Hiển thị các bài đăng có nhãn bổ sung. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bổ sung. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 13 tháng 8, 2023

CẦN TIẾP TỤC BẢO VỆ, BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC TỪ THỰC TIỄN PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG, THỰC TIỄN CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Chủ nghĩa xã hội khoa học là lý luận trực tiếp cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức có sức sống trường tồn luôn được bổ sung bởi thực tiễn cách mạng thế giới, nhất là thực tiễn - phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, thực tiễn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Với lý luận khoa học và cách mạng do bản chất nội tại của nó, với những bước tiến thăng trầm của lịch sử, dù tiếp cận chủ nghĩa xã hội là một học thuyết, chủ nghĩa xã hội là một phong trào hay chủ nghĩa xã hội là một chế độ thì nó thống nhất với nhau, gắn bó mật thiết với nhau. Thực tiễn phong trào cách mạng của giai cấp công nhân được biểu hiện ở những mức độ khác nhau, nhưng về căn bản hiện nay, quan hệ giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản về địa vị kinh tế - xã hội là không thay đổi. Điều đó, chứng minh giai cấp công nhân có sứ mệnh thủ tiêu giai cấp tư sản, thiết lập một xã hội mới xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

Từ bản chất nội tại và sức sống của chủ nghĩa xã hội khoa học, vấn đề tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học là nguyên tắc sống còn đối với những người xã hội chủ nghĩa, đúng như V.I.Lênin đã căn dặn chúng ta rằng: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”.

Thực tiễn biến đổi thì chủ nghĩa xã hội khoa học cần phải không ngừng được bổ sung, phát triển, gắn liền với đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bởi vì, “Trước đây, khi còn Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam dường như không có gì phải bàn, nó mặc nhiên coi như đã được khẳng định. Nhưng từ khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt”, thừa cơ, “giậu đổ bìm leo” “…các nhà tư tưởng và lý luận chống cộng và xã hội - dân chủ cũ và mới cả những kẻ hôm qua đã từng là cộng sản hôm nay đang “sám hối” về sự “khờ dại” của mình, ra sức bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, bêu xấu lý tưởng xã hội chủ nghĩa, hết lời ca ngợi chủ nghĩa tư bản. Trong con mắt của họ, thế kỷ XXI là thế kỷ toàn thắng và phồn vinh của chủ nghĩa tư bản trên toàn thế giới”, trực tiếp những luận điểm tập trung chống phá là chúng phủ nhận học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội.

Bảo vệ, bổ sung và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học hiện nay cần gắn liền với phòng chống về suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ đảng viên và nhân dân. Mỗi cán bộ đảng viên cần thật sự có niềm tin khoa học vào chủ nghĩa xã hội khoa học, niềm tin vào phong trào cách mạng và tiềm năng hiện thực của nó. Đẩy mạnh nghiên cứu, học tập, nắm vững lý luận, thường xuyên cập nhật bổ sung những nội dung mới làm phong phú, sâu sắc thêm lý luận phấn đấu “Từ nay đến năm 2030, tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống các quan điểm về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nâng cao năng lực khoa học phục vụ phát triển công tác lý luận, bảo đảm cung cấp các luận cứ khoa học, lý luận vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đồng thời, đấu tranh quyết liệt với những biểu hiện lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, góp phần làm phong phú, sâu sắc thêm chủ nghĩa xã hội khoa học - bộ phận cấu thành lôgic, biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin./.

 




Thứ Ba, 6 tháng 9, 2022

NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN VỀ PHƯƠNG THỨC BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trung thành, vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về phương thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa vào thực tiễn Việt Nam, phương thức bảo vệ Tổ quốc là vấn đề đặc biệt quan trọng trong hệ thống quan điểm lý luận của Đảng về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Xét từ góc độ nội dung, đó chính là những hình thức, biện pháp cụ thể của phương thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn hoạt động bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, những vấn đề: kết hợp xây dựng với bảo vệ; đấu tranh vũ trang, đấu tranh phi vũ trang, kết hợp đấu tranh vũ trang và phi vũ trang, những vấn đề tự bảo vệ,  bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, xử lý các vấn đề liên quan đến đối tác và đối tượng,… là những vấn đề rất cơ bản, là những cách thức, biện pháp cụ thể của phương thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Những phương thức cụ thể đó cần được tiếp tục nghiên cứu, làm rõ trong bối cảnh của tình hình mới. 

