Thứ Hai, 1 tháng 4, 2024

VIỆT NAM KHÔNG CẦN CHẾ ĐỘ ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG

Sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định bảo đảm sự thành công của cách mạng Việt Nam. Đó là sự thật hiển nhiên, được nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế thừa nhận. Vậy mà, đâu đó vẫn tồn tại những luận điệu lạc lõng, muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và hướng lái con đường phát triển của Việt Nam theo hướng đa nguyên, đa đảng. Điển hình như bài viết “Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên bước vào tuổi 42” của Nguyễn Gia Kiểng, cựu quan chức Việt Nam Cộng hòa, thành viên sáng lập ra Tập hợp Dân chủ Đa nguyên, được tán phát rộng rãi trên nhiều diễn đàn phản động. Với góc nhìn thiển cận và có phần lú lẫn (do tuổi già), y lớn tiếng kêu gọi tranh đấu vì một tương lai khác cho đất nước, để thiết lập chế độ dân chủ đa nguyên. Đây là luận điệu phản khoa học, cổ súy cho việc thực hiện chế độ đa nguyên ở Việt Nam, muốn hướng lái con đường phát triển của đất nước và phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để nhận rõ mưu đồ này, chúng ta cần thống nhất nhận thức trên một số vấn đề:

Thứ nhất, thực hiện đa nguyên, đa đảng không đồng nghĩa với mở rộng dân chủ, không bảo đảm được sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước. Hiện nay có nhiều luồng ý kiến khác nhau, cho rằng thực hiện đa nguyên, đa đảng sẽ tạo nên “sự cạnh tranh” bình đẳng giữa các đảng phái, từ đó mở rộng được quyền dân chủ, quyền tham gia vào các hoạt động chính trị của người dân. Mô hình này tốt hơn nhiều so với “độc đảng”. Nhưng hiện thực thế giới lại chứng minh một điều ngược lại. Chế độ đa nguyên, đa đảng ở các quốc gia tư bản chỉ là vỏ bọc để thực hiện nhất nguyên, nhất đảng – đảng của giai cấp tư sản. Ngay như ở Mỹ, dù đảng Dân chủ hay đảng Cộng hòa nắm quyền thì đều là đảng của giai cấp tư sản, bảo vệ quyền lợi thiểu số cho giai cấp tư sản và những người có tiền trong xã hội. Dân chủ không thực sự có đối với người dân, đặc biệt là người da màu. Một nước Mỹ được coi là thiên đường dân chủ, một hình mẫu đa nguyên đa đảng, nhưng dân nghèo vẫn không có quyền bình đẳng, người da màu vẫn bị đối xử bất công. Đói nghèo, bệnh tật, thất học, sống vô gia cư… luôn là nỗi lo thường trực của người dân Mỹ. Còn việc tham gia vào các hoạt động chính trị cũng khá xa vời. Các đời tổng thống Mỹ đều được quyết định bởi các phiếu “đại cử tri” chứ không phải những phiếu phổ thông của người dân – mặc dù họ vẫn được đi bầu cử. Tiếng nói của người dân đòi hỏi về an sinh xã hội chỉ được đáp ứng một phần, nếu như nó có tác dụng gây thanh thế cho đảng phái hay một chính trị gia nào đó đang tranh cử. Nhìn vào nước Mỹ và nhiều nước tư bản khác để chúng ta nhận định rõ bản chất thật sự của đa nguyên, đa đảng. Chế độ đó không phải là “màu hồng”, không phải là sự lựa chọn đúng đắn. Nó mang đến nhiều hệ lụy mà người gánh chịu trực tiếp là số đông dân nghèo trong xã hội.

