đầu năm 1927..., Nguyễn Ái Quốc đã ngày mỗi ngày góp phần đưa tư tưởng của thời đại mới về Việt Nam, thúc đẩy sự chuyển biến về chất trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Sau đó, khi các tổ chức cộng sản Việt Nam ra đời, Người đã tổ chức thành công Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (từ 6/1-8/2/1930) tại Hương Cảng. Hội nghị đã thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, trong đó khẳng định: "Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản"; "a) Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến. b) Làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập".

Thứ năm, dưới sự lãnh đạo của Người và Đảng Cộng sản Việt Nam, với đường lối cách mạng đúng đắn, với sức mạnh đoàn kết muôn người như một của các tầng lớp nhân dân yêu nước, kiên cường, đồng lòng ủng hộ, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đã giành thắng lợi. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á; đồng thời, đưa những thân dân/người dân nô lệ An Nam trở thành chủ nhân của nước Việt Nam độc lập, tự do.

Tiếp đó, kiên định con đường đã lựa chọn, nhân dân Việt Nam kiên trì tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh và một đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp xu thế thời đại của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), sau hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, một đất nước Việt Nam đổi mới từng ngày đã khẳng định được vị thế của mình trong cộng đồng các quốc gia, đóng góp vào sự phát triển bền vững, phồn vinh của nhân loại; góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại, thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của loài người tiến lên trong một thế giới đầy biến động.

Thứ Ba, 8 tháng 6, 2021

BÀI HỌC VỀ MẠNH DẠN TÌM RA NHỮNG LỐI ĐI MỚI VÌ SỰ PHÁT TRIỂN CHUNG CỦA THANH NIÊN HIỆN NAY TỪ SỰ KIỆN NGUYỄN TẤT THÀNH RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

Nguyễn Tất Thành tìm đường sang nước Pháp và các nước phương Tây không chỉ bởi muốn tìm hiểu những “bí ẩn” đằng sau những khẩu hiệu về tự do, bình đẳng, bác ái mà thực dân Pháp luôn rêu rao trong quá trình cai trị Việt Nam; không chỉ muốn tìm hiểu thêm những trào lưu tư tưởng mới mà còn bởi Nguyễn Tất Thành đã nhìn thấy những hạn chế của các phong trào đấu tranh theo các khuynh hướng yêu nước trước đó. Thế nên anh đã có sự sáng tạo, chọn con đường đi mới, đó là sang nước Pháp và các nước phương Tây để tìm con đường cứu nước, cứu dân.

Ngày nay, tinh thần dám đổi mới, sáng tạo đó vẫn rất cần thiết cho đất nước, đặc biệt là cho thế hệ trẻ bởi đây là những chủ nhân tương lai của đất nước; là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là trung tâm trong chiến lược phát triển toàn diện nguồn nhân lực chất lượng cao. Công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu đòi hỏi thế hệ trẻ không chỉ có nhiệt tình cách mạng, không chỉ cần nhanh nhạy mà còn phải luôn luôn đổi mới sáng tạo, tìm ra các cách thức mới, con đường mới, phương pháp mới phục vụ cho sự phát triển chung, đưa đất nước nhanh chóng sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ mong muốn.

Năm xưa, Nguyễn Tất Thành chịu cảnh tủi nhục, đau đớn khi nước mất nhà tan mà quyết tâm ra đi tìm được con đường cứu nước đúng đắn mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Ngày nay, mặc dù đất nước ta đã giành được nhiều thành tựu, vị thế trên trường quốc tế ngày càng được củng cố và nâng cao nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm lực của đất nước. Các nguy cơ đối với cách mạng nước ta đã được Đảng chỉ ra vẫn còn hiện hữu. Chính vì vậy, để thực hiện mục tiêu Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã đặt ra quyết tâm đưa nước ta trở thành một nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 1945; đòi hỏi sự tham gia của toàn hệ thống chính trị và nhân dân. Trong đó, nòng cốt phải là thế hệ trẻ với tinh thần đổi mới sáng tạo, dám nghĩ dám làm, vượt mọi khó khăn thử thách như tinh thần của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc năm xưa.

BÀI HỌC VỀ TINH THẦN QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG KHI ĐÃ XÁC ĐỊNH ĐƯỢC MỤC TIÊU ĐÚNG ĐẮN CỦA THANH NIÊN HIỆN NAY TỪ SỰ KIỆN NGUYỄN TẤT THÀNH RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

Ra nước ngoài để tìm hiểu thực tiễn của chính đất nước Pháp và một số nước khác, qua đó tìm con đường giúp nước mình; suy nghĩ tưởng chừng như đơn giản ấy trong người thanh niên lại chứa đựng một lòng quyết tâm mạnh mẽ, dám nghĩ, dám làm, dám dấn thân đã nung nấu từ rất lâu trong trái tim yêu nước nóng bỏng. Chính từ quyết tâm ấy, Nguyễn Tất Thành đã dành tuổi trẻ, tuổi thanh xuân đẹp nhất của đời người, vượt qua khó khăn cực khổ để hướng tới một mục tiêu duy nhất dù biết rằng quá trình hoàn thành mục tiêu ấy rất lâu dài và còn nhiều khó khăn đang chờ đón ở phía trước. Đó là mục tiêu đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho đồng bào ở đất nước của anh.

Thế hệ trẻ chúng ta học được ở đây bài học có giá trị to lớn về sự kiên định theo đuổi mục tiêu và con đường đã lựa chọn. Mục tiêu ấy, con đường ấy trước đây là sự dấn thân vào cuộc cách mạng toàn dân nhằm giải phóng dân tộc và đấu tranh thống nhất đất nước bằng tất cả sức trẻ, thì ngày nay mục tiêu của tuổi trẻ phải là không ngừng học tập, làm chủ tri thức, sẵn sàng cống hiến sức trẻ, sự nhiệt huyết, như lời dạy của Bác: Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt thành công.

BÀI HỌC VỀ THÁI ĐỘ SỐNG TÍCH CỰC, CÓ TRÁCH NHIỆM CAO VỚI NHÂN DÂN, ĐẤT NƯỚC CỦA THANH NIÊN HIỆN NAY TỪ SỰ KIỆN NGUYỄN TẤT THÀNH RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

Ngày 05/6/1911 tại bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên hai mươi mốt tuổi Nguyễn Tất Thành chỉ với đôi bàn tay trắng, nhiệt huyết của tuổi trẻ và lòng yêu nước cháy bỏng đã có một quyết định mà ở độ tuổi ấy, trong bối cảnh ấy, ít có thanh niên Việt Nam dám thực hiện, đó là sang Marseille nước Pháp trên chiếc tàu buôn Latouche - Tréville, mở đầu cho một cuộc hành trình vô cùng khó khăn, vất vả và dài lâu để “tìm đường đi cho dân tộc theo đi”.

Đã 110 năm qua đi, nhưng ngày 05/6/1911 ấy đã, đang và vẫn sẽ là sự kiện có ý nghĩa to lớn, mở ra một trang mới tươi sáng trong lịch sử nước ta và để lại cho các thế hệ thanh niên Việt Nam nhiều bài học có giá trị và sâu sắc:

Sinh ra trong cảnh nước mất nhà tan, Nguyễn Tất Thành cũng như nhiều thanh niên yêu nước khác đã có thái độ sống tích cực, trách nhiệm với bản thân, đất nước ngay từ khi tuổi đời còn rất trẻ. Thái độ ấy thể hiện ở tình yêu thương nhân dân cần lao đói khổ bị chà đạp dưới ách đô hộ thực dân và phong kiến tay sai; ở lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc; ở khát khao cống hiến để đất nước thoát cảnh lầm than, nhân dân thoát cảnh nô lệ, tủi nhục. Chính thái độ sống tích cực, trách nhiệm ấy đã thôi thúc Nguyễn Tất Thành nhiệt tình tham gia vào các hoạt động đấu tranh chống thực dân Pháp từ rất sớm: đó là những lần làm liên lạc cho cụ Hoàng Thông (một chí sĩ yêu nước dạy học ở trường Quốc học Huế những năm đầu thế kỷ 20) với phong trào Đông Du, Duy Tân khi mới 17 tuổi; đó là lần tham gia biểu tình chống thuế cùng nhân dân các tỉnh Trung Kỳ khi bước sang tuổi 18 chưa lâu; đó là những bài giảng thấm đẫm tinh thần yêu nước, khát khao giải phóng dân tộc thoát khỏi vòng nô lệ trong những năm tháng dưới mái trường Dục Thanh; đó là quyết tâm đến Sài Gòn, một mình sang Pháp và một số nước khác ở để tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc… Tất cả cho thấy một tinh thần yêu nước nồng nàn, một khát khao giải phóng dân tộc mạnh mẽ được hun đúc bởi một thái độ sống tích cực, đầy trách nhiệm với nhân dân, với đất nước của người thanh niên Nguyễn Tất Thành.