Hiện nay, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đứng trước những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức mới: “Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo”, vấn đề xâm phạm chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên, xung đột sắc tộc, tôn giáo, can thiệp lật đổ, khủng bố, chiến tranh cục bộ, chiến tranh mạng tiếp tục diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực. Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau, tác động mạnh đến cục diện thế giới và các khu vực. Các thế lực thù địch có những điều chỉnh mới trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng chống phá chủ nghĩa xã hội, chống phá cách mạng Việt Nam. Chiến lược phức hợp “diễn biến hòa bình”, kết hợp với bạo loạn lật đổ và tạo cớ để sẵn sàng phát động chiến tranh xâm lược được chúng tiến hành một cách ráo riết vừa công khai, trắng trợn, vừa tinh vi, xảo quyệt, vừa ngầm, vừa sâu. Chúng luôn chĩa mũi nhọn vào những vấn đề nhạy cảm như “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do tôn giáo”, “dân tộc” để kích động, chia rẽ, phá hoại công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Sự thay đổi trong chiến lược và phương thức chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu bổ sung, phát triển phương thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Trong đó tập trung:

Một là, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển quan điểm kết hợp chặt chẽ hai phương thức đấu tranh vũ trang và đấu tranh phi vũ trang bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Hai là, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển hình thức, biện pháp đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc.

Ba là, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi chưa nguy.

Bốn là, tiếp tục khẳng định và phát triển quan điểm về chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến.

Năm là, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển quan điểm xây dựng chủ nghĩa xã hội vững mạnh là phương thức hữu hiệu bảo vệ Tổ quốc.

Sáu là, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển về hợp tác và đấu tranh, đối tác và đối tượng trong bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

TIẾP TỤC BẢO VỆ, BỔ SUNG VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC Ở CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA HIỆN NAY

Chủ nghĩa xã hội khoa học là lý luận trực tiếp cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức có sức sống trường tồn luôn được bổ sung bởi thực tiễn cách mạng thế giới, nhất là thực tiễn - phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, thực tiễn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Với lý luận khoa học và cách mạng do bản chất nội tại của nó, với những bước tiến thăng trầm của lịch sử, dù tiếp cận chủ nghĩa xã hội là một học thuyết, chủ nghĩa xã hội là một phong trào hay chủ nghĩa xã hội là một chế độ thì nó thống nhất với nhau, gắn bó mật thiết với nhau. Thực tiễn phong trào cách mạng của giai cấp công nhân được biểu hiện ở những mức độ khác nhau, nhưng về căn bản hiện nay, quan hệ giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản về địa vị kinh tế - xã hội là không thay đổi. Điều đó, chứng minh giai cấp công nhân có sứ mệnh thủ tiêu giai cấp tư sản, thiết lập một xã hội mới xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

Từ bản chất nội tại và sức sống của chủ nghĩa xã hội khoa học, vấn đề tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học là nguyên tắc sống còn đối với những người xã hội chủ nghĩa, đúng như V.I.Lênin đã căn dặn chúng ta rằng: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”.

Thực tiễn biến đổi thì chủ nghĩa xã hội khoa học cần phải không ngừng được bổ sung, phát triển, gắn liền với đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bởi vì, “Trước đây, khi còn Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam dường như không có gì phải bàn, nó mặc nhiên coi như đã được khẳng định. Nhưng từ khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt”, thừa cơ, “giậu đổ bìm leo” “…các nhà tư tưởng và lý luận chống cộng và xã hội - dân chủ cũ và mới cả những kẻ hôm qua đã từng là cộng sản hôm nay đang “sám hối” về sự “khờ dại” của mình, ra sức bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, bêu xấu lý tưởng xã hội chủ nghĩa, hết lời ca ngợi chủ nghĩa tư bản. Trong con mắt của họ, thế kỷ XXI là thế kỷ toàn thắng và phồn vinh của chủ nghĩa tư bản trên toàn thế giới”, trực tiếp những luận điểm tập trung chống phá là chúng phủ nhận học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội.

Bảo vệ, bổ sung và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học hiện nay cần gắn liền với phòng chống về suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ đảng viên và nhân dân. Mỗi cán bộ đảng viên cần thật sự có niềm tin khoa học vào chủ nghĩa xã hội khoa học, niềm tin vào phong trào cách mạng và tiềm năng hiện thực của nó. Đẩy mạnh nghiên cứu, học tập, nắm vững lý luận, thường xuyên cập nhật bổ sung những nội dung mới làm phong phú, sâu sắc thêm lý luận phấn đấu “Từ nay đến năm 2030, tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống các quan điểm về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nâng cao năng lực khoa học phục vụ phát triển công tác lý luận, bảo đảm cung cấp các luận cứ khoa học, lý luận vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đồng thời, đấu tranh quyết liệt với những biểu hiện lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, góp phần làm phong phú, sâu sắc thêm chủ nghĩa xã hội khoa học - bộ phận cấu thành lôgic, biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin./.

