Hiển thị các bài đăng có nhãn thời đại. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thời đại. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 2 tháng 10, 2023

DỰA VÀO YẾU TỐ THỜI ĐẠI ĐỂ PHỦ NHẬN CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN LÀ QUAN ĐIỂM SAI LẦM CẦN LÊN ÁN

Trước sự bùng nổ của cách mạng công nghiệp 4.0, các thế lực thù địch, phản động ra sức bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác. Chúng cho rằng, chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, hoặc cùng lắm là đầu thế kỷ XX với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và lần thứ hai hoặc văn minh cơ khí, còn bây giờ nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI - là thời đại của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, văn minh tin học, kinh tế tri thức, kinh tế số, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế nên không còn thích hợp nữa, Chủ nghĩa Mác - Lênin bây giờ đã bị lỗi thời, lạc hậu.

Rõ ràng, mỗi thời đại khác nhau sẽ có những biến đổi khác nhau về kinh tế, xã hội, nhất là sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khoa học và công nghệ. Không nhận thức được những biến đổi to lớn của thời đại sẽ không hiểu đúng bản chất của thời đại. Tuy nhiên, những biến đổi đó vẫn không vượt ra ngoài những quy luật, những nguyên lý chung nhất mà C.Mác đã khám phá ra, như: quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, kinh tế xét đến cùng quyết định chính trị, quy luật đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp, quy luật giá trị thặng dư, những nguyên lý khoa học về nhà nước, cách mạng xã hội, về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân...

Đứng trên quan điểm khách quan, khi điều kiện lịch sử đã thay đổi, có một số luận điểm cụ thể của Mác, Ăngghen, Lênin không còn phù hợp và đã bị thực tiễn lịch sử vượt qua, song những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin, bản chất khoa học và cách mạng vẫn giữ nguyên giá trị cần phải được bảo vệ. Tức là, dù cho hoàn cảnh lịch sử cụ thể luôn luôn thay đổi, song những quy luật phát triển cơ bản, phổ biến của lịch sử loài người mà Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra là không thay đổi, có giá trị trường tồn. Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là lý luận và phương pháp luận khoa học cho sự nhận thức xã hội, nhận thức thời đại mà không một học thuyết nào có thể thực hiện được vai trò đó.


Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

GIÁ TRỊ THỜI ĐẠI KHI NGHIÊN CỨU TÍNH LOGIC VÀ BIỆN CHỨNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

Một là: Thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác - Lênin cho phép chúng ta tiếp tục khẳng định rằng “... Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ đi tới chủ nghĩa xã hội”.

Tính tất yếu lịch sử của chủ nghĩa xã hội thể hiện trên cả phương diện logic và lịch sử cho thấy, chủ nghĩa xã hội là một hiện tượng hợp quy luật, dù sự vận động của nó trong hiện thực có dích dắc, quanh co như thế nào thì chủ nghĩa xã hội vẫn không mất đi xu thế “tất yếu” và “tất thắng” của nó, triển vọng tích cực của nó là không thể phủ nhận, dù cho triển vọng đó cần có một quá trình lịch sử lâu dài.

Hai là: Để thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, vai trò và sứ mệnh nòng cốt vẫn là giai cấp công nhân hiện đại thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản

Ngày nay, kẻ thù của chủ nghĩa xã hội và một số kẻ cơ hội, xét lại đang ra sức phủ nhận học thuyết Mác – Lênin về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Theo họ trong điều kiện của kinh tế tri thức, cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay, giai cấp công nhân đang “teo đi” hoặc “tan biến” vào giai cấp khác; địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân đã thay đổi nhiều, phần đông trong giai cấp đã “trung lưu hóa”... Do vậy, giai cấp công nhân không còn là lực lượng trung tâm, nòng cốt trong cách mạng xã hội chủ nghĩa như luận giải của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Thực tiễn hiện nay cho thấy về số lượng, chất lượng của giai cấp công nhân ở các nước, nhất là các nước tư bản phát triển không hề giảm; vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân vẫn được xác định một cách khách quan. Theo tổ chức ILO cũng như các nghiên cứu gần đây chỉ rõ, về số lượng giai cấp công nhân trên toàn thế giới không hề giảm, chỉ có điều tỷ lệ lao động giản đơn đang giảm nhanh, trong khi đó, lao động phức tạp (có trình độ kỹ thuật và hàm lượng chất xám cao) ngày càng tăng. Ở các nước công nghiệp phát triển hiện nay, tỷ lệ công nhân có trình độ cao cả về học vấn, khoa học và công nghệ trong sản xuất vật chất ngày càng chiếm đa số. Thậm chí, ngày càng nhiều công nhân - trí thức, trí thức - công nhân - điều mà cách đây gần hơn 170 năm, C. Mác và Ph.Ăngghen đã đề cập đến bộ phận “công nhân trí óc”, thì nay đang thành hiện thực ngày càng phổ biến như ở Mỹ, Nhật Bản…

Ở nước ta, vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam đã được xác định ngay từ khi Đảng ta ra đời và được khẳng định trong suốt chiều dài cách mạng Việt Nam. Đó là giai cấp “… lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng”.

Thực hiện sứ mệnh lịch sử to lớn đó, giai cấp công nhân Việt Nam phát huy vai trò của một giai cấp tiên phong, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng để giải quyết các nhiệm vụ cụ thể thuộc nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân./.

