Hiển thị các bài đăng có nhãn thực hiện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thực hiện. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 5 tháng 12, 2023

XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở VIỆT NAM THEO NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN NÀO?

Bình đẳng giữa các dân tộc là nguyên tắc có vị trí hàng đầu trong các nguyên tắc của chính sách dân tộc, bởi bình đẳng là cơ sở cho đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc. Bình đẳng giữa các dân tộc là bình đẳng trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa; thể hiện trong quyền phát triển, được đảm bảo và tạo mọi điều kiện để các dân tộc thực hiện và có cơ hội phát triển bình đẳng với các dân tộc khác.

Đoàn kết giữa các dân tộc tắc cơ bản, nhất quán, trọng yếu của chính sách dân tộc; là chiến lược của cách mạng Việt Nam. Đoàn kết giữa các dân tộc là đoàn kết trong nội bộ của từng dân tộc; giữa các dân tộc thiểu số với nhau và với dân tộc đa số; giữa các dân tộc ở Việt Nam với các dân tộc trên thế giới; và đấu tranh chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, tự ti mặc cảm dân tộc, cục bộ, bản vị, vị kỷ dân tộc, cực đoan dân tộc.

Tôn trọng, thương yêu nhau giữa các dân tộc là các nguyên tắc quan trọng. Đây là cơ sở để thực hiện bình đẳng dân tộc, chống sự kỳ thị, định kiến dân tộc, cực đoan dân tộc... bảo đảm cho đoàn kết dân tộc thêm chặt chẽ, bền vững.

Giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc là một yêu cầu có tính nguyên tắc, xuất phát từ thực tiễn khoảng cách phát triển giữa các tộc người ngày càng bị đẩy ra xa thêm, bao gồm cả giữa dân tộc thiểu số với dân tộc đa số, giữa các dân tộc thiểu số với nhau, giữa dân tộc trong nước với người Việt Nam ở nước ngoài.

Giúp  nhau cùng phát triển là nguyên tắc phản ánh mối quan hệ tương hỗ giữa các dân tộc để tạo nên đoàn kết và hợp thành sức mạnh tổng hợp, bao gồm cả dân tộc đa số giúp đỡ dân tộc thiểu số, dân tộc thiểu số giúp đỡ dân tộc đa số, các dân tộc thiểu số giúp đỡ nhau... trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Sự phát triển của các tộc người đóng góp vào sự phát triển chung của cộng đồng quốc gia - dân tộc, các tộc người có quyển và nghĩa vụ tham gia vào sự phát triển quốc gia-dân tộc; sự phát triển của cộng đồng quổc gia- dân tộc là môi trường, điều kiện, động lực, nguồn lực cho sự phát triển của mọi tộc người; lợi ích của tộc người phải thống nhất và là một bộ phận của lợi ích quốc gia-dân tộc; không thể có sự phát triển của từng tộc người nếu độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích quốc gia - dân tộc bị đe dọa, uy hiếp, xâm hại.

 Cùng phát triển, cùng tiến bộ là một nguyên tắc quan trọng. Trong chủ nghĩa xã hội, các dân tộc có quyền cùng phát triển, cùng tiến bộ, không dân tộc nào bị bỏ lại phía sau, dù có dân tộc phát triển nhanh, có dân tộc phát triển chậm hơn, có dân tộc tiến bộ nhiều hơn, có dân tộc tiến bộ ít hơn; song không chấp nhận tình trạng dân tộc này phát triển lại loại trừ khả năng phát triển của dân tộc khác.

Các dân tộc cùng thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, ván minh” là vấn đề có tính nguyên tắc nhằm xác định các dân tộc không chỉ bình đẳng về quyền mà còn bình đẳng về nghĩa vụ đối với sự nghiệp cách mạng chung, với quốc gia-dân tộc.

Các nguyên tắc cơ bản trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, được xác định và triển khai đồng bộ trong quá trình xây dựng và triển khai thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta. 

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN THẮNG LỢI SỨ MỆNH LỊCH SỬ TOÀN THẾ GIỚI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

Khi bàn về điều kiện thực hiện thắng lợi SMLS của GCCN, trong Lời tựa viết cho bản tiếng Anh xuất bản năm 1888, Ph.Ăngghen đã nêu rõ: “Chính do bản thân các sự biến và do những thành bại trong cuộc đấu tranh chống tư bản… mà công nhân không thể không cảm thấy rằng tất cả các môn thuốc vạn ứng của họ đều vô dụng, họ không thể không đi tới chỗ nhận thấy tường tận những điều kiện thực sự của công cuộc giải phóng giai cấp công nhân”.

Trước tiên, GCCN phải có trình độ giác ngộ cao về chính trị được thể hiện trước hết ở trình độ giác ngộ về giai cấp. Hiểu biết ở tầm lý luận “mình là gì và cần phải làm gì về mặt lịch sử” được tập trung trong nhận thức về SMLS của GCCN. C.Mác, Ph.Ăngghen viết: Vấn đề là ở chỗ giai cấp vô sản thực ra là gì, và phù hợp với sự tồn tại ấy của bản thân nó, giai cấp vô sản buộc phải làm gì về mặt lịch sử. Mục đích của nó và nhiệm vụ lịch sử của nó được tình hình sinh hoạt của bản thân nó cũng như toàn bộ tổ chức của xã hội tư sản hiện đại, chỉ ra từ trước một cách rõ rệt nhất và không thể chối cãi được. Một bộ phận lớn trong giai cấp vô sản Anh và Pháp đã có ý thức về nhiệm vụ lịch sử của mình và không ngừng cố gắng làm cho ý thức đó đạt tới mức hoàn toàn rõ rệt, điều đó bất tất phải nói đến nhiều”.

Thứ hai, Giai cấp công nhân muốn thực hiện SMLS vẻ vang của mình, nhất thiết phải tổ chức ra được chính Đảng Cộng sản thực sự là bộ phận tiên tiến, giác ngộ nhất, trung thành và đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong trào đấu tranh của giai cấp, của dân tộc, có lý luận khoa học dẫn đường. C.Mác, Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Vậy là về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”. Chủ nghĩa Mác- Lênin cũng khẳng định, việc GCCN tổ chức được một chính đảng trưởng thành về chính trị, tư tưởng và tổ chức là dấu hiệu đã trở thành giai cấp tự giác và đủ năng lực để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình.

Thứ ba, một điều kiện quan trọng khác để GCCN thực hiện thắng lợi SMLS của mình là phải thực hiện chiến lược liên minh giai cấp của GCCN với các giai tầng xã hội khác. C. Mác đã từng khẳng định: “cách mạng vô sản phải là một bài đồng ca của hai giai cấp công nhân và nông dân, mà nếu không có được bài đồng ca này thì trong tất cả các quốc gia nông dân, bài đơn ca của giai cấp công nhân sẽ trở thành bài ca ai điếu” Tuy nhiên, sự cần thiết của liên minh giai cấp không chỉ từ phía giai cấp vô sản mà còn từ phía những người bạn đồng minh của mình. Đồng thời, C. Mác cũng chỉ rõ, trong khối liên minh ấy, GCCN phải là giai cấp lãnh đạo, giai cấp trung tâm của các lực lượng cách mạng.

Thứ tư, điều kiện đoàn kết quốc tế của GCCN trên cơ sở giải quyết hài hòa giữa lợi ích GCCN và lợi ích dân tộc; giữa lợi ích GCCN và lợi ích nhân loại là một trong những điều kiện cơ bản để thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của GCCN. C.Mác và Ph. Ănghen đã kêu gọi: “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại ”. Như vậy, thực hiện tình đoàn kết quốc tế vừa là bản chất, vừa mục tiêu, vừa là động lực của quá trình thực hiện SMLS của GCCN.

