Hiển thị các bài đăng có nhãn chăm lo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chăm lo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2022

THƯỜNG XUYÊN CHĂM LO BỒI ĐẮP, NÂNG CAO THẾ TRẬN LÒNG DÂN HIỆN NAY

Thường xuyên chăm lo bồi đắp, nâng cao “thế nước, lòng dân” bảo đảm mục tiêu xuyên suốt là bảo vệ vững chắc độc lập, tự chủ, quyết tâm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Các cuộc kháng chiến thần thánh của chúng ta, tưởng chừng rất khó khăn, nhưng dân tộc ta đã đánh bại những đội quân xâm lược tàn bạo, hùng mạnh nhất trên thế giới, điển hình là những chiến thắng vang dội như Bạch Đằng, Vạn Kiếp, Chi Lăng, Đống Đa mà đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân 1975.

Ông cha ta, từ sự hưng vong của các triều đại, từ các cuộc kháng chiến oanh liệt chống ngoại xâm đã đúc rút, khẳng định và luôn nhắc nhở các thế hệ cháu con mai sau rằng: chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân; khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách để giữ nước; nước phải lấy dân làm gốc, gốc có vững thì cây mới bền, xây lầu hạnh phúc trên nền nhân dân. Vì có dân là có tất cả, mất dân là mất tất cả, lòng dân, niềm tin của nhân dân là tài sản quý giá nhất để bảo đảm cho sự tồn tại của một chế độ xã hội. Và, nguyên vẹn, trong thời đại Hồ Chí Minh, tư tưởng dân là gốc, sức dân là vô địch, dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong, được thấm nhuần, vận dụng nhuần nhuyễn và phát huy đến đỉnh cao đã tạo sức mạnh làm nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Nguyên lý bất hủ là được lòng dân, được tất cả. Cho nên, việc hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, chăm lo việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân là nghĩa vụ, trách nhiệm của Đảng, Nhà nước ta, là bổn phận của mỗi cán bộ, đảng viên, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”.

Do đó, trong tình hình hiện nay toàn Đảng, toàn dân phải ghi sâu, thực hiện tốt lời Bác Hồ dạy; kiên quyết ngăn chặn, và đẩy lùi các tệ nạn quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, ức hiếp nhân dân, vô cảm với những bức xúc của nhân dân thì Đảng sẽ được nhân dân tin yêu, hết lòng ủng hộ “thu phục lòng dân”, khối đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ được mở rộng, tăng cường và củng cố. Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta cho thấy, dân tộc Việt Nam không hề sợ bất cứ kẻ thù nào cho dù là hung bạo nhất, nhưng chỉ sợ mất lòng dân. Vì lòng dân, tinh thần đại đoàn kết toàn dân thực sự là “báu vật truyền quốc”, là “Quốc bảo” của mọi triều đại, mọi chế độ xã hội trong quá trình dựng nước và giữ nước.

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2021

TƯ DUY CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG TA VỀ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương các khóa trước về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Đảng ta đã tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy về quốc phòng, an ninh (QPAN), bảo vệ Tổ quốc bằng việc “đã ban hành và triển khai đồng bộ các chiến lược quan trọng như Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia và Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng”.

Điều đặc biệt mới mẻ trong dự thảo Báo cáo Chính trị lần này, trong mục tăng cường QPAN, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN), dự thảo Báo cáo Chính trị khẳng định: Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược QPAN chuyên ngành khác.