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2022

KẾT HỢP SỨC MẠNH DÂN TỘC VỚI SỨC MẠNH THỜI ĐẠI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Tăng cường, phát huy nội lực trên cơ sở phát huy cao độ sức mạnh, trí tuệ Việt Nam, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Bằng đường lối độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng, bằng bàn tay, khối óc và tinh thần hăng say lao động, sáng tạo mà nhân dân ta đã làm nên kỳ tích mới trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Từng bước khẳng định bản lĩnh chính trị, uy tín, vị thế Việt Nam trong thời đại mới, từ đó làm cho các nước và các dân tộc trên thế giới nhận rõ con đường độc lập, tự chủ, gắn với chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta, nhân dân ta lựa chọn trong điều kiện hiện nay là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo, là nền tảng bền vững cho chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Trước xu thế toàn cầu hóa cuộc chạy đua giữa các quốc gia, dân tộc trở nên ngày càng quyết liệt vì vậy, chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, lại tiếp tục tỏa sáng. Đất nước ta hội nhập với thế giới, với khu vực là để học hỏi, tiếp thu tinh hoa của nhân loại, của thời đại, từ đó làm giàu thêm, phong phú hơn nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam; việc tranh thủ ngoại lực là để khơi dậy nội lực, biến ngoại lực thành nội lực, xây dựng đất nước ta giàu mạnh, nhân dân ta có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, chứ quyết không thể tự đánh mất mình, không để tự mình rơi vào tụt hậu, lệ thuộc.

Hơn bao giờ hết, con đường duy nhất đúng là phải quyết tâm để vươn lên, đưa đất nước phát triển bền vững, nhịp bước nhân loại không chờ đợi bất cứ ai, cuộc cạnh tranh toàn cầu luôn tiềm ẩn nguy cơ “mất còn”, không quốc gia, dân tộc nào là ngoại lệ, làm cho tương quan lực lượng và mối quan hệ giữa các quốc gia, các dân tộc ở các khu vực trên thế giới thường xuyên thay đổi. Việc tăng cường, phát huy nội lực, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam sẽ bảo đảm cho đất nước ta phát triển hài hòa, bền vững, không lệ thuộc vào nước ngoài, dần thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Vì thế, với bản lĩnh, trí tuệ, tiềm năng đất nước và con người Việt Nam, cần phải tập trung xử lý, tháo gỡ những cản trở, ách tắc, khắc phục những hạn chế, yếu kém, nhanh chóng đưa nền kinh tế đất nước thoát khỏi tình trạng suy giảm đã kéo dài, phục hồi và tăng cường nhịp độ tăng trưởng. Tăng cường và tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế; hoàn thành tốt nhiệm vụ đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế để tạo ra một chất lượng mới, trình độ mới, cao hơn, toàn diện hơn cho sự phát triển kinh tế đất nước, phấn đấu trong thời gian gần đạt ngang tầm các nước trong khu vực và các nước tiên tiến trên thế giới.

Thứ Sáu, 11 tháng 2, 2022

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI, BƯỚC NGOẶT QUYẾT ĐỊNH CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đó là kết quả của sự chuẩn bị đầy đủ về tư tưởng, chính trị và tổ chức; của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta; là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Sự ra đời của Đảng đáp ứng nhu cầu lịch sử của đất nước ta; phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.

Như chúng ta đã biết, từ năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam, từng bước thiết lập chế độ thống trị tàn bạo, phản động của chủ nghĩa thực dân trên đất nước ta. Về chính trị, chúng trực tiếp nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước, thi hành chính sách cai trị chuyên chế, biến một bộ phận của giai cấp tư sản mại bản và địa chủ phong kiến thành tay sai đắc lực, tạo nên sự cấu kết giữa chủ nghĩa đế quốc và phong kiến tay sai, đặc trưng của chế độ thuộc địa. Sự cai trị của chính quyền thuộc địa đã làm cho nhân dân ta mất hết quyền độc lập, quyền tự do dân chủ; mọi phong trào yêu nước bị đàn áp dã man; mọi ảnh hưởng của các trào lưu tiến bộ từ bên ngoài vào đều bị ngăn cấm. Về kinh tế, chúng triệt để khai thác Đông Dương vì lợi ích của giai cấp tư sản Pháp, bóc lột tàn bạo nhân dân ta, thực hiện chính sách độc quyền, kìm hãm sự phát triển kinh tế độc lập của nước ta. Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, vô nhân đạo, kể cả duy trì bóc lột kiểu phong kiến... đẩy nhân dân ta vào cảnh bần cùng, làm cho nền kinh tế bị què quặt, lệ thuộc vào kinh tế Pháp, để lại hậu quả nghiêm trọng, kéo dài. Về văn hóa - xã hội, chúng thực hiện chính sách ngu dân, khuyến khích văn hoá nô dịch, sùng Pháp, nhằm kìm hãm nhân dân ta trong vòng tăm tối, dốt nát, lạc hậu, phục tùng sự cai trị của chúng.

Quá trình khai thác thuộc địa triệt để của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam có những biến đổi lớn, hai giai cấp mới ra đời: giai cấp công nhân và giai cấp tư sản. Nước ta từ chế độ phong kiến chuyển sang chế độ thuộc địa nửa phong kiến. Trong xã hội tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và mâu thuẫn giữa nhân dân ta, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến tay sai, chỗ dựa cho bộ máy thống trị và bóc lột của chủ nghĩa thực dân Pháp. Hai mâu thuẫn đó có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó mâu thuẫn giữa dân tộc ta với thực dân Pháp xâm lược là mâu thuẫn chủ yếu. Vì vậy, nhiệm vụ chống thực dân Pháp xâm lược và nhiệm vụ chống địa chủ phong kiến tay sai không tách rời nhau. Đấu tranh giành độc lập dân tộc phải gắn chặt với đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ. Đó là yêu cầu của cách mạng Việt Nam đặt ra, cần được giải quyế.