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2022

NGHIÊN CỨU BỔ SUNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH ĐỐI VỚI TÀI SẢN CỦA NGƯỜI THÂN KHI CÓ CƠ SỞ NGHI NGỜ

Theo Ủy viên Thường trực Uỷ ban Pháp luật Đỗ Đức Hiển, một bất cập lớn trong hoạt động thanh tra thời gian qua, đó là việc thu hồi tiền, tài sản của Nhà nước bị chiếm đoạt, sử dụng sai mục đích được phát hiện trong quá trình thanh tra và khắc phục kiến nghị xử lý sau thanh tra đạt tỷ lệ thấp. Tuy nhiên, qua rà soát các quy định của dự thảo Luật thanh tra (sửa đổi) đang được đưa ra lấy ý kiến tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khoá XV cho thấy, dường như giải pháp cho bất cập nêu trên chưa được chú trọng.

Mặc dù dự thảo Luật có quy định về việc tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép (Điều 78) nhưng biện pháp này không được áp dụng trong trường hợp đối tượng thanh tra có hành vi tẩu tán tài sản. Bên cạnh đó, mặc dù khoản 3 Điều 66 dự thảo Luật có quy định việc chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra, song lại chưa có quy định về việc chuyển tiếp biện pháp ngăn chặn cũng như cơ chế phối hợp giữa các cơ quan.

Theo quy định của dự thảo Luật thì việc áp dụng biện pháp phong toả tài khoản, tạm giữ tiền, đồ vật sử dụng trái phép chỉ được thực hiện đối với tiền, tài sản trong phạm vi thanh tra. Trường hợp phát hiện tiền, tài sản có liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật và phát hiện có dấu hiệu của việc chuyển dịch tài sản nhưng không thuộc phạm vi thanh tra thì người có thẩm quyền trong hoạt động thanh tra cũng không được áp dụng các biện pháp nêu trên.

Để tăng cường hơn nữa hiệu lực, hiệu quả của công tác thu hồi tiền, tài sản nói chung, qua hoạt động thanh tra nói riêng, Ủy viên Thường trực Uỷ ban Pháp luật Đỗ Đức Hiển đề xuất bổ sung một số biện pháp ngăn chặn mà cơ quan thanh tra có thể áp dụng nhằm phòng ngừa nguy cơ tẩu tán tiền, tài sản. Theo đó, cùng với việc nghiên cứu giao trưởng đoàn thanh tra có thẩm quyền quyết định phong toả tài khoản của đối tượng thanh tra, thì cũng cần nghiên cứu giao trưởng đoàn thanh tra có thể áp dụng cả biện pháp tạm giữ tiền, đồ vật, giấy tờ nếu có căn cứ cho rằng đối tượng thanh tra sẽ tẩu tán các tài sản này. Bên cạnh đó, đối với tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản, cần nghiên cứu bổ sung biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng tài sản của đối tượng thanh tra nhằm ngăn chặn hoặc tạm dừng các hành vi chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng tài sản của đối tượng thanh tra.

Đối với trường hợp phát hiện có vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm, thì cùng với việc chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra để xử lý theo trình tự, thủ tục tố tụng hình sự, cần bổ sung quy định về cơ chế phối hợp, chuyển tiếp đối với các biện pháp ngăn chặn mà trưởng đoàn thanh tra, người ra quyết định thanh tra đã thực hiện. Đồng thời, cần nghiên cứu bổ sung quy định cho phép đoàn thanh tra hoặc thanh viên viên thực hiện việc xác minh, kê biên đối với tài sản của đối tượng thanh tra cần thu hồi.

“Các quy định này nếu được bổ sung cũng sẽ góp phần tăng tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của đoàn thanh tra, thanh tra viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ”, ông Hiển nói.

Song ông Hiển cũng lưu ý, đi cùng với việc mở rộng thẩm quyền cũng cần quy định trình tự thủ tục thực hiện chặt chẽ và có cơ chế tăng cường giám sát của các cơ quan có liên quan.

Về lâu dài, theo ông Hiển phải nghiên cứu bổ sung các quy định trong pháp luật phòng chống tham nhũng về trách nhiệm giải trình đối với tài sản của người thân trong gia đình hoặc người có liên quan khi có cơ sở nghi ngờ những người này giúp đối tượng thanh tra tẩu tán, che giấu tài sản có được từ hành vi vi phạm pháp luật.

“Với tài sản tăng thêm mà họ không giải trình được hợp lý thì cơ quan chức năng được quyền khởi kiện vụ án dân sự tại toà án có thẩm quyền để có phán quyết về nguồn gốc của phần tài sản, thu nhập đó theo trình tự khởi kiện vụ án dân sự”, ông Hiển đề xuất.

Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh yêu cầu: Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quản lý kinh tế – xã hội và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; kịp thời khắc phục những bất cập, bịt kín những “khoảng trống”, “kẽ hở” để “không thể tham nhũng, tiêu cực”.

