Thứ Ba, 9 tháng 1, 2024

QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở NƯỚC TA LÀ GÌ?

Quan điểm Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số là một bộ phận trong tư tưởng xây dựng cán bộ của Đảng, trong đó có những nét đặc thù của đối tượng là người các dân tộc thiểu số, thể hiện trên một số nội dung sau:

Xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, quyết định đến kết quả thực hiện chính sách dân tộc. Chính sách dân tộc phải được bắt đầu từ công tác cán bộ; đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ, đặc biệt cán bộ là người dân tộc thiểu số. Cán bộ dân tộc thiểu số là người tiếp thu và tổ chức tuyên truyền, vận động quần chúng thực hiện các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. 

Công tác xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số cần phải hướng vào củng cố khối đoàn kết giữa các dân tộc, thực hiện nhiệm vụ cách mạng của Đảng. Cán bộ gồm nhiều thành phần, nhiều vùng miền, dân tộc khác nhau, phải đoàn kết để thành một khối vững chắc mới tạo được niềm tin của nhân dân và hoàn thành các nhiệm vụ cách mạng.  

Phương châm trong đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số tránh lý thuyết suông, sáo rỗng, lý luận phải gắn liền với thực hành, thực tiễn. Chương trình giáo dục phải thiết thực, cụ thể, dễ nhớ, phù hợp với khả năng nhận thức và đặc điểm tâm lý văn hóa dân tộc. Gắn đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số với công tác quy hoạch, cất nhắc sử dụng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số.

Có thái độ đúng đắn, cảm thông, chia sẻ những khó khăn của cán bộ và đồng bào dân tộc thiểu số. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng bào chính là lực lượng nòng cốt cho sự phát triển quê hương mình. Vì thế, đồng bào các dân tộc cần quyết tâm học tập nâng cao trình độ để không ngừng tiến bộ, hoàn thành những nhiệm vụ của cách mạng ở ngay chính quê hương mình và góp phần vào sự nghiệp chung của cả nước.  

Quan tâm đến phát triển đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nữ; xóa bỏ sự phân biệt, đối xử không công bằng giữa nam và nữ. Đây là một nhiệm vụ quan trọng mà Đảng và Chính phủ giao phó cho các cấp chính quyền vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Để thực sự phát huy quyền bình đẳng của mình thì phụ nữ dân tộc thiểu số cần phải không ngừng học tập và nỗ lực trong mọi hoạt động, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. 

Thứ Hai, 8 tháng 1, 2024

QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC Ở NƯỚC TA LÀ GÌ?

Chính sách dân tộc, đoàn kết các dân tộc ở Việt Nam có vai trò, vị trí quan trọng trong suốt quá trình dựng nước, giữ nước của dân tộc ta. Trong chế độ mới, chính sách dân tộc càng quan trọng, là vấn đề chiến lược của cách mạng.

 Thực hiện nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc trong công đồng quốc gia dân tộc Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, nhân dân các dân tộc được hưởng độc lập tự do là lẽ tự nhiên. Nước độc lập rồi thì hết sức chăm lo phát triển kinh tế, văn hoá của các dân tộc, làm cho các dân tộc thiểu số khắc phục dần sự chênh lệch, tiến kịp trình độ chung, thực hiện bình đẳng dân tộc.

Thường xuyên coi trọng, thực hiện đại đoàn kết rộng rãi lâu dài; mở rộng, đa dạng các hình thức tập hợp đồng bào các tộc người; sử dụng nhiều phương thức, biện pháp phù hợp với từng tộc người, vùng miền. Đồng thời, các dân tộc phải xóa bỏ mọi hiềm khích, phải đoàn kết, phải giúp đỡ nhau để các dân tộc có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. 

Chính sách dân tộc phải toàn diện, tạo điều kiện cho các dân tộc cùng phát triển, thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi. Để tạo điều kiện nâng cao đời sống cho đồng bào các dân tộc, từng bước rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa các dân tộc, giữa miền núi với miền xuôi, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi.

Phát huy khả năng vươn lên của các dân tộc, phù hợp đặc thù, thế mạnh của từng dân tộc, vùng, miền. Do vậy, triển khai thực hiện chính sách dân tộc cần phải toàn diện, phải am hiểu về miền núi, về con người miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số, vì mỗi dân tộc thiểu số có nếp sống, tâm lý, bản sắc riêng đa dạng và phong phú; phải bám sát thực tiễn, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, lợi ích của đồng bào, tin tưởng và giúp đỡ đồng bào vươn lên phát triển cùng đất nước.

Có chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số. Trong đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, miền núi, cán bộ người Kinh phải giúp đỡ anh em cán bộ địa phương tiến bộ, để anh em tự quản lý công việc địa phương, không bao biện, làm thay.

 Trong thực hiện chính sách dân tộc - tộc người phải nâng cao ý thức về chủ quyền dân tộc, xóa bỏ mọi hiềm khích, đoàn kết chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Chủ động đấu tranh, khắc phục những biểu hiện tiêu cực, sai trái: tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, tự ti dân tộc; cảnh giác, đấu tranh vô hiệu hóa mọi âm mưu, thủ đoạn kỳ thị,chia rẽ dân tộc của các thế lực thù địch, phản động.   

QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG THỜI ĐẠI CÁCH MẠNG VÔ SẢN LÀ GÌ?

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản có nội dung toàn diện, khoa học và cách mạng. Đó là những luận điểm cơ bản lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân ta thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ độc lập dân tộc; xây dựng quan hệ tốt đẹp giữa các tộc người trong đại gia đình các tộc người Việt Nam và giữa dân tộc Việt Nam với các quốc gia dân tộc trên thế giới, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nổi lên những nội dung cơ bản:

Vấn đề dân tộc ở Việt Nam chỉ có thể được giải quyết khi gắn sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam với giải phóng giai cấp giải phóng con người: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

Khi đã giành được độc lập, Đảng, Nhà nước thực hiện nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc trong công đồng quốc gia dân tộc Việt Nam. Đảng, Nhà nước phải thi hành đúng chính sách dân tộc, thực hiện sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc. Nước độc lập rồi thì các dân tộc phải xóa bỏ mọi hiềm khích, phải đoàn kết, phải giúp đỡ nhau để các dân tộc có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Thực hiện đại đoàn kết rộng rãi lâu dài; mở rộng, đa dạng các hình thức tập hợp đồng bào các tộc người; sử dụng nhiều phương thức, biện pháp phù hợp với từng tộc người, vùng miền, cảnh giác, bài trừ các nguy cơ chia rẽ tộc người, khắc phục tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, tự ti dân tộc.

Chính sách dân tộc phải toàn diện, phát huy thế mạnh của vùng, miền, từng tộc người. Phát huy khả năng vươn lên của các dân tộc, phù hợp đặc thù dân tộc, vùng, miền. Mỗi tộc người đều có bản sắc văn hóa, phong tục tập quán riêng, bởi vậy, chính sách dân tộc phải chú ý đặc thù vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ các dân tộc thiểu số. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc cán bộ miền núi, cán bộ người Kinh phải giúp đỡ anh em cán bộ địa phương tiến bộ, để anh em tự quản lý công việc địa phương, không bao biện, làm thay. 

QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ HAI XU HƯỚNG KHÁCH QUAN CỦA SỰ PHÁT TRIỂN DÂN TỘC LÀ GÌ?

Xu hướng thứ nhất: Các dân tộc trong quốc gia đa tộc, các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc đấu tranh đòi tách ra để thành lập các cộng đồng dân tộc độc lập. Đây là xu hướng nổi bật trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản và càng thể hiện rõ nét trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, biểu hiện thành phong trào đấu tranh chống áp bức ở các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc đi tới thành lập quốc gia dân tộc độc lập.   

Xu hướng thứ hai: Sự liên hiệp giữa các dân tộc. Các dân tộc ở từng quốc gia thậm chí ở nhiều quốc gia muốn phá đổ hàng rào ngăn cách để liên hiệp lại trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện phù hợp với sự phát triển khách quan của lực lượng sản xuất và phong trào mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa, thúc đẩy sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc.

  V.I.Lênin chỉ rõ, hai xu hướng khách quan trên trong điều kiện đế quốc chủ nghĩa gặp nhiều cản trở to lớn. Các nước đế quốc đã lợi dụng hai xu hướng này vào mục đích bóc lột theo các hình thức chủ nghĩa thực dân cũ và mới nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản. Nguyện vọng của các dân tộc được sống độc lập, tự do bị chính sách xâm lược của chủ nghĩa đế quốc xóa bỏ. Chủ nghĩa đế quốc trong quá trình đi xâm lược thuộc địa đã biến hầu hết các dân tộc nhỏ bé hoặc còn ở trình độ lạc hậu thành thuộc địa và phụ thuộc của nó. Xu hướng các dân tộc xích lại gần nhau cũng bị chủ nghĩa đế quốc lợi dụng vào việc thành lập những khối liên hiệp nhằm duy trì sự áp bức, bóc lột đối với các dân tộc nhỏ yếu. Chỉ trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội, khi chế độ tư hữu và ách áp bức dân tộc bị mất đi thì hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc mới có điều kiện phát triển đầy đủ.  

Hiện nay, hai xu hướng trên thể hiện rất đa dạng ở tất cả các khu vực trên thế giới. Việc nắm bắt hai xu hướng này có ý nghĩa rất quan trọng đối với các chính đảng của các quốc gia nhằm giải quyết tốt quan hệ dân tộc trong quốc gia đa dân tộc và quan hệ giữa các dân tộc ở các khu vực và phạm vi quốc tế. 

QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC THUỘC ĐỊA LÀ GÌ?

Cuộc đấu tranh của nhân dân các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc chống chủ nghĩa đế quốc một nội dung cơ bản, có quan hệ hữu cơ với cuộc đấu tranh chung của giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản, đấu tranh giữa bóc lột và bị bóc lột, giữa chủ nghĩa đế quốc và các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc. 