Thứ hai, lịch sử cách mạng Việt Nam đã phủ nhận chế độ đa nguyên, đa đảng. Không phải ngay từ ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã tuyên bố giành độc quyền lãnh đạo. Việt Nam cũng từng tồn tại nhiều đảng phái, theo những hệ tư tưởng khác nhau. Tuy nhiên, đứng trước vận mệnh dân tộc, những đòi hỏi của phong trào đấu tranh cách mạng, các đảng phái khác đã tỏ rõ sự yếu kém, từng bước thui chột, từ bỏ quyền lãnh đạo, thậm chí còn quay sang phản bội nhân dân. Lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc đã tạo nên “màng lọc” khắt khe, để rồi có một sự lựa chọn duy nhất đúng đắn về lực lượng lãnh đạo – đó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự vĩ đại của Đảng được thể hiện rõ nét trong những “khúc quanh” của lịch sử. Đảng không kiên quyết, chủ động, sáng tạo chớp thời cơ thì sao có Cách mạng tháng Tám, giải thoát ách nô lệ hàng trăm năm cho dân tộc. Đảng không nêu cao quyết tâm “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” thì sao có ngày thống nhất đất nước, non sông thu về một mối. Đảng không tìm tòi, sáng tạo, dám làm, dám chịu trách nhiệm thì sao có công cuộc đổi mới, để Việt Nam có cơ đồ, tiềm lực, vị thế quốc tế chưa từng có như ngày hôm nay. Đa nguyên, đa đảng vẫn tồn tại trên khắp thế giới, nhưng nó không phải sự lựa chọn của Việt Nam. Nhân dân Việt Nam tin tưởng vào sự lựa chọn của mình, tin tưởng vào sự lãnh đạo của một chính Đảng duy nhất – Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực tế đó không luận điệu xảo trá nào có thể xuyên tạc được.

Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên vẫn đang tồn tại lay lắt với những con người “gần đất xa trời” như Nguyễn Gia Kiểng. Chúng ta không cần quá bận tâm đến những hoạt động vô bổ của tập hợp chính trị này. Những quan tâm “lo ngại” của họ về chế độ nhất nguyên “độc đảng” ở Việt Nam chỉ là những luận điệu lạc lõng, không thể che mờ được hiện thực tươi sáng của đất nước. Lịch sử cách mạng nước ta vẫn vững bước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và cuốn trôi những luận điệu ấy./. 

CHỦ ĐỘNG PHÒNG NGỪA NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH GÓP PHẦN BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Sau gần 40 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng đất nước ta đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tuy vậy, trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có những diễn biến phức tạp, khó lường; thuận lợi, thời cơ đan xen với khó khăn, thách thức, đặt ra nhiều vấn đề mới, cấp bách đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách xuyên tạc chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc ta, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng ta, hòng làm giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Mới đây, trên nhiều diễn đàn mạng xã hội xuất hiện bài viết: “Bệnh ung thư của chế độ” của Phạm Hồng Sơn, có nội dung xuyên tạc Đảng và vị trí, vai trò người đứng đầu của Đảng ta. Y hồ đồ nói rằng: “ĐCSVN sẵn sàng tiếp tay cho quân cướp nước, nhượng chủ quyền đất nước cho ngoại bang…” và “Các quan chức lớn của ĐCSVN cũng tận lực đục khoét, bòn rút tài nguyên, công quỹ của dân…” Phạm Hồng Sơn thật đúng là giả dối, trơ trẽn, bởi lẽ:

Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam là đạo đức, là văn minh, người đứng đầu của Đảng và Nhà nước luôn hết lòng vì dân, vì nước.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng ta luôn trọn vẹn tấm lòng thủy chung vì dân tộc, vì Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân mà chiến đấu; biết đặt mình trong sinh mệnh của nhân dân, gắn bó với lợi ích quốc gia – dân tộc, hết lòng vì dân, vì nước. Đảng ta quang minh, chính đại, luôn “dĩ công vi thượng”, không che giấu hạn chế, khuyết điểm; trung thực, dũng cảm nhận sai lầm và kiên quyết đấu tranh sửa chữa, khắc phục để luôn tiến bộ, trưởng thành, để dân yêu, dân mến, dân tin. Đảng là đạo đức, là văn minh được thể hiện rất chân tình, giản dị, ấm áp, đi vào lòng người bởi những phẩm chất đạo đức và những giá trị văn hóa dân tộc đặc sắc của Đảng, thấm nhuần sâu sắc vào từng cán bộ, đảng viên của Đảng, suốt đời tận trung với Đảng, trọn hiếu với dân.

Thứ hai, thực tiễn quá trình lãnh đạo cách mạng đã khẳng định bản chất, trí tuệ, bản lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam mà không phần tử nào có thể xuyên tạc được.

