Hiển thị các bài đăng có nhãn dân tộc thiểu số. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dân tộc thiểu số. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 14 tháng 5, 2024

NHỮNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TÂY NGUYÊN CẦN NẮM VỮNG HIỆN NAY?

Hiện nay, Tây Nguyên có cư dân của 54 tộc người đang sinh sống, trong đó có 12 tộc người tại chỗ. Trong quá trình phát triển, quan hệ dân tộc ở Tây Nguyên ngày càng phát triển tốt đẹp, nhưng hiện nay cũng đang tồn tại những vấn đề dân tộc cũ và cả những vấn đề mới, bao gồm:

Một là, nghèo và chênh lệch giàu - nghèo khá lớn, ảnh hưởng tiêu cực không nhỏ đến tộc người, quan hệ tộc người. Một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ đói nghèo của đồng bào còn cao sẽ dẫn đến nguy cơ mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Hai là, vấn đề đất đai (thiếu đất sản xuất, tranh chấp, khiếu kiện) của người dân tộc thiểu số vẫn là hiện tượng đáng chú ý và phải giải quyết về cơ bản. Ngoài ra, nạn phá rừng, khai thác gỗ quý không được kiểm soát chặt chẽ và không quan tâm đến việc trồng mới và bảo vệ rừng cũng là nội dung cần quan tâm hiện nay.

Ba là, các giá trị văn hóa truyền thống, thiết chế xã hội cổ truyền của các dân tộc thiểu số đang thay đổi và bị mai một dần. Sự hội tụ nhiều luồng cư dân khác nhau ở đây đã tạo nên sự phong phú và không ít phức tạp trong phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo. Phá hỏng hoặc thay đổi cơ cấu cổ truyền làng xã và đời sống tâm linh của người dân tộc. Bên cạnh đó, thái độ của cán bộ và người Kinh đối với phong tục, tập quán cổ truyền của các dân tộc chưa tương xứng, có mặt còn hạn chế.

Bốn là, chất lượng nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số còn thấp xa so với các dân tộc Kinh, Hoa, Chăm, Tày và mặt bằng chung của cả nước. Điểm nghẽn lớn nhất là học sinh, sinh viên ra trường, thanh niên đến độ tuổi lao động không tiếp cận và nắm bắt cơ hội việc làm, không có việc làm.

Năm là, hệ thống chính trị ở một số địa phương còn yếu, tệ nạn quan liêu, tham nhũng ở các mức độ khác nhau chưa chấm dứt, công tác xây dựng Đảng chưa được coi trọng đúng mức.

Sáu là, vấn đề tôn giáo còn khá phức tạp, việc hoạt động của các tổ chức tôn giáo ở một số nơi chưa tốt, chưa xin phép chính quyền; việc cơi nới, xây dựng nhà thờ, nhà nguyện chưa được quản lý tốt, có nơi liên quan đến khu vực quân sự, quốc phòng.

Bảy là, các thế lực thù địch, phần tử xấu triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, kích động tư tưởng ly khai với nhiều thủ đoạn mới nguy hiểm.

Tám là, những thách thức từ hội nhập quốc tế ảnh hưởng đến đồng bào dân tộc, tạo điều kiện thuận lợi để các thế lực thù địch sẵn sàng tạo cớ, can thiệp vào công việc nội bộ hòng gây bất ổn, chia cắt sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa cũng từ vấn đề dân tộc. 

Thứ Hai, 6 tháng 5, 2024

TRONG QUAN HỆ VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ, CÁN BỘ, CHIẾN SỸ QUÂN ĐỘI CẦN CHÚ Ý NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN NÀO?

Một là, quán triệt đầy đủ, sâu sắc quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong tình hình mới. Nhận thức đúng là điều kiện, cơ sở để nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho các chủ thể trong quân đội tham gia thực hiện chính sách dân tộc và trong quan hệ với đồng bào dân tộc thiểu số đúng nguyên tắc, chính sách và pháp luật và thực tiễn địa bàn.

Hai là, nắm chắc mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ; tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chính sách, chấp hành pháp luật của Đảng và Nhà nước, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc. Trên cơ sở nhận thức đúng, phát huy tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo của cán bộ, chiến sĩ; khắc phục nhận thức, hành động chưa phù hợp trong thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và trong quan hệ với đồng bào các dân tộc trên địa bàn. Đồng thời, đấu tranh, phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Ba là, phải hiểu biết và nắm chắc địa bàn, đặc điểm, truyền thống văn hóa các dân tộc; am hiểu phong tục tập quán, ngôn ngữ của đồng bào. Cán bộ, chiến sĩ phải nắm chắc tình hình, đặc điểm các dân tộc ở địa phương; phong tục tập quán, văn hoá truyền thống, tập quán canh tác; cách giao tiếp, ứng xử, các tập tục kiêng cữ; những nét cơ bản về tín ngưỡng tôn giáo của đồng bào; những giá trị tốt đẹp của văn hóa các dân tộc, những yếu tố lạc hậu, hủ tục cần xóa bỏ,v.v.