Tóm lại, luận điểm trọng yếu nhất trong học thuyết Mác là soi sáng SMLS của GCCN. Trong đó, các ông đã chỉ rõ, chính nền công nghiệp lớn, hiện đại đã tạo ra những điều kiện vật chất và xã hội để thủ tiêu được chế độ người bóc lột người. Chỉ có GCCN là giai cấp bị tước mất tư liệu sản sản xuất, mới có khả năng hoàn thành cuộc cách mạng xã hội vĩ đại mà kết quả là bất kỳ chế độ bóc lột giai cấp nào và bất kỳ sự thống trị giai cấp nào cũng đều bị thủ tiêu. Chính đó là điều có tính quyết định, và vì vậy mà GCCN tại thời điểm đó dù chỉ chiếm một phần ít hơn về số lượng trong tổng số dân cư của đại đa số các nước cũng trở thành giai cấp lãnh đạo của tất cả các giai cấp bị bóc lột. Chỉ có GCCN mới có khả năng đoàn kết những người bị bóc lột lại chung quanh mình và làm cho họ trở thành những người bạn đồng minh của mình.

Ở thế kỷ XXI này, so với thời kỳ của C.Mác, Ph.Ăngghen, thế giới ngày nay có nhiều sự vận động và phát triển. Tuy nhiên, sự biến đổi này, không nằm ngoài sự tiên liệu và đoán định của các ông. Giai cấp công nhân vẫn là giai cấp đứng ở trung tâm của thời đại, đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến. Và vì vậy, sẽ đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, “…Theo qui luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”. Vì vậy, dù bối cảnh mới hiện nay đang có nhiều thay đổi nhưng lý luận của chủ nghĩa Mác về SMLS của GCCN vẫn còn nguyên giá trị./.

Thứ Tư, 20 tháng 4, 2022

VIỆT NAM THAM GIA VÀ NGHIÊM TÚC THỰC HIỆN CÁC NGHĨA VỤ, CAM KẾT QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban hành. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản.

Việt Nam có những đóng góp tích cực trong việc thành lập Ủy ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền, Ủy ban ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy các quyền của phụ nữ và trẻ em, thông qua tuyên bố Nhân quyền ASEAN.
Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016. Nhiều lãnh đạo các nước thời điểm đó ca ngợi tinh thần trách nhiệm, sự năng động của Việt Nam. Việt Nam đã đóng góp nhiều giá trị vào sự tiến bộ của nhân loại trong bảo đảm quyền con người.

Với mong muốn đóng góp hiệu quả hơn nữa vào các nỗ lực chung của thế giới nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, Việt Nam đã ứng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Việt Nam là ứng cử viên duy nhất được ASEAN đề cử.

Gần 10 năm sau nhiệm kỳ đầu tiên tại Hội đồng Nhân quyền, Việt Nam đã có nhiều tiến bộ vượt bậc trên mọi mặt đời sống xã hội và việc tham gia ứng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 thể hiện quyết tâm, sự chủ động, tích cực và trách nhiệm của Việt Nam trong thúc đẩy quyền con người ở khu vực và trên thế giới.

KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

Cơ sở pháp lý ngày càng hoàn thiện. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được ghi nhận tại Điều 24 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Nội dung hiến định này của Việt Nam hoàn toàn tương thích với luật pháp quốc tế.

Một số nguyên tắc, chuẩn mực cơ bản về bảo vệ, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo đã được ghi nhận trong các luật và bộ luật quan trọng của Việt Nam như: Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (Điều 9); Bộ luật Hình sự năm 2015 (Điều 116), Luật Giáo dục năm 2019 (Điều 13, 20); Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (Điều 17); Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, v.v..

Theo đó, luật pháp Việt Nam có quy định rất rõ ràng về quyền và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người dân. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định rõ quyền tự do tin hoặc không tin theo tôn giáo, tự do bày tỏ niềm tin, thực hành nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo, tham gia lễ hội, học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo của mọi người; quyền của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; quyền tự do tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam. 

Đã từ lâu, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến các hoạt động tôn giáo và ban hành những chủ trương, chính sách nhằm tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động đúng tôn chỉ mục đích và Hiến pháp, pháp luật. Quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền theo hoặc không theo tôn giáo của người dân, bảo đảm sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng, bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật. . Tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam hiện nay đều được thực hiện các sinh hoạt tôn giáo bình thường tại gia đình và các cơ sở tôn giáo hoặc các địa điểm hợp pháp khác theo nghi lễ truyền thống của tôn giáo mình. Các cá nhân và tổ chức tôn giáo được Nhà nước tạo thuận lợi và đảm bảo điều kiện sinh hoạt tôn giáo bình thường theo quy định của pháp luật như: tạo điều kiện cho các tôn giáo hoàn thiện cơ cấu tổ chức giáo hội; tạo điều kiện về cơ sở thờ tự và sinh hoạt tôn giáo, về kinh sách phục vụ cho việc tu học và hành đạo, về đào tạo, bồi dưỡng chức sắc, người hướng dẫn việc đạo, về mở rộng các mối quan hệ quốc tế, .v.v..

Đến năm 2018, Nhà nước Việt Nam đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 41 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với 26.689.748 tín đồ, trong đó có 57.716 chức sắc, 130.167 chức việc; các tôn giáo ở Việt Nam có 29.854 cơ sở thờ tự và hơn 60 cơ sở đào tạo, trong đó có 17 trường đào tạo trình độ đại học. 

Mỗi năm, ở Việt Nam có hàng trăm đầu sách và các ấn phẩm tôn giáo, với hàng triệu bản in được xuất bản phục vụ nhu cầu học tập và tìm hiểu của người dân. Chỉ riêng hai tôn giáo là Công giáo và đạo Tin lành, trong năm 2020 đã xuất bản hơn 1 triệu bản Kinh Thánh. Hiện nay, các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam có 15 tờ báo và tạp chí; hầu hết các tổ chức tôn giáo đều có các trang thông tin điện tử. 

Từ năm 2003 đến năm 2017, có 9.343 cơ sở thờ tự của tôn giáo ở Việt Nam được phục hồi và xây mới đến năm 2020, hầu hết cơ sở thờ tự của các tôn giáo đã được trùng tu, sửa chữa, trong đó có khoảng 1/3 cơ sở được tu sửa ở quy mô lớn. 

Thời gian gần đây, Nhà nước đã tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam đăng cai tổ chức nhiều hoạt động tôn giáo quy mô lớn, mang tầm khu vực và quốc tế, diễn ra trong thời gian dài, như: Công giáo với Lễ Năm thánh 2010 và Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á châu năm 2012; Phật giáo với Đại lễ Phật đản Vesak các năm 2008, 2014, 2019; đạo Tin lành với Lễ kỷ niệm 500 năm Tin lành cải chính năm 2017...

Thứ Ba, 15 tháng 3, 2022

GIẢI PHÁP CƠ BẢN THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO CỦA HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 4 KHÓA XIII VỀ KIÊN ĐỊNH, PHÁT TRIỂN VÀ VẬN DỤNG SÁNG TẠO CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Để thực hiện những quan điểm chỉ đạo của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, cần chú ý đến những giải pháp cơ bản như sau:

Thứ nhất, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Vì bối cảnh thực tiễn đã có nhiều thay đổi, đặt ra nhiều vấn đề mới cần giải quyết nên để tiếp tục kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết cần đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu lớn về những vấn đề cơ bản, nền tảng nhằm tiếp tục khẳng định những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, cần chắt lọc, đề xuất những vấn đề cần bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn nước ta giai đoạn hiện nay. Đây không phải là “xét lại” chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh như một số học giả phi mácxít đã lợi dụng sự phát triển của thực tiễn để mổ xẻ, phê phán, phủ nhận chủ nghĩa Mác; mà là tiếp thu tinh thần biện chứng của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác. Bản thân các ông không coi học thuyết của mình là chìa khóa vạn năng, nhất thành bất biến mà là một học thuyết mở cần được bổ sung, phát triển, cần được “thêm da thêm thịt” bằng thực tiễn sinh động đúng như Ph.Ăngghen đã từng khẳng định: “Lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc”. Do đó, kiên trì nhưng không bảo thủ, giáo điều; bổ sung, phát triển nhưng không xa rời những lý luận nền tảng, những nguyên tắc cơ bản là cách thức cần thiết để kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam giai đoạn hiện nay.