Mặt khác, từ năm 1858 đến trước năm 1930, hàng trăm cuộc khởi nghĩa, phong trào chống Pháp đã nổ ra theo nhiều khuynh hướng khác nhau, như khởi nghĩa của Trương Công Định, Thủ Khoa Huân, phong trào Cần Vương, phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, Duy Tân; các cuộc khởi nghĩa do Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học... lãnh đạo. Các cuộc khởi nghĩa, phong trào đấu tranh đó vô cùng anh dũng, nhưng đã bị thực dân Pháp đàn áp tàn bạo và đều thất bại. Nguyên nhân cơ bản dẫn tới thất bại của các phong trào đấu tranh là do những người đứng đầu các cuộc khởi nghĩa, các phong trào chưa tìm được con đường cứu nước phản ánh đúng nhu cầu phát triển của xã hội Việt Nam. Cách mạng nước ta đứng trước sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước. Việc tìm một con đường cứu nước đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc và thời đại là nhu cầu bức thiết nhất của dân tộc ta lúc bấy giờ.

Giữa lúc cách mạng Việt Nam đang lâm vào cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh) ra nước ngoài, bắt đầu đi tìm con đường cứu nước. Người đã qua nhiều nơi trên thế giới, vừa lao động, vừa học tập, nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm các cuộc cách mạng tư sản điển hình (Pháp, Mỹ), tích cực tham gia hoạt động trong Đảng Xã hội Pháp. Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi đã ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc. Người rất ngưỡng mộ cuộc cách mạng đó, kính phục V.I.Lênin và đã tham gia nhiều hoạt động ủng hộ, bảo vệ cách mạng Nga; tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Những hoạt động cách mạng phong phú đó đã giúp Người từng bước rút ra những bài học quý báu và bổ ích cho sự lựa chọn con đường cách mạng của mình. Tháng 7- 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin. Luận cương đã giải đáp trúng những vấn đề mà Nguyễn Ái Quốc đang trăn trở. Từ đây, Người đã tìm ra con đường cứu nước, cứu dân đúngđắn: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”; xác định những vấn đề cơ bản của đường lối giải phóng dân tộc. Đó là con đường giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xãhội, giai cấp vô sản phải nắm lấy ngọn cờ giải phóng dân tộc, gắn cách mạng dân tộc từng nước với phong trào cách mạng vô sản thế giới

Đối với Nguyễn Ái Quốc, đây là bước ngoặt từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa cộng sản, từ một chiến sĩ giải phóng dân tộc trở thành một chiến sĩ cộng sản quốc tế. Sự kiện đó cũng đánh dấu bước ngoặt mở đường thắng lợi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc ViệtNam. Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào nước ta, tìm ra con đường đúng đắn giải phóng dân tộc Việt Nam. Trở thành chiến sĩ cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực tham gia hoạt động trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào cách mạng thuộc địa; nghiên cứu và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam qua các báo Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân và sau này là tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925). Sau một thời gian ngắn tham gia học tập ở Liên Xô và hoạt động trong Quốc tế Cộng sản, tháng 1l-1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc) trực tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Tại đây, Người sáng lập và trực tiếp huấn luyện Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, sáng lập và viết bài cho báo Thanh niên, xuất bản tác phẩm Đường Kách mệnh (1927)... nhằm tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước. Người tổ chức đào tạo bồi dưỡng cán bộ cốt cán, tiếp tục chuẩn bị về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng. Chủ nghĩa Mác - Lênin và các tài liệu tuyên truyền của Nguyễn Ái Quốc được giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam đón nhận như''người đi đường đang khát mà có nước uống, đang đói mà có cơm ăn''. Nó lôi cuốn những người yêu nước Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản; làm dấy lên cao trào đấu tranh mạnh mẽ, sôi nổi khắp cả nước, trong đó giai cấp công nhân ngày càng trở thành một lực lượng chính trị độc lập. Sự truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào quần chúng và phong trào công nhân, làm cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi phải có tổ chức đảng chính trị lãnh đạo. Vì vậy, các tổ chức cộng sản lần lượt được thành lập:

Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, ở Việt Nam đã có ba tổ chức cộng sản tuyên bố thành lập. Điều đó phản ánh xu thế tất yếu của phong trào đấu tranh cách mạng ở Việt Nam, đồng thời sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản hoạt động biệt lập trong một quốc gia có nguy cơ dẫn đến chia rẽ lớn. Yêu cầu bức thiết của cách mạng đặt ra là cần có một đảng cộng sản duy nhất để lãnh đạo phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Lãnh tụ Nguyền Ái Quốc - cán bộ của Quốc tế Cộng sản, người chiến sĩ cách mạng lỗi lạc của dân tộc Việt Nam - là người duy nhất có đủ năng lực và uy tín đáp ứng yêu cầu thống nhất các tổ chức cộng sản.

Từ ngày 6-l đến ngày 7-2-1930, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản họp tại bán đảo Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị nhất trí thành lập một đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam; thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng. Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam mang tầm vóc lịch sử như là Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX; là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước; là kết quả của quá trình lựa chọn, sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử và của quá trình chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của một tập thể chiến sĩ cách mạng, đứng đầu là đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Đó là một mốc lớn, bước ngoặt trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước.Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khởi thảo, được Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua đã xác định: cách mạng Việt Nam phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là con đường cách mạng duy nhất đúng để thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh, đường lối cách mạng đúng đắn chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta.

Thứ Ba, 10 tháng 8, 2021

CẦN NHẬN THỨC RÕ ĐẶC ĐIỂM VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỜI ĐẠI

Hiểu biết sâu sắc về thời đại giúp chúng ta tìm thấy xu hướng tất yếu trong vô vàn những hiện tượng phức tạp, mang tính ngẫu nhiên của đời sống xã hội. Đó cũng là cách giúp chúng ta nhìn xa trông rộng, nắm bắt khuynh hướng và quy luật phát triển của nhân loại để vừa có thể lựa chọn được hướng đi phù hợp với sự phát triển của lịch sử; lường trước được những thách đố phức tạp, tránh được những vấp váp sai lệch; từ đó không bị chao đảo hoặc bị cuốn trôi trước phong ba bão táp của đời sống chính trị quốc tế.

