Hiển thị các bài đăng có nhãn công xã Pari. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn công xã Pari. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 24 tháng 6, 2024

PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ TỪ SAU CÔNG XÃ PARI NĂM 1871 ĐẾN CUỐI NHỮNG NĂM 70 CỦA THẾ KỶ XIX DIỄN RA TRONG BỐI CẢNH NHƯ THẾ NÀO?

 

Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế từ sau Công xã Pari năm 1871 đến cuối những năm 70 của thế kỷ XIX có những đặc điểm sau:

- Chủ nghĩa tư bản phát triển trong điều kiện tương đối hòa bình đã chuyển dần thành chủ nghĩa đế quốc. Cách mạng dân chủ tư sản phương y đã cơ bản hoàn thành; Cách mạng dân chủ tư sản phương Đông chưa tới. Khoa học kỹ thuật và công nghiệp phát triển dẫn đến tình trạng kinh tế phát triển không đều, đảo lộn trật tự kinh tế thế giới, làm cho mâu thuân vốn có của chủ nghĩa tư bản ngày càng gay gắt, những mầm mống cho chiến tranh thế giới bắt đầu hình thành. Phong trào công nhân thời kỳ này có bước phát triển mới về chất: bãi công kinh tế trở thành một hình thức quan trọng, nét đặc trưng trong cuộc đấu tranh giai cấp của phong trào công nhân thời kỳ này. Đây là hình thức đấu tranh thường xuyên và đem lại cho giai cấp công nhân những thành quả nhất định về cải thiện chế độ tiền lương, thời gian lao động, điều kiện làm việc và đời sống sinh hoạt…

          - Đấu tranh nghị trường, đấu tranh hợp pháp là hình thức đấu tranh mới của phong trào công nhân. Tiêu biểu là phong trào công nhân Đức, được công nhân ở các nước châu Âu noi theo. Từ đó, “người ta bắt đầu ngày càng hiểu rõ rằng cần phải xem xét lại sách lược cũ. Đâu đâu người ta cũng theo công nhân Đức trong việc lợi dụng quyền bầu cử, trong việc dành lấy tất cả những vị trí có thể giành được”[1].



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, toàn tập, tập 1, Nxb ST, H.1970, tr.148

NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CÔNG XÃ PARI LÀ GÌ?

 

Công xã Pari năm 1871 của giai cấp công nhân Pháp đã giành thắng lợi chỉ trong vòng 72 ngày. Đây là lần đầu tiên giai cấp vô sản bước lên vũ đài chính trị. Tuy thất bại, nhưng Công xã đã để lại cho giai cấp vô sản Pháp và thế giới những bài học kinh nghiệm sâu sắc và quý báu:

Bài học về sự cần thiết phải có sự lãnh đạo thống nhất của chính đảng cách mạng. Công xã Pari nổ ra tự phát, chưa có sự chuẩn bị một cách đầy đủ, chưa có cương lĩnh, chiến lược, sách lược cách mạng, chưa có mục đích rõ ràng, công việc diễn ra đến đâu thì làm đến đó, chưa có một chính đảng trực tiếp thống nhất lãnh đạo, cách mạng càng phát triển thì lại càng gặp phải khó khăn, bế tắc.

Bài học về thực hành chuyên chính vô sản. Đây là bài học nổi bật nhất của Công xã Pari. Công xã đã đem lại một kiểu mẫu nhà nước mới của giai cấp vô sản cả về thiết lập chuyên chính vô sản và cách thức tổ chức hoạt động của chính quyền cách mạng. Công xã Pari là một hình thức nhà nước sau cuộc cách mạng của giai cấp vô sản.

Bài học về kết hợp giải quyết nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ giai cấp. Thực chất đây là bài học về giương cao hai ngọn cờ dân tộc và giai cấp, là sự kết hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân. Hai nhiệm vụ đó hoàn toàn gắn bó chặt chẽ với nhau. Ở Công xã Pari, giai cấp vô sản đã cùng một lúc giải quyết hiệm vụ giải phóng dân tộc và nhiệm vụ giải phóng giai cấp.