Ngày nay, đất nước không còn trong cảnh nô lệ, lầm than như thời Nguyễn Tất Thành sống mà đang vươn mình mạnh mẽ để trở thành một đất nước ngày càng thịnh vượng và hạnh phúc theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện được mục tiêu ấy, đòi hỏi mỗi cán bộ, mỗi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ phải luôn nung nấu khát vọng xây dựng đất nước ngày càng phát triển, giàu mạnh, đời sống của nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc. Muốn vậy, thế hệ trẻ ngày nay cần phải phát huy hơn nữa tinh thần yêu nước, lòng nhân ái, ý thức trách nhiệm cao với các công việc chung của đất nước, của xã hội cũng như trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị; xây dựng và duy trì lối sống có trách nhiệm “mình vì mọi người” trước khi nghĩ đến “mọi người vì mình”.

Thứ Hai, 7 tháng 6, 2021

BÀI HỌC VỀ MẠNH DẠN TÌM RA NHỮNG LỐI ĐI MỚI VÌ SỰ PHÁT TRIỂN CHUNG CỦA THANH NIÊN HIỆN NAY TỪ SỰ KIỆN NGUYỄN TẤT THÀNH RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

Nguyễn Tất Thành tìm đường sang nước Pháp và các nước phương Tây không chỉ bởi muốn tìm hiểu những “bí ẩn” đằng sau những khẩu hiệu về tự do, bình đẳng, bác ái mà thực dân Pháp luôn rêu rao trong quá trình cai trị Việt Nam; không chỉ muốn tìm hiểu thêm những trào lưu tư tưởng mới mà còn bởi Nguyễn Tất Thành đã nhìn thấy những hạn chế của các phong trào đấu tranh theo các khuynh hướng yêu nước trước đó. Thế nên anh đã có sự sáng tạo, chọn con đường đi mới, đó là sang nước Pháp và các nước phương Tây để tìm con đường cứu nước, cứu dân.

Ngày nay, tinh thần dám đổi mới, sáng tạo đó vẫn rất cần thiết cho đất nước, đặc biệt là cho thế hệ trẻ bởi đây là những chủ nhân tương lai của đất nước; là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là trung tâm trong chiến lược phát triển toàn diện nguồn nhân lực chất lượng cao. Công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu đòi hỏi thế hệ trẻ không chỉ có nhiệt tình cách mạng, không chỉ cần nhanh nhạy mà còn phải luôn luôn đổi mới sáng tạo, tìm ra các cách thức mới, con đường mới, phương pháp mới phục vụ cho sự phát triển chung, đưa đất nước nhanh chóng sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ mong muốn.

Năm xưa, Nguyễn Tất Thành chịu cảnh tủi nhục, đau đớn khi nước mất nhà tan mà quyết tâm ra đi tìm được con đường cứu nước đúng đắn mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Ngày nay, mặc dù đất nước ta đã giành được nhiều thành tựu, vị thế trên trường quốc tế ngày càng được củng cố và nâng cao nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm lực của đất nước. Các nguy cơ đối với cách mạng nước ta đã được Đảng chỉ ra vẫn còn hiện hữu. Chính vì vậy, để thực hiện mục tiêu Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã đặt ra quyết tâm đưa nước ta trở thành một nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 1945; đòi hỏi sự tham gia của toàn hệ thống chính trị và nhân dân. Trong đó, nòng cốt phải là thế hệ trẻ với tinh thần đổi mới sáng tạo, dám nghĩ dám làm, vượt mọi khó khăn thử thách như tinh thần của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc năm xưa.

BÀI HỌC VỀ TINH THẦN QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG KHI ĐÃ XÁC ĐỊNH ĐƯỢC MỤC TIÊU ĐÚNG ĐẮN CỦA THANH NIÊN HIỆN NAY TỪ SỰ KIỆN NGUYỄN TẤT THÀNH RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

Ra nước ngoài để tìm hiểu thực tiễn của chính đất nước Pháp và một số nước khác, qua đó tìm con đường giúp nước mình; suy nghĩ tưởng chừng như đơn giản ấy trong người thanh niên lại chứa đựng một lòng quyết tâm mạnh mẽ, dám nghĩ, dám làm, dám dấn thân đã nung nấu từ rất lâu trong trái tim yêu nước nóng bỏng. Chính từ quyết tâm ấy, Nguyễn Tất Thành đã dành tuổi trẻ, tuổi thanh xuân đẹp nhất của đời người, vượt qua khó khăn cực khổ để hướng tới một mục tiêu duy nhất dù biết rằng quá trình hoàn thành mục tiêu ấy rất lâu dài và còn nhiều khó khăn đang chờ đón ở phía trước. Đó là mục tiêu đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho đồng bào ở đất nước của anh.

Thế hệ trẻ chúng ta học được ở đây bài học có giá trị to lớn về sự kiên định theo đuổi mục tiêu và con đường đã lựa chọn. Mục tiêu ấy, con đường ấy trước đây là sự dấn thân vào cuộc cách mạng toàn dân nhằm giải phóng dân tộc và đấu tranh thống nhất đất nước bằng tất cả sức trẻ, thì ngày nay mục tiêu của tuổi trẻ phải là không ngừng học tập, làm chủ tri thức, sẵn sàng cống hiến sức trẻ, sự nhiệt huyết, như lời dạy của Bác: Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt thành công.

BÀI HỌC VỀ THÁI ĐỘ SỐNG TÍCH CỰC, CÓ TRÁCH NHIỆM CAO VỚI NHÂN DÂN, ĐẤT NƯỚC CỦA THANH NIÊN HIỆN NAY TỪ SỰ KIỆN NGUYỄN TẤT THÀNH RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

Ngày 05/6/1911 tại bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên hai mươi mốt tuổi Nguyễn Tất Thành chỉ với đôi bàn tay trắng, nhiệt huyết của tuổi trẻ và lòng yêu nước cháy bỏng đã có một quyết định mà ở độ tuổi ấy, trong bối cảnh ấy, ít có thanh niên Việt Nam dám thực hiện, đó là sang Marseille nước Pháp trên chiếc tàu buôn Latouche - Tréville, mở đầu cho một cuộc hành trình vô cùng khó khăn, vất vả và dài lâu để “tìm đường đi cho dân tộc theo đi”.

Đã 110 năm qua đi, nhưng ngày 05/6/1911 ấy đã, đang và vẫn sẽ là sự kiện có ý nghĩa to lớn, mở ra một trang mới tươi sáng trong lịch sử nước ta và để lại cho các thế hệ thanh niên Việt Nam nhiều bài học có giá trị và sâu sắc:

Sinh ra trong cảnh nước mất nhà tan, Nguyễn Tất Thành cũng như nhiều thanh niên yêu nước khác đã có thái độ sống tích cực, trách nhiệm với bản thân, đất nước ngay từ khi tuổi đời còn rất trẻ. Thái độ ấy thể hiện ở tình yêu thương nhân dân cần lao đói khổ bị chà đạp dưới ách đô hộ thực dân và phong kiến tay sai; ở lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc; ở khát khao cống hiến để đất nước thoát cảnh lầm than, nhân dân thoát cảnh nô lệ, tủi nhục. Chính thái độ sống tích cực, trách nhiệm ấy đã thôi thúc Nguyễn Tất Thành nhiệt tình tham gia vào các hoạt động đấu tranh chống thực dân Pháp từ rất sớm: đó là những lần làm liên lạc cho cụ Hoàng Thông (một chí sĩ yêu nước dạy học ở trường Quốc học Huế những năm đầu thế kỷ 20) với phong trào Đông Du, Duy Tân khi mới 17 tuổi; đó là lần tham gia biểu tình chống thuế cùng nhân dân các tỉnh Trung Kỳ khi bước sang tuổi 18 chưa lâu; đó là những bài giảng thấm đẫm tinh thần yêu nước, khát khao giải phóng dân tộc thoát khỏi vòng nô lệ trong những năm tháng dưới mái trường Dục Thanh; đó là quyết tâm đến Sài Gòn, một mình sang Pháp và một số nước khác ở để tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc… Tất cả cho thấy một tinh thần yêu nước nồng nàn, một khát khao giải phóng dân tộc mạnh mẽ được hun đúc bởi một thái độ sống tích cực, đầy trách nhiệm với nhân dân, với đất nước của người thanh niên Nguyễn Tất Thành.