Chính vì lẽ đó, khi bàn về những vấn đề lớn của cách mạng, trước đây cũng như bây giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta bao giờ cũng bắt đầu bằng việc phân tích đặc điểm, nội dung, xu thế phát triển của thời đại; nhận định các mặt của tình hình thế giới để xác định đúng con đường đi của cách mạng Việt Nam và đề ra đường lối đối nội, đối ngoại đúng đắn, sáng tạo. Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn là như vậy nhưng hiện nay trước Đại hội XIII của Đảng, một số luận điệu sai trái cho rằng: Thật không tưởng khi nói thời đại ngày nay là quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Vì vậy, các phần tử phản động, cơ hội chính trị cho rằng: Từ Đại hội XIII trở đi, không nên nói đến CNXH nữa. Họ cho rằng làm gì có thời đại quá độ; nội hàm, đặc điểm, xu thế của thời đại là sự mơ hồ; hai nội dung cốt yếu của thời đại đã bị lịch sử phủ định. Bởi thế, khi không còn Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa (XHCN) nữa thì nước ta làm sao có thể đi lên CNXH được? Luận điệu của họ không có gì mới nhưng cách diễn đạt khác đi. Những luận cứ đấu tranh chống các luận điệu này cần được làm rõ.

Thứ Tư, 18 tháng 11, 2020

“NGỌN ĐUỐC” VẠCH THỜI ĐẠI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CHÚNG TA

Từ sau cuộc cách mạng làm “rung chuyển thế giới”, nhân loại đã trải qua hơn 100 năm đầy biến động, thăng trầm. Trong đó, sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ 20 là tổn thất vô cùng lớn. Nhưng đó là sự sụp đổ của mô hình cụ thể, chứ không phải sụp đổ hay cáo chung của Chủ nghĩa Mác-Lênin, của chủ nghĩa xã hội như các thế lực thù địch, phản động thường rêu rao, xuyên tạc.

Cách mạng thế giới đã và đang trải qua giai đoạn khủng hoảng, khó khăn nhưng xu thế vận động khách quan của lịch sử mà Cách mạng Tháng Mười Nga vạch ra và tính tất yếu thắng lợi của chủ nghĩa xã hội là không thể đảo ngược. Lý tưởng cao đẹp của cuộc cách mạng vĩ đại này vẫn đang được chứng minh sinh động ở các quốc gia, dân tộc lựa chọn con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Dù còn nhiều sóng gió, thử thách nhưng con đường mà Cách mạng Tháng Mười Nga đã mở ra vẫn là “ngọn đuốc” vạch thời đại, là mục tiêu, lý tưởng, là tương lai tốt đẹp mà các dân tộc hướng tới. Như Đảng ta đã khẳng định: "Chủ nghĩa xã hội trên thế giới, từ những bài học thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc có điều kiện và khả năng tạo ra bước phát triển mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội".

Những luận điệu bóp méo, xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc giá trị của cuộc cách mạng vĩ đại với mưu đồ đen tối, không thể dễ dàng làm lung lạc dư luận, càng không bao giờ làm đảo lộn xu hướng phát triển tất yếu của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Quay lưng lại quá khứ và bôi nhọ các giá trị truyền thống cũng chính là hành động phá hoại tương lai.

Một trong 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII chỉ ra là: “Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước”. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần nâng cao trách nhiệm, cảnh giác, hết sức tỉnh táo để phát hiện, ngăn chặn những luận điệu, thủ đoạn xuyên tạc lịch sử nói chung trong đó có sự kiện Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.

Thứ Sáu, 16 tháng 3, 2018

Một số vấn đề lý luận về thời đại trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta năm 1991

Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh quốc tế có những biến đổi to lớn, sâu sắc.
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang diễn ra mạnh mẽ, cuốn hút tất cả các nước ở mức độ khác nhau. Nền sản xuất vật chất và đời sống xã hội đang trong quá trình quốc tế hóa sâu sắc, ảnh hưởng lớn tới nhịp độ phát triển lịch sử và cuộc sống các dân tộc. Những xu thế đó vừa tạo thời cơ phát triển nhanh cho các nước, vừa đặt ra những thách thức gay gắt, nhất là đối với những nước lạc hậu về kinh tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Sđd, tr.312-313)
- Đánh giá về tương quan giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, Cương lĩnh nêu rõ: “... do duy trì quá lâu những khuyết tật các mô hình cũ của chủ nghĩa xã hội, chậm trễ trong cách mạng khoa học và công nghệ, nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Ở một số nước, Đảng Cộng sản và công nhân không còn nắm vai trò lãnh đạo; chế độ xã hội đã thay đổi. Các thế lực đế quốc lợi dụng những sai lầm và khó khăn đó đẩy mạnh cuộc phản kích quyết liệt nhằm xoá bỏ các nước xã hội chủ nghĩa. Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản đang diễn ra gay gắt.
Trước mắt, chủ nghĩa tư bản còn có tiềm năng phát triển kinh tế, nhờ ứng dụng những thành tựu mới của khoa học và công nghệ, cải tiến phương pháp quản lý, thay đổi cơ cấu sản xuất, điều chỉnh các hình thức sở hữu và chính sách xã hội. Tuy vậy, chủ nghĩa tư bản vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng sâu sắc. Mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân rộng rãi với giai cấp tư sản, giữa các tập đoàn tư bản độc quyền, các công ty xuyên quốc gia, các trung tâm tư bản lớn tiếp tục phát triển. Mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển và các nước đang phát triển ngày càng tăng lên. Chính sự vận động của tất cả mâu thuẫn đó và cuộc đấu tranh của nhân dân lao động các nước sẽ quyết định số phận của chủ nghĩa tư bản.
Các nước độc lập dân tộc và các nước đang phát triển phải tiến hành cuộc đấu tranh rất khó khăn và phức tạp, chống nghèo nàn và lạc hậu, chống chủ nghĩa thực dân mới dưới mọi hình thức, chống sự can thiệp và xâm lược của chủ nghĩa đế quốc nhằm bảo vệ độc lập và chủ quyền dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Sđd, tr.313-314.)
- Nhận định về đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại, Cương lĩnh năm 1991 của Đảng Cộng sản Việt Nam đã ghi:
“Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc gay go, phức tạp của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ nghĩa xã hội đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Sđd, tr.314)

