Hiển thị các bài đăng có nhãn ban hành. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ban hành. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2022

BỘ Y TẾ BAN HÀNH QUY ĐỊNH MỚI, BÃI BỎ YÊU CẦU ĐEO KHẨU TRANG KHI TIẾP XÚC GẦN

Bộ Y tế vừa ban hành Hướng dẫn sử dụng khẩu trang phòng, chống dịch COVID-19 tại nơi công cộng. Theo hướng dẫn mới này, khu vực trường học, chung cư không nằm trong hướng dẫn sử dụng khẩu trang như quy định trước đó.

Trong "Hướng dẫn sử dụng khẩu trang phòng, chống dịch COVID-19 tại nơi công cộng" vừa được Bộ Y tế ban hành, tất cả người dân, trừ trẻ em dưới 5 tuổi ở khu vực công bố cấp độ dịch mức độ 3, 4 (vùng cam và đỏ) phải đeo khẩu trang khi ra nơi công cộng.

Bộ Y tế khẳng định, việc sử dụng khẩu trang tại nơi công cộng là một biện pháp dự phòng cá nhân góp phần làm giảm sự lây lan của dịch COVID-19 trong cộng đồng, bảo vệ sức khỏe người dân, nhất là đối tượng nguy cơ cao như người có bệnh nền, cao tuổi, người suy giảm miễn dịch, béo phì.

Theo hướng dẫn, nơi công cộng được hiểu là nơi phục vụ chung cho nhiều người tại những địa điểm có không gian kín như rạp hát, rạp chiếu phim, vũ trường, nhà hàng..., hoặc các địa điểm có không gian mở như sân vận động, công viên, đường phố, bến xe.

Bộ Y tế quy định các trường hợp bắt buộc phải sử dụng khẩu trang áp dụng chung với người có biểu hiện bệnh viêm đường hô hấp cấp, người mắc hoặc nghi ngờ mắc COVID -19; tất cả các đối tượng (trừ trẻ em dưới 5 tuổi) khi đến nơi công cộng thuộc khu vực đã được công bố cấp độ dịch ở mức độ 3 hoặc mức độ 4.

Bắt buộc đeo khẩu trang với các trường hợp cụ thể như sau:

Tại cơ sở y tế; nơi cách ly y tế; nơi lưu trú mà có người đang cách ly y tế hoặc đang theo dõi, giám sát y tế: Áp dụng với tất cả các đối tượng (trừ những người cách ly ở trong phòng đơn, người bị suy hô hấp, người bệnh đang phải thực hiện thủ thuật y tế theo chỉ định của bác sĩ, trẻ em dưới 5 tuổi).

Khi sử dụng phương tiện giao thông công cộng (máy bay, tàu hỏa, tàu thủy, tàu điện, phà, xe khách, xe buýt, taxi,...): Áp dụng với hành khách; người điều khiển, người phục vụ trên phương tiện giao thông công cộng, nhân viên phục vụ, người quản lý, người lao động tại nhà ga, bến xe, bến tàu, nhà chờ khi tiếp xúc trực tiếp với hành khách.

Tại trung tâm thương mại, siêu thị, chợ đầu mối: áp dụng với nhân viên phục vụ, người quản lý, người lao động khi tiếp xúc trực tiếp với khách hàng.

Tại nơi có không gian kín, thông khí kém (quán bar, vũ trường; karaoke; cơ sở dịch vụ xoa bóp, làm đẹp; phòng tập thể dục, thể hình, cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn, uống phục vụ tại chỗ; rạp chiếu phim, nhà hát, rạp xiếc, nhà thi đấu, trường quay): Áp dụng với nhân viên phục vụ, người bán hàng, người quản lý, người lao động khi tiếp xúc trực tiếp với khách hàng.

Tại cơ sở văn hóa, du lịch, nơi tổ chức sự kiện tập trung đông người (các công trình di tích; bảo tàng, thư viện, triển lãm, nhà trưng bày; khu du lịch, khu vui chơi, giải trí; sự kiện văn hóa, thể dục, thể thao; lễ cưới, lễ tang, lễ hội, hội chợ): áp dụng với nhân viên phục vụ, người quản lý, người lao động, người bán hàng khi tiếp xúc trực tiếp với khách hàng và người tham dự.

Tại nơi tiếp nhận hồ sơ, nơi giao dịch: áp dụng với nhân viên tiếp nhận hồ sơ, nhân viên giao dịch khi tiếp xúc trực tiếp với khách hàng.