Thứ hai, kiên quyết đấu tranh chống lại những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị.

Bên cạnh việc khẳng định, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; cần tiếp tục đấu tranh chống lại những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Trước hết, cần hệ thống hóa các nội dung đang bị các thế lực chống phá, từ đó xây dựng luận cứ đấu tranh phản bác trên từng vấn đề cụ thể. Đồng thời, chuyển trọng tâm của việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên mặt trận tư tưởng, lý luận truyền thống là chủ yếu sang đấu tranh trên internet và mạng xã hội. Đây là một sự chuyển hướng cần thiết nhằm nắm bắt xu thế tất yếu của thời đại. Đó là sự chống phá ngày càng tinh vi, quyết liệt của các thế lực thù địch trên không gian mạng khiến mạng xã hội trở thành không gian tranh chấp chính trên trận tuyến đặc biệt quan trọng này. Điều này cũng được Đảng ta chỉ rõ ở Đại hội XIII như sau: “Chủ động cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, khách quan, đúng định hướng để phòng, chống “diễn biến hòa bình”, thông tin xấu độc trên internet và mạng xã hội”. Ngoài ra, cần áp dụng những quy định của pháp luật để xử lý nghiêm minh những đối tượng có hành vi xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh dưới bất kỳ hình thức nào.

Thứ ba, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Tùy theo yêu cầu của mỗi cấp học, bậc học, cần đổi mới nội dung chương trình giảng dạy các môn chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh theo hướng “khoa học, sáng tạo, hiện đại và gắn lý luận với thực tiễn”. Nội dung chương trình cần bố trí hợp lý giữa kiến thức lý luận với những vấn đề thực tiễn, tăng cường bồi dưỡng kỹ năng vận dụng những kiến thức lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII nêu rõ: “Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tham khảo kinh nghiệm quốc tế để xây dựng cơ sở khoa học vững chắc cho việc hoạch định, thực thu chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Ngoài ra, cần đẩy mạnh đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại, áp dụng những phương pháp giảng dạy tích cực, đa dạng hóa các hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, ứng dụng khoa học - công nghệ hiện đại để kiểm tra, giám sát nhằm khắc phục những hạn chế trong công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị ở nước ta thời gian qua: “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao bản lĩnh chính trị; khắc phục tình trạng ngài học, lười học lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên”.

Thứ tư, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm, tính sáng tạo trong việc học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Để tiếp tục kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên cần không ngừng tự học tập, tự nghiên cứu để nâng cao trình độ lý luận chính trị; có ý thức khắc phục triệt để bệnh “lười” học tập lý luận chính trị. Ngoài ra, cần quán triệt quan điểm biện chứng và nguyên lý phát triển khi học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là vừa không ngừng củng cố, nâng cao kiến thức để tăng “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” trước những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch song cũng vận dụng sáng tạo, không ngừng bổ sung, phát triển những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể; tránh tư duy dập khuôn, máy móc, giáo điều làm xơ cứng, nghèo nàn những quan điểm, tư tưởng của các bậc tiền bối.

Như vậy, kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nguyên tắc quan trọng, có ý nghĩa sống còn trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay. Do đó, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động. Đây tuy là một nhiệm vụ rất quan trọng với nhiều khó khăn, thử thách nhưng với niềm tin sắt son, bằng sự quyết tâm và tinh thần đồng sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị, chúng ta sẽ vẫn tiếp tục vững vàng trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho Đảng ta, dân tộc ta trên chặng đường đổi mới tiếp theo./.

Thứ Tư, 9 tháng 3, 2022

PHƯƠNG THỨC THỰC HIỆN ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Về phương thức thực hiện đoàn kết tôn giáo, Hồ Chí Minh đã nêu lên một số vấn đề mang tính định hướng như sau:

Lấy lợi ích quốc gia, dân tộc và quyền lợi cơ bản của con người làm mẫu số chung trong việc giải quyết vấn đề dân tộc - tôn giáo: Trong điều kiện của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân chỉ được thực hiện khi đất nước độc lập, bởi: “Nước không độc lập thì tôn giáo không được tự do nên chúng ta phải làm cho nước độc lập đã”. Đồng thời, Người chỉ rõ chỉ trên cơ sở lợi ích chung vì độc lập dân tộc, vì quyền tự do, hạnh phúc của mỗi con người không phân biệt giai tầng, giới tính, dân tộc, tôn giáo, thì mới có thể giải quyết thỏa đáng mối quan hệ dân tộc - tôn giáo.

Trong mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo, Hồ Chí Minh luôn đặt vấn đề dân tộc là ưu tiên hàng đầu, song không bao giờ xem nhẹ vấn đề tôn giáo. Từ quan điểm và cách thức của Người, giáo hội các tôn giáo đề ra tôn chỉ, mục đích hành đạo theo hướng gắn bó với dân tộc như: “sống phúc âm giữa lòng dân tộc” (Công giáo); “sống phúc âm phụng sự Thiên chúa, phụng sự Tổ quốc và dân tộc” (Tin lành); “đạo pháp - dân tộc và chủ nghĩa xã hội” (Phật giáo); “nước vinh, đạo sáng” (đạo Cao đài), “chấn hưng nền đạo gắn bó với dân tộc; phù hợp với chính sách và pháp luật của Nhà nước góp phần tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Phật giáo, Hoà Hảo).

Trân trọng các giá trị tốt đẹp trong các tôn giáo; chấp nhận sự khác biệt, phát huy những điểm tương đồng giữa các tôn giáo, giữa triết lý tôn giáo và lý tưởng cộng sản: Hồ Chí Minh không bao giờ có thái độ thiên kiến, bài xích, mà nhìn nhận tôn giáo trên bình diện văn hóa, đạo đức, với quan niệm tôn giáo mang những giá trị gắn chặt với con người, vì con người, vì thế mang giá trị nhân văn sâu sắc. Người tổng kết: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa” và nhận ra những tư tưởng, quan điểm đó có những nét tương đồng với lý tưởng xã hội chủ nghĩa mà Người đang hướng tới. Với cái nhìn rộng mở và nhân ái, Hồ Chí Minh nhận thấy những ước mơ về một xã hội bình đẳng, tự do, nhân ái của những người sáng lập ra tôn giáo là phù hợp với lí tưởng của những người cộng sản và cuộc kháng chiến của dân tộc trong đó có sự tham gia của đồng bào các tôn giáo là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với tinh thần của Chúa và Phật là phải thương yêu, đùm bọc nhau để chống lại kẻ thù tàn bạo, hung ác.