Thứ Năm, 12 tháng 10, 2017

CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA MỞ RA THỜI ĐẠI MỚI CHO LỊCH SỬ LOÀI NGƯỜI

            Cách đây vừa tròn 100 năm, Cách mạng Tháng Mười Nga đã nổ ra và giành thắng lợi trên 1/6 trái đất, làm rung chuyển cả thế giới, mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại: thời đại sụp đổ của chủ nghĩa đế quốc, thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Mặc dù hiện nay, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã không còn, song tầm vóc, ý nghĩa, ảnh hưởng và những bài học kinh nghiệm quý báu của Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn còn nguyên giá trị. Cách mạng Tháng Mười Nga đã ghi vào lịch sử nhân loại một mốc son vĩ đại nhất từ trước đến nay và có tầm ảnh hưởng, to lớn, sâu rộng, mạnh mẽ tới tiến trình lịch sử và cục diện thế giới; làm thay đổi chế độ chính trị nước Nga, đảo lộn trật tự thế giới, kết thúc thời kỳ lịch sử  cận đại, mở ra thời kỳ lịch sử hiện đại, đưa giai cấp vô sản trở thành giai cấp trung tâm của thời đại, đó là sự thật không cần bàn cãi!
            Lần đầu tiên trong lịch sử, Cách mạng Tháng Mười Nga đã đập tan ách áp bức, bóc lột của chế độ phong kiến độc tài, chuyên chế tồn tại lâu đời ở Nga và Chính phủ lâm thời tư sản do Kêrenxki cầm đầu, đưa Công nhân, Nông dân Nga lên nắm chính quyền, bắt tay xây dựng chế độ mới - chế độ xã hội chủ nghĩa, khác hẳn về chất so với các chế độ xã hội đã có trong lịch sử, từng bước xóa bỏ mọi hình thức bóc lột giai cấp và áp bức dân tộc, mở đường thắng lợi cho độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới.
           Cách mạng Tháng Mười Nga đã làm thay đổi hoàn toàn vận mệnh đất nước và số phận của hàng triệu con người ở Nga từ kiếp làm thuê thành người làm chủ, đưa giai cấp công nhân Nga non trẻ bước lên vũ đài chính trị, trở thành giai cấp lãnh đạo cách mạng và tổ chức xây dựng chế độ mới, chế độ xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Cách mạng Tháng Mười Nga đã chặt đứt một mắt xích quan trọng, yếu nhất trong sợi dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc, làm thay đổi bản đồ chính trị thế giới, làm cho chủ nghĩa đế quốc không còn là hệ thống duy nhất trên thế giới, mà từ đây hệ thống xã hội chủ nghĩa đã bắt đầu hình thành và trở thành một lực lượng đối trọng với chủ nghĩa đế quốc, không cho chúng có quyền làm mưa, làm gió, áp đặt ách thống trị và làm luật cho tất cả các nước như trước nữa. Cách mạng Tháng Mười Nga đã biến chủ nghĩa xã hội từ lý luận thành hiện thực và từ đây nói như V.I.Lênin “trời đã quang, mây đã tạnh, lối đã vạch ra rồi, dưới ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười lịch sử thế giới phát triển theo con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ chủ nghĩa.
            Tiếng vang của Cách mạng Tháng Mười vượt qua biên giới nước Nga, ảnh hưởng to lớn đến phong trào giải phóng dân tộc và phong trào công nhân trong các nước tư bản chủ nghĩa. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga không chỉ là động lực mạnh mẽ cổ vũ các dân tộc thuộc địa đứng lên đấu tranh chống lại ách áp bức, bóc lột của giai cấp phong kiến, tư sản, tự cứu lấy mình và giải phóng mình mà còn chỉ ra con đường cách mạng và cung cấp nhiều bài học quý báu cho phong trào giải phóng dân tộc, cũng như phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Từ đó, giai cấp vô sản vững vàng bước lên vũ đài chính trị, có lý luận cách mạng, khoa học dẫn đường, trở thành giai cấp trung tâm của thời đại, “hạt nhân” của phong trào cách mạng thế giới, đưa phong trào “bão táp cách mạng” từ châu Âu lan tỏa nhanh và mạnh sang châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh, đánh trực tiếp vào hậu phương và sân sau của chủ nghĩa đế quốc, đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận, làm cho giai cấp thống trị run sợ, buộc phải lùi bước, xuống thang và thay đổi một số chính sách có lợi cho quần chúng lao động.
           Dưới ánh sáng soi đường và sự cổ vũ của Cách mạng Tháng Mười Nga, phong trào giải phóng dân tộc ở khắp các châu lục Á, Phi, Mỹ latinh đã phát triển mạnh mẽ, trở thành những cao trào cách mạng to lớn trong thế kỷ XX, đánh đổ chủ nghĩa thực dân cũ và mới của chủ nghĩa đế quốc. Sức công phá của dòng thác cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới do Cách mạng Tháng Mười Nga mở ra đã làm hệ thống thuộc địa do chủ nghĩa thực dân đế quốc thiết lập đã bị sụp đổ hoàn toàn trong vòng chưa đầy 5 thập kỷ. 

            Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, chỉ trong một thời gian ngắn, trong thế bị bao vây cấm vận, nội chiến và hậu quả chiến tranh để lại. Song dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô, bằng sự ưu việt của chế độ mới và đặc biệt là sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân, nước Nga từ một nước phong kiến lạc hậu đã trở thành một cường quốc kinh tế, quân sự, chính trị hùng mạnh, là chỗ dựa vững chắc cho các phong trào cách mạng trên thế giới đấu tranh giành độc lập dân tộc, chống họa phát xít, vì hoà bình, dân chủ, chủ nghĩa xã hội và tiến bộ xã hội.

Thứ Tư, 20 tháng 9, 2017

Tầm vóc lịch sử thế giới và ý nghĩa vạch thời đại của Cách mạng Tháng Mười

Cách đây vừa đúng 100 năm, một cuộc cách mạng đã nổ ra và thắng lợi ở nước Nga - Tổ quốc của Lênin vĩ đại. Ðó là cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới do giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, binh sĩ cách mạng và đông đảo quần chúng lao động ở nước Nga tiến hành dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản, đứng đầu là Lênin - nhà tư tưởng kiệt xuất, nhà tổ chức thiên tài của cách mạng vô sản.
Sự kiện này không chỉ đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Nga, xóa bỏ ách áp bức, bóc lột tư bản chủ nghĩa và những tàn dư của chế độ chuyên chế Nga hoàng, giải phóng cho công - nông và nhân dân lao động, đưa họ tới địa vị của người làm chủ xã hội, mà còn làm rung chuyển thế giới, mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại, thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới.
Cách mạng Tháng Mười Nga để lại một dấu ấn đặc biệt không thể phai mờ trong lịch sử thế giới hiện đại, trong ký ức và lương tâm của loài người tiến bộ.
Mở ra một thời đại mới, Cách mạng Tháng Mười đồng thời còn mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thức tỉnh và cổ vũ các dân tộc trong cuộc đấu tranh giải phóng, chống lại ách áp bức, bóc lột và nô dịch của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân, xóa bỏ mọi hình thức nô lệ, vươn tới tự do, bình đẳng, thực hiện quyền tự quyết dân tộc.
Với Cách mạng Tháng Mười, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản và Lênin đã cống hiến cho nhân loại một mẫu mực về khởi nghĩa vũ trang, giành chính quyền; về khoa học và nghệ thuật nắm bắt tình thế và thời cơ cách mạng, hành động mau lẹ và kiên quyết, kết hợp nhiệt tình cách mạng, lòng dũng cảm và sức sáng tạo của quần chúng với tính tổ chức và kỷ luật của đội tiên phong cách mạng để giành chiến thắng.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười chứng thực sức mạnh có tổ chức quần chúng đông đảo, mà nòng cốt là công - nông - binh, trong giờ phút quyết định đã vùng dậy, tự giải phóng, lật đổ quyền lực thống trị tư sản, giành quyền lực về tay mình, xác lập quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước kiểu mới của số đông, đó là quyền tự do, dân chủ của những người lao động được cách mạng giải phóng và trở thành những người chủ của chế độ mới.
Do đó, Cách mạng Tháng Mười Nga khác về căn bản so với các cuộc cách mạng trước đó, nó thủ tiêu mọi hình thức bóc lột, chứ không phải đem hình thức bóc lột này thay thế cho hình thức bóc lột khác. Nó vượt qua tính hạn chế, nửa vời của các cuộc cách mạng trong quá khứ, kể cả cách mạng tư sản dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Với Cách mạng Tháng Mười, lần đầu tiên trong lịch sử, CNXH hiện thực đã ra đời.
Từ đây, CNXH được biết đến không chỉ là học thuyết lý luận, mà còn là một chế độ xã hội kiểu mới, không chỉ là lý tưởng, khát vọng giải phóng và mục tiêu phát triển, mà còn là sức mạnh giải phóng trong thực tế, là chế độ xã hội XHCN đã trở thành hiện thực sinh động.
Tầm vóc lịch sử thế giới và ý nghĩa vạch thời đại của Cách mạng Tháng Mười còn ở chỗ, dù mới chỉ có nước Nga Xô-viết, Nhà nước XHCN duy nhất,  nhưng vào lúc bấy giờ, sự xuất hiện cái mầm non mới nhú đó đã chứng tỏ một sự thật là, CNXH đã phủ định về nguyên tắc đối với CNTB.
100 năm đã đi qua trong lịch sử Cách mạng Tháng Mười, cũng đồng thời là lịch sử của CNXH hiện thực.
Thế hệ những người cách mạng làm nên kỳ tích Tháng Mười đã trao truyền cho các thế hệ sau một di sản vĩ đại và thiêng liêng. Nhân dân các dân tộc, trong đó có Việt Nam và cả loài người mang ơn sâu nghĩa nặng với Cách mạng Tháng Mười.
Thời gian càng lùi xa, âm hưởng của Cách mạng Tháng Mười, cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong thế kỷ XX càng có sức vang vọng. Thế giới đổi thay nhanh chóng, lịch sử đầy ắp các sự kiện, các tình huống biến cố thăng trầm, nhưng Cách mạng Tháng Mười mãi mãi còn được nhắc tới bởi nó đã mở đầu và tạo dựng nên một diện mạo mới của lịch sử, một tầm vóc có một không hai của thời đại mới. Cách mạng Tháng Mười không phải là một hiện tượng thuần Nga, cũng không phải là sản phẩm được tạo ra từ sự cuồng nhiệt của ý chí và không tưởng mà những kẻ thù của cách mạng, những kẻ cơ hội và phản bội lý tưởng từng xuyên tạc, bóp méo lịch sử, mưu toan xóa bỏ ảnh hưởng, tầm vóc của cuộc cách mạng này trong đời sống ý thức xã hội.
Bản chất của lịch sử là tường minh, khách quan và công bằng. Cách mạng là đầu tàu của lịch sử, là ngày hội vĩ đại biểu dương sức mạnh sáng tạo của quần chúng. Những giá trị sáng tạo đích thực, chân chính được cách mạng sản sinh đã trở thành những giá trị, những tài sản văn hóa nhân loại không gì phủ nhận được. Cách mạng Tháng Mười là một cuộc cách mạng như thế. Lịch sử CNXH hiện thực gắn liền với lịch sử Cách mạng Tháng Mười. Sức sống, triển vọng và xu thế phát triển của CNXH, tự bản thân nó đã tôn vinh, khẳng định và bảo vệ chân giá trị của cuộc cách mạng này. Ðó là chân lý và đạo lý của lịch sử mà các thế hệ những người cách mạng cùng với nhân dân và nhân loại tiến bộ luôn nhận thức và hành động trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội và CNXH.