Ngày nay, đất nước không còn trong cảnh nô lệ, lầm than như thời Nguyễn Tất Thành sống mà đang vươn mình mạnh mẽ để trở thành một đất nước ngày càng thịnh vượng và hạnh phúc theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện được mục tiêu ấy, đòi hỏi mỗi cán bộ, mỗi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ phải luôn nung nấu khát vọng xây dựng đất nước ngày càng phát triển, giàu mạnh, đời sống của nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc. Muốn vậy, thế hệ trẻ ngày nay cần phải phát huy hơn nữa tinh thần yêu nước, lòng nhân ái, ý thức trách nhiệm cao với các công việc chung của đất nước, của xã hội cũng như trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị; xây dựng và duy trì lối sống có trách nhiệm “mình vì mọi người” trước khi nghĩ đến “mọi người vì mình”.

HỒ CHÍ MINH VÀ SỨC LAN TOẢ CUỘC CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

Sự kiện mở đầu là cuộc ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân ngày 5-6-1911 của người thanh niên tràn đầy nhiệt huyết Nguyễn Tất Thành.

Rời Tổ quốc từ bến cảng Nhà Rồng, anh đi sang phương Tây, đến tận nước Pháp để tìm hiểu bản chất của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân Pháp-kẻ đã xâm lược Việt Nam, đặt ách thống trị, áp bức và bóc lột tàn bạo nhân dân mình, biến Việt Nam thành thuộc địa và tìm ra con đường cách mạng, đánh đổ thực dân, phong kiến, giành độc lập cho Tổ quốc, tự do cho dân tộc và hạnh phúc cho đồng bào mình. Để đạt mục đích đó, Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc, tức Hồ Chí Minh sau này đã trải qua cuộc hành trình suốt 30 năm, qua các đại dương và châu lục, lăn lộn trong thực tiễn đấu tranh, tiếp xúc với mọi người lao động nghèo khổ, dù khác màu da, tiếng nói nhưng cùng chung một cảnh ngộ bị áp bức đọa đầy, cùng chung một kẻ thù là đế quốc thực dân, cùng có một khát vọng giải phóng mình khỏi thân phận nô lệ, giành lại độc lập, tự do và nhân phẩm con người.

Cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam, từ lúc khởi đầu đến khi giành được thắng lợi hoàn toàn là một quá trình lịch sử dài hơn 6 thập kỷ trong thế kỷ 20.

Trong những sự kiện đánh dấu bước ngoặt lịch sử, làm thay đổi số phận dân tộc, không thể không nói đến các sự kiện của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh:

Năm 1919: Gửi 8 điều yêu sách đòi độc lập, tự do cho dân tộc mình tới hội nghị Versailles.

Năm 1920: Gia nhập Đảng Cộng sản Pháp, đồng sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, tiếp cận Luận cương của Lênin về quyền tự quyết dân tộc, về cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa.

Năm 1925: Viết “Bản án chế độ thực dân Pháp” và huấn luyện cán bộ-những hạt giống đầu tiên của phong trào cách mạng Việt Nam.

Năm 1930: Sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp soạn thảo Chính cương sách lược vắn tắt, chương trình hành động của Đảng và dự thảo Điều lệ Đảng, thư kêu gọi đồng bào.

Năm 1941: Trở về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Năm 1945: Cách mạng Tháng Tám thành công đúng với dự báo của Người. Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời với bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ.

Năm 1946-1954: Cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp xâm lược và Chiến thắng lịch sử “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”.

Năm 1965-1969: Chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, dốc lòng dốc sức cho cách mạng miền Nam; ra lời kêu gọi: Đồng bào chiến sĩ cả nước, ngày đêm theo dõi từng bước tiến của cách mạng miền Nam, viết Di chúc để lại cho đồng bào, đồng chí, nhìn thấy triển vọng toàn thắng đang đến gần với một niềm tin mãnh liệt.

Mục tiêu cao quý và thiêng liêng của cách mạng giải phóng dân tộc là độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, là độc lập thực sự gắn liền với tự do thực sự, là hạnh phúc đủ đầy cả vật chất lẫn tinh thần cho con người, cho nhân dân Việt Nam để họ thực sự là người chủ và làm chủ cuộc sống của mình.

Thứ Sáu, 4 tháng 6, 2021

CHỦ BÚT LÀM CẢ PHÁT HÀNH VÀ ... QUẢNG CÁO

Mặc dù nhiều khó khăn chồng chất, bị theo dõi gắt gao, thiếu thốn về vật chất và vấn đề sức khỏe, nhưng Nguyễn Ái Quốc dùng hầu hết số tiền kiếm được để mua các tờ báo cánh tả, đặc biệt là báo “Nhân đạo” (L'humanité). Anh vẫn hăng say nghiên cứu, học tập, viết được hơn 30 bài đăng các báo tiến bộ Pháp: La Vie Ouvriere (Đời sống thợ thuyền); L'humanité (Nhân đạo); Le Populaire (Dân chúng)...

Do sớm nhận rõ vai trò của báo chí nên ngày 19-1-1922, Nguyễn Ái Quốc cùng với Ban thường vụ Hội Liên hiệp thuộc địa đã họp, quyết định thành lập cơ quan ngôn luận của Hội, lấy tên tờ báo là “Người cùng khổ” (Le Paria). Nguyễn Ái Quốc tổ chức kiêm chủ bút và đóng góp rất nhiều cho hoạt động của tờ báo, có số Nguyễn Ái Quốc viết đến hai, ba bài. Nhiều số báo anh còn vẽ tranh châm biếm. Tổng cộng, Nguyễn Ái Quốc đã viết 40 bài báo, chiếm hơn 60% tổng số bài đăng trên tờ báo duy nhất trong lịch sử báo chí thế giới, với tư cách là diễn đàn của các dân tộc thuộc địa.

Lúc đó, ở Đông Dương, bọn thực dân đưa ra quy định ai đọc tờ báo “Người cùng khổ” đều bị bắt. Các hiệu sách, báo lẻ nói chung không muốn nhận tờ báo này. Có lúc quỹ của báo không còn đồng nào, thậm chí có lúc còn nợ nhà in 150 francs... Riêng Nguyễn Ái Quốc ủng hộ rất đều cho báo mỗi tháng 25 francs. Người nói: Chúng ta phải bằng bất cứ giá nào làm cho tờ báo sống. Dù chính quyền Pháp ngăn cản, nhưng Nguyễn Ái Quốc đã có nhiều hoạt động sáng tạo để bảo đảm kinh phí và duy trì hoạt động của tờ báo. Người tham gia bán báo và dùng chính nghề ảnh của mình để...bán báo. Nguyễn Ái Quốc tặng cho mỗi độc giả nào vận động được 25 người mua báo "Người cùng khổ" dài hạn một tấm ảnh phóng cỡ 30x40cm rất nghệ thuật. Người còn ra sức vận động đồng bào mình sinh sống trên đất Pháp dù nghèo túng cũng hết sức dành dụm tiền ủng hộ tờ báo. Nhờ đó, báo nhận được nhiều tên người Việt Nam ủng hộ, mỗi người một ít nhưng cộng lại là một số tiền khá lớn!

Nguyễn Ái Quốc cùng với những người trong Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa thành lập Hợp tác xã và Điều lệ để gây vốn làm báo. Cuộc họp đã thông qua Điều lệ của Hợp tác xã do Nguyễn Ái Quốc trình bày. Điều lệ gồm 25 điều khoản xác định Hội Hợp tác là một hội kinh doanh sản xuất, mỗi cổ phần đóng 100 francs làm vốn, 15.000 francs để ra tờ báo Le Paria. Hợp tác xã kêu gọi mọi người tham gia góp vốn để làm báo, coi như một hình thức kinh doanh cổ phần và nếu có lợi thì những người đóng góp sẽ được hưởng 30%.

Theo báo cáo của mật thám Pháp ở Paris ngày 14-6-1923 thì năm 1923, báo "Người cùng khổ" xuất bản mỗi số 2000 bản, trong đó 1000 bản gửi đi các nước thuộc địa châu Phi và Đông Dương. Với khoảng thời gian từ tháng 4-1922 đến tháng 6-1926, tờ báo "Người cùng khổ" phát hành được 38 số. Tại Việt Nam, các thủy thủ yêu nước đã bí mật đem báo "Người cùng khổ" từ Paris về các cảng Sài Gòn, Hải Phòng đưa cho các cơ sở rồi từ đó phân phát đi bằng cách truyền tay nhau đến các thanh niên trí thức yêu nước ở các thành phố, học sinh, sinh viên. Những bài hay, nhất là những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc thường được họ chép lại, làm tài liệu để đọc đi đọc lại nhiều lần và phổ biến cho bạn bè, vì số lượng báo đưa về không nhiều, không thể đến khắp các nơi cần có.

