Hiển thị các bài đăng có nhãn tư duy. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tư duy. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 14 tháng 9, 2021

ĐỪNG LÀM CON NHỘNG TRONG TỔ KÉN

     Đại dịch Covid-19 tác động, ảnh hưởng toàn diện, sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong bối cảnh chồng chất khó khăn và thách thức, một bộ phận cá biệt cán bộ, đảng viên bộc lộ tư tưởng sợ dịch bệnh, sợ trách nhiệm, làm việc cầm chừng, thu mình cầu an...

     Biểu hiện cực đoan này không chỉ cản trở hiệu quả tổ chức chống dịch ở cơ sở, mà còn tác động xấu đến môi trường “tự soi, tự sửa” trong tổ chức đảng, là mầm mống của suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống, suy thoái chính trị tư tưởng trong tổ chức đảng...

     Anh là một cán bộ có năng lực, trải qua nhiều cương vị công tác nên có sự am hiểu thực tiễn cơ sở. Vì là chỗ quen biết nên khi anh được cấp trên điều động về địa phương nhận nhiệm vụ, chúng tôi đã liên hệ đặt vấn đề phối hợp công tác, kết nối huy động nguồn lực chăm lo an sinh xã hội cho người dân. Chẳng ngờ anh lại từ chối hợp tác vì sợ... trách nhiệm. “Ông thông cảm, hoàn cảnh của tôi bây giờ thì cấp trên chỉ đâu đánh đấy thôi. Làm quá đi, không phải đầu cũng phải tai. Bây giờ cứ an toàn là trên hết ông ạ”, anh nói. Rồi anh lấy dẫn chứng một số cán bộ ở địa phương khác bị xử lý kỷ luật do làm việc sai nguyên tắc để biện minh cho lời từ chối của mình.

     Cách tư duy, hành động như vậy trong đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay, dù không phổ biến, nhưng sự xuất hiện của những nhân tố cực đoan ấy trong hệ thống chính trị các cấp chính là tác nhân gây cản trở công việc chung. Quá trình theo dõi, bám sát nhiệm vụ tổ chức chống dịch, bảo đảm an sinh xã hội ở các địa phương phía Nam thời gian qua, chúng tôi thấy một số trường hợp do cán bộ chần chừ, bàng quan nên việc tận dụng thời cơ, huy động nguồn lực xã hội chống dịch bị bỏ qua rất đáng tiếc. Một số nhà báo, hội đồng hương tham gia kết nối đưa lương thực, hàng nông sản từ các địa phương hỗ trợ TP Hồ Chí Minh và các vùng tâm dịch ở địa bàn phía Nam cũng phàn nàn tình trạng tương tự. Khi liên hệ với người đứng đầu ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương để hỗ trợ cho dân, dù các thủ tục hành chính và quy định phòng, chống dịch đều bảo đảm đầy đủ, nhưng một số nơi cán bộ do sợ trách nhiệmnên không muốn “gánh thêm việc”.

      Phương pháp làm việc kiểu cầu an cho bản thân, bàng quan với việc chung như trên đã làm giảm nhịp độ, gây ách tắc cục bộ guồng máy vận hành chống dịch ở địa phương. Khi những biểu hiện cực đoan, bất cập ấy diễn ra ở người đứng đầu, nó sẽ kéo lùi cả hệ thống, tạo tâm lý lười biếng, ỷ lại, làm việc cầm chừng, làm kiểu đối phó... trong bộ máy công vụ.

     Khi bàn đến những biểu hiện yếu kém nói trên, có người đã lấy câu chuyện về con nhộng và tổ kén trong dân gian để ví von, so sánh. Dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp nhưng với những cán bộ này, cấp trên chỉ thị nội dung gì thì làm nội dung đó, không thì thôi. Họ hoàn toàn không có sự năng động, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm. Cứ thu mình như con nhộng trong tổ kén cho an toàn...

     Để thu mình như con nhộng thì phải tự mình tạo ra một tổ kén hợp lý. Tổ kén ấy chính là kiểu làm việc hình thức, chiếu lệ, giả dối. Cán bộ, đảng viên trong tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị ở cơ sở rất dễ nhận diện những tổ kén kiểu này trong nội bộ, thông qua thực tế công tác. Đó là những người vẫn đến cơ quan, công sở làm việc theo kế hoạch, nhưng chủ yếu là đến để cho có mặt, làm việc kiểu “đút chân gầm bàn”, ngại khó, ngại khổ. Thỉnh thoảng đi cơ sở thì lựa chọn những nơi an toàn, đến cho có lệ để lấy chất liệu làm báo cáo. Làm việc kiểu lớt phớt “cưỡi ngựa xem hoa” nhưng lại chịu khó chụp ảnh, viết bài đăng lên mạng xã hội “chém gió” để chứng tỏ bản thân...

     Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị phải căng sức, gồng mình chống dịch với phương châm lấy xã, phường làm "pháo đài", người dân là chiến sĩ, kiểu tư duy và cách làm việc cầu an, “làm màu” ấy rất tai hại. Nhất là khi những biểu hiện ấy lại diễn ra ở người đứng đầu tổ chức chính trị ở cơ sở. Chất lượng, hiệu quả công việc không những thấp kém, mà còn tạo môi trường hình thành lối tư duy thiếu trung thực, ngụy tạo thành tích, là cơ hội cho chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, hẹp hòi... phát triển. Đó cũng là mầm mống của suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống, suy thoái tư tưởng chính trị trong nội bộ...t

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2021

TƯ DUY CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG TA VỀ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương các khóa trước về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Đảng ta đã tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy về quốc phòng, an ninh (QPAN), bảo vệ Tổ quốc bằng việc “đã ban hành và triển khai đồng bộ các chiến lược quan trọng như Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia và Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng”.

Điều đặc biệt mới mẻ trong dự thảo Báo cáo Chính trị lần này, trong mục tăng cường QPAN, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN), dự thảo Báo cáo Chính trị khẳng định: Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược QPAN chuyên ngành khác.

Đưa nội dung trên vào trong dự thảo Báo cáo Chính trị thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng ta trong việc cụ thể hóa đường lối cách mạng của Đảng, trong việc xác định mưu lược (kế sách) và nghệ thuật tổ chức thực hiện đường lối, nhằm đưa đường lối của Đảng vào cuộc sống trong một giai đoạn cụ thể, trước một tình hình cụ thể. Thể hiện rõ tư duy của Đảng ta trong việc xác định mục tiêu, quy tụ lực lượng và lựa chọn giải pháp có tính khả thi, tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ lúc nước chưa nguy; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và phát triển bền vững đất nước vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Việc ban hành và triển khai thực hiện các chiến lược quốc phòng, quân sự, an ninh, bảo vệ Tổ quốc không chỉ hoàn toàn xuất phát từ cơ sở lý luận khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc, từ truyền thống, kinh nghiệm của dân tộc ta trong công cuộc đấu tranh giữ nước là phải “đề phòng việc không ngờ”, có “kế lâu dài”, phải “trù phương lược trước”, phải “giữ nước từ lúc chưa nguy”, “lo trị nước từ lúc nước chưa loạn”..., mà còn xuất phát từ thực tiễn phong phú, sinh động của công cuộc bảo vệ Tổ quốc XHCN trên thế giới nói chung, công cuộc bảo vệ Tổ quốc Việt Nam nói riêng trong những thập kỷ vừa qua. Ban hành và triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ các chiến lược quốc phòng, quân sự, an ninh, bảo vệ Tổ quốc thể hiện tư duy chiến lược toàn diện của Đảng ta, nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống cả những mối đe dọa an ninh truyền thống và cả những mối đe dọa an ninh phi truyền thống, nhất là phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, sẵn sàng đối phó thắng lợi với các nguy cơ mà Nghị quyết Trung ương về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” đã dự báo. Ban hành và triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ các chiến lược quốc phòng, quân sự, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, cho thấy tư duy chiến lược của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới được thể hiện không chỉ về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, phương châm, nguyên tắc, nội dung, biện pháp, lực lượng, điều kiện bảo đảm để thực hiện các chiến lược, mà còn thể hiện một quan điểm an ninh toàn diện, tổng hợp của đất nước, nhất là an ninh trên các hướng biên giới đất liền, biển, đảo và trên không gian mạng.

Để tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược QPAN chuyên ngành khác như dự thảo Báo cáo Chính trị đã nêu, cần quan tâm làm tốt một số nội dung, biện pháp sau đây:

Tổ chức triển khai quán triệt trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhằm tạo nên nhận thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về những nội dung cơ bản trong các chiến lược nêu trên. Muốn vậy, cần tổ chức biên soạn thành các chuyên đề riêng để quán triệt cho các đối tượng phù hợp với quy định về phổ biến nội dung trong các chiến lược và phù hợp với khả năng nhận thức của các đối tượng cụ thể: Cán bộ, đảng viên, nhân dân, sinh viên, học sinh...

Nghiên cứu xây dựng các chương trình, kế hoạch cụ thể để tổ chức triển khai thực hiện các chiến lược phù hợp với từng nội dung trong từng chiến lược và phù hợp với các đối tượng (tổ chức và cá nhân) trực tiếp liên quan đến việc triển khai tổ chức thực hiện các chiến lược cụ thể. Ví dụ: Quán triệt và triển khai thực hiện Chiến lược quân sự thì quân đội phải là lực lượng nòng cốt, chủ yếu.