Bốn là, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của đồng bào, chủ động tuyên truyền và giải quyết những mâu thuẫn trong nhân dân. Để hoàn thành nhiệm vụ được giao, cán bộ, chiến sĩ quân đội cần chủ động nắm tình hình, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng chính đáng của đồng bào, kịp thời giải quyết các vấn đề phát sinh từ cơ sở, không để kẻ xấu lợi dụng, kích động đồng bào hoặc tạo ra những “điểm nóng” liên quan đến yếu tố dân tộc và tôn giáo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Năm là, nêu cao ý thức chấp hành kỷ luật quân dân. Giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ". Mối quan hệ quân – dân là truyền thống của Quân đội, coi nhân dân là nền tảng, cội nguồn sức mạnh của Quân đội. Do vậy, trong thực hiện các nhiệm vụ, cán bộ, chiến sĩ phải thực hiện tốt yêu cầu tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân – dân.

Sáu là, thực hiện tốt phương châm công tác dân tộc: “Chân thành, tích cực,  thận trọng, kiên trì, tế nhị, vững chắc” và phong cách công tác dân vận: “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân”. Trong quan hệ với đồng bào dân tộc phải thể hiện sự trung thực, bình dị, cởi mở, chân tình; vừa chủ động, linh hoạt, vừa ân cần, khiêm nhường; thật sự tin tưởng, quý trọng đồng bào, xác định rõ thái độ “vì nhân dân phục vụ”. Phải hăng hái nhiệt tình, chủ động, sáng tạo, không ngại khó khăn. Trình độ phát triển đồng bào các dân tộc thiểu số có những đặc điểm riêng. Vì thế, phải kiên trì, tế nhị, tránh gây tâm lý mặc cảm, tự ti, tự ái đối với đồng bào. 

Thứ Sáu, 26 tháng 4, 2024

CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG ĐÔNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2021 - 2030 GỒM NHỮNG DỰ ÁN, TIỂU DỰ ÁN NÀO?

Chương trình gồm những dự án, tiểu dự án sau:

- Dự án 1: Giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt của hộ dân tộc thiểu số.

- Dự án 2: Sắp xếp, quy hoạch, bố trí, ổn định dân cư ở những nơi cần thiết.

- Dự án 3: Phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, phát huy tiềm năng, thế mạnh của các vùng miền để sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị. Dự án bao gồm các tiểu dự án cụ thể:

+ Tiểu dự án 1: Phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp gắn với bảo vệ rừng và nâng cao thu nhập cho người dân.

+ Tiểu dự án 2: Đầu tư, phát triển các mô hình chăn nuôi gia súc, gia cầm theo chuỗi giá trị, vùng dược liệu quý, thúc đẩy khởi sự kinh doanh, khởi nghiệp và thu hút đầu tư vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

+ Tiểu dự án 3: Phát triển kinh tế - xã hội: mô hình bộ đội gắn với dân bản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

- Dự án 4: Đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu, phục vụ sản xuất, đời sống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi và các đơn vị sự nghiệp công lập của lĩnh vực dân tộc.

- Dự án 5: Phát triển giáo dục đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Dự án bao gồm các tiểu dự án cụ thể:

+ Tiểu dự án 1: Đổi mới hoạt động, củng cố phát triển các trường Phổ thông Dân tộc nội trú, trường Phổ thông dân tộc bán trú và xóa mù chữ cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

+ Tiểu dự án 2: Bồi dưỡng kiến thức dân tộc; đào tạo dự bị đại học, đại học và sau đại học đáp ứng nhu cầu nhân lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; đào tạo nâng cao năng lực cho cộng đồng và cán bộ triển khai Chương trình ở các cấp.

+ Tiểu dự án 3: Dự án phát triển giáo dục nghề nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

- Dự án 6: Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch.

- Dự án 7: Chăm sóc sức khỏe nhân dân, nâng cao thể trạng, tầm vóc người dân tộc thiểu số; phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em.

- Dự án 8: Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em.

- Dự án 9: Đầu tư phát triển nhóm dân tộc rất ít người, nhóm dân tộc còn nhiều khó khăn.

- Dự án 10: Truyền thông, tuyên truyền, vận động trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Kiểm tra, giám sát đánh giá việc tổ chức thực hiện Chương trình. Dự án bao gồm các Tiểu dự án cụ thể:

+ Tiểu dự án 1: Biểu dương, tôn vinh điển hình tiên tiến, phát huy vai trò của người có uy tín; phổ biến, giáo dục pháp luật và tuyên truyền, vận động đồng bào; ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh trật tự vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

+ Tiểu dự án 2: Kiểm tra, giám sát, đánh giá, việc tổ chức thực hiện chương trình. 

NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI, VÙNG CÓ ĐIỀU KIỆN ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN GIAI ĐOẠN 2021 - 2030 LÀ GÌ?

Một là, xây dựng và ban hành tiêu chí phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xác định cụ thể địa bàn xã, thôn đặc biệt khó khăn để tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm

Hai là, rà soát, sửa đổi, bổ sung và tích hợp hệ thống chính sách dân tộc thành “Chương trình Mục tiêu Quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi”.

Ba là, ban hành cơ chế, chính sách đặc thù trong tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số.