NGÔI NHÀ "BỐN KHÔNG" TRONG NGÕ HẺM

Vào tháng 7-1921, Nguyễn Ái Quốc chuyển đến ở nhà số 9, ngõ Compoint thuộc Quận 17, Pháp. Đây là nơi Nguyễn Ái Quốc ở đến hai năm, từ tháng 7-1921 đến tháng 6-1923.

Sau này, vào năm 1968, đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Bộ trưởng Xuân Thuỷ làm Trưởng đoàn, đồng chí Lê Đức Thọ làm cố vấn đặc biệt lên đường sang Pháp tham dự Hội nghị Paris về Việt Nam đã đến thăm căn phòng mà Người đã từng ở này.

Khi nhìn thấy căn phòng và những vật dụng sinh hoạt của Bác quá đơn sơ, nghèo nàn, tất cả anh chị em trong Đoàn đều vô cùng xúc động; bước vào phòng, một gian buồng hẹp khoảng 9m2, nhìn về phía tay trái có một la-va-bô treo trên tường cùng một vòi nước nhỏ, ngay cạnh đó là một tủ quần áo làm bằng gỗ tạp. Sát tường bên trái là chiếc giường sắt đơn, đầu giường có một cái tủ con để sách vở và vài đồ lặt vặt. Phía trên có một ngọn đèn nhỏ vừa đủ để thắp sáng gian buồng. Sau khi ra về, đồng chí Xuân Thuỷ đã xúc động viết :

“Ngày nào lạnh lẽo phố Công - poanh (Compoint)

Ngõ nhỏ buồng con, Bác một mình

Cuộc sống đi về coi chật hẹp

Mà lòng “Ái Quốc” rộng mông mênh”.

Trong cuốn sách Thời thanh niên của Bác Hồ, tác giả Hồng Hà kể: Bà Giamô, chủ nhà, cho anh Nguyễn thuê gian buồng mỗi bề khoảng ba mét, không bếp, không nước, không điện, không lò sưởi, gió thổi lùa qua khe cửa… Buồng anh chỉ đủ kê một cái giường sắt, một cái bàn con…. Trên bàn có một cái thau, trong thau có một bình đựng nước để rửa mặt. Khi anh viết hoặc đọc sách thì anh đưa thau và bình nước xuống gầm giường… Một người bạn Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng kể lại: “Tôi là Giăng Pho (Jean Feur), thợ điện, đảng viên Đảng Cộng sản Pháp. Tôi quen biết đồng chí Nguyễn Ái Quốc từ năm 1920-1921, vì hồi đó chúng tôi cùng trọ một nhà, ở ngõ hẻm Compoint. Đó là khu công nhân nghèo, mà ngõ hẻm lại là nghèo nhất ở khu nghèo này. Gọi là ngõ hẻm, vì nó chỉ có đường vào, không có đường ra. Cả “phố”chỉ vẻn vẹn có 4 cái nhà lụp xụp, 3 nhà cho thuê để gửi xe. Một nhà tầng dưới là một quán cà phê nhỏ, tầng trên có hai buồng. Tôi và anh Nguyễn trọ… Mùa đông giá lạnh, không đủ chăn đắp, trước khi đi làm, anh đặt nhờ một viên gạch trên bếp bà chủ nhà; tối về, anh gói viên gạch vào một tờ báo, rồi đút vào giường cho đỡ rét”.

Hình ảnh viên gạch đã đi vào hình tượng thơ của nhà thơ Chế Lan Viên trong bài “Người đi tìm hình của nước”:

“Có nhớ chăng, hỡi gió rét thành Ba Lê

Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá”.

Chuyện viên gạch hồng hoàn toàn đúng thực tế thời đó. Ông Tổng Lãnh sự Pháp - người tặng viên gạch lưu niệm của gia đình cho Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh TP Hồ Chí Minh kể: "Nước Pháp vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 vẫn còn nghèo. Ngay tại thủ đô Paris vẫn còn nhiều vùng chưa có điện. Để chống lại giá rét mùa đông, người ta sản xuất ra một loại gạch sưởi, bên trong được cấu tạo thành nhiều ngăn, nhiều lớp để tích tụ nhiệt. Ban ngày trước khi đi làm, người ta đặt viên gạch vào cạnh lò sưởi; khi đi ngủ người ta đặt viên gạch dưới giường nằm cho ấm. Viên gạch này là kỷ vật của bà ngoại ông Jean François Parot. Bà đã giữ lại suốt hơn nửa thế kỷ như kỷ niệm về một thời nghèo khó..."

Về sinh hoạt hằng ngày, cuốn Đường Bác Hồ đi cứu nước ghi: Mỗi buổi mai, Người nấu cơm trong một cái xanh nhỏ bằng sắt tây đặt trên ngọn đèn dầu. Với một con cá mắm hoặc một tí thịt. Người ăn một nửa và để dành một nửa đến chiều. Có khi một miếng bánh mì với một miếng phomát là đủ ăn cả ngày.

Lúc này, Nguyễn Ái Quốc đang làm thợ sửa ảnh tại tiệm ảnh của ông Lainé nằm cùng ngõ ở số 7 với số tiền công là 40 francs mỗi tuần. Phần lớn số tiền kiếm được, Người dùng để đặt báo và mua sách.

Thiếu khổ đủ bề nhưng “điều cần nhất” đã được Người nói lên ngay sau lời ngọt nhạt lôi kéo của toàn quyền Pháp: “Cảm ơn Ngài! Cái mà tôi cần nhất trên đời là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập…

NGƯỜI KHÔNG ĐỦ TIỀN ĂN NHỮNG MÓN CỦA DÂN NGHÈO PARIS

Anh sống rất cực khổ. Để kiếm tiền, anh làm nghề rửa ảnh và phóng đại ảnh. Chính cụ Phan Chu Trinh đã dạy Nguyễn Tất Thành nghề này. Ngoài ra, anh còn làm cả nghề sơn vẽ đồ cổ - những đồ rất được chuộng bởi những bà quý tộc già, những người trọc phú. Thế nhưng, không may đây chỉ là một công việc theo mùa, mỗi năm chỉ làm vài tháng.

Gần như suốt thời gian ở Pháp, Người làm việc quên ăn, quên ngủ. Trong suốt 5 năm trời, hồ sơ mật thám ghi lại, chỉ có duy nhất một lần Người đến quán rượu vì công việc, nhưng chỉ một tiếng sau đã rời đi.

Một tài liệu ghi: “Ngày 8 tháng 1 năm 1923: Nguyễn Ái Quốc đến gặp Phan Văn Trường tại một quán rượu trong ngõ Compoint từ 16 giờ đến 17 giờ. Tại đây, Nguyễn Ái Quốc đã lên án Chính phủ Poăngcarê (Poincaré) chiếm cứ vùng Rua (Rhur), một việc làm mà “nhân dân vô sản trên thế giới không cho phép”.

Và cũng chỉ duy nhất một lần mật thám ghi được, Người đến chợ để lo cho bữa tối: “Tháng 9, ngày 21, năm 1920: Hồi 17 giờ, Nguyễn Ái Quốc đi chợ quán Vingram. 17 giờ 30, về đến nhà”.

Cuốn sách “Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Pháp” viết: “Với tiền thu nhập ít ỏi, qua nhiều báo cáo theo dõi của mật thám, đồng chí Nguyễn Ái Quốc lúc đó sống thiếu thốn, ăn uống qua loa cho qua ngày, thậm chí không đủ tiền ăn những món thông thường của người dân bình thường ở thành phố Paris.”

Ăn uống qua loa, làm việc cật lực, Nguyễn Ái Quốc nhiều lần bị ốm. Tháng 3 năm 1921, Người phải mất hơn hai tháng nằm điều trị vì bị áp xe vai.

Đời sống của Người mỗi ngày một khó khăn vì việc làm không ổn định mà giá sinh hoạt mỗi ngày một đắt đỏ. Người còn bị mật thám theo dõi sát sao, chúng thậm chí còn đe dọa chủ thuê, khiến Người mất việc. Báo cáo của tên mật thám ký là Devèze ngày 29-7-1921 cho thấy: Vì trình độ kỹ thuật thấp nên mỗi tuần hãng Lainé ở số 7, ngõ Compoint chỉ trả cho Nguyễn Ái Quốc có 40 franc, coi như thợ học việc. Từ ngày 6-11-1921, Nguyễn Ái Quốc nghỉ việc ở hãng này, vì nghi bị ho lao”.