Trên cơ sở các chương trình, kế hoạch đã được xây dựng, phải tổ chức triển khai thực hiện trên thực tiễn việc thực hiện các chiến lược quốc phòng, quân sự, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, cần quan tâm đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, công tác quản lý, điều hành của chính quyền các cấp từ Trung ương đến cơ sở. Xác định nội dung, biện pháp phù hợp với mỗi loại chiến lược để triển khai thực hiện các chiến lược sát, đúng. Chăm lo xây dựng lực lượng, nhất là lực lượng chuyên trách phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, nội dung, phạm vi, tính chất của mỗi loại chiến lược để triển khai thực hiện có hiệu quả. Quan tâm phối hợp, kết hợp giữa các tổ chức, các lực lượng để thực hiện đồng bộ, nhịp nhàng các chiến lược. Quan tâm chăm lo xây dựng, chủ động chuẩn bị các điều kiện về vật chất và tinh thần để triển khai thực hiện các chiến lược đáp ứng yêu cầu của mỗi loại chiến lược. Xây dựng các kịch bản, triển khai diễn tập một số tình huống cụ thể theo yêu cầu, nội dung của từng chiến lược, trên cơ sở đó tổ chức rút kinh nghiệm và tiếp tục điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện thêm nội dung của các chiến lược cho phù hợp với tình hình thực tiễn luôn có sự vận động, biến đổi.

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2020

ĐẤU TRANH PHI VŨ TRANG BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Đấu tranh phi vũ trang bảo vệ Tổ quốc được Đảng ta xác định là phương thức chủ yếu của đấu tranh quốc phòng trong tình hình mới. Đây là sự phát triển, đổi mới tư duy bảo vệ Tổ quốc, vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng cần quan tâm nghiên cứu.

Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2020

NỘI DỤNG XÂY DỰNG PHONG CÁCH TƯ DUY CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO HIỆN NAY

Phong cách của Hồ Chí Minh là một di sản vô giá mà Người để lại cho Đảng và dân tộc ta. Việc nghiên cứu, học tập, vận dụng phong cách Hồ Chí Minh, trong đó có phong cách tư duy của cán bộ, đảng viên, nhằm phát huy tinh thần làm chủ, ý thức trách nhiệm, tính chủ động, sáng tạo của người lãnh đạo, quản lý, từ đó nâng cao chất lượng thực hiện vai trò, chức trách, nhiệm vụ được giao, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cách mạng là vấn đề hết sức cấp thiết trong tình hình hiện nay.

Thứ Ba, 11 tháng 2, 2020

BƯỚC TIẾN TRONG TƯ DUY, NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO

Trong từng giai đoạn cách mạng, Đảng, Nhà nước ta luôn có chính sách về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp để tập hợp, phát huy vai trò của đồng bào có đạo trong xây dựng và phát triển đất nước. Điểm nổi bật của hệ thống chính sách đó là: tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; đồng thời, nhận thức về vai trò của tôn giáo cũng có sự phát triển, từ nhìn nhận giá trị đạo đức, văn hóa của các tôn giáo đến việc giữ gìn, phát huy giá trị đạo đức, văn hóa của các tôn giáo và coi tôn giáo là nguồn lực trong quá trình phát triển đất nước. Quan điểm coi tôn giáo là nguồn lực phát triển đất nước vừa mới, vừa là bước đột phá tiếp theo của Việt Nam trên con đường đổi mới nhận thức về vai trò của tôn giáo trong hội nhập quốc tế. Thật vậy, đến tháng 9-2019, các tôn giáo ở nước ta có khoảng 500 cơ sở y tế, phòng khám chữa bệnh từ thiện; 300 trường mầm non, 2.000 lớp học tình thương; 12 cơ sở dạy nghề thuộc các tổ chức tôn giáo, bao gồm: 02 trường trung cấp nghề và 10 trung tâm dạy nghề, tuyển sinh, đào tạo hệ trung cấp và dạy nghề ngắn hạn; gần 800 cơ sở bảo trợ xã hội của các tổ chức Phật giáo, Công giáo, Cao Đài... đang nuôi dưỡng trên 12.000 trẻ em mồ côi, trẻ tàn tật, người già cô đơn, bệnh nhân tâm thần, HIV/AIDS, tiếp nhận nhiều nhóm đối tượng có hoàn cảnh khó khăn góp phần chia sẻ với Nhà nước trong việc chăm sóc đối tượng bảo trợ xã hội.

