Hiển thị các bài đăng có nhãn hoàn thiện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hoàn thiện. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 19 tháng 2, 2024

XÂY DỰNG, CỦNG CỐ VÀ HOÀN THIỆN CƠ SỞ PHÁP LÝ SẼ LÀM CHỖ DỰA VỮNG CHẮC CHO CUỘC ĐẤU TRANH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG - LÝ LUẬN

Trong lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, thành lập các ban chỉ đạo có chức năng, nhiệm vụ là đầu mối cung cấp thông tin, phối hợp chỉ đạo công tác đấu tranh của nhiều lực lượng, như: các cơ quan nghiên cứu, giáo dục lý luận, tuyên giáo, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, truyền thông, báo chí, xuất bản...Điều quan trọng là phải đề ra nội dung phù hợp, kế hoạch, chương trình hành động mang tính toàn diện, có tầm chiến lược trong từng thời kỳ, trên từng mặt, lĩnh vực hoạt động, trên từng địa bàn, cơ quan đơn vị, doanh nghiệp và ở khu dân cư....Đây là những căn cứ, cơ sở lý luận quan trọng để đẩy mạnh cuộc đấu tranh một cách thường xuyên, liên tục, không làm theo lối phong trào.

Thực tiễn, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng diễn ra rất quyết liệt, khó khăn, phức tạp, nhạy cảm, liên quan đến vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do, tôn giáo, dân tộc, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Việc nhanh chóng cụ thể hóa, thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng để tăng cường, hoàn thiện cơ sở pháp lý thông qua hệ thống luật pháp, các văn bản chỉ đạo của Nhà nước, của Chính phủ và các cơ quan chức năng quản lý nhà nước về an ninh, trật tự là yêu cầu tất yếu, phù hợp với xu thế của thời đại ngày nay. Do vậy, thời gian tới cần tiếp tục nghiên cứu cụ thể hóa, pháp luật hóa đầy đủ các quan điểm chỉ đạo của Đảng về đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ thể chế xã hội chủ nghĩa trong hệ thống pháp luật của Nhà nước một cách phù hợp, nhất là các bộ luật quan trọng liên quan đến nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có như vậy các thế lực thù địch, phản động mới không có cơ sở để thực hiện các hoạt động chống phá./. 

Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022

TỪNG BƯỚC HOÀN THIỆN HỆ THỐNG GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI PHÁT HUY QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN

Trong hệ thống giám sát, phản biện xã hội ở Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội có vai trò vô cùng quan trọng. Cùng với các thiết chế đó, cần có cơ chế phát huy vai trò giám sát, phản biện của từng người dân, của các phương tiện thông tin đại chúng ... Để việc giám sát, phản biện đó có chất lượng, cần tạo mọi điều kiện để các chủ thể thực hiện sự phản biện đường lối, chủ trương, chính sách và trách nhiệm của cơ quan, cá nhân, cán bộ phụ trách việc đó. Điều đó có nghĩa, công khai hoá, minh bạch hoá, dân chủ hoá về thông tin là cơ sở để có sự giám sát, phản biện có hiệu quả. Nhưng mặt khác, hiệu quả của việc giám sát, phản biện còn phụ thuộc vào năng lực, bản lĩnh của chủ thể thực hiện sự phản biện; vào năng lực của người lãnh đạo và quản lý trong việc nghe, biết nghe, biết xử lý những ý kiến giám sát, phản biện... Cho nên, nâng cao trình độ, năng lực, văn hoá dân chủ cho cả phía giám sát, phản biện lẫn phía nhận sự giám sát, phản biện là một yêu cầu bức thiết. Mọi hoạt động của các cơ quan đều đặt lợi ích và quyền lợi của nhân dân lên trên, “mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.

Đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân chủ của các thế lực thù địch, nhằm phát huy dân chủ trong điều kiện hiện nay là một nội dung quan trọng có tính cấp cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.. Do đó chúng ta vừa đề cao cảnh giác, chủ động tấn công, vừa đổi mới tư duy, có phương thức, biện pháp thích hợp, tăng cường tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, chính xác, phản bác một cách mạnh mẽ, quyết liệt để kịp thời ngăn chặn sự chống phá về dân chủ của các thế lực thù địch dưới bất cứ hình thức nào. Điều cốt lõi là làm cho tư tưởng, lý luận của Đảng về dân chủ thấm sâu trong mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa cao đẹp - nhân văn./.