Cùng với đó, tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; cải cách hành chính và xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Đặc biệt, phải xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thật sự có bản lĩnh, thật sự liêm chính, trong sạch. Phải phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trước hết và ngay trong các cơ quan phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

“Nhất là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đây mới là cái gốc, cái nguy hiểm nhất, dẫn đến tham nhũng, hư hỏng; không chỉ làm mất tiền, mất của, mà còn mất người, thậm chí mất cả chế độ”, Tổng Bí thư lưu ý.

Lời phát biểu của Tổng Bí thư cho thấy quyết tâm mạnh mẽ của Đảng, Nhà nước trong lãnh đạo, chỉ đạo, hoàn thiện thể chế pháp luật trong cuộc đấu tranh PCTN nói chung và công tác thu hồi tài sản tham nhũng ở nước ta nói riêng; tạo sức lan toả mạnh mẽ trong toàn xã hội, với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn, tạo bước chuyển lớn trong cuộc chiến chống tham nhũng.

Có thể thấy, thể chế nói chung, thể chế về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực là yếu tố cơ bản, nền tảng, có tác dụng ngăn chặn từ gốc hành vi tham nhũng, tiêu cực. Vì vậy, phải xây dựng cho được một cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”; một cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để “không dám tham nhũng”; và một cơ chế bảo đảm để “không cần tham nhũng”.

Cần phải khẳng định, đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực là vấn đề rất phức tạp, gay go. Phòng, chống tham nhũng là “chống giặc nội xâm”, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên không chỉ đấu tranh với những người khác mà ngay cả với chính bản thân mình. Vì vậy, bên cạnh các giải pháp bổ sung, hoàn thiện về thể chế, thì giải pháp quan trọng hơn cả vẫn là yếu tố con người. Bởi các quy định pháp luật dù hoàn hảo đến đâu nhưng người có chức vụ, quyền hạn hay thực thi pháp luật tâm không sáng, lòng không trong, thì vẫn cố tìm mọi cách lợi dụng kẽ hở pháp luật để trục lợi, tham nhũng tiêu cực.

Hơn hết, cần chú trọng nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu đối với công tác thu hồi tài sản tham nhũng, chống mọi biểu hiện tiêu cực, tham nhũng. Xử lý nghiêm “không có vùng cấm” đối với các đối tượng tham nhũng nói chung và các sai phạm, tiêu cực trong quá trình thu hồi tài sản tham nhũng nói riêng; đưa nội dung thu hồi tài sản tham nhũng vào chương trình kiểm tra, giám sát hàng năm của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị mình…

Nếu không thực hiện đồng bộ, quyết liệt các biện pháp này, kẻ tham nhũng không bao giờ từ bỏ ý định lợi dụng kẽ hở pháp luật để vơ vét, che giấu tài sản, thậm chí là “hy sinh đời bố củng cố đời con“…!

Vy Anh

Thứ Tư, 8 tháng 12, 2021

BỔ SUNG, ĐIỀU CHỈNH LÀ PHÙ HỢP VÀ CẦN THIẾT

Quy định số 37QĐ/TW vẫn bao gồm 19 điều như Quy định số 47. Tuy nhiên, Quy định số 37 bổ sung mới hai điều, đó là Điều 3 và Điều 13.

Tại Điều 3, Đảng ta quy định rõ đảng viên không được: “Phản bác, phủ nhận, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh;…”. Cũng ở Điều 3, Đảng ta chỉ rõ đảng viên không được: “…không thực hiện trách nhiệm nêu gương; chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; "tư duy nhiệm kỳ", đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng”.

Tại Điều 13, Đảng ta quy định, đảng viên không được: “Can thiệp, tác động vào hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, xét đặc xá, giải quyết khiếu nại, tố cáo để bao che, tiếp tay cho các hành vi vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tác động, ép buộc, mua chuộc tổ chức, cá nhân để giảm trách nhiệm, hình phạt cho người khác”.

Ngoài hai điều mới như đã đề cập, Quy định số 37-QĐ/TW còn bổ sung, chỉnh sửa một số nội dung mới trong từng điều cụ thể. Đáng chú ý là những nội dung nêu ở Điều 7 của quy định cũ nay chuyển lên Điều 2 và bổ sung thêm nội dung: “Không chấp hành các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng”. Sau bổ sung, nội dung Điều 2 của Quy định số 37 như sau: “Không chấp hành các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; tự ứng cử, nhận đề cử và đề cử các chức danh của tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức quần chúng được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ khi chưa được tổ chức đảng có thẩm quyền cho phép.”