Trong điều kiện Việt Nam, Hồ Chí Minh chủ trương không tiến hành cuộc đấu tranh trực diện với giáo lý của các tôn giáo, tránh việc kẻ địch sẽ lợi dụng để vu khống, để tuyên truyền luận điệu “cộng sản là vô thần”, “cộng sản nắm chính quyền sớm muộn gì cũng sẽ tiêu diệt tôn giáo”. Người chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt; đề cao, phát huy những điểm tương đồng giữa giữa giáo lý tôn giáo và chủ nghĩa cộng sản; ghi nhận, động viên, khích lệ những đóng góp đồng bào các tôn giáo trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Người nêu rõ: “Mục đích Chính phủ ta theo đuổi là chiến đấu vì nền độc lập và đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Song, để đạt tới hạnh phúc đó cho mọi người thì cần phải xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nếu Đức Chúa Giêsu sinh ra vào thời đại chúng ta và phải đặt mình trước những nỗi khổ đau của người đương thời, chắc ngài sẽ là một người xã hội chủ nghĩa đi theo con đường cứu khổ loài người”. Đó là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, thể hiện tư duy rộng mở và tinh thần nhân văn cao cả của Hồ Chí Minh.

Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và đối xử bình đẳng với các tôn giáo: Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, nhân dân có quyền tự do lựa chọn, tin hoặc không tin, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; các tôn giáo bình đẳng với nhau không phân biệt lớn nhỏ, không vì đề cao niềm tin tôn giáo của mình mà nhạo báng, coi khinh tôn giáo của người khác.

Dưới sự chỉ đạo của Người, quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân đã được khẳng định trong chủ trương, đường lối của Đảng và thể chế hóa trong văn bản pháp luật của Nhà nước. Hiến pháp đầu tiên nước ta năm 1946, Chương II, mục B đã ghi rõ: “Mọi công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng”. Tôn trọng các tổ chức và hoạt động tôn giáo, Người nhấn mạnh: “Chính quyền không can thiệp vào nội bộ tôn giáo; riêng về Công giáo, quan hệ về tôn giáo giữa giáo hội Việt Nam với Tòa thánh La Mã là vấn đề nội bộ của Công giáo”. Bên cạnh đó, Người gắn việc thực hiện quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân: “không tách rời bổn phận kính Chúa của người Công giáo với bổn phận yêu nước của người công dân”, “Hoạt động tôn giáo không được cản trở sản xuất của nhân dân, không được trái với chính sách và pháp luật của Nhà nước”. Người yêu cầu các nhà tu hành, các chức sắc tôn giáo khi truyền bá tôn giáo “có nhiệm vụ giáo dục cho các tín đồ lòng yêu nước, nghĩa vụ của công dân, ý thức tôn trọng chính quyền nhân dân và pháp luật của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”.

Đấu tranh chống âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực phản động: Tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân, nhưng Hồ Chí Minh luôn đặt ra vấn đề phải phân biệt được nhu cầu tín ngưỡng chân chính của quần chúng với âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch. Đối với bọn đầu sỏ, ngoan cố và những kẻ lợi dụng và giả danh tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá cách mạng, Hồ Chí Minh nêu rõ: phải quyết liệt “trừng trị theo pháp luật” và “Chính phủ sẽ nghiêm trị những kẻ lừa bịp, cưỡng bức đồng bào phải lìa bỏ quê hương, sa vào một đời sống tối tăm cực khổ về phần xác cũng như phần hồn”.

Đối với đồng bào các tôn giáo, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, tự do tín ngưỡng là một vấn đề nhạy cảm, dễ bị lực lượng phản cách mạng lợi dụng nhằm xuyên tạc, phá hoại tình đoàn kết gắn bó giữa đồng bào lương - giáo, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau. Bởi vậy, đồng bào các tôn giáo cần nâng cao cảnh giác “chớ mắc mưu những kẻ tuyên truyền lừa bịp”.

Đối với cán bộ Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng, Hồ Chí Minh yêu cầu cần gương mẫu chấp hành chính sách tôn giáo; ra sức giải thích cho đồng bào các tôn giáo hiểu chính sách của Đảng, Nhà nước; đồng thời kiên quyết sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm trong việc thực hiện chính sách tôn giáo. Người phê phán những hiện tượng như “Đối với nông dân Công giáo, có đội đã đưa chủ nghĩa Mác - Lênin ra giải thích. Nhiều cán bộ, hễ nói đến cha cố, không phân biệt tốt xấu, cứ gọi là thằng, làm cho nông dân Công giáo khó chịu”. Đó là nguyên nhân khiến đồng bào có đạo hiểu sai về chính sách của Đảng, tạo cớ cho kẻ thù kích động, xuyên tạc, phá hoại.

Tôn trọng các chức sắc tôn giáo và quan tâm đến giáo dân, hướng họ vào các hoạt động lợi ích chung của toàn dân tộc: Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò, uy tín của hàng ngũ giáo sĩ, nhà tu hành - những người có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với các tín đồ tôn giáo. Bởi vậy, Người cho rằng tôn trọng, vận động, thuyết phục hàng ngũ chức sắc tôn giáo là biện pháp quan trọng để thực hiện chính sách đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc. Bằng thái độ trân trọng, tin tưởng, chân thành, cầu thị, Hồ Chí Minh đã quy tụ được nhiều chức sắc có uy tín lớn trong các tôn giáo như linh mục Phạm Bá Trực, ông Cao Triều Phát - lãnh tụ Cao Đài vùng Hậu Giang, v.v. tích cực tham gia đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc, xây dựng khối đoàn kết tôn giáo.

Bên cạnh đề cao vai trò của vị giáo chủ, giáo sĩ, Hồ Chí Minh dành sự quan tâm sâu sắc đến đời sống của đồng bào tín đồ tôn giáo, nhất là tín đồ thuộc các dân tộc thiểu số. Người đã gửi nhiều thư, điện đến đồng bào Công giáo, đồng bào các dân tộc, biểu dương công trạng và tinh thần hăng hái tham gia kháng chiến của đồng bào, thăm hỏi nhân dịp các ngày lễ lớn của các tôn giáo. Đặc biệt, đối với đồng bào lầm đường lạc lối, đã từng quay lưng với cách mạng và dân tộc, Người bày tỏ thương xót với những cực khổ của bà con ở nơi đất khách, quê người, đồng thời chủ trương “Không được báo thù báo oán. Đối với những kẻ đi lầm đường lạc lối, đồng bào ta cần phải dùng chính sách khoan hồng. Lấy lời khôn lẽ phải mà bày cho họ”, bởi “Trừ một bọn rất ít đại Việt gian, đồng bào ta ai cũng có lòng yêu nước. Tuy có một số đồng bào lầm lạc, qua một thời gian, những người ấy dần dần giác ngộ và quay trở về với Tổ quốc”.

Với chủ trương và những biện pháp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết sáng tạo, phù hợp vấn đề tôn giáo, đoàn kết chặt chẽ lương - giáo, đồng bào các tôn giáo khác nhau, cùng góp sức cuộc đấu tranh giải phóng và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là nền tảng lý luận, định hướng cho Đảng trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo ở Việt Nam trong giai đoạn cách mạng trước đây và hiện nay.

Thứ Sáu, 11 tháng 2, 2022

THỰC HIỆN LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ LÀ VINH DỰ, TRÁCH NHIỆM CỦA THANH NIÊN

Quân đội là trường học lớn của thanh niên, là niềm mơ ước và mục tiêu vươn tới của không ít thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ. Được học tập, rèn luyện trong quân đội là niềm vinh dự, tự hào, là trách nhiệm của thanh niên Việt Nam.