XÂY DỰNG, CỦNG CỐ, HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA NHÂN DÂN, DO NHÂN DÂN, VÌ NHÂN DÂN

Nhà nước pháp quyền là một tiến bộ lịch sử về mặt tổ chức và phương thức quản lý nhà nước để phát huy dân chủ. Nói nhà nước pháp quyền là nhấn mạnh phương pháp, cách thức quản lý bằng pháp luật, theo pháp luật, hiện nay, Hiến pháp, pháp luật là sự thể chế hoá quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng, nhu cầu và lợi ích của nhân dân. Cho nên, càng đề cao pháp luật bao nhiêu, càng là sự đề cao vai trò lãnh  đạo của Đảng, của dân bấy nhiêu. Hơn nữa, trong chế độ có Nhà nước pháp quyền, thì mọi tổ chức, mọi thiết chế chính trị - xã hội, trong đó có Đảng cầm quyền, cũng phải hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp, pháp luật.

 Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định tôn trọng và bảo đảm quyền của mọi người dân được bày tỏ quan điểm của mình một cách công khai nhưng kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng quyền tự do, lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để gây mất ổn định, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của Nhà nước và công dân. Đảng, Nhà nước đã và tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các chính sách, văn bản pháp luật nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người đi đôi với việc kiện toàn các cơ quan bảo vệ pháp luật. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, đẩy mạnh thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền dân chủ của nhân dân trên cơ sở pháp luật. Kịp thời khắc phục tình trạng đưa dự thảo văn bản quy phạm pháp luật lên trang web một cách hình thức, chiếu lệ, chỉ nhằm “hợp thức hóa” quy trình, thủ tục lấy ý kiến nhân dân theo quy định của pháp luật.  Thực hiện có hiệu quả trong thực tiễn Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật  - “luật về làm luật” - vừa được kỳ họp thứ chín Quốc hội khóa XIV thông qua ngày 18-6-2020, có vai trò quan trọng thiết lập thể chế thống nhất cho việc xây dựng, ban hành hệ thống pháp luật quốc gia, củng cố trật tự, chất lượng việc xây dựng, ban hành pháp luật. Đẩy mạnh xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở bảo đảm thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2022

XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH VỀ PHÁT TRIỂN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CHO THANH NIÊN HIỆN NAY

Thực hiện phương châm gắn tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước phát triển, trong từng chiến lược, kế hoạch; nhằm xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho thanh niên, bảo đảm phát triển văn hóa nâng cao chất lượng cuộc sống của thanh niên, bảo vệ môi trường sinh thái - nhân văn.

Tăng cường đầu tư phát triển các thiết chế văn hóa ở cơ sở như nhà văn hóa, trung tâm học tập cộng đồng, điểm vui chơi, giải trí, xây dựng tủ sách truyền thống, phòng lưu niệm,… để thanh niên có điều kiện học tập, tìm hiểu về văn hóa truyền thống dân tộc.

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2022

MỤC ĐÍCH CỦA CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2045

Đề án chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước có vai trò rất quan trọng nhằm xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa để phụng sự nhân dân tốt hơn, đóng góp nhiều hơn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới với tầm nhìn dài hạn đến năm 2045 trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Mục đích của Đề án chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045 là: Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước; xác định rõ vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp dựa trên cơ sở nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực. Yêu cầu tiếp theo là xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định với quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân và doanh nghiệp làm trọng tâm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh và bền vững.

Thứ Hai, 21 tháng 2, 2022

XÂY DỰNG, CỦNG CỐ, HOÀN THIỆN CƠ SỞ PHÁP LÝ ĐÂY LÀ CHỖ DỰA VỮNG CHẮC CHO CUỘC ĐẤU TRANH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN

Trong bối cảnh mới hiện nay, các thế lực thù địch tăng cường, đẩy mạnh hơn bao giờ hết các chiến dịch, thủ đoạn chống phá  Đảng, Nhà nước ta cả bên ngoài và bên trong, thông qua các kênh truyền dẫn của hơn 40 đài phát thanh, truyền hình tiếng Việt, gần 500 báo, tạp chí, bản tin, nhà xuất bản tiếng Việt ở nước ngoài. Chúng đã lập ra hàng trăm trang website, blog, fanpage, mạng xã hội có máy chủ đặt ở nước ngoài để truyền bá, chuyển tải thông tin xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo, đả phá, công kích chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, công khai tấn công vào những vấn đề cơ bản của nền tảng tư tưởng của Đảng. Để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của chúng, chúng ta cầm phải xây dựng, củng cố, hoàn thiện cơ sở pháp lý đây sẽ là chỗ dựa vững chắc co cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng – lý luận.

Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, thành lập các ban chỉ đạo có chức năng, nhiệm vụ là đầu mối cung cấp thông tin, phối hợp chỉ đạo công tác đấu tranh của nhiều lực lượng, như: các cơ quan nghiên cứu, giáo dục lý luận, tuyên giáo, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, truyền thông, báo chí, xuất bản...Điều quan trọng là phải đề ra nội dung phù hợp, kế hoạch, chương trình hành động mang tính toàn diện, có tầm chiến lược trong từng thời kỳ, trên từng mặt, lĩnh vực hoạt động, trên từng địa bàn, cơ quan đơn vị, doanh nghiệp và ở khu dân cư....Đây là những căn cứ, cơ sở lý luận quan trọng để đẩy mạnh cuộc đấu tranh một cách thường xuyên, liên tục, không làm theo lối phong trào.

Thực tiễn, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng diễn ra rất quyết liệt, khó khăn, phức tạp, nhạy cảm, liên quan đến vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do, tôn giáo, dân tộc, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Việc nhanh chóng cụ thể hóa, thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng để tăng cường, hoàn thiện cơ sở pháp lý thông qua hệ thống luật pháp, các văn bản chỉ đạo của Nhà nước, của Chính phủ và các cơ quan chức năng quản lý nhà nước về an ninh, trật tự là yêu cầu tất yếu, phù hợp với xu thế của thời đại ngày nay. Do vậy, thời gian tới cần tiếp tục nghiên cứu cụ thể hóa, pháp luật hóa đầy đủ các quan điểm chỉ đạo của Đảng về đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ thể chế xã hội chủ nghĩa trong hệ thống pháp luật của Nhà nước một cách phù hợp, nhất là các bộ luật quan trọng liên quan đến nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

Thứ Hai, 18 tháng 10, 2021

Ở VIỆT NAM ĐÃ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

Kể từ khi nộp Báo cáo quốc gia lần thứ hai về việc thực thi Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 2002 đến nay, Việt Nam ngày càng chú trọng công tác xây dựng pháp luật và đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ, đặc biệt là sau Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-5-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Chỉ trong vòng hơn 10 năm, rất nhiều luật quan trọng liên quan trực tiếp đến các quyền dân sự, chính trị đã được ban hành và liên tục được rà soát để sửa đổi, bổ sung nhằm mục đích ngày càng ghi nhận đầy đủ nhất các quyền này.

Hiến pháp được Quốc hội thông qua năm 2013 đã đánh dấu bước tiến quan trọng của Việt Nam trong nhận thức về quyền con người cũng như trách nhiệm của Nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trên tất cả các lĩnh vực. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau đã được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành mới, trong đó bao gồm các nội dung về quyền con người, quyền công dân. Chỉ tính từ tháng 1-2014 đến nay, đã có khoảng hơn 100 luật, pháp lệnh được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua, trong đó có nhiều luật quan trọng về quyền con người, chẳng hạn như: Bộ luật Hình sự năm 2015; Bộ luật Dân sự năm 2015; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015; Luật Tiếp cận thông tin năm 2016; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016; Luật Báo chí năm 2016; Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017; Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017; Luật An ninh mạng năm 2018; Luật Tố cáo năm 2018; Luật Đặc xá năm 2018... Các đạo luật này quy định đầy đủ, rõ ràng hầu hết các quyền dân sự và chính trị; các cơ chế bảo đảm và phát huy các quyền này tại Việt Nam...