Tương tự tại Điều 6 cũng bổ sung nội dung mới đó là: không được “đe dọa, trù dập, trả thù người khiếu nại, tố cáo; không thực hiện các quy định của Đảng và pháp luật về bảo vệ người tố cáo, phê bình, góp ý"; không được "có hành vi chạy chức chạy quyền", "tham ô" ...

Tại Điều 9 bổ sung một số hành vi nghiêm cấm như “không được sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận giả, không hợp pháp; nhập quốc tịch, chuyển tiền, tài sản ra nước ngoài, mở tài khoản và mua bán tài sản ở nước ngoài trái quy định”. Nội dung này theo quy định cũ nêu như sau: “Báo cáo, lập hồ sơ, kê khai lý lịch, lịch sử bản thân không trung thực; kê khai tài sản, thu nhập không đúng quy định; mở tài khoản ở nước ngoài trái quy định; tham gia hoạt động rửa tiền”...

Tại Điều 11 cũng bổ sung nội dung mới đó là, đảng viên không được: “Lợi dụng chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung để thực hiện hoặc bao che hành vi vụ lợi, tham nhũng, tiêu cực, vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước”.

Nếu so sánh giữa Quy định số 47 với Quy định số 37 và tình hình nhiệm vụ thực tế hiện nay thì thấy nội dung mà Trung ương bổ sung, điều chỉnh như đã nêu trên đều là những vấn đề cơ bản, cốt lõi, quan trọng về rèn luyện tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Hiến pháp năm 2013 và những nội dung mới trong các văn kiện mà Đảng, Nhà nước đã ban hành thời gian qua.

Cái gốc rễ, cơ bản cần phải xử lý để ngăn chặn từ sớm, từ xa những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đó là chống tiêu cực trong lĩnh vực tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đảng ta xác định lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, thế nhưng thực tế thời gian qua, bên cạnh sự chống phá của các thế lực thù địch, trong chính nội bộ ta cũng xuất hiện những tư tưởng, quan điểm sai trái xuyên tạc, phản bác, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Thực tế ấy đòi hỏi cuộc đấu tranh tư tưởng - lý luận, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải được đẩy mạnh hơn.

Mặt khác, Đảng ta quy định như đã nêu tại Điều 3 còn là sự khẳng định giá trị, sức sống của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xác định rõ hơn trách nhiệm của đảng viên trong cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ, phát triển những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới.

Tương tự, việc bổ sung Điều 13 là rất cần thiết, đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ. Thực tế cho chúng ta thấy trong công cuộc đổi mới, bên cạnh những nhân tố tích cực, những thành công là cơ bản, tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là ở những đảng viên có chức, có quyền không gương mẫu, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi… Cùng với đó là những biểu hiện sai trái trong thực hiện nguyên tắc lãnh đạo; trong lề lối, phương pháp, tác phong công tác nổi lên rất rõ. Đây là một trong những nguyên nhân chủ quan cơ bản dẫn đến tình trạng suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã được Đảng ta nhiều lần cảnh báo.

Các nội dung khác được điều chỉnh, bổ sung, Ban Chấp hành Trung ương đều nghiên cứu, bàn thảo kỹ lưỡng và đều xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của sự nghiệp cách mạng, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng thời gian qua. Chẳng hạn ở Điều 11 của Quy định số 37-QĐ/TW bổ sung nội dung, đảng viên không được: “Lợi dụng chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung để thực hiện hoặc bao che hành vi vụ lợi, tham nhũng, tiêu cực…”. Không chỉ xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ, nội dung này chính còn là sự cụ thể hóa chủ trương khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung đã nêu trong Quy định số 22-QĐ/TW về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng và Kết luận số 14-KL/TW của Bộ Chính trị.

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG QUY ĐỊNH 37 LÀ CẦN THIẾT

Chúng ta đều hiểu, trong bất kỳ chế độ xã hội nào, mọi tổ chức muốn tồn tại và phát triển để thực hiện mục đích của mình thì phải có kỷ luật. Đảng ta là chính đảng kiểu mới, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam trong hành động, được tổ chức rất chặt chẽ, đòi hỏi tính kỷ luật rất cao.