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

"CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI" - TƯ DUY MỚI VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Giá trị của chính sách kinh tế mới” của V.I. Lênin (NEP) là những biện pháp mới để xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ. Những đóng góp chính của NEP cụ thể là:
Một là, những bất hợp lý của “Chính sách cộng sản thời chiến” bị bãi bỏ, chế độ “trưng thu lương thực thừa” được thay bằng thuế lương thực với tư cách là “liệu pháp cấp tốc, cương quyết nhất, cấp thiết nhất” để phát triển sản xuất.
Hai là, phát triển “chủ nghĩa tư bản nhà nước” - mắt xích “trung gian quan trọng để xây dựng CNXH”. V.I. Lê-nin đặt câu hỏi, đồng thời khẳng định rằng: “Liệu có thể kết hợp, liên hợp, phối hợp Nhà nước Xô-viết, nền chuyên chính vô sản, với chủ nghĩa tư bản nhà nước được không? Tất nhiên là được.”
Ba là, phải học tập và sử dụng những giá trị văn minh nhân loại được tạo ra từ CNTB; kiên quyết phản đối việc “đem chủ nghĩa tư bản đối lập một cách trừu tượng với chủ nghĩa xã hội”. Theo V.I. Lênin, ở một nước kinh tế lạc hậu thì giải pháp hiện thực để có được kinh nghiệm, tri thức quản lý hiện đại là học hỏi bằng việc thuê và trả lương cao cho chuyên gia tư sản.
Bốn là, chuyển trọng tâm của cách mạng sang tổ chức và phát triển văn hóa. V.I. Lênin viết: “Chúng ta buộc phải thừa nhận là toàn bộ quan điểm của chúng ta về chủ nghĩa xã hội đã thay đổi về căn bản. Sự thay đổi căn bản đó là ở chỗ: trước đây… đặt trọng tâm công tác của chúng ta vào đấu tranh chính trị, vào cách mạng, vào việc giành lấy chính quyền... Ngày nay, trọng tâm ấy đã chuyển sang công tác hòa bình tổ chức “văn hóa”.
Năm là, củng cố chính quyền Xôviết, tăng cường vai trò của quản lý, kết hợp chặt chẽ các biện pháp hành chính, tổ chức với biện pháp kinh tế để xây dựng CNXH.

Thứ Ba, 12 tháng 9, 2017

Sự phát triển tư duy của Đảng ta - động lực phát triển kinh tế xã hội Việt Nam

Sau hơn ba mươi năm đổi mới và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm phát triển và coi trọng các thành phần kinh tế, trong đó có kinh tế tư nhân, bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Đảng luôn coi trọng sự phát triển của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân. Đối với kinh tế tư nhân, ngay từ Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị khóa VI (15-7-1988) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa VI, Đảng đã chủ trương tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân được phát triển không hạn chế địa bàn, quy mô, ngành nghề mà pháp luật không cấm. Đến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX (tháng 3-2002) Đảng tiếp tục xác định: Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Đến Đại hội X  của Đảng, kinh tế tư nhân chính thức được xác nhận là một thành phần kinh tế trên cơ sở hợp nhất hai thành phần kinh tế: cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân và được xác định rõ: “Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”. Đại hội đã thông qua một quyết định quan trọng là cho phép đảng viên được làm kinh tế tư nhân. Nhận thức về vai trò của kinh tế tư nhân tiếp tục được Đại hội XI phát triển: coi “Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế”, cho đến Đại hội XII, quan điểm đó được nâng lên ở một tầm cao hơn: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế”. Đây là một trong những điểm mới nhất của Văn kiện Đại hội XII. Điều đó thể hiện sự tiếp tục đổi mới tư duy kinh tế của Đảng để phù hợp với thực tiễn phát triển của nền kinh tế sau 30 năm đổi mới. Đảng khẳng định mạnh mẽ, dứt khoát hơn, coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Văn kiện Đại hội XII nhấn mạnh việc tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân thông qua hàng loạt các biện pháp, trong đó hoàn thiện cơ chế, chính sách được coi là “chiếc gậy thần” để khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Điểm đột phá chính là Nghị quyết Hội nghị trung ương 5 khóa XII, phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các nội dung của Nghị quyết nếu thực hiện hiệu quả, sẽ khuyến khích phát triển lực lượng kinh tế tư nhân, khơi nguồn cho sự đổi mới, là cơ sở để giải phóng sức sản xuất, sức sáng tạo và phát huy toàn diện vai trò kinh tế tư nhân trong mọi công đoạn của chuỗi giá trị sản xuất. Đồng thời, tạo sức mạnh và động lực để chúng ta hội nhập sâu hơn, khai thác các thành phần kinh tế nhiều tiềm năng tốt hơn, là điều kiện để áp dụng công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao, tiến vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.