Để giải quyết triệt để vấn đề dân tộc, cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa phải vận động theo quỹ đạo của cách mạng vô sản. Giải phóng dân tộc thuộc địa không chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ mà còn là điều kiện bảo đảm cho sự thắng lợi của cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và những người cộng sản ở chính quốc. Khẩu hiệu “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại” đã được V.I.Lênin phát triển thành khẩu hiệu “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”.

Giai cấp vô sản ở các nước tư bản cần ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Giai cấp vô sản ở mỗi dân tộc đều phải ý thức đoàn kết, thực hiện chủ nghĩa quốc tế vô sản. Giai cấp vô sản ở các nước thuộc địa cần có sách lược đúng đắn để lãnh đạo tốt phong trào giải phóng dân tộc. V.I.Lênin cho rằng nếu được sự ủng hộ, giúp đỡ của các giai cấp vô sản ở các nước tiến tiến, các nước lạc hậu có thể không trải qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa mà quá độ thẳng lên chế độ Xô viết (chủ nghĩa xã hội)..[1].

Phong trào giải phóng dân tộc thuộc địa là một bộ phận trong cách mạng vô sản thế giới. Nhiệm vụ của các đảng cộng sản, đảng công nhân và nhân dân lao động ở các nước, nhất là ở các nước phát triển phải cổ vũ, động viên, giúp đỡ nhân dân lao động ở nhiều nước thuộc địa đã thức tỉnh, vùng dậy đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân cũ và mới để giành độc lập, tự do, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, góp phần đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.



[1] V.I.Lênin: Toàn tập, tập 41, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 198-199 

QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC ĐƯỢC V.I.LÊNIN BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN NHƯ THẾ NÀO?

V.I.Lênin đưa ra dự báo các xu hướng phát triển của dân tộc. V.I.Lênin cho rằng, trong thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản, là giai cấp tiến bộ, đóng vai trò tích cực đối với sự phát triển của lịch sử, giai cấp tư sản ủng hộ mọi nguyện vọng dân tộc, là người đại diện của dân tộc. Nhưng khi chủ nghĩa tư bản bước sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, giai cấp tư sản bộc lộ bọc lộ vai trò tiêu cực, phản tiến bộ, tiến hành xâm chiếm, vơ vét tài nguyên, khoáng sản biến các nước nhỏ yếu thành thuộc địa.

V.I.Lênin khẳng định: vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược trong cách mạng xã hội chủ nghĩa; cách mạng xã hội chủ nghĩa cùng với việc thủ tiêu chế độ tư bản còn phải chấm dứt sự áp bức dân tộc, thực hiện quyền dân tộc tự quyết và quyền bình đẳng giữa các dân tộc trên thế giới; đưa ra Cương lĩnh giải quyết vấn đề dân tộc: Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết và liên hiệp công nhân các dân tộc lại.

Đối với vấn đề dân tộc và thuộc địa, V.I.Lênin chỉ rõ: phải đánh giá đúng tình hình lịch sử cụ thể: phải phân biệt rõ lợi ích của giai cấp bị áp bức, của những người lao động, của những dân tộc bị áp bức, phụ thuộc, không được hưởng quyền bình đẳng với những dân tộc đi áp bức; phải làm cho vô sản và tất cả quần chúng lao động ở tất cả các dân tộc, các quốc gia gần gũi nhau để tiến hành đấu tranh cách mạng nhằm lật đổ ách thống trị của phong kiến, tư sản; các đảng cộng sản phải trực tiếp ủng hộ phong trào cách mạng của các dân tộc thuộc địa. 

Thứ Sáu, 5 tháng 1, 2024

BỒI DƯỠNG, NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN NGHIỆP VỤ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN CHUYÊN TRÁCH TRONG ĐẤU TRANH PHẢN BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Những cán bộ, đảng viên chuyên trách trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải là những người có trình độ chuyên sâu về lý luận, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có khả năng lập luận, sâu chuỗi các vấn đề, am hiểu về công nghệ thông tin, trong đó tập trung vào đội ngũ cán bộ là báo cáo viên, biên tập viên hiện công tác trong hệ thống các cơ quan thông tin đại chúng, trong đó có các cơ quan báo chí, truyền thông.

Vấn đề quan trọng mang tính chất quyết định đó là những cán bộ, đảng viên làm nhiệm vụ này phải là những người có nhiệt huyết, ý chí quyết tâm cao trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Định kỳ hằng tháng, hằng năm, các cơ quan có thẩm quyền cần tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái cho đội ngũ cán bộ chuyên trách thực hiện nhiệm vụ này, trong đó chú trọng vào việc nâng cao kỹ năng xử lý các tình huống, kỹ năng tuyên truyền trong lĩnh vực an ninh tư tưởng, kỹ năng lập luận trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên cần chủ động nâng cao ý thức tự giác, kỷ luật khi tiếp xúc thông tin trên các trang mạng xã hội; nghiêm túc thực hiện điều lệ và quy định kỷ luật của Đảng, của tổ chức mà mình là thành viên, đồng thời thể hiện là công dân gương mẫu; luôn có ý thức nắm vững và chấp hành tốt các quy định về quyền thông tin, phạm vi thông tin theo quy định của Hiến pháp và Luật An ninh mạng./.