V.I.Lênin đã từng nói: “Không có kẻ thù nào, dù là hung bạo nhất, có thể chiến thắng được những người cộng sản, ngoại trừ chính họ tự tan rã, chính những lỗi lầm của họ và họ không kịp sửa chữa”. Quán triệt tinh thần ấy, không phải đến bây giờ mà trong suốt hành trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta thường xuyên chú trọng, đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đó là nhiệm vụ then chốt, đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta và chế độ ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người, đó là nhờ có kỷ luật...”. Qua từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, thậm chí trong từng nhiệm vụ, Đảng ta đều có các quy định về kỷ luật. Đảng ta coi quy định về kỷ luật là công việc hệ trọng, là việc làm thường xuyên, liên tục và mang tính kế thừa. Đối chiếu với các quy định, qua từng nhiệm kỳ, sau mỗi nhiệm vụ, với tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật", Đảng ta luôn dũng cảm chỉ ra những hạn chế, yếu kém để kiên quyết khắc phục, sửa chữa kịp thời, phấn đấu vươn lên. Mục đích của thực hiện các quy định không gì khác là nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ. Chính nhờ có kỷ luật mà hơn 90 năm qua, Đảng ta đã tồn tại và phát triển không ngừng, vượt qua mọi gian nan, thử thách, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Đặc biệt hai nhiệm kỳ gần đây, quyết tâm chính trị của Đảng ta trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng càng được thể hiện rõ. Ban Chấp hành Trung ương, Ban Bí thư, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định, trong đó có Quy định số 47-QĐ/TW ngày 01 tháng 11 năm 2011 về những điều đảng viên không được làm, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng ngang tầm nhiệm vụ. Thực tế hơn 10 năm thực hiện đã chứng minh việc ban hành quy định ấy là rất cần thiết và đã đi vào cuộc sống.

Đối với cán bộ, đảng viên từ Trung ương tới cơ sở, Quy định số 47 được xem là bộ tiêu chuẩn để tự phê bình và phê bình, tu dưỡng phấn đấu và rèn luyện bản thân. Đối với các cơ quan chức năng, Quy định số 47 là căn cứ, cơ sở để phát hiện, xử lý, ngăn chặn những hành vi sai trái. Không ít cán bộ, đảng viên diện Trung ương quản lý, trong đó có cả Ủy viên Bộ Chính trị, tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp quân đội và công an...vi phạm đã bị xử lý kỷ luật bằng các hình thức về Đảng và chính quyền, thậm chí phải chịu những hình phạt của pháp luật. Nhờ mở rộng dân chủ, kịp thời cổ vũ, khích lệ những cán bộ, đảng viên có phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, luôn nêu cao tính tiền phong gương mẫu, đặc biệt là tinh thần kiên quyết, nghiêm minh trong xử lý các trường hợp vi phạm quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước, đã góp phần rất quan trọng nâng cao chất lượng đảng viên, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng... Những kết quả mà Đảng ta đã thu được trong thực hiện Quy định số 47 là không thể phủ nhận.

Hiện nay, tình hình thế giới và trong nước có những diễn biến mới với nhiều thời cơ, thách thức đan xen. Đặc biệt 4 nguy cơ (tụt hậu xa hơn về kinh tế; chệch hướng XHCN; tệ tham nhũng, quan liêu; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch) mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn đang hiện hữu; có mặt còn gay gắt, phức tạp hơn; tình trạng suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn diễn biến phức tạp. Đứng trước những đòi hỏi mới, yêu cầu cao, quy mô lớn của tình hình nhiệm vụ, Đảng ta ban hành các quy định trong đó có Quy định số 37-QĐ/TW là hoàn toàn đúng đắn và cần thiết nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Nội dung của Quy định số 37-QĐ/TW cơ bản kế thừa những nội dung của Quy định số 47-QĐ/TW còn phù hợp, có bổ sung một số điều mới, điều chỉnh một số điểm cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đó cũng là bước cụ thể hóa để thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII nói chung và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) nói riêng nhằm từng bước ngăn chặn và đẩy lùi tiêu cực, lập lại trật tự, kỷ cương trong Đảng và hệ thống chính trị; tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng và giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng.

Thứ Ba, 25 tháng 5, 2021

KIÊN ĐỊNH, BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Hơn 90 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoạt động dựa trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chính nền tảng đó là “kim chỉ nam” cho Đảng hoạch định cương lĩnh, đường lối đúng đắn và hiện thực hóa thành công những mục tiêu chiến lược, nhiệm vụ chính trị, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Do đó, cùng với quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, Đảng ta đã luôn kiên trì, kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta đã khẳng định: “Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta”.

Tại Đại hội XIII (tháng 1/2021), trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng”, Đảng ta đã chỉ rõ hiện nay: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”.

Có thể nhận thấy, so với các kỳ Đại hội trước, ở Đại hội XIII, Đảng ta đã nêu rõ hơn, nhấn mạnh hơn đến những biểu hiện về suy thoái tư tưởng chính trị, dao động về lập trường cách mạng. Ở Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII năm 2016, Đảng ta chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi”. Đảng ta khẳng định biểu hiện này “là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn” nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc. Đến Đại hội XIII, Đảng ta nhấn mạnh thêm những biểu hiện nguy hại của tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên gây cản trở đến công tác tư tưởng, lý luận của Đảng. Đó là do có những cán bộ, đảng viên đã công khai “phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”. Đây là một nhận định khách quan, xác đáng về tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị ngày càng trầm trọng của một bộ phận cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay.