Trải qua 94 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình, 15 năm sau khi thành lập, Đảng ta đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đánh đuổi đế quốc, thực dân, lật đổ chế độ phong kiến, lập ra nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á; mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam – kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tiếp đó, Đảng lãnh đạo toàn dân, toàn quân tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954) và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975) giành thắng lợi, thu non sông về một mối. Sau ngày thống nhất đất nước, trước đòi hỏi từ thực tiễn, Đảng ta đã chủ động khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước (1986). Những thành tựu to lớn, “có ý nghĩa lịch sử” trong gần 40 năm đổi mới trên các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng – an ninh, vai trò vị thế Việt Nam ngày càng nâng cao trên trường quốc tế. Chưa bao giờ Việt Nam có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế vững chắc như hiện nay. Điều đó khẳng định tính đúng đắn và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhân dân, dân tộc Việt Nam có quyền tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam – Lực lượng lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân.

Nhân dân Việt Nam luôn vững tin theo Đảng. Cho dù, những kẻ phản động như Sơn có dùng trăm mưu, nghìn kế để xuyên tạc, bôi nhọ nói xấu Đảng và người đứng đầu của Đảng cũng không phủ nhận được hiện thực khách quan đó. Dưới sự lãnh đạo sang suốt của Đảng, dân tộc Việt Nam sẽ luôn vững bước trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh./. 

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC LÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN KHOA HỌC TRỰC TIẾP CHO GIAI CẤP CÔNG NHÂN, NHÂN DÂN LAO ĐỘNG TIẾN HÀNH CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Chủ nghĩa Mác - Lênin là khoa học, cách mạng và nhân văn, tính lôgic, biện chứng của chủ nghĩa xã hội khoa học ở chỗ, nếu như ở mỗi nội dung của triết học là hạt nhân thế giới quan, phương pháp luận; kinh tế chính trị học luận bàn mối quan hệ của con người trong sản xuất và phân phối…thì chủ nghĩa xã hội khoa học là lý luận trực tiếp cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động tiến hành tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Khẳng định vấn đề này, C.Mác khẳng định “…lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”[1]. Thật vậy, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trong lịch sử diễn ra với nhiều hình thức từ đấu tranh kinh tế, đấu tranh tư tưởng và cao nhất là đấu tranh chính trị. Để đấu tranh có kết quả, giành thắng lợi thì cần có lý luận soi đường, dẫn lối, xác định mục tiêu, phương hướng, phương pháp cách mạng để làm chuyển biến cách mạng từ hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa lên hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là xã hội chủ nghĩa được chia ra các giai đoạn của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.

Vì thế, chủ nghĩa xã hội khoa học thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, giữa lý luận với phong trào, giữa lý tưởng với hiện thực. Lịch sử thế giới tự so sánh, Công xã Paris chỉ tồn tại 72 ngày (18/3 đến 28/5/1871) và thất bại khi phong trào chưa được truyền bá lý luận cách mạng sâu rộng trong giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Vượt lên, Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 là sự hội tụ kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân nhằm giải quyết những mâu thuẫn cơ bản của thời đại, hội tụ ở nước Nga, một nước tư bản trẻ. Ở đó, V.I.Lênin - người học trò xuất sắc của C.Mác, Ph.Ăngghen đã bảo vệ, bổ sung, phát triển, hoàn thiện, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa xã hội khoa học vào thực tiễn cách mạng. Cách mạng Tháng Mười đã làm cho chủ nghĩa xã hội từ lý luận trở thành hiện thực, mở ra thời đại mới quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Đánh giá về sự vĩ đại, tầm vóc của cuộc cách mạng này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”[2].

Đối với các nước chưa tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa xã hội khoa học đã trực tiếp chỉ ra đối tượng cách mạng, giai cấp công nhân được trang bị lý luận khoa học, cách mạng sẽ hoàn toàn có thể nhận diện được những mâu thuẫn vốn có trong lòng các nước tư bản chủ nghĩa mà tập trung là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản dù chúng có điều chỉnh, thích nghi, “ứng xử” với lao động làm thuê thế nào thì “về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công”[3], để thấy hết khả năng, tiềm năng của cách mạng xã hội chủ nghĩa, sự thay thế lẫn nhau về hình thái kinh tế - xã hội ngay trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa là một tất yếu, sự tự thân từ động lực tự nó trong xã hội để giai cấp công nhân nhận thấy rõ vai trò lịch sử của mình rằng, “giải phóng giai cấp công nhân là sự nghiệp của bản thân công nhân”[4] mà V.I.Lênin đã nhấn mạnh trong đề cương bài viết đăng trên tạp chí Giáo dục, số 3, tháng Ba 1913: “Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác”[5]. Đối với các nước đã tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội vừa kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, vừa cần tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận để bổ sung, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học, làm cho lý luận, thực tiễn thống nhất với nhau, gắn bó mật thiết, lý luận chỉ đạo thực tiễn cách mạng xã hội chủ nghĩa và đến lượt nó, cách mạng xã hội chủ nghĩa là minh chứng sinh động, là tiêu chuẩn để kiểm nghiệm lý luận. Và cũng là cương lĩnh đanh thép đối với các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị xuyên tạc chống phá phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, vừa có sự thống nhất vừa có sự khác biệt với triết học Mác - Lênin, kinh tế chính trị học Mác - Lênin, tính thống nhất đó thể hiện ở sự “chụm lại” của một học thuyết cách mạng và khoa học là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của giai cấp công nhân và nhân dân lao động tiến bộ trên thế giới. Nhưng, chủ nghĩa xã hội khoa học với đối tượng nghiên cứu của mình là cơ sở lý luận khoa học trực tiếp nhất về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội để giai cấp công nhân, đội tiền phong là các đảng cộng sản vận dụng sáng tạo, phù hợp với thực tiễn để thực hiện cuộc cách mạng xã hội đi đến thành công.

