Hiển thị các bài đăng có nhãn tầm vóc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tầm vóc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 9 tháng 6, 2021

KHẲNG ĐỊNH TẦM VÓC, GIÁ TRỊ SỰ KIỆN NGÀY 5/6/1911

Sự thật hành trình ra đi tìm đường cứu nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước để lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là như vậy. Từng chặng đường Người đã trải qua, những hoạt động của Người từ năm 1890-1969 đều được cập nhật khá đầy đủ trong các bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập 15 tập, Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử 10 tập, trong các cuốn sách Hồ Chí Minh tiểu sử chi tiết và tóm tắt; trong các công trình nghiên cứu khoa học của các học giả ở trong và ngoài nước… Tuy nhiên, bất chấp các thông tin chính xác đã có, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị không chỉ thường bịa đặt, bẻ cong sự thật, xuyên tạc về động cơ sang phương Tây tìm đường cứu nước của Người mà còn hồ đồ suy diễn để bôi đen nội dung lá đơn xin học ở Trường Thuộc địa của Người.

Đối với sự kiện lá đơn xin học và động cơ ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành, có thể khẳng định rằng:

Một là, không thể xuyên tạc mục đích xin học Trường Thuộc địa của Nguyễn Tất Thành, bởi nơi đây chỉ dạy ngôn ngữ và văn minh Pháp cho những thanh niên Việt Nam do Toàn quyền Đông Dương gửi sang học. Trong đó, học viên của Trường Thuộc địa không nhất thiết phải trở thành quan chức (mà Bùi Kỷ, Lê Văn Miến và nhiều người khác là những ví dụ thực tế). Hơn nữa, từ năm 1896 trở đi, cùng với việc đào tạo học viên trở thành nhà cai trị thuộc địa tương lai thì Trường Thuộc địa còn có những lớp dạy cho những người bản xứ các nghề chuyên môn như điện báo, kế toán, công xưởng…

Đồng thời, cũng không thể suy luận và xuyên tạc mục đích xin học Trường Thuộc địa của Người khi cho rằng: Nguyễn Tất Thành ban đầu học tập là vì theo ý muốn của cha để sau này sẽ làm quan triều đình nhà Nguyễn. Tuy nhiên, vì cha đã bị mất chức, nên việc làm quan triều đình nhà Nguyễn không thành, do đó mới tìm cơ hội sang Pháp, xin học ở Trường Thuộc địa, với “mộng làm quan cho thực dân Pháp". Thực chất, Người chưa bao giờ có ý định làm quan cho triều đình nhà Nguyễn, lại càng không bao giờ muốn trở thành quan cai trị thuộc địa tương lai, vì Người không chỉ thấu hiểu rất rõ tâm tư của người cha: “Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ, hựu nô lệ”/nghĩa là “Quan trường là nô lệ trong những người nô lệ, lại càng nô lệ hơn” mà còn có khát vọng lớn lao là "tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những gì tôi muốn, tất cả những điều tôi hiểu!”.

Hơn nữa, luận bàn về lá đơn xin học ở ở Trường Thuộc địa này, nhà sử học Pháp khá nổi tiếng D.Hémery từng nhấn mạnh rằng: "Lá đơn trước hết thể hiện ý muốn tạm thời được học, nhưng đơn xin học còn bao hàm một ý nghĩa khác, tóm tắt trong khẩu hiệu lưu hành lúc đó trong các thanh niên học sinh "xuất dương du học rồi về nhà cứu nước"…, để phổ biến tri thức hiện đại trong các dân tộc thuộc địa". Vì thế, có thể thấy, thực chất của việc xin học ở Trường Thuộc địa là Người muốn được học tập để làm giàu tri thức của mình, với "ý muốn trở thành có ích cho đồng bào tôi, muốn cho họ được hưởng những lợi ích của học thức" như đã trình bày trong lá đơn.

Hai là, sau khi bị Trường Thuộc địa từ chối, với mong muốn tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, Người đã quyết định làm thuê cho một hãng tàu biển, tiếp tục hành trình lao động kiếm sống, học hỏi và hoạt động cách mạng ở nhiều quốc gia, nhiều châu lục. Trong những năm tháng đó, Người có thời gian khám phá, chiêm nghiệm để hiểu được thực chất của “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, của pháp quyền, dân chủ và mô hình tổ chức Nhà nước tư sản; của nhân quyền, pháp quyền, dân chủ, mô hình tổ chức Nhà nước Xô viết và con đường đấu tranh giải phóng dân tộc theo tinh thần của V.I.Lênin, để rồi sau khi đã “trưng cất” được những tinh hoa của nền văn minh phương Đông và phương Tây, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, Người quyết định trở về "giúp ích cho đồng bào mình", lãnh đạo đồng bào mình tiến hành cuộc cách mạng giải phóng, chứ không phải giống như các luận điệu phản động, bịa đặt là: khi “bị từ chối thì bất đắc phiêu lưu kiếm sống, không có thời giờ suy nghĩ chuyện đất nước” và Nguyễn Ái Quốc “đến Liên Xô học tập là hy vọng có việc làm kiếm lương hằng tháng, chứ không phải vì cách mạng Việt Nam”…