Bộ Y tế yêu cầu các sở y tế phối hợp với các đơn vị liên quan trực tiếp hướng dẫn, tổ chức triển khai thực hiện; kiểm tra, giám sát, xử lý các trường hợp vi phạm quy định bắt buộc sử dụng khẩu trang trên địa bàn quản lý.

Người đứng đầu các tổ chức, cơ sở, địa điểm, khu vực được giao quản lý trong phạm vi áp dụng hướng dẫn chịu trách nhiệm việc tổ chức triển khai; đôn đốc, nhắc nhở, kiểm tra, giám sát; tuyên truyền, phổ biến và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người biết, thực hiện.

Như vậy, so với hướng dẫn đeo khẩu trang phòng, chống dịch COVID-19 tại nơi công cộng do Bộ Y tế ban hành tháng 2-2021, những nơi tập trung đông người như chung cư; trường học; khu vui chơi, rèn luyện sức khỏe, khu vực hoạt động ngoài trời; điểm dừng khi tham gia giao thông, không nằm trong hướng dẫn áp dụng sử dụng khẩu trang phòng chống dịch COVID-19.

Ngoài ra, ở hướng dẫn trước, tất cả những người tham gia hoạt động nơi công cộng phải đeo khẩu trang khi tiếp xúc gần dưới 2 mét, quy định này cũng đã không còn ở hướng dẫn mới.

Bộ Y tế cũng nhấn mạnh, các trường hợp khác ngoài các địa điểm, đối tượng đã quy định ở trên được khuyến khích sử dụng khẩu trang khi đến nơi công cộng.

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2021

TƯ DUY CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG TA VỀ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương các khóa trước về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Đảng ta đã tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy về quốc phòng, an ninh (QPAN), bảo vệ Tổ quốc bằng việc “đã ban hành và triển khai đồng bộ các chiến lược quan trọng như Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia và Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng”.

Điều đặc biệt mới mẻ trong dự thảo Báo cáo Chính trị lần này, trong mục tăng cường QPAN, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN), dự thảo Báo cáo Chính trị khẳng định: Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược QPAN chuyên ngành khác.

Đưa nội dung trên vào trong dự thảo Báo cáo Chính trị thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng ta trong việc cụ thể hóa đường lối cách mạng của Đảng, trong việc xác định mưu lược (kế sách) và nghệ thuật tổ chức thực hiện đường lối, nhằm đưa đường lối của Đảng vào cuộc sống trong một giai đoạn cụ thể, trước một tình hình cụ thể. Thể hiện rõ tư duy của Đảng ta trong việc xác định mục tiêu, quy tụ lực lượng và lựa chọn giải pháp có tính khả thi, tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ lúc nước chưa nguy; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và phát triển bền vững đất nước vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Việc ban hành và triển khai thực hiện các chiến lược quốc phòng, quân sự, an ninh, bảo vệ Tổ quốc không chỉ hoàn toàn xuất phát từ cơ sở lý luận khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc, từ truyền thống, kinh nghiệm của dân tộc ta trong công cuộc đấu tranh giữ nước là phải “đề phòng việc không ngờ”, có “kế lâu dài”, phải “trù phương lược trước”, phải “giữ nước từ lúc chưa nguy”, “lo trị nước từ lúc nước chưa loạn”..., mà còn xuất phát từ thực tiễn phong phú, sinh động của công cuộc bảo vệ Tổ quốc XHCN trên thế giới nói chung, công cuộc bảo vệ Tổ quốc Việt Nam nói riêng trong những thập kỷ vừa qua. Ban hành và triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ các chiến lược quốc phòng, quân sự, an ninh, bảo vệ Tổ quốc thể hiện tư duy chiến lược toàn diện của Đảng ta, nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống cả những mối đe dọa an ninh truyền thống và cả những mối đe dọa an ninh phi truyền thống, nhất là phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, sẵn sàng đối phó thắng lợi với các nguy cơ mà Nghị quyết Trung ương về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” đã dự báo. Ban hành và triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ các chiến lược quốc phòng, quân sự, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, cho thấy tư duy chiến lược của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới được thể hiện không chỉ về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, phương châm, nguyên tắc, nội dung, biện pháp, lực lượng, điều kiện bảo đảm để thực hiện các chiến lược, mà còn thể hiện một quan điểm an ninh toàn diện, tổng hợp của đất nước, nhất là an ninh trên các hướng biên giới đất liền, biển, đảo và trên không gian mạng.