Đưa nội dung trên vào trong dự thảo Báo cáo Chính trị thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng ta trong việc cụ thể hóa đường lối cách mạng của Đảng, trong việc xác định mưu lược (kế sách) và nghệ thuật tổ chức thực hiện đường lối, nhằm đưa đường lối của Đảng vào cuộc sống trong một giai đoạn cụ thể, trước một tình hình cụ thể. Thể hiện rõ tư duy của Đảng ta trong việc xác định mục tiêu, quy tụ lực lượng và lựa chọn giải pháp có tính khả thi, tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ lúc nước chưa nguy; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và phát triển bền vững đất nước vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Việc ban hành và triển khai thực hiện các chiến lược quốc phòng, quân sự, an ninh, bảo vệ Tổ quốc không chỉ hoàn toàn xuất phát từ cơ sở lý luận khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc, từ truyền thống, kinh nghiệm của dân tộc ta trong công cuộc đấu tranh giữ nước là phải “đề phòng việc không ngờ”, có “kế lâu dài”, phải “trù phương lược trước”, phải “giữ nước từ lúc chưa nguy”, “lo trị nước từ lúc nước chưa loạn”..., mà còn xuất phát từ thực tiễn phong phú, sinh động của công cuộc bảo vệ Tổ quốc XHCN trên thế giới nói chung, công cuộc bảo vệ Tổ quốc Việt Nam nói riêng trong những thập kỷ vừa qua. Ban hành và triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ các chiến lược quốc phòng, quân sự, an ninh, bảo vệ Tổ quốc thể hiện tư duy chiến lược toàn diện của Đảng ta, nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống cả những mối đe dọa an ninh truyền thống và cả những mối đe dọa an ninh phi truyền thống, nhất là phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, sẵn sàng đối phó thắng lợi với các nguy cơ mà Nghị quyết Trung ương về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” đã dự báo. Ban hành và triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ các chiến lược quốc phòng, quân sự, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, cho thấy tư duy chiến lược của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới được thể hiện không chỉ về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, phương châm, nguyên tắc, nội dung, biện pháp, lực lượng, điều kiện bảo đảm để thực hiện các chiến lược, mà còn thể hiện một quan điểm an ninh toàn diện, tổng hợp của đất nước, nhất là an ninh trên các hướng biên giới đất liền, biển, đảo và trên không gian mạng.

Để tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược QPAN chuyên ngành khác như dự thảo Báo cáo Chính trị đã nêu, cần quan tâm làm tốt một số nội dung, biện pháp sau đây:

Tổ chức triển khai quán triệt trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhằm tạo nên nhận thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về những nội dung cơ bản trong các chiến lược nêu trên. Muốn vậy, cần tổ chức biên soạn thành các chuyên đề riêng để quán triệt cho các đối tượng phù hợp với quy định về phổ biến nội dung trong các chiến lược và phù hợp với khả năng nhận thức của các đối tượng cụ thể: Cán bộ, đảng viên, nhân dân, sinh viên, học sinh...

Nghiên cứu xây dựng các chương trình, kế hoạch cụ thể để tổ chức triển khai thực hiện các chiến lược phù hợp với từng nội dung trong từng chiến lược và phù hợp với các đối tượng (tổ chức và cá nhân) trực tiếp liên quan đến việc triển khai tổ chức thực hiện các chiến lược cụ thể. Ví dụ: Quán triệt và triển khai thực hiện Chiến lược quân sự thì quân đội phải là lực lượng nòng cốt, chủ yếu.

Trên cơ sở các chương trình, kế hoạch đã được xây dựng, phải tổ chức triển khai thực hiện trên thực tiễn việc thực hiện các chiến lược quốc phòng, quân sự, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, cần quan tâm đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, công tác quản lý, điều hành của chính quyền các cấp từ Trung ương đến cơ sở. Xác định nội dung, biện pháp phù hợp với mỗi loại chiến lược để triển khai thực hiện các chiến lược sát, đúng. Chăm lo xây dựng lực lượng, nhất là lực lượng chuyên trách phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, nội dung, phạm vi, tính chất của mỗi loại chiến lược để triển khai thực hiện có hiệu quả. Quan tâm phối hợp, kết hợp giữa các tổ chức, các lực lượng để thực hiện đồng bộ, nhịp nhàng các chiến lược. Quan tâm chăm lo xây dựng, chủ động chuẩn bị các điều kiện về vật chất và tinh thần để triển khai thực hiện các chiến lược đáp ứng yêu cầu của mỗi loại chiến lược. Xây dựng các kịch bản, triển khai diễn tập một số tình huống cụ thể theo yêu cầu, nội dung của từng chiến lược, trên cơ sở đó tổ chức rút kinh nghiệm và tiếp tục điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện thêm nội dung của các chiến lược cho phù hợp với tình hình thực tiễn luôn có sự vận động, biến đổi.

Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2020

NHỮNG SÁNG TẠO LÝ LUẬN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC, CHĂM LO BỒI DƯỠNG CÁC THẾ HỆ CÁCH MẠNG CHO ĐỜI SAU

- Thấm nhuần truyền thống dân tộc và được giáo dục trong môi trường gia đình, cả ông ngoại và cha đẻ cùng làm nghề dạy học, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rất rõ vị trí, vai trò của giáo dục. Khi lãnh nhiệm vụ Chủ tịch nước, Người đặt việc “chống giặc dốt” cũng cần như chống giặc đói và giặc ngoại xâm, khi khẳng định “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Người coi nâng cao dân trí và bồi dưỡng nhân tài là một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc đó vì "Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài"; “Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế văn hoá. Trong việc đào tạo cán bộ, giáo dục là bước đầu"... Ở mức độ cao hơn, nói về vai trò của giáo dục trong sự chấn hưng dân tộc, trong thư  Người gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam mới, tháng 9-1945, có đoạn: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có bước lên đài vinh quang sánh vai với cường quốc năm châu hay không, điều đó phần lớn phụ thuộc vào công học tập của các em”.

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của thế hệ trẻ với cách mạng và sự phát triển của dân tộc thể hiện sự sáng tạo mới. Người cho rằng thế hệ trẻ là lực lượng quyết định sự phát triển của cách mạng, của dân tộc, khi ví: “một năm bắt đầu từ mùa xuân, một đời người bắt đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của dân tộc”. Người yêu cầu thế hệ trẻ phải vươn mình lên để hoàn thành trọng trách lịch sử đó đồng thời Đảng phải có trách nhiệm bồi dưỡng thế hệ trẻ của Đảng. 

Điểm đáng chú ý trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, bắt nguồn từ thực tiễn kinh nghiệm của Người để quan tâm đến đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho Đảng, cho cách mạng, cử học sinh đi ra nước ngoài học tập. Trong giai đoạn 1927-1941, tranh thủ sự hỗ trợ của Quốc tế Cộng sản, Người đã gửi được một số thanh niên ưu tú sang học trường Đại học Phương Đông ở Liên Xô. Sau chiến dịch Biên giới năm 1950 và thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa, trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, Người đã gửi nhiều học sinh đi du học ở các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là ở Trung Quốc và Liên Xô. Trong kháng chiến chống Mỹ, một số đông học sinh được gửi sang học tại các nước xã hội chủ nghĩa, trở thành lực lượng cán bộ khoa học, kỹ thuật nòng cốt trong xây dựng đất nước sau chiến tranh và làm cầu nối hữu nghị với các nước thuộc Liên Xô cũ, Đông Âu, dù cho chế độ xã hội ở các nước này đã thay đổi. Những năm 60 của thế kỷ trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo thành lập nhiều trường học sinh miền Nam trên miền Bắc, đưa nhiều con em các cán bộ lãnh đạo đang chiến đấu ở miền Nam ra miền Bắc đào tạo. Đây là lực lượng cán bộ rất quý báu xây dựng miền Nam sau ngày giải phóng 30.4.1975.

- Biểu hiện tập trung nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo, bồi dưỡng  các thế hệ cách mạng cho đời sau là lời dặn của Người trong bản Di chúc nổi tiếng: “ĐOÀN VIÊN VÀ THANH NIÊN ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2019

GIẢI PHÁP CHĂM LO GIÁO DỤC, RÈN LUYỆN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN, QUẦN CHÚNG ĐỂ PHÒNG CHỐNG BIỂU HIỆN TỰ DIỄN BIẾN, TỰ CHUYỂN HÓA