Ở Việt Nam, từ khi ra đời, Đảng ta kiên định, trung thành “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”[6], đúng như Hồ Chí Minh khẳng định “Bây giờ chủ nghĩa nhiều, học thuyết nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”[7]. Trong đó, lý luận trực tiếp của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã soi sáng con đường, mô hình, đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”[8].



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.1, tr.580.

 

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.15, tr.387.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.68.

[4] V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.23, tr.559.

[5] V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.23, tr.559.

[6] Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI thông qua ngày ngày 19 tháng 1 năm 2011, Nxb.Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.4.

[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.2, tr.289.

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.70. 

TIẾP TỤC BẢO VỆ, BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC TỪ THỰC TIỄN PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG, THỰC TIỄN CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Chủ nghĩa xã hội khoa học là lý luận trực tiếp cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức có sức sống trường tồn luôn được bổ sung bởi thực tiễn cách mạng thế giới, nhất là thực tiễn - phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, thực tiễn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Với lý luận khoa học và cách mạng do bản chất nội tại của nó, với những bước tiến thăng trầm của lịch sử, dù tiếp cận chủ nghĩa xã hội là một học thuyết, chủ nghĩa xã hội là một phong trào hay chủ nghĩa xã hội là một chế độ thì nó thống nhất với nhau, gắn bó mật thiết với nhau. Thực tiễn phong trào cách mạng của giai cấp công nhân được biểu hiện ở những mức độ khác nhau, nhưng về căn bản hiện nay, quan hệ giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản về địa vị kinh tế - xã hội là không thay đổi. Điều đó, chứng minh giai cấp công nhân có sứ mệnh thủ tiêu giai cấp tư sản, thiết lập một xã hội mới xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

Từ bản chất nội tại và sức sống của chủ nghĩa xã hội khoa học, vấn đề tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học là nguyên tắc sống còn đối với những người xã hội chủ nghĩa, đúng như V.I.Lênin đã căn dặn chúng ta rằng: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”[1].

Thực tiễn biến đổi thì chủ nghĩa xã hội khoa học cần phải không ngừng được bổ sung, phát triển, gắn liền với đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bởi vì, “Trước đây, khi còn Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam dường như không có gì phải bàn, nó mặc nhiên coi như đã được khẳng định. Nhưng từ khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt”[2], thừa cơ, “giậu đổ bìm leo” “…các nhà tư tưởng và lý luận chống cộng và xã hội - dân chủ cũ và mới cả những kẻ hôm qua đã từng là cộng sản hôm nay đang “sám hối” về sự “khờ dại” của mình, ra sức bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, bêu xấu lý tưởng xã hội chủ nghĩa, hết lời ca ngợi chủ nghĩa tư bản. Trong con mắt của họ, thế kỷ XXI là thế kỷ toàn thắng và phồn vinh của chủ nghĩa tư bản trên toàn thế giới”[3], trực tiếp những luận điểm tập trung chống phá là chúng phủ nhận học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội.