Để tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược QPAN chuyên ngành khác như dự thảo Báo cáo Chính trị đã nêu, cần quan tâm làm tốt một số nội dung, biện pháp sau đây:

Tổ chức triển khai quán triệt trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhằm tạo nên nhận thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về những nội dung cơ bản trong các chiến lược nêu trên. Muốn vậy, cần tổ chức biên soạn thành các chuyên đề riêng để quán triệt cho các đối tượng phù hợp với quy định về phổ biến nội dung trong các chiến lược và phù hợp với khả năng nhận thức của các đối tượng cụ thể: Cán bộ, đảng viên, nhân dân, sinh viên, học sinh...

Nghiên cứu xây dựng các chương trình, kế hoạch cụ thể để tổ chức triển khai thực hiện các chiến lược phù hợp với từng nội dung trong từng chiến lược và phù hợp với các đối tượng (tổ chức và cá nhân) trực tiếp liên quan đến việc triển khai tổ chức thực hiện các chiến lược cụ thể. Ví dụ: Quán triệt và triển khai thực hiện Chiến lược quân sự thì quân đội phải là lực lượng nòng cốt, chủ yếu.

Trên cơ sở các chương trình, kế hoạch đã được xây dựng, phải tổ chức triển khai thực hiện trên thực tiễn việc thực hiện các chiến lược quốc phòng, quân sự, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, cần quan tâm đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, công tác quản lý, điều hành của chính quyền các cấp từ Trung ương đến cơ sở. Xác định nội dung, biện pháp phù hợp với mỗi loại chiến lược để triển khai thực hiện các chiến lược sát, đúng. Chăm lo xây dựng lực lượng, nhất là lực lượng chuyên trách phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, nội dung, phạm vi, tính chất của mỗi loại chiến lược để triển khai thực hiện có hiệu quả. Quan tâm phối hợp, kết hợp giữa các tổ chức, các lực lượng để thực hiện đồng bộ, nhịp nhàng các chiến lược. Quan tâm chăm lo xây dựng, chủ động chuẩn bị các điều kiện về vật chất và tinh thần để triển khai thực hiện các chiến lược đáp ứng yêu cầu của mỗi loại chiến lược. Xây dựng các kịch bản, triển khai diễn tập một số tình huống cụ thể theo yêu cầu, nội dung của từng chiến lược, trên cơ sở đó tổ chức rút kinh nghiệm và tiếp tục điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện thêm nội dung của các chiến lược cho phù hợp với tình hình thực tiễn luôn có sự vận động, biến đổi.

Thứ Hai, 20 tháng 5, 2019

ĐẢNG CỘNG SẢN VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM LUÔN BAN HÀNH VÀ THỰC HIỆN TỐT CÁC CHÍNH SÁCH BẢO ĐẢM TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO

Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn ban hành và thực hiện tốt các chính sách bảo đảm tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, các tôn giáo đều được đối xử công bằng trước pháp luật
Trong quá trình đổi mới, xây dựng đất nước đến Đại hội XII, Đảng, Nhà nước ta luôn khẳng định nhất quán quan điểm: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc hoặc những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp luật”.
Điều 24, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Bên cạnh đó, các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân còn được cụ thể hóa trong Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, Luật Đất đai, Luật Giáo dục…
Luật Tín ngưỡng tôn giáo có hiệu lực ngày 1 tháng 1 năm 2018 và Nghị định 162/2017/NĐ-CP đã khẳng định: “Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật… cấm phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng tôn giáo.
Hành vi bị nghiêm cấm: cấm phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; ép buộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo của người khác; lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi; các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn công cộng, môi trường, xâm hại đạo đức xã hội, sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân…”.
Đồng hành với chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, xã hội nâng cao đời sống nhân dân, Nhà nước Việt Nam luôn hoàn thiện các chính sách về tôn giáo, căn cứ quan trọng để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện đúng trách nhiệm, chức năng, nhiệm vụ và tạo mọi điều kiện thuận lợi, đáp ứng nhu cầu tinh thần trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân cũng như người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam.
Như vậy, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn ban hành cơ sở pháp lý đảm bảo tôn trọng nhu cầu tinh thần tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, đảm bảo các tôn giáo đều được đối xử công bằng, bình đẳng trước pháp luật.