 “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là hệ quả từ nhiều nguyên nhân, song cốt lõi là do một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu; sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng; quên trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, Tổ quốc và nhân dân; ngại khó, ngại khổ, ngại va chạm; vi phạm nguyên tắc, điều lệ Đảng, nói không đi đôi với làm, thoái hóa, biến chất về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống. Vì vậy, cần chú trọng giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chủ nghĩa yêu nước, nền tảng văn hóa Việt Nam, truyền thống Quân đội, đơn vị,... làm cho bản chất giai cấp công nhân thấm sâu và phát triển vững chắc trong tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên; từ đó, nâng cao giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị cho mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng. Đồng thời, phải thường xuyên giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh; có tinh thần tự giác, tích cực học tập, rèn luyện, tu dưỡng; không ngừng nâng cao kiến thức, năng lực công tác, tận tụy, tâm huyết với công việc, gắn bó với cơ quan, đơn vị. Đặc biệt, cấp ủy, chỉ huy các cấp phải thường xuyên cập nhật tình hình, làm cơ sở để giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nhận rõ âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động của các thế lực thù địch, nhất là các hoạt động chống phá trên không gian mạng. Qua đó, nâng cao khả năng miễn dịch cũng như trình độ đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch cho cán bộ, chiến sĩ.
Cùng với đó, cần quan tâm bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội; xây dựng môi trường văn hóa phong phú, tốt đẹp, lành mạnh để Quân đội trở thành nơi nuôi dưỡng nhân cách, phẩm chất tốt đẹp cho mọi quân nhân. Từ đó, tăng cường sức đề kháng, tạo “màng lọc” ngăn chặn văn hóa ngoại lai, phản động, phản tiến bộ xâm nhập vào Quân đội. Đó là cơ sở để ngăn ngừa tác động từ bên ngoài, làm vô hiệu hóa mọi âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của các thế lực thù địch.

Thứ Tư, 20 tháng 2, 2019

CHĂM LO XÂY DỰNG VÀ CỦNG CỐ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ - GIẢI PHÁP PHÁT HUY KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

Chăm lo xây dựng và củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh về mọi mặt, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với công tác dân tộc, tôn giáo. Cần coi trọng xây dựng tổ chức đảng, chính quyền cấp huyện, xã, làng, bản thực sự trong sạch, vững mạnh; đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc các cấp; xây dựng, củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ các cấp, các ban ngành đoàn thể, chú trọng nâng cao phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ chuyên trách về dân tộc, tôn giáo ở địa phương. Kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, khắc phục bệnh quan liêu xa rời cơ sở, xa rời quần chúng trong cán bộ, đảng viên.
Đại đoàn kết dân tộc là di sản văn hóa quý giá của dân tộc ta, là nền tảng tinh thần cao đẹp, là cội nguồn của sức mạnh Việt Nam, là chân lý sáng chói cho các thế hệ người Việt Nam tiếp bước và là di sản văn hóa quý báu mà chúng ta phải bảo tồn, lưu giữ mãi đến muôn đời sau. Mọi âm mưu, thủ đoạn chia sẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc là đi ngược lại truyền thống, lợi ích và khát vọng ngàn đời của dân tộc. Do đó, cần chủ động, tích cực đấu tranh làm thất bại mọi mưu đồ của các thế lực thù địch, gọp phần xây dựng và củng cố vững chắc khối đại đoàn kết dân tộc trong tình hình mới.

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2016

CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM ĐANG ĐƯỢC CHĂM LO TOÀN DIỆN

Hiện nay, các thế lực thù địch đang vu khống xuyên tạc rằng: Đảng, Nhà nước Việt Nam "đàn áp các dân tộc", vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”, “chiếm đất”, “đàn áp, kìm kẹp người dân tộc thiểu số”, “vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế”… nhằm kích động tư tưởng đòi “tự trị”, “ly khai” “chia nhỏ”, “xé lẻ” Việt Nam.
Sự thật, chỉ có chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng, Nhà nước ta lãnh đạo, tổ chức nhân dân đấu tranh, giành độc lập, xây dựng chế độ mới, mới thực sự đem lại độc lập, tự do, cơm no, áo ấm, cuộc sống hạnh phúc, tốt đẹp cho đồng bào các dân tộc ở Việt Nam như hiện nay.
Sự thật, chỉ từ khi Đảng ta lãnh đạo, tổ chức nhân dân ta đấu tranh làm nên Cách mạng Tháng Tám 1945 thắng lợi thì các tộc người và cả dân tộc Việt Nam từ trong đêm trường nô lệ dưới ách áp bức, đô hộ của đế quốc Pháp, mặc cảm, miệt thị, ăn hiếp lẫn nhau… mới “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” trở thành chủ nhân chân chính của đất nước. Chế độ mới đã nâng quan hệ giữa các tộc người lên trình độ mới: Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển. Hiến pháp năm 1946 khẳng định: "Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung". Thay mặt Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định các dân tộc đều là anh em, phải đoàn kết để xây dựng, bảo vệ đất nước:"Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xơ Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau". “Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta”. (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG. H. 2000, tr. 217-218).