Thứ Năm, 14 tháng 9, 2017

Cách mạng Tháng Mười Nga - ngọn đuốc soi đường thời đại

Cách đây gần 1 thế kỷ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích Nga đứng đầu là V.I.Lênin vĩ đại, giai cấp công nhân (GCCN) và nhân dân lao động nước Nga tiến hành cách mạng vô sản giành thắng lợi. Cách Mạng Tháng Mười Nga  đã đi vào lịch sử nhân loại như một sự kiện vĩ đại nhất của thế kỷ XX, mở đầu một thời đại mới – thời đại quá độ đi lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới, soi sáng con đường phát triển của loài người đi lên xây dựng CNXH, “ loài người đã chứng kiến một sự kiện lịch sử trọng đại – một cuộc cách mạng Mười ngày rung chuyển thế giới, mở ra một thời đại mới trên con đường đi lên của nhân loại. Đó là sự bùng nổ và thắng lợi của Cách Mạng Tháng Mười Nga. Gần một thế kỷ đã trôi qua với biết bao nhiêu biến đổi, nhưng ý nghĩa và âm hưởng của cuộc cách mạng này vẫn trường tồn, mãi mãi không đổi thay trong hàng triệu người có lương tri trên thế giới. Họ hướng về Cách mạng Tháng Mười Nga với sự trân trọng, lòng biết ơn và vẫn tìm thấy ở đó “tinh thần cách mạng và ánh sáng soi đường cho cuộc đấu tranh vì một xã hội tốt đẹp hơn”.
1/ Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã đưa nước Nga sang một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên nhân dân lao động Nga và các dân tộc và các dân tộc không phải Nga từ thân phận người nô lệ trở thành người làm chủ đất nước và vận mệnh của mình, “từ vương quốc tất yếu sang vương quốc tự do”. Lần đầu tiên trên thế giới, một xã hội mới xuất hiện – xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN), trong đó không có cảnh người bóc lột người, mọi người sống bình đẳng, cùng nhau mưu cầu hạnh phúc. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Cách mạng Tháng Mười đã dùng bạo lực cách mạng đánh đổ giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến địa chủ, lập nên chính quyền của những người lao động, xây dựng một xã hội hoàn toàn mới, một xã hội không có người bóc lột người”2  Khác với nhiều cuộc cách mạng trên thế giới, Cách mạng Tháng Mười Nga không chỉ làm thay đổi nước Nga và có ý nghĩa đối với nhân dân Liên Xô, mà nó còn mang tính quốc tế sâu sắc. Thành tựu của Cách Mạng Tháng Mười và những đóng góp của Liên Xô đối với nhân loại là rất to lớn. Do đó, như Tổng thống Nga V.Putin đã khẳng định: “Ai không nuối tiếc sự ra đi của Liên bang Xôviết là không có trái tim”.
2/ Cuộc Cách Mạng Tháng Mười Nga đã gửi và thực thi một thông điệp hòa bình tới nhân dân thế giới. Ngay trong giờ phút quyết định của cuộc khởi nghĩa với cuộc tấn công Cung điện Mùa Đông, Đại hội Xôviết toàn Nga lần thứ hai khai mạc trong Điện Xmônnưi (ngày 25-10 theo lịch Nga), thông qua “Sắc lệnh hòa bình”, coi chiến tranh là “một tội ác lớn nhất đối với nhân loại”, đòi các nước đế quốc nhanh chóng chấm dứt Chiến tranh thế giới thứ nhất và tuyên bố với các chính phủ các nước sẵn sàng kí ngay một bản hòa ước với những điều kiện công bằng cho tất cả các dân tộc, một hòa ước không có thôn tính và không có bồi thường. Những đề nghị hòa bình của Chính phủ Xôviết đã được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân thế giới. Nhiều dân tộc khác trên thế giới, đang quằn quại dưới ách thống trị của chế độ thực dân, phong kiến, “nằm mơ nước Nga” với sự  tin tưởng sâu sắc.
3/ Cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga với tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại. Lần đầu tiên trong lịch sử, những người vô sản, người lao động, người nghèo dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, đã đứng lên làm cuộc cách mạng đổi đời, tự giải phóng mình, làm chủ và cai quản và tổ chức xây dựng chế độ xã hội mới XHCN. Từ đây, cách mạng giải phóng dân tộc bị áp bức có được phương hướng phát triển, trở thành một bộ phận khăng khít của phong trào cách mạng thế giới và nhân loại biết đến một chế độ xã hội mới, một hệ thống thế giới mới – hệ thống XHCN, đối lập với chế độ tư bản chủ nghĩa. Không có Cách mạng Tháng Mười Nga và CNXH hiện thực thì giai cấp cần lao và các dân tộc trên thế giới vẫn chìm đắm trong màn đêm áp bức, nô dịch của chủ nghĩa tư bản, của thực dân, đế quốc. Thực tế cho thấy, trong gần thế kỷ qua, sự tiến bộ của nhân loại xét đến cùng là kết quả của quá trình đấu tranh bền bỉ của GCCN, nhân dân lao động trên thế giới và sự ảnh hưởng quan trọng từ những giá trị vì con người của CNXH hiện thực.