Bốn là, tăng cường nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ; xây dựng cơ sở dữ liệu đồng bộ vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi để phục vụ công tác dự tính, dự báo, hoạch định, quản lý thực hiện chính sách dân tộc

Năm là, đẩy mạnh hợp tác quốc tế về công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc

Sáu là, tăng cường, củng cố và xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vững mạnh

Bảy là, huy động mọi nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó nguồn lực Nhà nước giữ vai trò quan trọng, quyết định để huy động các nguồn lực khác

Tám là, điều chỉnh, bổ sung chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban Dân tộc là đầu mối thống nhất theo dõi, tổng hợp các chính sách dân tộc; tham gia thẩm định chính sách, các dự án đầu tư liên quan đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Chín là, tiếp tục ban hành chính sách đảm bảo an sinh xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Mười là, đổi mới tổ chức và hoạt động của ngân hàng chính sách xã hội

Mười một là, tập trung nghiên cứu, giải quyết một số nội dung liên quan đến tâm tư nguyện vọng của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ Hai, 15 tháng 4, 2024

ĐỀ ÁN TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI, VÙNG CÓ ĐIỀU KIỆN ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN GIAI ĐOẠN 2021 – 2030 XÁC ĐỊNH NỘI DUNG VỀ QUỐC PHÒNG, AN NINH NHƯ THẾ NÀO?

Tiếp tục triển khai, cụ thể hóa các chủ trương, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước về công tác dân tộc liên quan đến quốc phòng và đảm bảo an ninh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Tập trung tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang, tuyên truyền vận động nhân dân về đường lối, mục tiêu phát triển đất nước và chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng trong tình hình mới; làm cho người dân vùng dân tộc thiểu số và miền núi nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch nhằm kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động tư tưởng ly khai, tự trị dân tộc... Bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho đồng bào vùng biên giới. Động viên đồng bào các dân tộc tích cực tham gia vào phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, đấu tranh phòng chống tội phạm, góp phần thực hiện thắng lợi các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về công tác dân tộc, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

Tích cực xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở trên các địa bàn chiến lược, trọng điểm, khu vực biên giới, vùng căn cứ cách mạng; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi về số lượng, chất lượng; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân vững chắc.

Tổ chức tốt công tác nắm tình hình, kịp thời giải quyết các tình huống phát sinh, không để hình thành các “điểm nóng” về an ninh, trật tự, các vụ biểu tình, bạo loạn ở vùng đồng bào dân tộc thiếu số và miền núi, khu vực biên giới; giải quyết kịp thời những phức tạp liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; không để các thế lực thù địch lợi dụng, kích động quần chúng. Tăng cường hợp tác quốc tế, đối ngoại quân sự, đối ngoại biên phòng, đối ngoại công an để đấu tranh với các hoạt động ly khai, tự trị dân tộc, vượt biên trái phép; đảm bảo an ninh, trật tự tuyến biên giới; phòng chống tội phạm, khủng bố...

Tăng cường đầu tư phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo an ninh - quốc phòng. Xây dựng các đoàn Kinh tế - quốc phòng, khu Kinh tế - quốc phòng trên các địa bàn chiến lược, trọng điểm; kết hợp kinh tế quốc phòng với phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc và miền núi. 

NỘI DUNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI ĐƯỢC ĐỀ CẬP TRONG “ĐỀ ÁN TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI, VÙNG CÓ ĐIỀU KIỆN ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN GIAI ĐOẠN 2021 – 2030” LÀ GÌ?

Về phát triển kinh tế: Khai thác tiềm năng, lợi thế so sánh, huy động mọi nguồn lực đầu tư phát triển mạnh kinh tế hàng hóa nhiều thành phần; chú trọng phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã, kinh tế tư nhân, gắn sản xuất với chế biến, kết nối với thị trường, tạo chuỗi sản phẩm, gia tăng giá trị.

Về giáo dục - đào tạo: Quy hoạch phát triển hợp lý mạng lưới, quy mô các trường phổ thông dân tộc bán trú, phổ thông dân tộc nội trú và dự bị đại học dân tộc; Đổi mới phương thức cử tuyển nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; Phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đảm bảo đủ giáo viên cho từng cấp học, môn học, đội ngũ phải đáp ứng yêu cầu của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Về phát triển giáo dục nghề nghiệp, nâng cao chất lượng nhân lực và giải quyết việc làm: Tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chương trình, đề án, chính sách về phát triển giáo dục nghề nghiệp, giải quyết việc làm. Dạy nghề theo nhu cầu lao động của xã hội theo hướng hỗ trợ sau đào tạo. Bồi dưỡng kiến thức về kỹ năng (giáo dục định hướng) để thanh niên DTTS tìm kiếm việc làm ở khu công nghiệp.

Về y tế và dân số: Tập trung triển khai thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, Nghị quyết số 21- NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới.

Về bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc: Tập trung triển khai thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Về quốc phòng, an ninh: Tiếp tục triển khai, cụ thể hóa các chủ trương, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước về công tác dân tộc liên quan đến quốc phòng và đảm bảo an ninh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. 

MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2021-2030 CỦA CHÍNH PHỦ ĐÃ ĐƯỢC QUỐC HỘI PHÊ DUYỆT LÀ GÌ?