Theo báo cáo mật của Cục An ninh quốc gia Pháp số 420 SR ngày 19-9-1922, “Nguyễn Ái Quốc lại thôi không làm thuê về nghề ảnh cho hãng Lainé nữa. Hàng quạt và chao đèn vẽ bằng sơn dầu rất khó bán. Có lẽ hãng Lainé không dám thuê Nguyễn Ái Quốc làm, vì anh đã bị mật thám theo dõi chặt chẽ từng ngày và mật thám Pháp cũng làm khó dễ cho chủ hãng, đe dọa chủ hãng”.

Thứ Năm, 3 tháng 6, 2021

NHỮNG HOẠT ĐỘNG LÝ LUẬN CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC TRONG GIAI ĐOẠN TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

Trên hành trình tìm đường cứu nước, cùng với những hoạt động thực tiễn phong phú, Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc (tức Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này), đã chủ động, độc lập, tích cực học tập và nghiên cứu lý luận.

Hoạt động học tập lý luận của Người tập trung chủ yếu từ khi đến Anh (năm 1913). Qua những tài liệu đã được công bố cho thấy, trong thời gian sống ở Anh, Nguyễn Tất Thành vừa lao động, vừa tự học tập không ngừng nghỉ. Cùng với vốn tiếng Anh học được, “những năm tháng sống ở nước Anh, Nguyễn Tất Thành đã tích lũy thêm được vốn hiểu biết về chính trị của xã hội tư sản, về đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giữa chính quốc và thuộc địa của một nước tư bản chủ nghĩa sớm phát triển”.

Tác giả John Callow trong bài viết của mình, suy đoán rằng: “Có thể chính trong thời gian ở Luân Đôn, lần đầu tiên Hồ Chí Minh đã đọc các tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngghen. Các tác phẩm này được Twentieth Century Press-cơ quan xuất bản của Đảng Dân chủ xã hội Anh, đặt trụ sở tại tòa nhà Clerkenwell Grenn ở Luân Đôn-xuất bản thành những cuốn sách giá rẻ. Ngày nay, tòa nhà này trở thành Thư viện tưởng niệm C.Mác và có một bức chân dung của Hồ Chí Minh được treo ở hành lang bên ngoài căn phòng nơi V.I.Lênin từng ngồi làm việc vào những năm 1902-1903. Tấm chân dung ấy của Hồ Chí Minh là bằng chứng về mối liên hệ giữa nhà xuất bản và vị khách nổi tiếng của mình”.

Những tri thức lý luận tiếp thu được trong quá trình bôn ba qua nhiều nước và thời gian ở Anh, cho phép Nguyễn Tất Thành có những nhận thức đúng đắn để phân tích tình hình thế giới lúc bấy giờ. Người thanh niên yêu nước ấy đã có những nhận định chính xác về Chiến tranh thế giới thứ nhất, ở cả châu Âu và châu Á khi viết thư gửi Phan Chu Trinh: “Cháu bỗng nhớ cách đây vài tháng, cháu đã nói với Bác về cơn giông sấm động. Số mệnh sẽ còn dành cho chúng ta nhiều bất ngờ và không thể nói trước được ai sẽ thắng. Các nước trung lập còn đang lưỡng lự và các nước tham chiến không thể đoán biết được ý đồ của họ. Tình hình diễn ra là ai thò mũi vào thì chỉ có thể đứng về phe của địch thủ bên này hoặc địch thủ bên kia. Người Nhật Bản hình như có ý định nhúng tay vào. Cháu nghĩ trong ba hoặc bốn tháng tình hình châu Á sẽ có chuyển biến và sẽ có nhiều chuyển biến”.

Hoạt động lý luận của Nguyễn Ái Quốc có sự phát triển rõ rệt khi Người trở lại Pháp vào khoảng cuối năm 1917 và gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Trong thời gian này, bằng vốn hiểu biết của mình, Người không chỉ đơn thuần học tập lý luận mà đã tích cực, chủ động viết báo, tham gia các buổi diễn thuyết ở Paris. Trong thời gian sống ở Pháp, tri thức lý luận của Nguyễn Ái Quốc ngày càng được mở rộng. Người hiểu hơn về cuộc chiến tranh thế giới lúc bấy giờ, hiểu được nỗi đau khổ của nhân dân chính quốc và thuộc địa khi phải hy sinh xương máu trên chiến trường vì lợi ích của bọn cá mập tư sản thực dân. Cùng với việc trau dồi vốn tiếng Pháp, Người đã tích cực tới thư viện để nghiên cứu những vấn đề mà mình quan tâm. Ở đây, Người được đọc trực tiếp các tác phẩm của các nhà tư tưởng tiến bộ Pháp cũng như phương Tây, nhất là thời kỳ khai sáng, cận đại.

Bên cạnh đó, Người chủ động tìm đọc các tác phẩm văn học của Shakespeare, Dickens, Huygo, Zola, Anatole France... Nhận thấy vốn kiến thức chính trị của mình còn có những hạn chế nhất định, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực tham gia các các cuộc thảo luận với rất nhiều chủ đề, hình thức khác nhau. Tác giả Trần Dân Tiên đã kể lại: “Trong những buổi hội họp nói chuyện ở Paris, người ta thảo luận đến tất cả các vấn đề. Từ thiên văn, địa lý, chính trị, văn học cho đến cách trồng cải soong và nuôi ốc sên. Trong những buổi họp này có tất cả các hạng người: Bác học, cựu bộ trưởng, nghị viên, nhà văn, thợ thuyền, người đi buôn, người già và người trẻ. Ở đây có một không khí thân mật và dân chủ, giống như ở những câu lạc bộ Giacobanh (Jacobins) thời Đại cách mệnh Pháp. Ở đây người ta có thể học nhiều chuyện và nhận xét mọi người. Thật là bổ ích”. Thông qua đó để vừa học hỏi, nắm bắt thêm tình hình, thấy được bầu không khí cách mạng, vừa bày tỏ cho mọi người biết về tội ác của thực dân Pháp ở những nơi mà Người được chứng kiến, cũng như tình cảnh dân tộc của mình. Với những hoạt động trên, tư duy lý luận của Nguyễn Ái Quốc ngày càng phát triển, nhận thức các vấn đề chính trị, cách mạng ngày càng sâu sắc hơn.

Cùng với việc học tập lý luận, Nguyễn Ái Quốc đã bước đầu tiến hành tổng kết những kinh nghiệm, hiểu biết đã tích lũy trong thời gian trước đó, nhất là về vấn đề chủ nghĩa thực dân và vấn đề thuộc địa. Điều này được thể hiện rõ qua nhiều bài báo mà Người đã viết: "Tâm địa thực dân", "Vấn đề dân bản xứ", "Đông Dương và Triều Tiên", "Thư gửi ông Utơrây", "Chính sách thuộc địa"... Qua đó đã thể hiện cái nhìn sâu sắc của Nguyễn Ái Quốc về nhiều vấn đề của cách mạng, mặc dù chưa nghiên cứu sâu về Chủ nghĩa Mác-Lênin. Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy, thời đại mới chính là “thời đại mà ý muốn của nhân dân là nắm quyền tự quyết”, “Xét về nguyên tắc, tiến bộ chung phụ thuộc vào việc phát triển chủ nghĩa quốc tế; và văn minh chỉ có lợi khi các quan hệ quốc tế được mở rộng và tăng cường”. Tuy nhiên, thực dân Pháp lại duy trì một nền bạo chính ở các thuộc địa của mình. Điều đó khiến nó tạo ra một sự đối nghịch sâu sắc giữa người bản xứ và bọn thực dân, cả về tâm lý, hành chính, pháp lý, về kinh tế và văn hóa: “Người Âu hưởng mọi tự do và ngự trị như người chủ tuyệt đối; còn người bản xứ thì bị bịt mõm và bị buộc dây dắt đi, chỉ có quyền phải phục tùng, không được kêu ca”.

Với sự từng trải và những ngày tháng miệt mài nghiên cứu, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy: “Từ lâu, chủ nghĩa tư bản phương Tây như con rắn nhiều đầu, thấy châu Âu là nơi quá chật hẹp để bóc lột và máu của vô sản châu Âu không đủ dồi dào để thỏa mãn thèm khát, nó bèn vươn những cái vòi khủng khiếp của nó tới khắp nơi của quả đất. Bọn tư bản Anh, Đức hoặc Pháp, tất cả đều tương xứng nhau”. Và vì vậy, nếu không có những vệ tinh thì chủ nghĩa tư bản không thể tồn tại. Cho nên “Ngày nay không còn là lúc phải đặt vấn đề Đảng có cần hay không cần một chính sách thuộc địa, bởi ngày nay không thể có sự tách biệt giữa thuộc địa và chính quốc, giữa vô sản ở nơi này và vô sản ở nơi kia”.