Các đạo luật điều chỉnh các lĩnh vực chuyên ngành cụ thể có liên quan đến quyền dân sự và chính trị cũng đều có quy định về nguyên tắc đảm bảo thực thi quyền. Pháp luật về quyền giám sát của các cơ quan dân cử, quyền trực tiếp giám sát, kiểm tra của công dân đối với các hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức đã đổi mới một bước, theo đó hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội đã được thực hiện thường xuyên hơn. Các hình thức giám sát được tổ chức đa dạng, phong phú như việc trả lời chất vấn của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát; bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn...

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2021

TƯ DUY CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG TA VỀ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương các khóa trước về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Đảng ta đã tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy về quốc phòng, an ninh (QPAN), bảo vệ Tổ quốc bằng việc “đã ban hành và triển khai đồng bộ các chiến lược quan trọng như Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia và Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng”.

Điều đặc biệt mới mẻ trong dự thảo Báo cáo Chính trị lần này, trong mục tăng cường QPAN, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN), dự thảo Báo cáo Chính trị khẳng định: Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược QPAN chuyên ngành khác.

Đưa nội dung trên vào trong dự thảo Báo cáo Chính trị thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng ta trong việc cụ thể hóa đường lối cách mạng của Đảng, trong việc xác định mưu lược (kế sách) và nghệ thuật tổ chức thực hiện đường lối, nhằm đưa đường lối của Đảng vào cuộc sống trong một giai đoạn cụ thể, trước một tình hình cụ thể. Thể hiện rõ tư duy của Đảng ta trong việc xác định mục tiêu, quy tụ lực lượng và lựa chọn giải pháp có tính khả thi, tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ lúc nước chưa nguy; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và phát triển bền vững đất nước vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Việc ban hành và triển khai thực hiện các chiến lược quốc phòng, quân sự, an ninh, bảo vệ Tổ quốc không chỉ hoàn toàn xuất phát từ cơ sở lý luận khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc, từ truyền thống, kinh nghiệm của dân tộc ta trong công cuộc đấu tranh giữ nước là phải “đề phòng việc không ngờ”, có “kế lâu dài”, phải “trù phương lược trước”, phải “giữ nước từ lúc chưa nguy”, “lo trị nước từ lúc nước chưa loạn”..., mà còn xuất phát từ thực tiễn phong phú, sinh động của công cuộc bảo vệ Tổ quốc XHCN trên thế giới nói chung, công cuộc bảo vệ Tổ quốc Việt Nam nói riêng trong những thập kỷ vừa qua. Ban hành và triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ các chiến lược quốc phòng, quân sự, an ninh, bảo vệ Tổ quốc thể hiện tư duy chiến lược toàn diện của Đảng ta, nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống cả những mối đe dọa an ninh truyền thống và cả những mối đe dọa an ninh phi truyền thống, nhất là phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, sẵn sàng đối phó thắng lợi với các nguy cơ mà Nghị quyết Trung ương về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” đã dự báo. Ban hành và triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ các chiến lược quốc phòng, quân sự, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, cho thấy tư duy chiến lược của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới được thể hiện không chỉ về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, phương châm, nguyên tắc, nội dung, biện pháp, lực lượng, điều kiện bảo đảm để thực hiện các chiến lược, mà còn thể hiện một quan điểm an ninh toàn diện, tổng hợp của đất nước, nhất là an ninh trên các hướng biên giới đất liền, biển, đảo và trên không gian mạng.

Để tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược QPAN chuyên ngành khác như dự thảo Báo cáo Chính trị đã nêu, cần quan tâm làm tốt một số nội dung, biện pháp sau đây:

Tổ chức triển khai quán triệt trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhằm tạo nên nhận thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về những nội dung cơ bản trong các chiến lược nêu trên. Muốn vậy, cần tổ chức biên soạn thành các chuyên đề riêng để quán triệt cho các đối tượng phù hợp với quy định về phổ biến nội dung trong các chiến lược và phù hợp với khả năng nhận thức của các đối tượng cụ thể: Cán bộ, đảng viên, nhân dân, sinh viên, học sinh...

Nghiên cứu xây dựng các chương trình, kế hoạch cụ thể để tổ chức triển khai thực hiện các chiến lược phù hợp với từng nội dung trong từng chiến lược và phù hợp với các đối tượng (tổ chức và cá nhân) trực tiếp liên quan đến việc triển khai tổ chức thực hiện các chiến lược cụ thể. Ví dụ: Quán triệt và triển khai thực hiện Chiến lược quân sự thì quân đội phải là lực lượng nòng cốt, chủ yếu.