Mục tiêu tổng quát của Đề án là khai thác tiềm năng, lợi thế của các địa phương trong vùng, đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội; giảm nghèo nhanh, bền vững, thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, thu nhập so với bình quân chung của cả nước; giảm dần số xã, thôn đặc biệt khó khăn; quy hoạch, sắp xếp ổn định dân cư, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, liên vùng, kết nối với các vùng phát triển; phát triển toàn diện giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa; cải thiện rõ rệt đời sống của nhân dân; nâng cao số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động là người dân tộc thiểu số; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số đi đôi với xóa bỏ phong tục tập quán lạc hậu; thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em; xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo an ninh biên giới quốc gia; củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc, nâng cao niềm tin của đồng bào các dân tộc đối với Đảng và Nhà nước.

Mục tiêu cụ thể đến năm 2025: Phấn đấu mức thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số tăng trên 2 lần so với năm 2020; tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số mỗi năm giảm trên 3%; 100% xã có đường ô tô đến trung tâm xã được rải nhựa hoặc bê tông; 70% thôn có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa. 100% số trường, lớp học và trạm y tế được xây dựng kiên cố; 99% số hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện khác phù hợp; 90% đồng bào dân tộc thiểu số được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; 100% đồng bào dân tộc thiểu số được xem truyền hình và nghe đài phát thanh; hoàn thành cơ bản công tác định canh, định cư; sắp xếp, bố trí ổn định 90% số hộ di cư không theo quy hoạch. Quy hoạch, sắp xếp, di dời, bố trí 60% số hộ dân tộc thiểu số đang cư trú phân tán, rải rác trong rừng đặc dụng, các khu vực xa xôi, hẻo lánh, nơi có nguy cơ xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở. Giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất cho đồng bào. Tỷ lệ học sinh học mẫu giáo 5 tuổi đến trường trên 98%, học sinh trong độ tuổi học tiểu học trên 97%, học trung học cơ sở trên 95%, học trung học phổ thông trên 60%; người từ 15 tuổi trở lên đọc thông, viết thạo tiếng phổ thông trên 90%.

Tăng cường công tác y tế để đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe hiện đại; tiếp tục khống chế, tiến tới loại bỏ dịch bệnh ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; 98% đồng bào dân tộc thiểu số tham gia bảo hiểm y tế. Trên 80% phụ nữ có thai được khám thai định kỳ, sinh con ở cơ sở y tế hoặc có sự trợ giúp của cán bộ y tế; giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể nhẹ cân xuống dưới 15%; 50% lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu, điều kiện của người dân tộc thiểu số; Bảo tồn và phát triển các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc; 80% thôn có nhà sinh hoạt cộng đồng; 50% thôn có đội văn hóa, văn nghệ (câu lạc bộ) truyền thống hoạt động thường xuyên, có chất lượng. Đào tạo, quy hoạch, xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, nhất là các dân tộc thiểu số tại chỗ. Bảo đảm tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số phù hợp với tỷ lệ dân số là người dân tộc thiểu số ở từng địa phương.

Định hướng mục tiêu đến năm 2030: Thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số bằng 1/2 bình quân chung của cả nước; giảm hộ nghèo xuống dưới 10%; cơ bản không còn các xã, thôn đặc biệt khó khăn; 70% số xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đạt chuẩn nông thôn mới. Chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số, hằng năm thu hút 3% lao động sang làm các ngành, nghề: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch, dịch vụ. Đến 2030, có 40% lao động người dân tộc thiểu số biết làm các ngành, nghề: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch, dịch vụ. Phấn đấu có 80% số hộ nông dân người dân tộc thiểu số làm kinh tế nông - lâm nghiệp hàng hóa; xóa tình trạng nhà ở tạm, dột nát; ngăn chặn tình trạng suy thoái môi trường sinh thái; duy trì, nâng cao tỷ lệ che phủ rừng; trên 85% số xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có đủ cơ sở hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đời sống của người dân; giải quyết căn bản tình trạng di cư không theo kế hoạch trong đồng bào dân tộc thiểu số. Quy hoạch sắp xếp, di dời, bố trí 100% hộ dân tộc thiểu số đang cư trú phân tán, rải rác trong rừng đặc dụng, các khu vực xa xôi, hẻo lánh, nơi có nguy cơ xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở. Cơ bản hoàn thành chỉ tiêu đã đề ra trong Mục tiêu quốc gia về phát triển bền vững đến năm 2030. 

QUAN ĐIỂM THỰC HIỆN ĐỀ ÁN TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2021 - 2030 LÀ GÌ?

- Rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Các chính sách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phải toàn diện, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững và phát huy lợi thế, tiềm năng của vùng và tinh thần tự lực của đồng bào dân tộc thiểu số. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền; tăng cường đồng thuận xã hội; phát huy nội lực, vượt qua khó khăn, hòa nhập phát triển cùng đất nước; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc;

- Phát huy mọi nguồn lực, khai thác tiềm năng, lợi thế để phát triển; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc. Giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức thiết; lồng ghép và bảo đảm bình đẳng giới;

- Nguồn lực nhà nước là có ý nghĩa quyết định; tăng cường hợp tác quốc tế, đa dạng hóa và xã hội hóa nguồn lực, huy động, thu hút, phát huy mọi nguồn lực để đầu tư phát triển nhanh, bền vững; nâng cao hiệu quả và mở rộng vốn tín dụng ưu đãi đối với các dự án, hộ gia đình, cá nhân trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi;

- Đầu tư phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, nâng cao đời sống; thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, thu nhập của đồng bào với bình quân chung của cả nước;

- Phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi gắn với xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia, xây dựng tuyến biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển;

- Tích hợp chính sách đồng bộ, thống nhất, thu gọn đầu mối quản lý, phân công nhiệm vụ rõ ràng; phát huy vai trò, chức năng của cơ quan công tác dân tộc; bảo đảm và nâng cao hiệu quả nguồn lực đầu tư; ưu tiên đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tập trung cho địa bàn và nhóm dân tộc đặc biệt khó khăn. 

Thứ Hai, 4 tháng 3, 2024

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY?

Tập trung hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch gắn với bảo vệ môi trường, sinh thái; hỗ trợ quảng bá, đa dạng hóa các loại hình, các sản phẩm du lịch, khai thác hợp lý các tiềm năng, danh lam thắng cảnh để phát triển du lịch.

Ưu tiên hỗ trợ hoạt động tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch; nghiên cứu, khảo sát tiềm năng du lịch, lựa chọn xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng cho các vùng dân tộc thiểu số; phát triển mô hình du lịch miền núi có sự tham gia của cộng đồng. Hỗ trợ xây dựng quy hoạch du lịch của các vùng dân tộc thiểu số phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của vùng, khu vực, địa phương. Hỗ trợ và tăng cường công tác quảng bá, xúc tiến các điểm đến, các sản phẩm du lịch; tạo điều kiện để đơn vị quản lý các điểm du lịch tham gia các sự kiện, chương trình quảng bá, xúc tiến du lịch của vùng và quốc gia.

Phát triển đa dạng các mô hình du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, du lịch nông thôn... ở vùng dân tộc thiểu số. Ưu tiên xây dựng, phát triển loại hình du lịch dựa trên địa hình miền núi, có sự tham gia của cộng đồng các vùng dân tộc thiểu số. Hỗ trợ, đẩy mạnh phát triển du lịch theo mô hình bền vững, có trách nhiệm, bảo đảm cộng đồng vùng vùng dân tộc thiểu số có quyền tham gia và hưởng lợi từ hoạt động du lịch. Hỗ trợ, phát triển du lịch cộng đồng tại các bản, làng của đồng bào theo mô hình lưu trú tại nhà dân (homestay).

Phát triển du lịch vùng dân tộc thiểu số theo hướng bền vững gắn liền với bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường, sinh thái. Tổ chức khai thác hợp lý tài nguyên, cảnh quan du lịch theo nguyên tắc khai thác gắn chặt với bảo tồn, thu hút người dân địa phương tham gia và được hưởng lợi; bảo vệ, gìn giữ môi trường tự nhiên, môi trường nhân văn tại nơi có các hoạt động du lịch.

Đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn phát triển nguồn nhân lực du lịch tại khu vực miền núi, vùng đồng bào vùng dân tộc thiểu số, nơi có tiềm năng phát triển du lịch theo hướng bảo đảm về số lượng, chất lượng và cơ cấu nhân lực du lịch, sử dụng hiệu quả và có đãi ngộ thỏa đáng nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch tại vùng vùng dân tộc thiểu số có du lịch phát triển hoặc có tiềm năng phát triển; tập trung đầu tư phát triển nhân lực du lịch là người vùng dân tộc thiểu số. 

CHÍNH SÁCH Y TẾ, DÂN SỐ ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY GỒM NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN NÀO?

Đảm bảo đồng bào các dân tộc thiểu số được sử dụng các dịch vụ y tế; thực hiện chương trình chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm y tế cho đồng bào dân tộc thiểu số theo quy định của pháp luật. Ưu tiên giải quyết các vấn đề sức khỏe của đồng bào và tăng cường khả năng tiếp cận cũng như cung cấp dịch vụ y tế, dân số có chất lượng; giảm gánh nặng chi phí chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.

Tập trung xây dựng, củng cố, mở rộng cơ sở y tế, khám chữa bệnh; đầu tư  cho y tế cơ sở, bệnh viện huyện vùng dân tộc thiểu số; phát triển mạng lưới nhân viên y tế thôn, bản; nâng cao chất lượng dịch vụ về dân số trên địa bàn; bảo đảm thuốc phòng và chữa bệnh cho đồng bào các dân tộc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn. Đầu tư xây dựng và hỗ trợ trang thiết bị cho các cơ cở y tế kết hợp quân - dân y để khám bệnh, chữa bệnh cho người dân vùng dân tộc thiểu số. Đẩy mạnh sự nghiệp xã hội hóa y tế, thực hiện chính sách ưu tiên đối với các tổ chức, cá nhân tham gia vào các hoạt động đầu tư, phát triển y tế ở vùng dân tộc thiểu số.

Tiếp tục quan tâm đào tạo, phát triển nguồn nhân lực y tế vùng dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó chú trọng đào tạo cán bộ có trình độ chuyên sâu, đặc biệt là cán bộ dân tộc thiểu số người địa phương.