Một hoạt động lý luận rất quan trọng của Nguyễn Ái Quốc là soạn thảo (nội dung ý kiến do Người đề ra, luật sư Phan Văn Trường viết), sau đó thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Versailles bản "Yêu sách của nhân dân An Nam". Nó như một đúc kết mong muốn trước mắt của những người yêu nước Việt Nam lúc bấy giờ. Mặc dù không được chấp nhận nhưng nó như là một tuyên bố chính trị của nhân dân Việt Nam trước thế giới, mở đầu cho việc đòi những quyền dân tộc cơ bản, đồng thời phơi bày bản chất, dã tâm lừa bịp của bọn thực dân, đế quốc với nhân dân các thuộc địa, mở ra một giai đoạn mới trong phong trào giải phóng dân tộc. Qua hoạt động này, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy sự cần thiết phải thay đổi trong cách tiếp cận, trong hành động để giải phóng dân tộc: “Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”. Vì vậy, không thể tin những lời tuyên bố tự do đầy đường mật của các nhà chính trị tư bản trong chiến tranh mà cần phải tìm kiếm một lý luận, một phương pháp khác.

Những hoạt động tổng kết thực tiễn này có ý nghĩa rất quan trọng, là cơ sở để Nguyễn Ái Quốc có cái nhìn toàn diện về chủ nghĩa thực dân, về tình cảnh, vị trí, vai trò của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới. Vào năm 1920, Người đã chuẩn bị tư liệu và viết một quyển sách về tình hình Đông Dương với nhan đề "Những người bị áp bức". Tuy nhiên, nó đã không ra mắt độc giả vì bản thảo bị mất (nhưng đây cũng là cơ sở để sau này Người viết tác phẩm "Bản án chế độ thực dân Pháp"), như một sự đánh giá tổng kết về chủ nghĩa thực dân và các dân tộc thuộc địa. Trên cơ sở đó đi đến khẳng định: “Thế giới sẽ chỉ có nền hòa bình cuối cùng khi tất cả các dân tộc tự mình thỏa thuận với nhau cùng tiêu diệt con quái vật đế quốc chủ nghĩa ở khắp mọi nơi mà họ gặp nó”.

Từ khi biết được về Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, cùng với đó là việc thành lập Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã để tâm nghiên cứu và có những hiểu biết nhất định về những vấn đề cách mạng. Điều đó được thể hiện qua việc trao đổi với các đồng chí của mình trong Đảng Xã hội Pháp và với nhiều người Việt Nam yêu nước đang ở Paris, cũng như trong diễn thuyết. Vào ngày 11-2-1920, Người đã trình bày đề tài Chủ nghĩa bônsêvích ở châu Á tại Hội nghị những người thanh niên cộng sản quận 2, đồng thời còn trình bày cả vấn đề ruộng đất công ở Trung Quốc và Việt Nam. Cùng với hoạt động thực tiễn, những hoạt động lý luận để tìm đường giải phóng dân tộc là một nhân tố rất quan trọng dẫn Nguyễn Ái Quốc đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Việc đọc "Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa" của V.I.Lênin, đăng trên Báo Nhân đạo (L'Humannite, số ra ngày 16 và 17-7-1920), cộng với những trải nghiệm của mình, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy câu trả lời cho con đường giành độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào mình sau bao nhiêu năm tìm kiếm- con đường cách mạng vô sản.

Những hoạt động lý luận của Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn tìm đường cứu nước không chỉ có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc Người tìm thấy con đường cứu nước mà còn định hình cho những hoạt động lý luận sau này của Hồ Chí Minh. Những hoạt động lý luận của Người trong giai đoạn sau chính là sự phát triển, hoàn thiện những nội dung, phương thức hoạt động lý luận của giai đoạn trước đó. Điều này cũng có sức gợi mở rất lớn để vận dụng phương pháp, cách thức của Người nhằm nâng cao chất lượng trong tiến hành các hoạt động lý luận hiện nay.

GÁC LẠI NHỮNG NIỀM RIÊNG

Cuối năm 1913, việc đốt lò vất vả khiến Nguyễn Tất Thành ốm nặng, bị cảm, phải xin nghỉ việc. Bình phục, Nguyễn Tất Thành đến làm thuê ở khách sạn Drayton Court rồi sang làm phụ bếp ở khách sạn Carlton, một khách sạn sang nổi tiếng ở London, dưới sự điều khiển của vua đầu bếp người Pháp Escophier.

Hằng ngày, anh để riêng những thức ăn còn sạch sẽ, có lúc là một phần tư con gà hoặc còn nguyên cả miếng bít tết để đưa lại cho nhà bếp. Vua đầu bếp hỏi tại sao không vứt đi như những người khác, anh trả lời: "Ông có thể cho người nghèo những thứ ấy". Ông ta tỏ ra cảm phục và nói: "Tạm thời anh hãy gác ý nghĩ cách mạng của anh lại một bên, và tôi sẽ dạy cho anh cách làm bếp, làm ngon và anh sẽ được nhiều tiền".

Từ đó, Nguyễn Tất Thành được ông vua bếp đưa vào chỗ làm bánh với số lương cao hơn. Mọi người cho biết lần đầu tiên ông vua bếp làm như thế!

Nhà văn, nhà sử học, Giám đốc Trung tâm lưu trữ, Thư viện Marx, Vương quốc Anh John Callow cho rằng, chính trong thời gian ở London, Hồ Chí Minh đã đọc các tác phẩm của Marx và Engels, được in rất rẻ tại Nhà in Thế kỷ Hai mươi thuộc Đảng Dân chủ Xã hội Anh. Bốn năm ở London đã góp phần rất nhiều trong việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

Cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành đã từ Anh trở lại Pháp để có điều kiện trực tiếp hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp, tiếp tục hành trình tìm đường cứu nước của mình.

Hành trình 6 năm đầu tìm hình của nước ở tuổi 20, Người đã phải trải qua đủ mọi đắng cay, một mình dặm trường nơi đất khách quê người, phải gác lại những tình cảm riêng tư như nhà sử học người Mỹ ghi lại: “…một số sĩ quan Anh - Mỹ trong đội quân của đồng minh khi sang Đông Dương đóng ở Cao Bằng có dịp tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tác giả tập hồi ký “Tôi sống cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh từ những ngày đầu khởi nghĩa”. Chúng tôi có hỏi - không phải tò mò mà trên danh nghĩa là đàn ông với nhau, tại sao Chủ tịch không lấy vợ, không lập gia đình? Hồ Chí Minh trả lời một cách chân tình và thân mật: Khi còn trẻ phải đi hoạt động cách mạng, khi giành được độc lập thì đã già, nên không dám tính chuyện đó. Trước khi tôi ra đi, tôi có yêu một người con gái, người con gái đó cũng rất yêu tôi. Nhưng phải dừng lại về chuyện yêu đương, sau nhiều năm mất liên lạc, tôi không biết người con gái đó đang ở đâu, còn hay mất”.

HỌC TẬP - KHÁT VỌNG CHÁY BỎNG

Lao động vất vả nhưng khát vọng học tập luôn cháy bỏng trong Nguyễn Tất Thành. Cùng với bức thư gửi cho cha, anh còn gửi một bức thư cho anh trai Nguyễn Sinh Khiêm (thời kỳ này đang giúp việc vặt ở Toà Khâm sứ Trung Kỳ), nhờ xin cho vào học Trường Thuộc địa tại Pari. Nhưng kết quả không khả quan hơn, vẫn với sự kỳ thị, toàn quyền trả lời: “…ông chủ sự giáo dục Trung Kỳ, được hỏi ý kiến đã cho biết người thanh niên này đã bắt đầu học Trường Quốc học Huế, nay qua làm bồi ở Pháp, có thể tiếp tục học ở một trường tại thuộc địa trước khi có tham vọng trở thành sinh viên ở Pháp”.

Đầu năm 1913, Nguyễn Tất Thành theo tàu rời Mỹ trở về Pháp, sau đó sang Anh.

Đến nước Anh, lên bờ, làm gì để sinh sống là một câu hỏi quá khó khăn giữa thủ đô London hoa lệ. Nguyễn Tất Thành nhận cào tuyết cho một trường học. Công việc quá vất vả mệt nhọc, anh đành phải bỏ việc. Anh tìm được một việc khác là đốt lò. Từ 5 giờ sáng, anh đã phải chui xuống hầm để nhóm lửa, suốt ngày đổ than, thay than trong lò, sống trong cảnh tranh tối tranh sáng, ngột ngạt đáng sợ.

Nhưng cũng ngay từ những ngày đầu tiên đến nước Anh, Nguyễn Tất Thành bắt tay ngay vào việc học ngoại ngữ. Hằng ngày, sáng sớm và buổi chiều, trước và sau giờ lao động để kiếm tiền sống, anh miệt mài tự học. Hằng tuần, vào ngày nghỉ, anh học tiếng Anh với một giáo sư người Ý.