Trên cơ sở các chương trình, kế hoạch đã được xây dựng, phải tổ chức triển khai thực hiện trên thực tiễn việc thực hiện các chiến lược quốc phòng, quân sự, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, cần quan tâm đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, công tác quản lý, điều hành của chính quyền các cấp từ Trung ương đến cơ sở. Xác định nội dung, biện pháp phù hợp với mỗi loại chiến lược để triển khai thực hiện các chiến lược sát, đúng. Chăm lo xây dựng lực lượng, nhất là lực lượng chuyên trách phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, nội dung, phạm vi, tính chất của mỗi loại chiến lược để triển khai thực hiện có hiệu quả. Quan tâm phối hợp, kết hợp giữa các tổ chức, các lực lượng để thực hiện đồng bộ, nhịp nhàng các chiến lược. Quan tâm chăm lo xây dựng, chủ động chuẩn bị các điều kiện về vật chất và tinh thần để triển khai thực hiện các chiến lược đáp ứng yêu cầu của mỗi loại chiến lược. Xây dựng các kịch bản, triển khai diễn tập một số tình huống cụ thể theo yêu cầu, nội dung của từng chiến lược, trên cơ sở đó tổ chức rút kinh nghiệm và tiếp tục điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện thêm nội dung của các chiến lược cho phù hợp với tình hình thực tiễn luôn có sự vận động, biến đổi.

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2020

HOÀN THIỆN HỆ THỐNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

Kể từ khi nộp Báo cáo quốc gia lần thứ hai về việc thực thi Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 2002 đến nay, Việt Nam ngày càng chú trọng công tác xây dựng pháp luật và đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ, đặc biệt là sau Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-5-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Chỉ trong vòng hơn 10 năm, rất nhiều luật quan trọng liên quan trực tiếp đến các quyền dân sự, chính trị đã được ban hành và liên tục được rà soát để sửa đổi, bổ sung nhằm mục đích ngày càng ghi nhận đầy đủ nhất các quyền này.

Thứ Sáu, 6 tháng 7, 2018

BẢO VỆ VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÌ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẤT NƯỚC