          Hỗ trợ việc bảo tồn, khai thác, sử dụng những bài thuốc dân gian và phương pháp chữa bệnh cổ truyền có giá trị của đồng bào các dân tộc đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.

Bảo đảm nâng cao chất lượng dân số, phát triển dân số hợp lý của từng dân tộc theo quy định của pháp luật. Ưu tiên đầu tư và tăng cường các chiến dịch chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình đối với các vùng đông dân có mức sinh cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Ưu tiên triển khai các chương trình, dự án nâng cao chất lượng dân số đối với các dân tộc thiểu số, vùng nghèo, vùng khó khăn, người di cư và nhóm đối tượng thiệt thòi.

Tăng cường hướng dẫn các biện pháp vệ sinh phòng bệnh, tăng cường truyền thông về các bệnh lây nhiễm và không lây nhiễm, các biện pháp kế hoạch hóa gia đình, vấn đề bình đẳng giới, tác hại của tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết thống. Triển khai các chương trình tiêm chủng mở rộng, dinh dưỡng và an toàn thực phẩm, khơi dậy các phong trào luyện tập thể dục, thể thao, có lối sống lành mạnh, chế độ dinh dƣỡng hợp lý để nâng cao sức khoẻ, tầm vóc, thể lực của đồng bào dân tộc thiểu số. 

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY TẬP TRUNG Ở NHỮNG NỘI DUNG NÀO?

Nâng cao, phát triển toàn diện nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số về thể lực, trí lực và tác phong, kỷ luật, kỹ năng nghề nghiệp, cơ cấu hợp lý, trong đó ưu tiên các dân tộc thiểu số có nguồn nhân lực còn hạn chế để từng bước thu hẹp khoảng cách với trình độ chung của quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, nhu cầu thị trường lao động hiện tại và tương lai. Xây dựng đội ngũ trí thức, doanh nhân, cán bộ người dân tộc thiểu số và lao động trực tiếp có chất lượng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững, bảo đảm quốc phòng an ninh quốc gia và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Về nâng cao thể lực: Đảm bảo y tế, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho đồng bào, nhất là ở miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, 16 dân tộc có dân số dưới 10.000 người và nhóm dân tộc có chất lượng nguồn nhân lực thấp. Từng bước nâng tuổi thọ bình quân của người dân; quan tâm nâng thể trạng, tầm vóc của đồng bào, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi. Thực hiện tốt chính sách đối với phụ nữ, bà mẹ, trẻ em, sức khỏe thanh niên tiền hôn nhân.

Về phát triển trí lực: Đảm bảo phần lớn trẻ em người dân tộc thiểu số trong độ tuổi nhà trẻ và trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non, nâng cao tỷ lệ học sinh người dân tộc thiểu số đi học đúng độ tuổi. Phấn đấu đến năm 2030, số sinh viên đại học, cao đẳng người dân tộc thiểu số đạt từ 130-150 sinh viên/vạn dân; đào tạo sau đại học đạt tỷ lệ khoảng 0,7% trong tổng số lao động dân tộc thiểu số đã qua đào tạo; tỷ lệ người dân tộc thiểu số trong độ tuổi lao động được đào tạo các chương trình giáo dục nghề nghiệp đạt trên 45%.

Về nâng cao kiến thức xã hội, kỹ năng sống, kỹ năng lao động và thông tin thị trường: Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, rèn luyện kỹ năng sống, khả năng hội nhập quốc tế cho học sinh người dân tộc thiểu số. Việc đào tạo nghề và các chương trình giáo dục nghề nghiệp phải phù hợp với trình độ, văn hóa, ngôn ngữ của đồng bào dân tộc thiểu số và đặc điểm vùng miền; phát triển các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao, nghề trọng điểm theo các cấp độ và các trường, khoa giáo dục nghề nghiệp nội trú. Bố trí những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã kiêm nhiệm theo dõi công tác giáo dục nghề nghiệp và giới thiệu việc làm cho người lao động. 

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY GỒM NHỮNG NỘI DUNG NÀO?

Phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số theo chương trình chung quốc gia; xây dựng chính sách giáo dục ở tất cả các cấp học phù hợp với đặc thù dân tộc.

Phát triển trường mầm non, trường phổ thông, trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng, trường dạy nghề, trường dự bị đại học; nghiên cứu hình thức đào tạo đa ngành bậc đại học cho con em các dân tộc thiểu số để đẩy nhanh việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

Quy định các điều kiện và biện pháp cụ thể, phù hợp để hỗ trợ cho học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số; giải quyết chỗ ở, học bổng và cho vay vốn trong thời gian học tập phù hợp với ngành nghề đào tạo và địa bàn cư trú của sinh viên dân tộc thiểu số. Học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số rất ít người, ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn được miễn học phí ở tất cả các cấp học, ngành học.

Đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo nghề cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số phù hợp với đặc điểm từng vùng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập Quốc tế.

Quy định việc hỗ trợ giáo viên giảng dạy tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; đào tạo giáo viên là người dân tộc thiểu số và giáo viên dạy tiếng dân tộc.