Khám, chữa bệnh miễn phí cho đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Lạng Sơn. Ảnh: internet.
Nhờ phát huy cao độ sức mạnh tất cả các dân tộc trên cơ sở quan hệ bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển, chúng ta vừa kháng chiến, vừa kiến quốc đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, đưa miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, tiếp tục đấu tranh thống nhất nước nhà. Hơn hai mươi năm sau, chúng ta làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975, thống nhất đất nước, cả nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đóng góp vào chiến công chung đó có công sức của tất cả các tộc người, trong đó có các tộc người thiểu số, tiêu biểu là hàng trăm cá nhân và đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang, hơn 300 Bà mẹ Việt Nam anh hùng là người dân tộc thiểu số.
Khi đất nước thống nhất, Đảng, Nhà nước ta có điều kiện để quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân tộc; xác lập quyền bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển giữa các tộc người. Các Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV, V, VI, được cụ thể hóa tại các Nghị quyết 22-NQTW ngày 27-11-1989 của Bộ Chính trị và Quyết định 72-HĐBT ngày 13-3-1990 của Hội đồng Bộ trưởng đề ra chủ trương, chính sách lớn về phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII, VIII, IX, X, XI, đặc biệt có Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, Khóa IX về công tác dân tộc, đã tiếp tục đề ra các quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp quan trọng về dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc. Quan hệ dân tộc ở nước ta đã thu được kết quả tốt đẹp. Trong khi nhiều nước trên thế giới như các nước Bắc Phi, Mỹ La-tinh và cả ở Đông Nam Á… xung đột sắc tộc, chia rẽ, ly khai dân tộc xảy ra liên miên thì ở nước ta tình hình chính trị xã hội ổn định, 54 dân tộc anh em sống bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vùng dân tộc thiểu số từng bước hình thành và phát triển, cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa. Tốc độ tăng trưởng GDP của các tỉnh miền núi luôn đạt mức bình quân từ 8 đến 10%/năm trong suốt nhiều năm. Số hộ đói nghèo hằng năm giảm khoảng 4-5%. Kinh tế trang trại phát triển nhanh cả về số lượng và quy mô. Điển hình từ năm 2000 ở xã Tân Châu, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng có 1.395 hộ thì đã có 20% hộ thu nhập hơn 500 triệu đồng/hộ/năm, cả xã có 30 ô tô tải, 306 máy kéo, 717 xe máy… hộ nghèo chỉ còn 5%.
Cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng phục vụ sản xuất, đời sống vùng dân tộc được xây dựng ngày càng nhiều. Hệ thống ruộng nước, ruộng bậc thang được mở rộng; hệ thống thủy lợi phát triển mạnh: Việt Bắc có 70-80%, Tây Bắc 60%, Tây Nguyên 90% diện tích ruộng được các công trình thủy lợi tưới nước.
Mạng lưới giao thông phát triển khá: Gần 100% xã có đường ô tô tới trung tâm. Ngày xưa, từ Hà Nội lên Lai Châu mất 1 tháng thì nay chỉ 1 ngày; lên Mèo Vạc, Lũng Cú cũng chỉ mất hơn 1 ngày… Đường mở đến đâu là kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng phát triển đến đó. Đây là một thành công lớn của Đảng, Nhà nước ta, đem lại lợi ích toàn diện cho đồng bào.