Bảo vệ, bổ sung và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học hiện nay cần gắn liền với phòng chống về suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ đảng viên và nhân dân. Mỗi cán bộ đảng viên cần thật sự có niềm tin khoa học vào chủ nghĩa xã hội khoa học, niềm tin vào phong trào cách mạng và tiềm năng hiện thực của nó. Đẩy mạnh nghiên cứu, học tập, nắm vững lý luận, thường xuyên cập nhật bổ sung những nội dung mới làm phong phú, sâu sắc thêm lý luận phấn đấu “Từ nay đến năm 2030, tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống các quan điểm về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nâng cao năng lực khoa học phục vụ phát triển công tác lý luận, bảo đảm cung cấp các luận cứ khoa học, lý luận vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[4]. Đồng thời, đấu tranh quyết liệt với những biểu hiện lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, góp phần làm phong phú, sâu sắc thêm chủ nghĩa xã hội khoa học - bộ phận cấu thành lôgic, biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin./.



[1] V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.4, tr.232.

[2] Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb.Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.18.

[3] Trung tướng, Giáo sư, NGND Trần Xuân Trường, Về định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam lý luận và thực tiễn, tuyển tập, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2008, tr.15.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030, Số 37-NQ/TW, Hà Nội, ngày 09/12/2014, tr.3.

  

MỘT SỐ QUAN ĐIỂM SAI TRÁI CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH THƯỜNG SỬ DỤNG CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA

Thời gian gần đây, trên một số mạng xã hội, có cá nhân, thậm chí có những người dưới danh nghĩa đảng viên "trung thành" viết và phát tán trên mạng internet "thư ngỏ" với những hình thức khác nhau, nhiều quan điểm sai trái, phê phán, thậm chí xuyên tạc Cương lĩnh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ cho rằng "Công cuộc đổi mới của Đảng... vẫn giữ nguyên thể chế độc đảng toàn trị kìm hãm tự do, dân chủ và chia rẽ dân tộc". Họ "kiến nghị" "thay đổi Cương lĩnh, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ", đòi thực hiện đa nguyên, đa đảng...Chúng rêu rao rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn con đường sai, không thể có chủ nghĩa xã hội. Không ít kẻ đã lớn tiếng rằng "chủ nghĩa xã hội chính là bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản tiến tới chủ nghĩa tư bản, những ước mơ của chủ nghĩa xã hội thì chính chủ nghĩa tư bản đã thực hiện rồi, rằng người ta có thể dể dàng tìm thấy ở chủ nghĩa tư bản những lời giải đáp đầy đủ cho mọi vấn đề được đặt ra trong đời sống loài người. Tóm lại, người ta muốn nói những người mácxít bàn về chủ nghĩa xã hội chẳng khác nào bàn về hư vô". Đây 1à việc làm vi phạm Điều lệ Đảng, Quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm.

Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn có thể khẳng định, "Thư ngỏ" mà một số người đưa ra không có gì mới và xa lạ với thực tiễn của công cuộc đổi mới đất nước suốt 35  năm qua của nhân dân ta. Chúng ta cũng không phủ nhận, trong nhiều năm qua, xã hội ta vẫn còn tổn tại nhiều vấn đề kinh tế, xã hội chưa được giải quyết như xu hướng phân hóa giàu - nghèo chưa được ngăn chặn và đẩy lùi. Đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa, công nhân ở nhiều khu công nghiệp còn thiếu thốn, khó khăn; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên các cấp dẫn đến làm suy giảm lòng tin của nhân dân. Nghi quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng chì rõ: 'Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu tham nhũng, lãng phí là nghiêm trọng. Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình", gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền" hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Trong nội bộ những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, "tự diễn biến", "tự chuyền hoá" có những diễn biến phức tạp"1. Điều đặc biệt chú ý là trong xây dựng chỉnh đốn Đảng cần xác định, chống chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng được xem như một nội dung liên quan trực tiếp tới vận mệnh của Đảng và quyết định đến thành công của sự nghiệp cách mạng ở nước ta.

Như vậy, nếu đi theo con đường mà một số người kiến nghị: "Chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ "... thì kịch bản và hậu quả sẽ như thế nào?

Họ không hề quan tâm đến sự khác biệt giũa các quốc gia, dân tộc, vùng miền: giữa các nước ở phương Đông và phương Tây, cũng như đặc điểm văn hóa, chính trị, kinh tế, phong tục, tập quán của mỗi quốc gia, dân tộc, vùng miền. Bằng văn hóa và lối sống phương Tây, họ đang muốn phủ lên các quốc gia, dân tộc đang phát triển "làn sóng văn hóa dân chủ, nhân quyền phương Tây", buộc mọi người phải thừa nhận rằng, chỉ có văn hóa dân chủ, nhân quyền phương Tây mới là hình mẫu chuẩn mực nhất. Sự giáo điều về lý luận ấy đã và đang hợp lý hóa các hành vi bạo lực "đánh trước", "đánh phủ đầu” nhằm "phòng, chống, ngăn chặn chủ nghĩa khủng bố để bảo vệ các giá trị dân chủ, nhân quyền  phương Tây", kể cả chiến lược "diễn biến hòa bình".