Trong Báo cáo chính trị trình Đại hội XIII, Đảng ta đã dự báo tình hình thế giới và đất nước trong những năm tiếp theo tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Bốn nguy cơ, trong đó có tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ còn nhiều diễn biến phức tạp. Đặc biệt, “các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”, “Sự chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động ngày càng tinh vi hơn”. Đây được nhận định là một trong những nguy cơ đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ ta.

Trên cơ sở nhận định, dự báo về tình hình trong nước và quốc tế trong thời gian tới, tại Đại hội XIII, Đảng ta đã khẳng định: “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đây được coi là một trong những vấn đề “mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”. Có thể nhận thấy, quan điểm chỉ đạo của Đại hội XIII có sự kế thừa và phát triển quan điểm của các kỳ Đại hội trước, gần nhất là Đại hội XII về nguyên tắc tiên quyết trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng. Nếu như Đại hội XII chỉ nhấn mạnh đến việc “vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin” thì Đại hội XIII lại nhấn mạnh thêm sự “kiên định”, coi đây là yếu tố trước tiên trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Sự kiên định liên quan quan đến lập trường tư tưởng nên để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không có lập trường tư tưởng vững vàng. Hơn nữa, Đảng ra còn nhấn mạnh thêm: “không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động” để khẳng định đây là nguyên tắc sống còn trong việc bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - cấu phần quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Hơn nữa, ở Đại hội XIII, tính biện chứng trong quan điểm chỉ đạo về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vẫn tiếp tục được khẳng định. Đó là vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn. Nếu vận dụng là việc làm theo, đi theo những chỉ dẫn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì phát triển là làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được bổ sung, được phong phú và sinh động hơn bởi thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đây chính là sự kế thừa, quán triệt những chỉ dẫn có tính phương pháp luận của V.I.Lênin trong việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”.

Như vậy, việc tách rời hay đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin thực chất là nhằm mục đích phá vỡ từng bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm bẻ lái mục tiêu và con đường cách mạng của Việt Nam. Do vậy, một mặt cần tỉnh táo nhận diện những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, đồng thời phải luôn kiên định, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Đó là cách thức hữu hiệu để chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là nền tảng tư tưởng vững chắc cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta trong giai đoạn hiện nay./.

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2021

TƯ DUY CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG TA VỀ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương các khóa trước về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Đảng ta đã tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy về quốc phòng, an ninh (QPAN), bảo vệ Tổ quốc bằng việc “đã ban hành và triển khai đồng bộ các chiến lược quan trọng như Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia và Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng”.

Điều đặc biệt mới mẻ trong dự thảo Báo cáo Chính trị lần này, trong mục tăng cường QPAN, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN), dự thảo Báo cáo Chính trị khẳng định: Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược QPAN chuyên ngành khác.

Đưa nội dung trên vào trong dự thảo Báo cáo Chính trị thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng ta trong việc cụ thể hóa đường lối cách mạng của Đảng, trong việc xác định mưu lược (kế sách) và nghệ thuật tổ chức thực hiện đường lối, nhằm đưa đường lối của Đảng vào cuộc sống trong một giai đoạn cụ thể, trước một tình hình cụ thể. Thể hiện rõ tư duy của Đảng ta trong việc xác định mục tiêu, quy tụ lực lượng và lựa chọn giải pháp có tính khả thi, tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ lúc nước chưa nguy; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và phát triển bền vững đất nước vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Việc ban hành và triển khai thực hiện các chiến lược quốc phòng, quân sự, an ninh, bảo vệ Tổ quốc không chỉ hoàn toàn xuất phát từ cơ sở lý luận khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc, từ truyền thống, kinh nghiệm của dân tộc ta trong công cuộc đấu tranh giữ nước là phải “đề phòng việc không ngờ”, có “kế lâu dài”, phải “trù phương lược trước”, phải “giữ nước từ lúc chưa nguy”, “lo trị nước từ lúc nước chưa loạn”..., mà còn xuất phát từ thực tiễn phong phú, sinh động của công cuộc bảo vệ Tổ quốc XHCN trên thế giới nói chung, công cuộc bảo vệ Tổ quốc Việt Nam nói riêng trong những thập kỷ vừa qua. Ban hành và triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ các chiến lược quốc phòng, quân sự, an ninh, bảo vệ Tổ quốc thể hiện tư duy chiến lược toàn diện của Đảng ta, nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống cả những mối đe dọa an ninh truyền thống và cả những mối đe dọa an ninh phi truyền thống, nhất là phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, sẵn sàng đối phó thắng lợi với các nguy cơ mà Nghị quyết Trung ương về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” đã dự báo. Ban hành và triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ các chiến lược quốc phòng, quân sự, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, cho thấy tư duy chiến lược của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới được thể hiện không chỉ về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, phương châm, nguyên tắc, nội dung, biện pháp, lực lượng, điều kiện bảo đảm để thực hiện các chiến lược, mà còn thể hiện một quan điểm an ninh toàn diện, tổng hợp của đất nước, nhất là an ninh trên các hướng biên giới đất liền, biển, đảo và trên không gian mạng.