Niềm vinh dự, tự hào

Mỗi thanh niên tham gia nghĩa vụ quân sự là vinh dự, tự hào, bởi thực hiện nghĩa vụ quân sự chính là sự cống hiến một phần bé nhỏ của mình cho sự nghiệp của Đảng và toàn dân tộc. Hình ảnh Bộ độ Cụ Hồ luôn là tấm gương sáng cho mọi thế hệ thanh niên Việt Nam noi theo. Còn gì hơn khi được tôi luyện ở môi trường quân đội, một trường học lớn để hoàn thiện nhân cách, góp phần năng lực và phẩm chất của mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, mỗi thanh niên coi đây là vinh dự của bản thân trước gia đình, quê hương và xã hội. Do đó phải tự giác tu dưỡng, rèn luyện để thực sự là những hình ảnh cao đẹp của một người lính. Quân đội cũng là môi trường để người lính được hoàn thiện những phẩm chất và năng lực cần thiết, để khi rời khỏi quân ngũ thì phẩm chất và năng lực đó lại được phát huy trên nhiều lĩnh vực. Vì thế, gia đình, cấp ủy, chính quyền địa phương cũng như các đơn vị phải thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, vận động thanh niên để họ sẵn sàng tham gia nghĩa vụ quân sự một cách tự giác, cống hiến phần bé nhỏ của mình cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Là trách nhiệm công dân

Thanh niên lên đường nhập ngũ là nghĩa vụ công dân, khi nhập ngũ họ được học tập những kiến thức cơ bản về Đảng, Bác Hồ, về chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc… họ phải nhận thức rõ đối tượng, đối tác, phân biệt rõ ai là bạn, ai là thù từ đó nâng cao ý thức cảnh giác và đề kháng với những luận điệu xấu độc của kẻ thù cũng như tuyên truyền giáo dục đến mọi người cùng tham gia bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, trong thời gian tại quân ngũ họ được rèn luyện về thể lực, về kỹ chiến thuật, về tâm lý từ đó tạo nên sự vững vàng trước các tình huống có thể xảy ra.

Bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân tộc. Do vậy, thực hiện nghĩa vụ quân sự là trách nhiệm với Tổ quốc, với quê hương. Đất nước ta đã hoà bình, mọi người dân luôn hướng đến sự ấm no bình đẳng, các dân tộc đoàn kết cùng chung sống, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đang gặt hái được những thành tựu to lớn. Do vậy, cùng với vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải luôn đi đôi với bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, chủ nghĩa đế quốc và các thể lực thù địch luôn tìm cách lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta và phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng tìm mọi cách để chống phá cách mạng Việt Nam trên nhiều lĩnh vực trong đó có vấn đề quốc phòng. Vì vậy, mỗi thanh niên được tham gia quân đội chính là thể hiện trách nhiệm to lớn với Tổ quốc và dân tộc.

Theo: QĐND

Thứ Tư, 15 tháng 12, 2021

MỘT SỐ KẾT QUẢ NỔI BẬT TRONG THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM

Ở Việt Nam, thực hiện bình đẳng giới luôn nhận được sự quan tâm sát sao của Đảng, Chính phủ, các cơ quan cũng như các tổ chức cả trong và ngoài nước. Hệ thống chính sách, pháp luật của nhà nước không ngừng được hoàn thiện, công tác tổ chức được triển khai đồng bộ, quyết liệt cùng với sự tăng cường hợp tác với các đối tác phát triển và các tổ chức của Liên hợp quốc như Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), Ủy ban Địa vị Phụ nữ Liên hợp quốc… để giải quyết các vấn đề xoay quanh bình đẳng giới.

Sau 10 năm thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 24/12/2010, Việt Nam đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ, góp phần thu hẹp khoảng cách giới trong các lĩnh vực, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước...

Một là, từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị. Thể hiện trước hết ở việc tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý nhằm Báo cáo số 362/BC-CP ngày 18/8/2020 của Chính phủ về việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2019 và giai đoạn 2011-2020 cho thấy, tỷ lệ nữ giới tham gia các cấp ủy Đảng khóa sau đã tăng hơn khóa trước. Cụ thể: Tỷ lệ nữ giới tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI là 8,62%, các Đảng bộ trực thuộc Trung ương là 11,4%, cấp huyện là 14% và cấp cơ sở là 18,1%; tới khóa XII, các tỷ lệ tương ứng đạt lần lượt là 10%, 13,3%, 14,3% và 19,07%. Việt Nam nằm trong nhóm 1/3 các nước đứng đầu về tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, khóa XIII đạt 24,2%, khóa XIV đạt 27,31%, khóa XV đạt 30,26%.

Hai là, trong lĩnh vực kinh tế, kết quả bình đẳng giới cũng đạt nhiều thành tựu quan trọng. Thể hiện ở khía cạnh giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm; nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ, tăng cường sự tiếp cận của phụ nữ nghèo ở nông thôn, phụ nữ người dân tộc thiểu số đối với các nguồn lực kinh tế, thị trường lao động; chú trọng phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao. Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 của Tổng cục Thống kê cho thấy, nữ giới chiếm đến 47,3% lực lượng lao động chính của cả nước. Tính đến tháng 10/2019, có khoảng trên 285,6 nghìn doanh nghiệp do nữ doanh nhân đứng đầu, chiếm 24% tổng số doanh nghiệp cả nước. Tỷ lệ nữ giới biết chữ trong độ tuổi từ 15-60 đạt 97,33%, tỷ lệ nữ thạc sỹ đạt 54,25%, tỷ lệ tiến sĩ đạt 30,8%..

Ba là, trong, đảm bảo bình đẳng giới trong tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và đời sống gia đình cũng gặt hái được nhiều thành tựu. Theo kết quả của Tổng điều tra, tỷ số giới tính khi sinh (SRB) của Việt Nam đã được khống chế ở mức ổn định nhiều nhờ nỗ lực đưa SRB về mức cân bằng tự nhiên với mức 111,5 bé trai/100 bé gái sinh ra sống. Nhờ tính hiệu quả của hệ thống y tế trong việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ trước, trong và sau sinh, tỷ số tử vong của bà mẹ đã giảm từ 69 ca trên 100 nghìn ca sinh sống năm 2009 xuống còn 46 ca trên 100 nghìn ca sinh sống năm 2019. Những nỗ lực giải quyết vấn đề bình đẳng giới còn được lồng ghép trong lĩnh vực văn hóa và thông tin thông qua việc đẩy mạnh các hoạt động truyền thông, nâng cao nhận thức về giới và bình đẳng giới.


ĐÓNG GÓP CỦA VIỆT NAM TRONG THAM GIA THỰC HIỆN QUYỀN CON NGƯỜI TRÊN THẾ GIỚI

Việt Nam luôn nỗ lực đóng góp tích cực vào những giá trị chung, tích cực và tiến bộ của nhân loại về quyền con người thông qua việc tham gia tích cực vào các diễn đàn liên quan đến quyền con người của Liên hợp quốc, ASEAN và các cơ chế khác. Hiện nay, Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước của Liên hợp quốc về quyền con người, như: “Công ước quốc tế về xóa bỏ các hình thức phân biệt chủng tộc”; “Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ”; “Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội”; “Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị”; “Công ước về quyền trẻ em”; “Công ước về quyền của người khuyết tật”… Tại các diễn đàn này, Việt Nam đã chủ động đưa ra và được cộng đồng quốc tế hoan nghênh các sáng kiến về quyền con người, đặc biệt về nội dung liên quan đến bảo đảm quyền phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, những người chịu tác động của biến đổi khí hậu…

Việt Nam có những hành động thiết thực với những đối tượng cụ thể, nhất là quyền trẻ em và quyền phụ nữ. Việt Nam từng được bầu là thành viên Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2014-2016. Năm 2016 và 2018, Việt Nam đã chủ trì giới thiệu và được Hội đồng nhân quyền thông qua 2 nghị quyết về tác động của biến đổi khí hậu đối với quyền trẻ em và đối với quyền phụ nữ. Việt Nam cũng tích cực tham gia đối thoại về quyền con người với nhiều quốc gia, như: Mỹ, Australia, Thụy Sỹ và EU, nhằm nâng cao hơn sự hưởng thụ quyền của người dân ở mỗi quốc gia...

Là một trong những nước đã thực hiện thành công trước thời hạn nhiều Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc, Việt Nam hiện còn được biết đến là quốc gia trong thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm, không ai bị ở lại phía sau của Liên hợp quốc.