Sự thật về lòng "trung thành” của nhóm "Thư ngỏ" đã và đang tung ra luận thuyết "dân chủ không biên giới", "nhân quyền cao hơn chủ quyền" và coi đó là chuẩn mực để thực hiện "chủ nghĩa can thiệp mới" và sẵn sàng đổi trắng thay đen. Trong những năm gần đây chúng ta đã chứng kiến một số thành công của mô hình "thúc đẩy xã hội dân sự", lật đổ chế độ chính trị ở một số quốc gia Đông Âu. Trung Đông như ở Irắc, Libi, Ai Cập, Xyri và gần đây là ở Ukraina,... bằng các cuộc Cách mạng màu", "Cách mạng hoa" bắt nguồn từ các "xã hội dân sự". Lợi dụng quyền tự do lập hội để lập ra nhiều hội, nhóm không đúng quy định pháp luật, gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước của các cơ quan chức năng, thậm chí trá hình, hoạt động chống Đảng, Nhà nước Việt Nam. Thử hỏi, nếu họ là những cán bộ, đảng viên “trung thành” thì tại sao có ý kiến khác hoặc trái với đường lối, quan điểm của Đảng lại không trình bày tại các hội nghị nội bộ chi bộ, đảng bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng mà lại tùy tiện phát tán tin trên các phương tiện thông tin đại chúng trong và ngoài nướcc; làm trái Điều lệ Đảng và Quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm.

Chúng ta hiểu rằng, chiêu bài "dân chủ, nhân quyền” chỉ là một trong những âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" mà các thế lực thù địch đã và đang áp dụng nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Vì thế, hai trong nhiều vấn đề then chốt của các học thuyết "dân chủ, nhân quyền kiểu phương Tây cần áp dụng đốì với Việt Nam" là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng và vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng Cộng sản. Họ sử dụng chiêu bài "dân chủ, nhân quyền" nhằm mục đích từng bước phá hoại Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, không thừa nhận chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang đồng tâm gắng sức xây đắp nên. Họ cũng cố tình xuyên tạc, vu cáo Việt Nam "thiếu nền dân chủ", "vi phạm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo", lấy đó làm cớ để tuyên truyền sai lệch, nhằm kích động những phần tử bất mãn, phản động chống đối Đảng, Nhà nước ta, tiến tới phủ nhận con đường, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. 

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN THÀNH TỰU BẢO ĐẢM NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Lợi dụng vấn đề nhân quyền để chống phá sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam là thủ đoạn mà các thế lực thù địch thường xuyên sử dụng với nhiều chiêu trò tinh vi. Chúng thường sử dụng một số vụ việc tiêu cực, những hiện tượng sai lệch mà quy chụp thành bản chất. Những thông tin để làm căn cứ đánh giá, báo cáo, xếp loại nhân quyền Việt Nam của một số tổ chức quốc tế thiếu thiện chí đều khai thác từ số đối tượng thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị, số này luôn có những hành động hủy hoại mọi nỗ lực bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam. Khi không có bất kỳ các hoạt động khảo sát, trải nghiệm vấn đề nhân quyền của một quốc gia thì mọi đánh giá về nhân quyền của quốc gia đó đều mang tính chủ quan, thiếu tính thực tiễn, sai lệch.

Quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước Việt Nam là: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân là mục tiêu phấn đấu”; “Phát triển con người toàn diện và xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”; “…con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng của đất nước”. Quan điểm này đã và đang tiếp tục được triển khai thực hiện nghiêm túc trên thực tế.