Tiếng nói, chữ viết và truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc được đưa vào chương trình giảng dạy trong các trường phổ thông, trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng, trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học phù hợp với địa bàn vùng dân tộc.

Chính quyền địa phương, nơi có con em dân tộc thiểu số thi đỗ vào Đại học, Cao đẳng và sinh viên được cử đi học hệ cử tuyển, có trách nhiệm tiếp nhận và phân công công tác phù hợp với ngành nghề đào tạo sau khi tốt nghiệp.

Các Bộ Giáo dục và Đào tạo, Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Dân tộc căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành những nội dung này. 

CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY GỒM NHỮNG NỘI DUNG NÀO?

Về quy hoạch và thực hiện quy hoạch: Có quy hoạch chung xây dựng xã được phê duyệt và được công bố công khai đúng thời hạn, đảm bảo thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với ứng phó với biến đổi khí hậu, quá trình đô thị hóa của các xã và đảm bảo tiêu chí môi trường nông thôn. Ban hành quy định quản lý quy hoạch chung xây dựng xã và tổ chức thực hiện theo quy hoạch.

Về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội: tập trung đầu tư, đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống của người dân trên địa bàn xã theo quy hoạch đã được phê duyệt gắn với bố trí, ổn định dân cư đảm bảo phòng chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu đang diễn biến ngày càng phức tạp. Vận dụng sáng tạo và ban hành các cơ chế đặc thù hỗ trợ và huy động các nguồn lực triển khai xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông nông thôn.

Về kinh tế và tổ chức sản xuất: Phát triển kinh tế để nâng cao thu nhập cho người dân; giải quyết những khó khăn và tạo sinh kế bền vững cho đồng bào. Thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp có hiệu quả, trong đó hỗ trợ nhân rộng các mô hình chuyển đổi kinh tế, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản chủ lực đảm bảo bền vững. Tăng tỷ lệ người có việc làm trên dân số trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động.

Về văn hóa - xã hội, môi trường: Xã đạt chuẩn các cấp phổ cập giáo dục, đạt chuẩn quốc gia về y tế. Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực; gia tăng tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được tiếp tục học trung học và tỷ lệ lao động có việc làm qua đào tạo, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế. Phát triển đời sống văn hóa; thôn, bản, ấp đạt tiêu chuẩn văn hóa theo quy định, phòng chống tệ nạn xã hội, đặc biệt đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn. Chú trọng đến các vấn đề về bảo vệ môi trường và tạo cảnh quan nông thôn sáng - xanh - sạch - đẹp, an toàn.

Về xây dựng hệ thống tổ chức chính trị và quốc phòng, an ninh: Các tổ chức trong hệ thống chính trị của xã được kiện toàn đầy đủ, chất lượng và hiệu quả hoạt động đạt loại khá trở lên. Cán bộ, công chức xã đạt chuẩn; nâng cao chất lượng cán bộ tại chỗ; chú trọng công tác luân chuyển, tăng cường, bố trí cán bộ có năng lực, tâm huyết với vùng dân tộc thiểu số. Xây dựng nông thôn mới gắn liền với nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới. Xây dựng lực lượng dân quân “vững mạnh, rộng khắp” và hoàn thành các chỉ tiêu quốc phòng. Xã đạt chuẩn an toàn về an ninh, trật tự xã hội và đảm bảo bình yên: không có khiếu kiện đông người kéo dài; không để xảy ra các vụ việc phức tạp, “điểm nóng”; tội phạm và tệ nạn xã hội được kiềm chế, giảm liên tục hàng năm. 

CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ UY TÍN Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ĐƯỢC QUY ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO?

Người có uy tín được lựa chọn từ cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang theo quy định của pháp luật hiện hành có quá trình công tác lâu năm, có cống hiến cho dân tộc, đất nước đã nghỉ công tác; già làng, trưởng thôn, trưởng dòng họ hoặc những người thường được đồng bào dân tộc thiểu số mời thực hiện các nghi lễ cầu cúng cho gia đình, dòng họ, bản làng; chức sắc, chức việc trong các tôn giáo ở vùng dân tộc thiểu số; nhân sĩ, trí thức, doanh nhân, nhà giáo, người hành nghề chữa bệnh giỏi hoặc người có điều kiện kinh tế thường giúp đỡ và được đồng bào tín nhiệm. Người có uy tín được bình chọn, công nhận 05 năm một lần.

Quyết định số 12/2018/QĐ-TTg ngày 06/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ, quy đinh chế độ, chính sách cụ thể đối với người có uy tín như sau:

Về cung cấp thông tin: Định kỳ hoặc đột xuất người có uy tín được phổ biến, cung cấp thông tin mới về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tình hình, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh trật tự và kết quả thực hiện các Chương trình, dự án, chính sách dân tộc đang thực hiện ở địa phương. Người có uy tín được cấp (không thu tiền): 01 tờ Báo Dân tộc và Phát triển của Ủy ban Dân tộc; 01 tờ báo tỉnh hoặc hình thức cung cấp thông tin khác phù hợp đối với người có uy tín do địa phương lựa chọn. Người có uy tín được tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, quốc phòng, an ninh, chính sách dân tộc và kỹ năng hòa giải, tuyên truyền, vận động quần chúng. Tùy vào tình hình cụ thể của từng địa phương người có uy tín được thăm quan, học tập, trao đổi kinh nghiệm trong và ngoài tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, giữ gìn bản sắc văn hóa và đoàn kết dân tộc do địa phương xác định, thực hiện.