Những thành tựu của công cuộc đổi mới, phát triển đất nước cùng những tiến bộ không ngừng trong sự nghiệp bảo đảm và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Với mong muốn đóng góp nhiều và hiệu quả hơn nữa vào các nỗ lực chung của thế giới nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, Việt Nam đã ứng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. 

MỘT SỐ KẾT QUẢ NỔI BẬT TRONG THỰC HIỆN QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

Hoàn thiện cơ sở pháp lý về quyền con người ở nước ta. Chúng ta đã tiến hành sửa đổi và ban hành mới nhiều văn bản luật, trong đó có những bộ luật liên quan đến đảm bảo quyền con người, như: Luật Báo chí; Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo; Luật Tiếp cận thông tin; Luật An ninh mạng…  Bằng việc tham gia đóng góp ý kiến vào quá trình xây dựng luật pháp, nhân dân đã thực hiện các quyền tự do, dân chủ của mình; và các văn bản pháp luật quan trọng đều thể hiện được ý chí, lợi ích và nguyện vọng của nhân dân.

Quyền con người được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Quyền làm chủ của người dân Việt Nam được thể hiện rõ ở: quyền bầu cử và ứng cử; quyền tự do ngôn luận, báo chí; quyền tự do tôn giáo… Nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân và thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội trong điều kiện cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Nhà nước ta đã thành lập Ủy ban quốc gia, đẩy nhanh tiến độ xây dựng “Chính phủ điện tử”; Cổng thông tin điện tử của các cơ quan Nhà nước, nhằm cung cấp dịch vụ công trực tuyến để cán bộ, cơ quan, tổ chức đối thoại trực tiếp với nhân dân, nâng cao hiệu quả tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp.

Xây dựng và triển khai thực hiện thắng lợi nhiều chương trình phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền con người trong các lĩnh vực này. Tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016-2019 đạt khá cao, bình quân 6,8%/năm. Năm 2020, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh, nhưng tăng trưởng cả năm vẫn đạt 2,91%; là một trong những quốc gia tăng trưởng cao nhất trong khu vực và trên thế giới.

Một trong những thành tựu nổi bật nhất của Việt Nam bảo đảm quyền con người là đạt được những tiến bộ vượt bậc về xóa đói giảm nghèo, phát triển con người và chất lượng cuộc sống. Tính đến cuối năm 2020 tỷ lệ hộ nghèo còn 2,75% (theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020). Việt Nam là quốc gia đạt được kết quả ấn tượng trong việc thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ về giảm nghèo, được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Lĩnh vực giáo dục và chăm sóc sức khỏe cho người dân ngày càng được nâng cao. Đến nay 63 tỉnh, thành phố đạt phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi và phổ cập giáo dục tiểu học. Ngoài sự phát triển các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe trực tiếp, Việt Nam còn thi hành nhiều biện pháp nhằm nâng cao sức khỏe của người dân, ngăn ngừa bệnh tật từ xa như chương trình cung cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn. Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước sạch tăng lên qua các năm. Bảo hiểm y tế được phát triển, mở rộng. Số lượng người tham gia bảo hiểm y tế đã tăng từ 3,8 triệu (chiếm 5,4% dân số) năm 1993 lên gần 88 triệu người (gần 91% dân số) năm 2020.

Có nhiều chính sách chăm sóc, bảo đảm quyền của nhóm xã hội dễ bị tổn thương, bao gồm phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật. Trong đó, trẻ em ngày càng được chăm sóc và bảo vệ tốt hơn để phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần; Tỷ lệ nữ giới được giáo dục ở mọi cấp tăng cao. Các chính sách đổi mới của Việt Nam đã tạo cơ hội cho phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động kinh tế-xã hội của đất nước. Lao động nữ được quan tâm nhiều hơn trong thời kỳ thai sản và tuổi nghỉ hưu. Người khuyết tật được quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để được học văn hóa, được ưu tiên bố trí việc làm...

Thứ Ba, 9 tháng 11, 2021

NHỮNG ĐIỂM KHÁC CƠ BẢN TRONG NHẬN THỨC VỀ THỰC HIỆN TIẾN BỘ GẮN CÔNG BẰNG XÃ HỘI GIAI ĐOẠN TRƯỚC VÀ SAU ĐỔI MỚI

Từ chỗ đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản sang thừa nhận giá trị nhân loại của kinh tế thị trường và sáng tạo nên nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, khẳng định đây là mô hình tất yếu để thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Từ chỗ Đảng, Nhà nước bao cấp toàn bộ trong giải quyết việc làm và thực hiện chính sách xã hội chuyển sang Nhà nước tạo cơ chế để các giai cấp, tầng lớp, thành phần kinh tế, xã hội cùng tạo việc làm cũng như giải quyết các vấn đề xã hội. Đây chính là sự kế thừa và phát triển sáng tạo tinh thần Chính sách kinh tế mới của V.I.Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH.

Từ chỗ quan niệm chính sách xã hội như là chính sách hỗ trợ của Nhà nước chuyển sangkhẳng định chính sách xã hội cũng là chính sách phát triển. Từ chỗ chưa đặt đúng vị trí, vai tròchính sách xã hội trong tương quan với chính sách kinh tế đã đi đến nhận thức về sự gắn kết chặt chẽ, thống nhất biện chứng giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội, xem phát triển kinh tế là cơ sở, tiền đề để thực hiện các chính sách xã hội và xem việc thực hiện tốt chính sách xã hội là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế.

Từ chủ trương tạo lập cơ cấu xã hội thuần nhất sang chủ trương xây dựng xã hội đa dạng, trong đó, các giai tầng xã hội đều có quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm chính đáng và cùng hướng theo mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Từ chỗ nhấn mạnh lợi ích tập thể, xem nhẹ lợi ích cá nhân sang giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích, nhất là các lợi ích thiết thân của cá nhân người lao động. Từ chỗ phân phối bình quân, đơn điệu sang thực hiện đa dạng hình thức phân phối: dựa vào kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, dựa vào mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội. Đây là sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng hợp lý trong CNXH: “Làm nhiều hưởng nhiều,làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm nom”...

Từ chỗ phủ nhận phân hóa giàu nghèo đi đến khuyến khích làm giàu hợp pháp và tích cực xóa đói, giảm nghèo, xem đây là điều kiện cần thiết nhằm thực hiện hệ mục tiêu của CNXH, trong đó có mục tiêu dân giàu và công bằng, văn minh. Về điểm này, chủ nghĩa Mác-Lênin cũngđã luận chứng rằng, trong thời kỳ quá độ lên CNXH và trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản, sẽ không tránh khỏi hiện tượng, “người này vẫn lĩnh nhiều hơn người kia, người này vẫn giàu hơn người kia”...

Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021

TĂNG CƯƠNG PHỐI HỢP GIỮA CẤP ỦY, CHÍNH QUYỀN VÀ CÁC ĐOÀN THỂ TRONG THỰC HIỆN CÔNG TÁC TÔN GIÁO HIỆN NAY

Thực hiện công tác tôn giáo là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị các cấp ở địa phương và các lược lượng trên địa bàn (trong đó có các đơn vị quân đội) dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương. Do đó, các đơn vị quân đội tham gia thực hiện công tác tôn giáo vừa phải tuân thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp trên vừa phải chủ động tham mưu, phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương và các lực lượng khác trên địa bàn đứng chân để nâng cao hiệu quả thực hiện công tác này. Đây là nguyên tắc, bảo đảm cho các đơn vị quân đội tham gia thực hiện công tác tôn giáo đúng với chức năng, nhiệm vụ và phát huy vai trò chủ động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện.