Trong hệ thống pháp luật ở Việt Nam, vấn đề nhân quyền luôn được quan tâm. Hiến pháp năm 2013 có 11 chương, 120 Điều, trong đó, chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là chương có điều luật nhiều nhất, gồm 36 điều (từ Điều 14 đến Điều 49). Để có cơ sở pháp lý thúc đẩy và bảo vệ, bảo đảm quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã có những nỗ lực không ngừng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người. Quốc hội nước ta đã tập trung sửa đổi, bổ sung, ban hành mới và hoàn thiện các văn bản luật, pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

Trên thực tế, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban hành. So với nhiều nước trong khu vực và các nước phát triển, Việt Nam không thua kém về số lượng là thành viên các công ước quốc tế về quyền con người. Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và vững chắc về nhân quyền. Điều đó không chỉ thể hiện ở những nỗ lực của chúng ta trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, mà còn được thể hiện ở việc bảo đảm quyền còn người, quyền công dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Thành tựu đảm bảo nhân quyền tại Việt Nam trên các lĩnh vực đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội, đặc biệt là những thành tựu của Việt Nam trong việc phòng, chống dịch COVID-19 và bảo đảm quyền sống là quyền cao nhất trong đại dịch COVID-19 là những minh chứng rõ nét nhất trong bảo đảm quyền của con người.

Vì vậy, không thể mượn danh nhân quyền để tung hô cho lối sống tự do “vô pháp” để biện minh việc làm sai trái, quay lưng lại Tổ quốc, dân tộc, để cố tình phủ nhận những nỗ lực không ngừng của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong việc bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người. 

ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM KHÔNG PHẢI “KHẨU HIỆU SUÔNG, MỊ DÂN”

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã ra sức tung hô luận điệu cho rằng, việc phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam chỉ là “khẩu hiệu suông, mị dân”. Chúng tung tin sai lệch, xuyên tạc việc tiến hành công tác này ở Việt Nam, từ đó gây hoài nghi trong nhân dân vào các cấp lãnh đạo, hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, tạo hoài nghi về quyết tâm chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Đồng thời, phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, chia rẽ cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân và sự đồng thuận trong xã hội.

Những luận điệu, thông tin mà chúng hoàn toàn sai trái, không có cơ sở thực tế. Sự thật là, trước tình hình tham nhũng và hệ lụy mà nó gây ra, Đảng Nhà nước ta đã và đang kiên quyết phòng, chống, xử lý nghiêm minh những vụ việc vi phạm. Tại Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn”. Để thực hiện điều đó, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt công tác này. Nhà nước đã sửa đổi, bổ sung, từng bước hoàn thiện hệ thống luật pháp gắn với việc điều tra, xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, tạo sức răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực lớn đã được điều tra, xét xử nghiêm minh, đúng pháp luật, bảo đảm đúng người, đúng tội. Đến nay, đã xử lý dứt điểm nhiều vụ kéo dài từ nhiều năm trước, điển hình là: Vụ án Nguyễn Đức Kiên và đồng phạm; Vụ án Dương Chí Dũng và đồng phạm; Vụ án Vũ Việt Hùng và đồng phạm; Vụ án Vũ Quốc Hảo và đồng phạm; Vụ án Huỳnh Thị Huyền Như và đồng phạm; Vụ án Phạm Thị Bích Lương và đồng phạm; Vụ án Giang Kim Đạt và đồng phạm; Vụ án Phạm Công Danh và đồng phạm; Vụ án Hà Văn Thắm và đồng phạm; Vụ án Châu Thị Thu Nga và đồng phạm; Vụ án Trịnh Xuân Thanh và đồng phạm; Vụ án Trần Phương Bình; Vụ án Phan Văn Anh Vũ; Vụ án Đinh Ngọc Hệ; Vụ án Nguyễn Văn Dương và Phan Sào Nam; Vụ án Hứa Thị Phấn; Vụ án xảy ra tại Tổng Công ty Viễn thông Mobifone...; và mới đây là vụ Việt Á, Cục Lãnh sự; FLC, Tân Hoàng Minh và một số vụ việc tham nhũng, tiêu cực khác đang được điều tra, xét xử công khai, minh bạch. Kết quả phòng chống tham nhũng cho thấy rõ sự vào cuộc đồng bộ, mạnh mẽ, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị. Rõ ràng, phòng chống tham nhũng ở Việt Nam không phải là “khẩu hiệu suông, mị dân” mà là hành động quyết liệt, không có vùng cấm của các cấp, các ngành và toàn xã hội. Do đó, mỗi người cần đề cao cảnh giác, đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn, xuyên tạc phá hoại công cuộc phòng, chống tham nhũng, không để bị lôi kéo, kích động, làm ảnh hưởng đến quyết tâm chính trị của toàn Đảng và toàn dân ta.