Để tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược QPAN chuyên ngành khác như dự thảo Báo cáo Chính trị đã nêu, cần quan tâm làm tốt một số nội dung, biện pháp sau đây:

Tổ chức triển khai quán triệt trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhằm tạo nên nhận thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về những nội dung cơ bản trong các chiến lược nêu trên. Muốn vậy, cần tổ chức biên soạn thành các chuyên đề riêng để quán triệt cho các đối tượng phù hợp với quy định về phổ biến nội dung trong các chiến lược và phù hợp với khả năng nhận thức của các đối tượng cụ thể: Cán bộ, đảng viên, nhân dân, sinh viên, học sinh...

Nghiên cứu xây dựng các chương trình, kế hoạch cụ thể để tổ chức triển khai thực hiện các chiến lược phù hợp với từng nội dung trong từng chiến lược và phù hợp với các đối tượng (tổ chức và cá nhân) trực tiếp liên quan đến việc triển khai tổ chức thực hiện các chiến lược cụ thể. Ví dụ: Quán triệt và triển khai thực hiện Chiến lược quân sự thì quân đội phải là lực lượng nòng cốt, chủ yếu.

Trên cơ sở các chương trình, kế hoạch đã được xây dựng, phải tổ chức triển khai thực hiện trên thực tiễn việc thực hiện các chiến lược quốc phòng, quân sự, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, cần quan tâm đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, công tác quản lý, điều hành của chính quyền các cấp từ Trung ương đến cơ sở. Xác định nội dung, biện pháp phù hợp với mỗi loại chiến lược để triển khai thực hiện các chiến lược sát, đúng. Chăm lo xây dựng lực lượng, nhất là lực lượng chuyên trách phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, nội dung, phạm vi, tính chất của mỗi loại chiến lược để triển khai thực hiện có hiệu quả. Quan tâm phối hợp, kết hợp giữa các tổ chức, các lực lượng để thực hiện đồng bộ, nhịp nhàng các chiến lược. Quan tâm chăm lo xây dựng, chủ động chuẩn bị các điều kiện về vật chất và tinh thần để triển khai thực hiện các chiến lược đáp ứng yêu cầu của mỗi loại chiến lược. Xây dựng các kịch bản, triển khai diễn tập một số tình huống cụ thể theo yêu cầu, nội dung của từng chiến lược, trên cơ sở đó tổ chức rút kinh nghiệm và tiếp tục điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện thêm nội dung của các chiến lược cho phù hợp với tình hình thực tiễn luôn có sự vận động, biến đổi.

Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2018

GIẢI PHÁP BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Cùng với nghiên cứu làm rõ tính cách mạng, khoa học của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, cần bổ sung, phát triển, làm cho tư tưởng của Người có sức sống mạnh mẽ trong hiện thực, trở thành động lực thúc đẩy đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước và mỗi người dân Việt Nam. Đảng ta đã vận dụng chủ nghủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để đề ra đường lối, phương pháp lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cho nên, sức sống của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nằm trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và trong tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam. Xây dựng Đảng ta “đạo đức và văn minh”, mỗi cán bộ, đảng viên “vừa hồng, vừa chuyên”, thực sự là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; đủ khả năng đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, tổ chức lãnh đạo Nhà nước và xã hội đạt được mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là đã bổ sung, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì thế, các cấp cần đẩy mạnh thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Nghị quyết Trung ương 7 (khóa XII) về xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; làm tốt công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh có sức sống mãnh liệt trong đời sống xã hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quá trình đó, cần nghiên cứu làm rõ mô hình, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; giá trị đích thực của các nguyên lý, luận điểm mà C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh đã khái quát; bổ sung, làm phong phú thêm những vấn đề mà đương thời các ông chưa có điều kiện phát triển... Qua đó, cung cấp luận cứ khoa học cho cuộc đấu tranh, phê phán những quan điểm, tư tưởng xuyên tạc về Hồ Chí Minh.
Đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc về Hồ Chí Minh là tình cảm thiêng liêng, trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, góp phần tạo sức mạnh tổng hợp của xã hội, sự đồng lòng trong nhân dân, đảm bảo cho cuộc đấu tranh bảo vệ tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người sẽ giành thắng lợi.