Chính vì vậy, cấp ủy, chỉ huy các đơn vị quân đội trên địa bàn trong tham gia thực hiện các nhiệm vụ, nội dung của công tác tôn giáo phải thường xuyên tham mưu, phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể địa phương để vừa đảm bào sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất vừa tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của cấp ủy, chính quyền địa phương nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao. Sự tham mưu, phối hợp này sẽ phát huy được vai trò của cán bộ, chiến sĩ trong tham gia thực hiện công tác tôn giáo và sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng khác trong thực hiện công tác tôn giáo trên địa bàn, khắc phục tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, làm thay và không đúng nguyên tắc trong tổ chức thực hiện công tác tôn giáo.

Từng cấp ủy, chỉ huy cơ quan, đơn vị căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của quân đội và đơn vị, cần nắm vững nguyên tắc và cơ chế phối hợp hoạt động với cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể địa phương để đảm bảo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong quá trình thực hiện công tác tôn giáo, giải quyết các vấn đề phức tạp nảy sinh liên quan đến tôn giáo. Trong suốt quá trình tham gia thực hiện công tác tôn giáo của cơ quan, đơn vị vừa phải đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp trong quân đội, sự chỉ đạo của chính ủy, chính trị viên và người chỉ huy đơn vị, vừa phải đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương và phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể địa phương trên địa bàn đóng quân. Cho nên, một mặt, cấp ủy, chỉ huy các đơn vị cần quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy cấp trên, tham mưu, phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền, ban ngành, đoàn thể địa phương; mặt khác, chủ động, sáng tạo trong tham gia thực hiện các nội dung, nhiệm vụ của công tác tôn giáo phù hợp với tình hình địa bàn. Tùy theo tình hình, nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị, cấp ủy, chỉ huy đơn vị xác định nội dung, hình thức, biện pháp tham mưu, phối hợp một cách phù hợp với tình hình địa bàn và đơn vị.

Có điều, công tác tham mưu, phối hợp của các cơ quan, đơn vị quân đội với cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể địa phương phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội và cơ chế, nguyên tắc trong quá trình phối hợp công tác. Việc thường xuyên, kịp thời tham mưu, phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan, đơn vị quân đội với cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương và các lực lượng khác trên địa bàn đứng chân trong thực hiện công tác tôn giáo sẽ bảo đảm cho đơn vị hoàn thành tốt các nội dung, nhiệm vụ được giao; phát huy tốt vai trò đội quân công tác trong tình hình mới.

Thứ Tư, 12 tháng 2, 2020

CẦN NẮM VỮNG THỰC CHẤT, THỰC HIỆN ĐÚNG BẢN CHẤT CÔNG TÁC TÔN GIÁO

Công tác tôn giáo là tổng thể các hoạt động của cả hệ thống chính trị trong việc hoạch định và hiện thực hóa quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với lĩnh vực tôn giáo, nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các tôn giáo,  vùng  tôn giáo được đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần củng cố, tăng cường đoàn kết tôn giáo, lương giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực chủ yếu cho sự thành công của công cuộc đổi mới đất nước.

TIẾP TỤC QUÁN TRIỆT, THỰC HIỆN TỐT CÔNG TÁC TÔN GIÁO TRONG TÌNH HÌNH MỚI


     Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo; nhiều người Việt Nam có tín ngưỡng tôn giáo. Theo số liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ, tính đến tháng 1 năm 2019, Nhà nước ta đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 43 tổ chức, thuộc 16 tôn giáo với hơn 26 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước, trên 55.000 chức sắc, gần 150.000 chức việc, gần 30.000 cơ sở thờ tự.  Tôn giáo của người Việt Nam có tính dung hợp, đan xen, hòa đồng cao; đại đa số tín đồ, chức sắc tôn giáo là người lao động, trong đó chủ yếu là nông dân; chức sắc tôn giáo, nhà tu hành của các tôn giáo ở Việt Nam khá đông đảo; các tôn giáo ở Việt Nam có quan hệ quốc tế rộng rãi; hiện nay tôn giáo ở Việt Nam có những biến thái mới theo hướng thế tục hóa, thương mại hóa, xuất hiện nhiều hiện tượng tôn giáo mới; tôn giáo ở Việt Nam luôn là đối tượng trong chính sách lợi dụng của các thế lực thù địch để chống phá sự nghiệp cách mạng. Đồng bào có tôn giáo là một bộ phận quan trọng trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc; công tác tôn giáo (CTTG) có vai trò quan trọng nhằm bảo đảm quyền tự do tôn giáo của đồng bào, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Thứ Hai, 20 tháng 5, 2019

ĐẢNG CỘNG SẢN VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM LUÔN BAN HÀNH VÀ THỰC HIỆN TỐT CÁC CHÍNH SÁCH BẢO ĐẢM TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO

Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn ban hành và thực hiện tốt các chính sách bảo đảm tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, các tôn giáo đều được đối xử công bằng trước pháp luật
Trong quá trình đổi mới, xây dựng đất nước đến Đại hội XII, Đảng, Nhà nước ta luôn khẳng định nhất quán quan điểm: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc hoặc những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp luật”.
Điều 24, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Bên cạnh đó, các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân còn được cụ thể hóa trong Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, Luật Đất đai, Luật Giáo dục…
Luật Tín ngưỡng tôn giáo có hiệu lực ngày 1 tháng 1 năm 2018 và Nghị định 162/2017/NĐ-CP đã khẳng định: “Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật… cấm phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng tôn giáo.
Hành vi bị nghiêm cấm: cấm phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; ép buộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo của người khác; lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi; các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn công cộng, môi trường, xâm hại đạo đức xã hội, sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân…”.
Đồng hành với chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, xã hội nâng cao đời sống nhân dân, Nhà nước Việt Nam luôn hoàn thiện các chính sách về tôn giáo, căn cứ quan trọng để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện đúng trách nhiệm, chức năng, nhiệm vụ và tạo mọi điều kiện thuận lợi, đáp ứng nhu cầu tinh thần trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân cũng như người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam.
Như vậy, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn ban hành cơ sở pháp lý đảm bảo tôn trọng nhu cầu tinh thần tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, đảm bảo các tôn giáo đều được đối xử công bằng, bình đẳng trước pháp luật.

Thứ Hai, 7 tháng 5, 2018

MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN TỐT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4 KHÓA XII

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã chỉ ra những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đây là những biểu hiện hết sức nguy hiểm nó hàng ngày, hàng giờ tác động làm suy yếu Đảng, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, là cái cớ để kẻ thù lợi dụng chống phá cách mạng nước ta. Vì vậy để đấu tranh phòng, chống những biểu hiện suy thoái trên, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII cần tập trung vào các giải pháp sau:
Một là, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức trong toàn Đảng về ý nghĩa, vị trí, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có kế hoạch học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ về mọi mặt.
Hai là, tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, nhất là những mô hình mới, kinh nghiệm hay, khuyến khích phát tiển tư duy lý luận phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng.
Ba là, đổi mới nội dung, hình thức nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng, thực hiện tốt tự phê bình và phê bình.
Bốn là, chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể sát với tình hình, xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái.
Năm là, hoàn thiện quy chế về kỷ luật phát ngôn đối với cán bộ, đảng viên, xử lý nghiêm những cá nhân, tổ chức lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc để tuyên truyền, xuyên tạc làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng và Nhà nước.
Sáu là, hoàn thiện quy định về tổ chức bộ máy và công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo đảm sự trong sạch vè chính trị trong nội bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược của Đảng.
Bảy là, xây dựng quy định xử lý những tập thể, cá nhân suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Cuối cùng, các cấp ủy, chính quyền phải nhận thức sâu sắc, quán triệt và thực hiện nghiêm Quyết định số 217 - QĐ/TW về quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội./.