Giữa năm ấy, từ nước Anh, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho cụ Phan Châu Trinh ở Pháp. Bức thư cho thấy anh rất quyết tâm học ngoại ngữ: "Mấy bốn tháng rưỡi nay thì chỉ làm với Tây, nói tiếng Tây luôn luôn. Tuy ở Anh nhưng chẳng khác gì ở Pháp và tháng ngày luống những chỉ lo làm việc khỏi đói, chớ chẳng học được bao nhiêu. Và cháu ước ao rằng bốn, năm tháng nữa, lúc gặp bác thì sẽ nói và hiểu được tiếng Anh nhiều nhiều…”.

BÓNG TỐI DƯỚI CHÂN TƯỢNG NỮ THẦN TỰ DO

Cuối năm 1912, Nguyễn Tất Thành theo con tàu đến Mỹ. Điện tín của Chánh mật thám Sài Gòn sau này ghi lại: Ngày 15-12-1912, từ New York, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho Khâm sứ Trung Kỳ nhờ cho biết tình hình và địa chỉ của cha. Thư cho biết, anh đã gửi cho cha mình ba ngân phiếu nhưng mới chỉ nhận được một lần trả lời.

Thời gian ở Mỹ, Người dành một phần thời gian để lao động kiếm sống, còn phần lớn thời gian dành cho học tập, nghiên cứu. Nữ tác giả Josephine Stenson, một nhà sử học người Mỹ đã tự bỏ tiền túi ra để đi khắp những nơi mà Bác Hồ đặt chân tìm hiểu, sau này đã phát biểu sâu sắc về Bác Hồ tại Hội thảo quốc tế kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1990) ở Hà Nội.

Bà viết: “…Tôi nghĩ ngay đến Tượng thần Tự do ở quê hương tôi. Tôi là nhà sử học, tôi đã lật ra xem những trang ghi cảm tưởng của mọi chính khách khi họ đến tham quan và chiêm ngưỡng Tượng thần Tự do và ca ngợi thần Tự do, Nguyễn Tất Thành khi đến New York cũng đã đến chiêm ngưỡng Tượng thần Tự do và mọi chính khách, sau khi đã đến tham quan thần Tự do đều ghi cảm tưởng bằng những lời ca ngợi Ngôi sao tỏa sáng trên vòng Nguyệt quế là ánh sáng tự do... Duy chỉ có Nguyễn Tất Thành đến xem thần Tự Do nhưng nhìn xuống dưới chân tượng và ghi “Ánh sáng trên đầu thần Tự Do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân Tượng thần Tự Do thì người da đen đang bị chà đạp. Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc? Và bao giờ người phụ nữ được bình đẳng với nam giới?”. Duy nhất chỉ có Nguyễn Tất Thành nhìn xuống chân Tượng thần Tự do và ghi lại những ý kiến trên. Nguyễn Tất Thành nhìn số phận con người chứ không chiêm ngưỡng hào quang tỏa sáng từ bức Tượng thần Tự do".

GIỌT NƯỚC MẮT BÁC ÁI RỚT GIỮA ĐẠI DƯƠNG

Bước sang năm 1912, con tàu tiếp tục hành trình đi vòng quanh châu Phi, đã có dịp dừng lại ở những bến cảng của một số nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Algeria, Tunisia, Democratic Republic of the Congo, Dahomey, Senegal, Réunion…

Đến đâu, Nguyễn Tất Thành cũng thấy cảnh khổ cực của người lao động dưới sự áp bức bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Đến Dacar, bể nổi sóng rất dữ. Tàu không thể vào bờ. Cũng không thể thả ca nô xuống vì sóng to. Để liên lạc với tàu, bọn Pháp trên bờ bắt những người da đen phải bơi ra. Một, hai, ba, bốn người da đen nhảy xuống nước. Người này đến người kia, họ bị sóng bể cuốn đi.

Cảnh tượng đó làm cho Nguyễn Tất Thành hết sức đau xót, anh khóc. Hỏi tại sao, anh buồn rầu trả lời: “Những người Pháp ở Pháp phần nhiều là tốt. Song những người Pháp thực dân rất hung ác và vô nhân đạo”.

Anh kể lại điều anh từng trông thấy trên bờ biển Phan Rang, Phan Thiết trước lúc ra đi: “Ở ta, tôi cũng thấy những chuyện như thế xảy ra ở Phan Rang. Bọn Pháp cười sặc sụa trong khi đồng bào ta chết đuối vì chúng nó. Đối với bọn thực dân, tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu”.

NGƯỜI CON HIẾU THẢO GỬI TIỀN CHO CHA KHI NHẬN THÁNG LƯƠNG ĐẦU BẾP ÍT ỎI

Ngày 2-6-1911, Nguyễn Tất Thành nộp đơn xin việc làm ở tàu Amiral Latouche Tréville, một tàu lớn vừa chở hàng, vừa chở khách, đang chuẩn bị rời cảng Sài Gòn đi Marseille, Pháp. Một ngày sau, anh bắt đầu làm phụ bếp ở tàu với tên mới: Văn Ba.

Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành từ Bến cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn sang Pháp. Người thanh niên 21 tuổi ấy ra đi với mục đích gì? Để kiếm kế sinh nhai, hay để thoả mãn một ước mơ xa lạ nào đó của tuổi trẻ. Hơn mười năm sau chính anh đã trả lời nhà báo, nhà thơ Xô viết Osip Mandelstam:

Khi là một cậu bé ở tuổi 13, tôi lần đầu tiên đã nghe đến những từ Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái và tình anh em - đối với chúng tôi tất cả người da trắng đều là người Pháp. Tôi muốn tìm hiểu nền văn minh của Pháp để biết xem cái gì ẩn đằng sau những từ ấy. Nhưng ở các trường Pháp dành cho người bản xứ, người Pháp dạy như dạy con vẹt. Người ta ngăn cấm chúng tôi tiếp xúc với sách báo, không chỉ là những nhà văn mới mà ngay cả Rousseau và Montesquieu. Tôi đã làm gì? Tôi quyết định đi ra nước ngoài. Người An Nam bị xem là nông nô. Chúng tôi không chỉ bị cấm du lịch, mà còn bị cấm đi lại trong nước. Đường sắt được xây dựng cho các mục đích chiến lược riêng: trong con mắt người Pháp, chúng tôi chưa đủ trình độ để sử dụng những tuyến đường này. Tôi đã ra đi bằng đường biển. Lúc đó tôi 19 tuổi. Ở Pháp, các cuộc bầu cử đang diễn ra. Giới tư sản đang lừa phỉnh nhau’.

Rõ ràng là sự lựa chọn đi ra nước ngoài bằng đường biển của Bác Hồ là có chủ đích tìm đường cứu nước. Trả lời phỏng vấn này trùng khớp với những thông tin sau này về tiểu sử của Người.

Con tàu xuyên đại dương ngay trong tháng 6 đã ghé cảng Singapore rồi Colombo, Sa’id (Ai Cập). Ngày 6-7-1911, sau một tháng vượt biển, tàu đến nước Pháp. Ở đây, Nguyễn Tất Thành tận mắt chứng kiến ở nước Pháp cũng có những người nghèo như ở Việt Nam. Anh trăn trở: “Tại sao người Pháp không “khai hoá” đồng bào của nước họ trước khi đi “khai hoá” chúng ta”.

Làm phụ bếp trên tàu nhưng khát vọng được học tập để mở mang vẫn cháy bỏng. Ngày 15-9-1911, Nguyễn Tất Thành viết đơn gửi Tổng thống Pháp trình bày nguyện vọng muốn vào học Trường Thuộc địa. Đơn có đoạn viết: “…Tôi rất ham học. Tôi muốn sẽ trở nên có ích cho nước Pháp đối với các đồng bào của tôi, đồng thời có thể giúp họ hưởng được những ân huệ của giáo dục...”.

Thế nhưng nước Pháp không văn minh và bác ái như khẩu hiệu, lá đơn được quay về thuộc địa và người ta vì dị ứng với việc Người tham gia biểu tình năm 1908 đã bác bỏ nguyện vọng đó.

Giữa tháng 10 năm ấy, theo hành trình, con tàu Amiral Latouche Tréville quay trở về Sài Gòn rồi lại ra đi. Sổ lĩnh lương tàu mà bản chụp hiện còn lưu tại Viện Hồ Chí Minh ghi rõ, Người nhận lương tại Sài Gòn, ngày 16-10-1911. Dù làm việc vất vả nặng nhọc, có thể mất mạng bất cứ lúc nào, nhưng mức lương lại rất bèo bọt. Sổ ghi, sau khi đóng tiền ăn, tiền nộp cho cai bếp, góp vào quỹ bảo hiểm cho thủy thủ người Pháp thì chỉ còn nhận được vỏn vẹn 10 franc.