Về hỗ trợ vật chất, động viên tinh thần: Người có uy tín được thăm hỏi, tặng quà nhân dịp Tết Nguyên đán, Tết của các dân tộc thiểu số; thăm hỏi, hỗ trợ khi ốm đau, gia đình gặp khó khăn (thiên tai, hỏa hoạn); thăm viếng, động viên khi người có uy tín, thân nhân trong gia đình (bố, mẹ, vợ, chồng, con) qua đời.

Về khen thưởng: Người có uy tín có thành tích xuất sắc trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ an ninh, trật tự, giữ gìn bản sắc văn hóa và đoàn kết dân tộc được biểu dương, khen thưởng theo quy định của Luật Thi đua, khen thưởng và các văn bản hướng dẫn hiện hành. Các đoàn đại biểu người có uy tín do địa phương tổ chức đến thăm, làm việc tại các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc các cấp ở Trung ương và địa phương được đón tiếp, tặng quà lưu niệm. 

Thứ Sáu, 2 tháng 2, 2024

CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM GỒM NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN NÀO?

Đảm bảo việc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, kết cấu hạ tầng thiết yếu vùng dân tộc thiểu số; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, bảo vệ môi trường sinh thái, phát huy tinh thần tự lực, tự cường của các dân tộc.

Tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đầu tư phát triển ở vùng dân tộc thiểu số; ưu tiên đặc biệt đối với dân tộc thiểu số rất ít người và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; chú trọng đào tạo nghề, sử dụng lao động là người tại chỗ, đảm bảo thu nhập ổn định, xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng khác.

Khôi phục và phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số, phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường.

Chủ đầu tư các dự án quy hoạch, xây dựng có ảnh hưởng tới đất đai, môi trường, sinh thái và cuộc sống của đồng bào các dân tộc, phải công bố công khai và lấy ý kiến của nhân dân nơi có công trình, dự án được quy hoạch, xây dựng quy định của pháp luật; tổ chức tái định cư, tạo điều kiện để người dân đến nơi định cư mới có cuộc sống ổn định tốt hơn nơi ở cũ. Chính quyền ở nơi có người đến định cư có trách nhiệm phối hợp với chủ đầu tư đảm bảo định canh, định cư lâu dài, tạo điều kiện để đồng bào ổn định cuộc sống.

Thực hiện quy hoạch, sắp xếp các điểm dân cư tập trung một cách hợp lý đối với những địa bàn khó khăn, đảm bảo cho đồng bào phát triển sản xuất phù hợp với đặc điểm dân tộc, vùng miền.

Thực hiện các chương trình, đề án xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, giải quyết cơ bản vấn đề vốn, đất ở, đất sản xuất, công cụ sản xuất cho nông dân thiếu đất, nhà ở, nước sinh hoạt, hỗ trợ phát triển kinh tế, giao đất, giao rừng cho hộ gia đình ở vùng dân tộc thiểu số, chuyển dịch cơ cấu lao động, ngành nghề, theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững.

Tổ chức phòng, chống thiên tai và ứng cứu người dân ở vùng bị thiên tai, lũ lụt. Hỗ trợ kịp thời những dân tộc thiểu số có khó khăn đặc biệt để ổn định và phát triển. 

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY GỒM NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN NÀO?

Tập trung nâng cao dân trí. Thực hiện có hiệu quả việc xóa mù chữ, nâng cao trình độ học vấn cho thanh niên và cán bộ cơ sở. Có quy hoạch và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị các cấp, đội ngũ các nhà khoa học người dân tộc thiểu số, đáp ứng yêu cầu phát triển mọi mặt của từng vùng, từng dân tộc.

Tăng cường đầu tư cho các trường học. Xây dựng các loại trường, lớp nội trú, bảo đảm đủ giáo viên và chỗ học cho con em các dân tộc thiểu số. Các dân tộc thiểu số có chữ viết được khuyến khích học chữ dân tộc, song song với chữ phổ thông, đồng thời có cơ chế, chính sách quy định cán bộ dân tộc Kinh công tác tại vùng dân tộc thiểu số học tiếng dân tộc thiểu số để làm việc tốt hơn.

Mở rộng hệ đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số trong hệ thống trường đảng, trường đoàn thể, trường hành chính và lực lượng vũ trang theo chương trình đổi mới. Có chính sách ưu tiên, tuyển chọn cán bộ dân tộc thiểu số vào các trường đào tạo bậc đại học, cao đẳng, dạy nghề. Củng cố các trường dự bị đại học, xây dựng các trường đại học khu vực, đại học cộng đồng. Chấn chỉnh lại chính sách cử tuyển, bảo đảm đúng đối tương. Thực hiện miễn giảm học phí cho con em người dân tộc thiểu số học trong các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.

Thực hiện tốt chính sách, chế độ khuyến khích đối với các cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ công tác ở miền núi, nhất là các vùng sâu, vùng xa, vùng cao và thu hút chuyên gia, các nhà khoa học phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp phát triển miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.