4/ Thắng lợi Cách Mạng Tháng Mười Nga, là công lao vĩ đại của Lênin trong bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác, làm cho chủ nghĩa Mác từ lí luận trở thành hiện thực và học thuyết cách mạng và khoa học ấy không bị chết, rất nhiều vấn đề mới mà trước đó, do hạn chế của lịch sử, C.Mác và Ph. Ăngghen chưa đề cập đầy đủ đã được Lênin phát triển trong điều kiện lịch sử mới. Đó là vấn đề: cách mạng vô sản có thể nổ ra và giành thắng lợi ở một nước tư bản phát triển trung bình; xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân; xây dựng chính quyền nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động; “chính sách kinh tế mới” (NEP) của Lênin…hiện nay vẫn mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn, trước hết là các nước XHCN trong thời kỳ quá độ lên CNXH. 

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2016

PHẢI CHẲNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC CHỈ LÀ PHƯƠNG TIỆN ĐỂ GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC?


Nhằm cổ xúy cho giai cấp cầm quyền, một số học giả tư sản thậm chí cả những kẻ vốn dòng giống lạc việt nhưng đang "chịu ơn" giai cấp tư sản đã và tung ra nhiều chiêu bài khác nhau trong đó cho rằng chủ nghĩa xã hội khoa học chỉ là phương tiện, độc lập dân tộc là mục đích. Chủ tịch Hồ Chí Minh mượn chủ nghĩa xã hội khoa học làm phương tiện để đạt mục đích, nay mục đích đã đạt được rồi thì nên từ bỏ phương tiện ấy mới là thức thời.
Thực chất quan điểm trên không chỉ là sự bôi nhọ lãnh tụ mà còn là sự ngụy biện cho sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản; đi ngược xu thế thời đại; phủ nhận sự lựa chọn mang tính lịch sử của dân tộc ta
Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng “Chủ nghĩa xã hội khoa học là khoa học về sự giải phóng giai cấp công nhân đồng thời giải phóng toàn xã hội trên phạm vi toàn thế giới khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công; khỏi mọi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu; khỏi mọi sự phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp”; “Thay cho xã hội tư sản đối kháng giai cấp là xã hội mà sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển của tất cả mọi người”[1].
Với ý nghĩa ấy, chủ nghĩa xã hội khoa học là một công cụ, phương tiện có giá trị vô cùng vĩ đại – công cụ giải phóng toàn thế giới. Nhưng hiểu theo nghĩa rộng đầy đủ, thực sự “chủ nghĩa xã hội khoa học là khoa học thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, giữa khoa học và cách mạng, giữa mục tiêu và động lực của sự phát triển, giữa lý luận, phương pháp luận khoa học và cương lĩnh hành động thực tiễn, giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc quốc tế, dân tộc với thời đại…”.
Chủ nghĩa xã hội khoa học còn chỉ ra rằng, sự nghiệp cách mạng cộng sản, của giai cấp công nhân là sự nghiệp quốc tế, nhưng để đi đến thắng lợi cuối cùng nó lại phải trải qua những thắng lợi ở từng quốc gia dân tộc “Giai cấp vô sản ở mỗi nước, trước hết phải thanh toán giai cấp tư sản ở nước mình, phải vươn lên, trở thành dân tộc, giai cấp dân tộc”2.
Đặc biệt khi chủ nghĩa tư bản trở thành chủ nghĩa đế quốc, vấn đề dân tộc trở thành vấn đề thuộc địa thì con đường giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng xã hội ở các nước thuộc địa của đế quốc tư sản nhất thiết phải trải qua giai đoạn đấu tranh chống giai cấp tư sản thực dân (cũ, mới) cấu kết với giai cấp phong kiến và tư sản mại bản phản động giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân.
Lênin đã viết hàng loạt bài chính luận về vấn đề dân tộc tiêu biểu là tác phẩm “Quyền dân tộc tự quyết”3 trong đó có “Cương lĩnh dân tộc” với 3 nội dung: “Các dân tộc… Liên hiệp công nhân các dân tộc”. Và tác phẩm “Sơ thảo lần thứ nhất Đề cương vấn đề dân tộc và thuộc địa”4.
Tổng kết quan hệ giữa giải phóng dân tộc với giải phóng xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nước chưa được độc lập thì lợi ích giai cấp vạn năm cũng không đòi được. Nhưng nước độc lập rồi mà dân vẫn đói, vẫn rét thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì…”. Do đó, sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của đế quốc thực dân tư sản trong thời đại ngày nay khác bản chất so với giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của đế quốc phong kiến kiểu đế quốc Nguyên Mông, đế quốc Minh, Thanh trước đây. “Con đường giải phóng các dân tộc trong thời đại ngày nay chỉ có thể là cách mạng vô sản… Rằng: chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải phóng triệt để của dân tộc bị áp bức”. Đúng như Lênin nêu: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”. Chủ nghĩa xã hội trong chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ là phương tiện mà còn là mục tiêu của thời đại ngày nay.



[1] Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản
2 Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản
3 Lênin toàn tập, tập 25
4 Lênin toàn tập, tập 41