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

CẢNH GIÁC TRƯỚC QUAN ĐIỀM CHO RẰNG: "CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CHỈ LÀ ẢO TƯỞNG, KHÔNG BAO GIỜ THỰC HIỆN ĐƯỢC"

Trước sự thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới, một số hạn chế, yếu kém trong quá trình, cải cách, đổi mới ở các nước xã hội chủ nghĩa còn lại và sự phát triển, “điều chỉnh”, “thích nghi” của chủ nghĩa tư bản hiện đại... thì một số người nêu ra quan điểm chủ nghĩa xã hội là không tưởng, bởi:
Thứ nhất, nó được “dựng” nên từ “một hệ thống triết học tư biện” chứ không phải từ hiện thực khách quan.
Thứ hai, sẽ không thể có một xã hội hoàn hảo như chủ nghĩa Mác - Lênin đặt ra. Luận điểm này cho rằng “Chủ nghĩa Mác là một giấc mơ về xã hội không tưởng. Nó đặt niềm tin vào một xã hội hoàn hảo, không có khổ cực, đau buồn, bạo lực và mâu thuẫn”. Xã hội tương lai của Mác, theo họ là một xã hội tốt đẹp nhưng không thể thực hiện được vì trong thực tế cuộc sống có nhiều bất trắc, rủi ro không thể lường hết được.
Thực chất, quan điểm này đã đồng nhất một số phác thảo của các nhà kinh điển về xã hội tương lai với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản phát triển đầy đủ.
Vậy chủ nghĩa xã hội có phải là ảo tưởng? Chắc chắn là không vì:
  Một là, chủ nghĩa xã hội dựa trên quan điểm của học thuyết Mác không phải là “hệ thống tư biện”, không phải là phi hiện thực khách quan mà là hiện thực trên thực tế
Thứ nhất, học thuyết Mác về chủ nghĩa xã hội không phải là “hệ thống tự biện”, vì trong khoa học, để tìm ra bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng thì không chỉ nghiên cứu một sự vật, hiện tượng cụ thể mà phải thông qua nhiều sự vật, hiện tượng từ đó tìm ra các thuộc tính chung nhất của nó. Do đó, bất kỳ nghiên cứu khoa học nào cũng cần đến thuộc tính trừu tượng hóa, khái quát hóa. Nghiên cứu lịch sử phát triển nhân loại, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hay những yếu tố cấu thành của phương thức sản xuất tư bản cũng không thể không trừu tượng hóa những đối tượng ấy. vấn đề đặt ra là, sự trừu tượng hóa ấy có phản ánh đúng bản chất, quy luật của hiện thực khách quan không. Nếu phản ánh đúng bản chất, quy luật, chúng ta có cơ sở khoa học để dự báo sự vận động phát triển của nó, ngược lại nếu phản ánh sai sẽ có dự báo sai sự vận động, phát triển của sự vật. Do vậy, học thuyết Mác không phải là “tư biện.
Thứ hai, chủ nghĩa xã hội dựa trên học thuyết Mác ra đời xuất phát từ “mảnh đất hiện thực” khách quan
Học thuyết Mác ra đời dựa trên những điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể của châu Âu từ khi chủ nghĩa tư bản ra đời và những tiền đề văn hóa, tư tưởng của nhân loại đạt được trong suốt chiều dài lịch sử cho đến thời đại của các ông. Với sự uyên bác về trí tuệ, sự gắn bó mật thiết với phong trào công nhân ở khắp các nước châu Âu, với thiên tài trong kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, C.Mác và Ph.Ăngghen đã tìm ra được quy luật vận động của xã hội loài người, đặc biệt là quy luật vận động của chủ nghĩa tư bản thông qua ba phát hiện vĩ đại: Học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội, học thuyết về giá trị thặng dư và sau này (như Lênin đã bổ sung) là học thuyết về sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân. Đến thời đại của mình, V.I.Lênin đã bảo vệ, bổ sung, phát triển học thuyết Mác về chủ nghĩa xã hội dựa trên việc nghiên cứu “mảnh đất hiện thực” của chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang thời kỳ đế quốc, bộc lộ tất cả các mặt “thối nát” của chúng và thực tiễn phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động chống chủ nghĩa thực dân ở các nước thuộc địa trên khắp các châu lục đặc biệt là thực tiễn của nước Nga lúc đó.
Thứ ba, chủ nghĩạ xã hội đã và đang là hiện thực của lịch sử nhân loại.
Từ một nước tư bản phát triển ở trình độ lạc hậu so với châu Âu đương thời, Liên bang xã hội chủ nghĩa Xô-viết đã mau chóng vươn lên trở thành một siêu cường. Những thành công vĩ đại mà Liên Xô đã đạt được trên mọi phương diện của đời sống xã hội và trong sự nghiệp cứu nhân loại thoát khỏi thảm họa phát xít trong chiến tranh thế giới thứ hai là một thực tế hào hùng không thể phủ nhận.
Cũng chính vì thế mà chỉ hơn 40 năm sau đó, chủ nghĩa xã hội hiện thực từ một nước đã phát triển thành một hệ thống thế giới, có mặt tại ba châu lục lớn là châu Âu, châu Á và châu Mỹ Latinh đã góp phần làm thay đổi cơ bản số phận của nhiều quốc gia - dân tộc, của hàng tỉ người dân trên toàn thế giới. Chỉ tính riêng tại Liên Xô, qua hơn 50 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhân dân Liên Xô đã giành được nhiều thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực: về kinh tế, trở thành cường quốc kinh tế thứ 2 thế giới (sau Mỹ), sản lượng công nghiệp chiếm 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới...; về khoa học kỹ thuật, năm 1957, là quốc gia đầu tiên phóng thành công vệ tinh nhân tạo, năm 1961, phóng tàu vũ trụ đưa nhà du hành Gagarin bay vòng quanh trái đất mở ra kỷ nguyên chinh phục vũ trụ của loài người...; về xã hội, năm 1971 giai cấp công nhân chiếm khoảng 55% tổng lao động xã hội, hơn 50% số người ả nông thôn có trình độ từ trung học trở lên... Đó hoàn toàn không phải là “giấc mơ” cũng chẳng phải là “thiên đường” mà đó là hiện thực khách quan của lịch sử nhân loại.
Cho đến nay, mặc dù hệ thống xã hội chủ nghĩa hiện thực thế giới đã tan rã, nhưng không ai có thể phủ nhận sự tồn tại khách quan và những ưu việt của nó.
Hai là, sự để vỡ của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô, không có nghĩa là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội.
Sự đổ vỡ này là do sai lầm của những người lãnh đạo đứng đầu của Đảng cộng sản ở các quốc gia nêu trên và sự phản bội của một số kẻ cơ hội bên trong kết hợp với những kẻ thù địch từ bên ngoài.
Các ông chỉ rõ: muốn cho chủ nghĩa xã hội trở thành khoa học thì phải đặt nó đứng vững trên mảnh đất hiện thực; từ khi nó trở thành khoa học thì phải đối xử với nó như mọi khoa học. Nó tất yếu phải thường xuyên biến đổi, phải đổi mới và phát triển. Một cách nhìn động chứ không tĩnh, mở chứ không khép kín về chủ nghĩa xã hội do Mác - Ăngghen nêu ra là phù hợp trong giai đoạn hiện nay. Vậy nên, áp dụng một cách rập khuôn, máy móc các nguyên lý đó là trái với tinh thần của Mác. Bởi vậy, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu với những hạn chế của nó chỉ là một mô hình của chủ nghĩa xã hội, hơn nữa, mô hình này lại phản ánh không đầy đủ, thiếu sáng tạo những ý tưởng của học thuyết Mác - Lênin.