Thực tế là từ những tri thức tích luỹ được; từ sự thấu hiểu được nguồn sức mạnh nội lực “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước” và với niềm tin cháy bỏng về một Tổ quốc Việt Nam được độc lập, nhân dân Việt Nam được tự do; với mong muốn đem lại hạnh phúc “cho tất cả mọi người”, Người đã không chỉ tiến hành đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán cho cách mạng Việt Nam, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, xây dựng đường lối chính trị đúng đắn phù hợp điều kiện cụ thể của Việt Nam và xu thế của thời đại là gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, mà còn cùng Đảng xúc tiến xây dựng lực lượng cách mạng, lực lượng vũ trang cách mạng, căn cứ địa cách mạng, xây dựng và củng cố, mở rộng các hình thức Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi… thiết thực, hiệu quả để chuẩn bị cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.

Trong quá trình đó, Người không chỉ thành công trong việc vận dụng học thuyết Mác - Lênin vốn có cơ sở thực tế từ xã hội phương Tây vào thực tiễn một nước thuộc địa, nửa phong kiến, chưa phát triển như Việt Nam mà còn phát triển học thuyết đó lên một tầm cao mới, phù hợp với phần thế giới còn lại - đó là những nước chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, mà Việt Nam là một điển hình.

Ba là, thời gian càng lùi xa, càng khẳng định rằng, hoài bão lớn lao của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành cách đây hơn một thế kỷ đã trở thành sự thật. Từ một sự lựa chọn đúng và khởi đầu một hướng đi đúng, với ý chí, quyết tâm và sự phấn đấu không mệt mỏi cho con đường mình đã chọn, Người ra đi từ bến cảng Sài Gòn năm 1911 đã tìm thấy con đường cách mạng đúng đắn và lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh vì một nước Việt Nam độc lập và thống nhất, tự do và hạnh phúc, ngày một phát triển bền vững.

Đồng thời, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh và kiên định con đường cách mạng do Người cùng Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn, 110 năm sau - một nước Việt Nam "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc" trên hành trình đi lên chủ nghĩa xã hội "đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay" như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định.

Vì vậy, vượt lên sự chống phá, bôi đen, xuyên tạc, bẻ cong sự thật của các thế lực phản động, thù địch, thì vẫn có thể khẳng định rằng: Ngày 5/6/1911 không chỉ là một sự kiện đặc biệt đánh dấu một sự lựa chọn chính xác của Nguyễn Tất Thành mà còn cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam và nhân dân Việt Nam. Đi theo con đường Người đã chọn, đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã hòa mình vào dòng chảy chung của nhân loại; đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo nên sức mạnh tổng hợp về thế, về lực, về thời để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển vững mạnh và phồn vinh, từng bước khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế, sánh vai cùng bạn bè quốc tế./.