Giáo dục, đào tạo vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng dân tộc được quan tâm; quy mô giáo dục tiếp tục phát triển, xã hội hóa giáo dục, đào tạo thu được thành tựu bước đầu: 100% số xã đặc biệt khó khăn có trường tiểu học, nhà mẫu giáo; tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt 90-95%; đến năm 2010, cả nước đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Đời sống văn hóa của đồng bào được nâng cao: 90% xã có điện thoại, 80% số hộ được xem truyền hình, 90% được nghe đài phát thanh bằng tiếng các dân tộc; gần 100% xã vùng dân tộc có nhà văn hóa, bưu điện văn hóa; văn hóa truyền thống của các dân tộc được tôn trọng, giữ gìn và phát huy.
Việc khám, chữa bệnh cho người nghèo vùng sâu, vùng xa được quan tâm hơn: Gần 100% số xã có cán bộ y tế trực; 93,5% số xã có trạm y tế; hơn 95% trẻ em được tiêm chủng theo Chương trình tiêm chủng mở rộng. Các loại bệnh dịch cơ bản được ngăn chặn và từng bước đẩy lùi.
Hệ thống chính trị ở các vùng dân tộc thiểu số và miền núi bước đầu được tăng cường và củng cố. Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đã có bước trưởng thành, tỷ lệ cán bộ dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị các cấp ngày càng cao. Hàng vạn sinh viên dân tộc thiểu số được đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp theo chế độ cử tuyển. Tình hình chính trị, trật tự xã hội vùng dân tộc cơ bản ổn định; an ninh, quốc phòng được giữ vững (theo Báo cáo Tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7, Khóa IX về công tác dân tộc, ngày 29-7-2009).
Thô-mát Gian-đơn (Thomas Jandl), TS người Mỹ đã nhiều lần đến Việt Nam, nhận xét: Việt Nam đã rất thành công và đạt nhiều tiến bộ trong giải quyết vấn đề liên quan đến quyền con người như: Chương trình xóa đói giảm nghèo và hoàn thành sớm Mục tiêu Thiên niên kỷ. Nhìn vào tổng thể, có thể nói Việt Nam đã bảo đảm tốt hơn các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cho người dân… Việt Nam được thế giới biết đến như một tấm gương về tiến độ thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ, đặc biệt là mục tiêu xóa đói, giảm nghèo (xem Báo Quân đội nhân dân ngày 13-6-2011). Tất cả những thành tựu đó đã chứng tỏ quan hệ bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển giữa các tộc người tiếp tục được củng cố, tăng cường. Đây là thành công lớn do công cuộc Đổi mới đem lại, mà những người mặc cảm, định kiến nhất đối với chúng ta cũng không thể nào phủ nhận được.
Hiện nay, chúng ta càng có điều kiện thuận lợi để tiếp tục củng cố mối quan hệ dân tộc tốt đẹp hơn. Công cuộc Đổi mới đã đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội đã có bước phát triển vượt bậc, nhất là bưu chính, viễn thông, dịch vụ, giao thông. Sức mạnh về mọi mặt được tăng cường, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Tiềm lực, sức mạnh tổng hợp đó đã cho phép Đảng, Nhà nước ta có điều kiện tốt hơn để quan tâm, giải quyết vấn đề dân tộc.
Tuy nhiên, vấn đề dân tộc rất đa dạng, sinh động, liên quan đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, không kém phần phức tạp, vừa cấp bách, vừa lâu dài. Bởi nó có nguyên nhân từ những vấn đề lịch sử để lại; do sự khác biệt về điều kiện tự nhiên; do phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; do sự chống phá của các thế lực thù địch và do cả những hạn chế, thiếu sót của Đảng, Nhà nước ta... Do đó, không thể giải quyết tốt mọi vấn đề dân tộc trong ngày một, ngày hai.

Bởi thế, Đảng, Nhà nước ta tiếp tục tập trung thực hiện tốt hơn nữa chính sách dân tộc, nhằm nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân các dân tộc, củng cố xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.