Không phải ngẫu nhiên mà Luật An ninh mạng được Quốc hội thông qua với tỷ lệ 86,86%. Đây là một đạo luật rất cần thiết không chỉ để bảo vệ an ninh quốc gia mà còn nhằm bảo vệ người dân, để có môi trường xã hội phát triển lành mạnh trên không gian mạng.
Theo thống kê, Việt Nam xếp ở vị trí thứ 4 trong top 10 quốc gia bị mất an toàn an ninh mạng. Để giải quyết vấn đề an ninh mạng, hàng chục quốc gia trên thế giới đã ban hành, thậm chí có những quy định khắt khe hơn cả Việt Nam. Tại Đức, Facebook nếu không quản lý tốt để người dân kích động bạo lực, xuyên tạc xúc phạm cá nhân, tổ chức sẽ bị phạt nặng cả nhà cung cấp và người dùng; thậm chí nhà cung cấp phải lưu trữ dữ liệu về lịch sử truy cập lên đến 6 tháng để phục vụ điều tra. Các hành vi bịa đặt, nói xấu và bôi nhọ danh dự hoặc tổ chức, kích động bạo lực trên Facebook, kêu gọi gây rối trật tự công cộng sẽ bị truy tố. Tại Singapore, cơ quan an ninh mạng được phép tiến hành cuộc điều tra và công ty hoặc thực thể bị ảnh hưởng sẽ phải chia sẻ thông tin với cơ quan này trong vài giờ, nếu không sẽ bị phạt khoản tiền lên tới 100.000 SGD Singapore hoặc bị phạt tù đến 10 năm. Tại Thái Lan, Luật Tội phạm máy tính được thông qua từ năm 2016 quy định mức phạt tới 5 năm tù đối với những người đăng tải những thông tin sai sự thật nhằm phá hoại an ninh quốc gia, an toàn công cộng, gây hoang mang dư luận...
Những kẻ xuyên tạc cũng đưa ra không ít thông tin mù mờ, như Luật An ninh mạng sẽ khiến nhiều công ty lớn cung cấp dịch vụ mạng xã hội rời khỏi Việt Nam, sự ngăn chặn dòng chảy thông tin có thể giảm 1,7% GDP và giảm 3,1% vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam... Song thực chất, đây là thông tin được tung ra bởi chính những doanh nghiệp đang có hoạt động kinh doanh nhưng không đóng thuế, không làm tăng GDP cho Việt Nam nhiều năm qua. Họ đã cản trở Luật An ninh mạng để chậm nghĩa vụ đóng thuế.
Ngược lại, chính việc quản lý chặt chẽ, kể cả việc yêu cầu lưu trữ dữ liệu người dùng và các dữ liệu quan trọng khác tại Việt Nam, đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam cũng là cơ sở phục vụ tốt công tác quản lý doanh nghiệp và bảo vệ người dân. Thực tế, trong quá trình soạn thảo luật, nhiều công ty lớn như Google, Facebook, Amazon đề nghị được làm việc với ban soạn thảo và chính họ đã đồng ý phối hợp cơ quan chức năng Việt Nam. Trong khi đó, một số công ty nước ngoài khác, trong đó có nhiều công ty ở Mỹ đã tìm cách đối phó với hoạt động quản lý mạng chặt chẽ của các quốc gia ASEAN, trọng tâm là Việt Nam, Thái Lan và Indonesia. Song hiện nay, đã có 19 quốc gia trên thế giới trong đó có Mỹ quy định về lưu trữ dữ liệu quan trọng quốc gia trong nước. Các quy định của Việt Nam trong luật đã trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, không vi phạm các cam kết quốc tế.
 Còn đối với dự án Luật đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt, hiện nay Quốc hội đã lùi thời hạn thông qua để có thời gian rà soát, tiếp thu ý kiến của xã hội, tiếp tục hoàn thiện tốt nhất để trình Quốc hội thông qua. Tiếp xúc cử tri gần đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng khẳng định: Luật Đặc khu (gọi tắt của Luật đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt-PV) thì tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện, có lợi thì thông qua”.
Trên báo chí quốc tế gần đây, đã có nhiều phân tích đáng suy nghĩ về vấn đề này. Thậm chí, BBC, hãng truyền thông từng đăng tải nhiều thông tin thiếu thiện chí về Việt Nam song cũng đã có bài viết đa chiều, trong đó có những ý kiến khách quan về đặc khu kinh tế. Theo đó, kinh nghiệm từ Ba Lan, một đất nước công nghiệp hóa thành công, từ "bán lông thú đi lên bán máy móc" hiện còn 14 đặc khu kinh tế. Tiến sĩ Beata Glinkowska, Đại học Lodz (Ba Lan) cho rằng, ở Trung và Đông Âu, trong đó có Ba Lan, đặc khu kinh tế trở thành công cụ biến đổi kinh tế. Đặc khu kinh tế phổ biến ở nhiều nước, hỗ trợ phát triển kinh tế. Các quốc gia cần tạo điều kiện thông thoáng cho doanh nghiệp và các điều kiện cần minh bạch”. Tiến sĩ Arpita Mukherjee, Hội đồng Nghiên cứu Quan hệ Kinh tế Quốc tế Ấn Độ cho rằng, nhiều nước, trong đó có Nhật Bản, hiện đang cổ vũ cho đặc khu kinh tế. Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, nơi có khoảng trống hạ tầng, các đặc khu này cung cấp hạ tầng tuyệt hảo để thu hút đầu tư (cả trong nước và nước ngoài) và công nghệ. Ban đầu, có thể có biểu tình nhưng chốt lại, chính sách đặc khu là có lợi nhưng phụ thuộc vào cách thiết kế và nội dung cụ thể”.
Những ý kiến nêu trên phần nào cho thấy, xây dựng các đặc khu kinh tế là chủ trương đúng chứ không phải là mô hình “lỗi thời, lạc hậu”, thậm chí bôi đen rằng là để “bán nước” như những luận điệu xuyên tạc. Vấn đề là việc hoàn thiện dự án luật phải làm sao cho thật chặt chẽ, bảo đảm hiệu quả, không để các lỗ hổng ảnh hưởng đến an ninh quốc gia và để các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng xuyên tạc, chống phá.