Thứ Tư, 20 tháng 9, 2017

Tầm vóc lịch sử thế giới và ý nghĩa vạch thời đại của Cách mạng Tháng Mười

Cách đây vừa đúng 100 năm, một cuộc cách mạng đã nổ ra và thắng lợi ở nước Nga - Tổ quốc của Lênin vĩ đại. Ðó là cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới do giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, binh sĩ cách mạng và đông đảo quần chúng lao động ở nước Nga tiến hành dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản, đứng đầu là Lênin - nhà tư tưởng kiệt xuất, nhà tổ chức thiên tài của cách mạng vô sản.
Sự kiện này không chỉ đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Nga, xóa bỏ ách áp bức, bóc lột tư bản chủ nghĩa và những tàn dư của chế độ chuyên chế Nga hoàng, giải phóng cho công - nông và nhân dân lao động, đưa họ tới địa vị của người làm chủ xã hội, mà còn làm rung chuyển thế giới, mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại, thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới.
Cách mạng Tháng Mười Nga để lại một dấu ấn đặc biệt không thể phai mờ trong lịch sử thế giới hiện đại, trong ký ức và lương tâm của loài người tiến bộ.
Mở ra một thời đại mới, Cách mạng Tháng Mười đồng thời còn mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thức tỉnh và cổ vũ các dân tộc trong cuộc đấu tranh giải phóng, chống lại ách áp bức, bóc lột và nô dịch của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân, xóa bỏ mọi hình thức nô lệ, vươn tới tự do, bình đẳng, thực hiện quyền tự quyết dân tộc.
Với Cách mạng Tháng Mười, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản và Lênin đã cống hiến cho nhân loại một mẫu mực về khởi nghĩa vũ trang, giành chính quyền; về khoa học và nghệ thuật nắm bắt tình thế và thời cơ cách mạng, hành động mau lẹ và kiên quyết, kết hợp nhiệt tình cách mạng, lòng dũng cảm và sức sáng tạo của quần chúng với tính tổ chức và kỷ luật của đội tiên phong cách mạng để giành chiến thắng.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười chứng thực sức mạnh có tổ chức quần chúng đông đảo, mà nòng cốt là công - nông - binh, trong giờ phút quyết định đã vùng dậy, tự giải phóng, lật đổ quyền lực thống trị tư sản, giành quyền lực về tay mình, xác lập quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước kiểu mới của số đông, đó là quyền tự do, dân chủ của những người lao động được cách mạng giải phóng và trở thành những người chủ của chế độ mới.
Do đó, Cách mạng Tháng Mười Nga khác về căn bản so với các cuộc cách mạng trước đó, nó thủ tiêu mọi hình thức bóc lột, chứ không phải đem hình thức bóc lột này thay thế cho hình thức bóc lột khác. Nó vượt qua tính hạn chế, nửa vời của các cuộc cách mạng trong quá khứ, kể cả cách mạng tư sản dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Với Cách mạng Tháng Mười, lần đầu tiên trong lịch sử, CNXH hiện thực đã ra đời.
Từ đây, CNXH được biết đến không chỉ là học thuyết lý luận, mà còn là một chế độ xã hội kiểu mới, không chỉ là lý tưởng, khát vọng giải phóng và mục tiêu phát triển, mà còn là sức mạnh giải phóng trong thực tế, là chế độ xã hội XHCN đã trở thành hiện thực sinh động.
Tầm vóc lịch sử thế giới và ý nghĩa vạch thời đại của Cách mạng Tháng Mười còn ở chỗ, dù mới chỉ có nước Nga Xô-viết, Nhà nước XHCN duy nhất,  nhưng vào lúc bấy giờ, sự xuất hiện cái mầm non mới nhú đó đã chứng tỏ một sự thật là, CNXH đã phủ định về nguyên tắc đối với CNTB.
100 năm đã đi qua trong lịch sử Cách mạng Tháng Mười, cũng đồng thời là lịch sử của CNXH hiện thực.
Thế hệ những người cách mạng làm nên kỳ tích Tháng Mười đã trao truyền cho các thế hệ sau một di sản vĩ đại và thiêng liêng. Nhân dân các dân tộc, trong đó có Việt Nam và cả loài người mang ơn sâu nghĩa nặng với Cách mạng Tháng Mười.
Thời gian càng lùi xa, âm hưởng của Cách mạng Tháng Mười, cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong thế kỷ XX càng có sức vang vọng. Thế giới đổi thay nhanh chóng, lịch sử đầy ắp các sự kiện, các tình huống biến cố thăng trầm, nhưng Cách mạng Tháng Mười mãi mãi còn được nhắc tới bởi nó đã mở đầu và tạo dựng nên một diện mạo mới của lịch sử, một tầm vóc có một không hai của thời đại mới. Cách mạng Tháng Mười không phải là một hiện tượng thuần Nga, cũng không phải là sản phẩm được tạo ra từ sự cuồng nhiệt của ý chí và không tưởng mà những kẻ thù của cách mạng, những kẻ cơ hội và phản bội lý tưởng từng xuyên tạc, bóp méo lịch sử, mưu toan xóa bỏ ảnh hưởng, tầm vóc của cuộc cách mạng này trong đời sống ý thức xã hội.
Bản chất của lịch sử là tường minh, khách quan và công bằng. Cách mạng là đầu tàu của lịch sử, là ngày hội vĩ đại biểu dương sức mạnh sáng tạo của quần chúng. Những giá trị sáng tạo đích thực, chân chính được cách mạng sản sinh đã trở thành những giá trị, những tài sản văn hóa nhân loại không gì phủ nhận được. Cách mạng Tháng Mười là một cuộc cách mạng như thế. Lịch sử CNXH hiện thực gắn liền với lịch sử Cách mạng Tháng Mười. Sức sống, triển vọng và xu thế phát triển của CNXH, tự bản thân nó đã tôn vinh, khẳng định và bảo vệ chân giá trị của cuộc cách mạng này. Ðó là chân lý và đạo lý của lịch sử mà các thế hệ những người cách mạng cùng với nhân dân và nhân loại tiến bộ luôn nhận thức và hành động trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội và CNXH.