Có một chi tiết thật xúc động, theo chính Hồ sơ của Chánh mật thám ghi lại: Nhận lương ít ngày thì ngày 31-10-1911, từ Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho Khâm sứ Trung Kỳ, nhờ chuyển số tiền 15 đồng cho cha là Nguyễn Sinh Huy. Số tiền trên đã được ông Nguyễn Sinh Huy ký nhận ngày 9-11-1911.

TỪ BÃI BIỂN PHAN THIẾT ĐẾN TƯỢNG ĐÀI NỮ THẦN TỰ DO

Bến cảng Nhà Rồng và ngày 5-6-1911 là cột mốc đánh dấu hành trình Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước. Nhưng chúng tôi muốn cùng bạn đọc lùi lại một mốc khác, đó là mùa Thu năm 1910, khi tròn 20 tuổi, Người đã dừng chân ven bờ biển Phan Thiết. Hành trình cứu nước đã bắt đầu từ những bước chân buổi ấy…

Phan Thiết, một ngày mùa Thu tháng 9 năm 1910. Chàng trai trẻ Nguyễn Tất Thành dừng chân mà lòng ngổn ngang trăm mối. Cuốn Hồ Chí Minh-biên niên tiểu sử (do Viện Hồ Chí Minh thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh xuất bản năm 2006) ghi: Ngày 4-12-1908, Nguyễn Tất Thành khi đang là học sinh với lòng yêu nước thương dân đã tham gia cuộc biểu tình chống thuế của nông dân Thừa Thiên và bị thực dân Pháp theo dõi. Ông Nguyễn Sinh Huy (cha của Nguyễn Tất Thành), một vị quan thanh liêm đang làm việc ở Huế cũng bị chúng khiển trách.

Sang năm 1909, Nguyễn Tất Thành theo cha, lúc đó là Phó bảng vào huyện Bình Khê thuộc tỉnh Bình Định nhậm chức tri huyện. Sau đó Người được cha gửi vào Quy Nhơn học tiếng Pháp. Những tưởng việc học hành sẽ thuận lợi nhưng chẳng bao lâu, tháng 1 năm 1910, cha Người bị triều đình bãi chức và triệu hồi về Huế. Việc học tập của Nguyễn Tất Thành nguy cơ dang dở.

Tháng 9 năm ấy, Nguyễn Tất Thành quyết định từ Quy Nhơn vào Sài Gòn. Sau này, trả lời một nhà văn Mỹ, Người nói: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”.

Nhưng hành trình đâu dễ dàng. Đến Phan Thiết thì hết tiền, Người phải xin vào làm trợ giáo, dạy môn Thể dục tại Trường Dục Thanh, một ngôi trường tư thục nằm kề bên bờ sông Cà Ty, thành phố Phan Thiết (Bình Thuận).

Theo hồi ức của các học sinh: Thầy Thành dạy rất tận tâm, hết lòng thương yêu, chăm sóc trò. Thầy thường phổ biến cho học sinh những thơ ca yêu nước. Vừa phụ trách thể dục, thầy vừa chăm lo xây dựng tủ sách, hướng dẫn học sinh thăm phong cảnh trong vùng...

Ngoài giờ lên lớp với số tiền lương ít ỏi, theo tư liệu ghi chép chỉ vỏn vẹn 8 đồng, Nguyễn Tất Thành tìm những cuốn sách quý để đọc. Lần đầu tiên Người được tiếp cận với những tư tưởng tiến bộ của các nhà khai sáng Pháp như Rousseau, Voltair, Montesquieu, càng thôi thúc Người tìm đường ra nước ngoài.

Cuối năm Canh Tuất (1910), Nguyễn Tất Thành rời Trường Dục Thanh về Sài Gòn tiếp tục con đường đã định… Năm 1960, tập sách Bác Hồ do nhiều tác giả viết in tại Hà Nội đã được Bác Hồ xem. Khi đọc, Bác nói với đồng chí thư ký:

- Bác không có ý định dừng lại Phan Thiết song đến đó thì tiền lộ phí đã cạn mới quyết định ở lại tìm việc làm để có tiền đi tiếp cuộc hành trình.

Đến Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành xin vào học một trường kỹ thuật do Pháp quản lý, dạy về hàng hải. Sau này, đồng chí Hà Huy Giáp kể lại, có lần Bác nói: "Bác đâu có ý định học thợ, nhưng trong lúc lang thang để tìm cách sang phương Tây, mà có nơi cho mình học, có cái ăn là mình vô thôi".

Ít lâu sau, Người đã tìm đến thăm cha lúc này cũng ở miền Nam. Người cha già dặn dò: "Tìm thăm cha là tốt, nhưng cái cần hơn vẫn là tìm đường cứu dân tộc". Lời dặn ấy như càng củng cố thêm khao khát tột cùng bấy lâu nay Nguyễn Tất Thành nung nấu.

Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021

TẦM NHÌN CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC TRONG TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

Nguyễn Tất Thành rất khâm phục ý chí đấu tranh giành độc lập dân tộc của các bậc tiền bối, nhưng không tán thành đường lối cứu nước của họ. Trong bối cảnh những năm đầu thế kỷ XX, vào tháng 6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước. Người đi sang phương Tây, nhưng không phải đi tìm chỗ dựa, hoặc cầu viện các thế lực bên ngoài để cứu nước, mà là đi xem các nước làm như thế nào về giúp đồng bào mình.

Quyết định sang Pháp là một quyết định có ý nghĩa lịch sử, thể hiện rõ tầm nhìn, tư duy độc lập, sáng tạo của Người. Hồ Chí Minh đã mở tầm nhìn ra thế giới, sẵn sàng tiếp biến tinh hoa, trí tuệ của thời đại. Người phân tích, đánh giá ý nghĩa các sự kiện lớn trên thế giới, đặc biệt là các cuộc cách mạng xã hội. Bắt đầu từ lòng yêu nước, sự nhạy cảm với cái mới, cái tiến bộ, dựa trên tiêu chí ai, tổ chức nào bênh vực các dân tộc thuộc địa, ủng hộ và đoàn kết với họ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc, Người đã định hình ra con đường để đòi các quyền tự do, dân chủ tối thiểu cho nhân dân mình.

Tại Pa-ri thủ đô nước Pháp, lúc này được coi là “trung tâm liên minh thế giới của bọn đế quốc”, Người đã có một bước phát triển mới trong nhận thức về con đường cứu nước khi tiếp nhận ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Mặc dù, chưa hiểu hết ý nghĩa cực kỳ to lớn của Cách mạng Tháng Mười, nhưng với Người, đây là một biến cố to lớn, “có một sức lôi cuốn kỳ diệu vô cùng”. Đặc biệt, từ tháng 7-1920, khi tiếp xúc với bản “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lê-nin, Người đã tìm thấy ở Luận cương những giải đáp về con đường giải phóng cho các dân tộc thuộc địa, trong đó có Việt Nam.

Bằng hoạt động thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc đã vượt qua tầm nhìn hạn chế, ảo tưởng mong chờ sự giúp đỡ của các chính phủ đế quốc đã từng tồn tại ở một số nhà yêu nước khác cùng thời. Nguyễn Ái Quốc nhận rõ, trong thế giới chỉ có “một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”. Vào tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đăng trên báo L’ Humanité, Người nhận ra: “Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Nguyễn Ái Quốc tìm thấy trong Luận cương của Lê nin lời giải đáp về con đường giải phóng cho nhân dân Việt Nam; lời giải đáp về vấn đề dân tộc thuộc địa trong mối quan hệ với phong trào cách mạng thế giới - mối quan hệ giữa yếu tố sức mạnh dân tộc với sự giúp đỡ, ủng hộ của quốc tế. Người nhận thức được rằng: “Không có một sức mạnh thống nhất của cả nước, không có sự giúp đỡ mạnh mẽ của bên ngoài, công cuộc vận động giải phóng khó mà thành công được”.

Tháng 12/1920, tại Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp ở Tua, với tư cách là đảng viên Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu ra nhập Quốc tế thứ ba - Quốc tế Cộng sản, tán thành chủ trương thành lập Đảng Cộng sản pháp và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản pháp. Cuộc gặp gỡ với chủ nghĩa Mác - Lênin vào những năm 20 của Thế kỷ XX là sự kiện đánh dấu Nguyễn Ái Quốc giác ngộ lập trường, quan điểm vô sản và quyết định lựa chọn con đường giải phóng dân tộc ở Việt Nam theo quỹ đạo của cách mạng vô sản.