Bài học về sử dụng bạo lực cách mạng và tư tưởng cách mạng tiến công. Đây là một vấn đề quan trọng về phương pháp cách mạng. Công xã chưa sử dụng triệt để bạo lực cách mạng, thiếu một tinh thần liên tục tiến công, thậm chí còn để cho tàn quân của Chie rút chạy khỏi Pari, tạo cơ hội cho chúng tập hợp tất cả những lực lượng phản động quay về tấn công lại Pari, tiến công vào Công xã và cuối cùng Công xã thất bại.

Bài học về liên minh công nông. Đây là vấn đề sống còn, vấn đề chiến lược của cách mạng vô sản. Đáng tiếc là Công xã đã không thực hiện được việc đó; đã thiếu mất sự phối hợp, sự ủng hộ của công nhân ở các thành phố khác, thiếu mối quan hệ liên minh trên thực tế với giai cấp nông dân.

TẠI SAO NÓI CÔNG XÃ PARI LÀ MỘT HÌNH THỨC NHÀ NƯỚC ĐẦU TIÊN CỦA CHUYÊN CHÍNH VÔ SẢN?

 

Công xã Pari là một hình thức nhà nước đầu tiên của chuyên chính vô sản, điều đó được chứng minh qua các hoạt động, chính sách mang lại lợi ích cho nhân dân lao động:

Về chính trị: Sau khi cuộc chiến đấu giữa các lực lượng cách mạng và phản cách mạng tạm thời kết thúc, Ủy ban Trung ương Đội cận vệ tuyên bố thả tất cả tù chính trị. Sắc lệnh đầu tiên là hủy bỏ quân đội thường trực, thay thế bằng việc vũ trang nhân dân, thủ tiêu lực lượng cảnh sát chính trị, giao lại nhiệm vụ này cho nhân dân. Công xã bãi bỏ các chức vụ quan lại của bộ máy chính quyền cũ, nêu lên nguyên tắc những người làm trong chính quyền mới đều phải do nhân dân bầu ra và phải chịu trách nhiệm trước dân và nhân dân có quyền bãi miễn chức vụ của họ.

Công xã Pari đã tổ chức bầu cử Hội đồng Công xã - cơ quan quyền lực do nhân dân lao động bầu ra và vì lợi ích của đa số nhân dân. Hội đồng Công xã bao gồm cơ cấu nhiều thành phần nhưng về thực chất nó là một nhà nước vô sản. Lập ra Hội đồng Công xã và các ủy ban. Những việc làm trên một mặt nhằm xóa bỏ triệt để bộ máy nhà nước của chế độ xã hội cũ, mặt khác hướng tới xây dựng ở tất cả các cấp những cơ quan quản lý chính quyền mang tính chất hoàn toàn mới: tính chất vô sản và chuyên chính vô sản.

Về kinh tế: Công xã đã dành một phần hoạt động quan trọng nhằm ổn định, cải thiện đời sống của công nhân và nhân dân lao động; giải quyết việc làm cho người thất nghiệp; nâng lương cho người có mức lương thấp, nhất là giáo viên; chuyển những người công nhân, lao động đang sinh sống trong các túp lều chật hẹp, bẩn thỉu đến ở những ngôi nhà của bọn giàu có; chuyển giao các xí nghiệp không hoạt động, vắng chủ cho các hội hợp tác của công nhân quản lý, giảm bớt tiền lương các viên chức nhà nước; trợ cấp tiền cho những gia đình gặp khó khăn; cũng ấn định mức lương của các nhân viên nhà nước không vượt quá mức lương của người công nhân.

Về văn hóa - xã hội: Đời sống tinh thần của nhân dân thủ đô được bảo đảm. Các rạp hát, chiếu bóng, viện bảo tàng, cung văn hóa và các nhà triển lãm đều mở cửa. Công xã quyết định tách giáo hội, nhà thờ ra khỏi bộ máy nhà nước, hệ thống nhà trường và đề ra một chế độ giáo dục lành mạnh, khoa học, chân chính cho con em người lao động. Thay thế cho chế độ giáo dục trước đây nhồi sọ những tư tưởng tôn giáo thần bí của các thầy dòng, cha cố.

Về an ninh trật tự: Trong những ngày Pari thuộc Công xã, thủ đô trở nên an toàn, không còn những vụ cướp giật, tống tiền như trước đó. Đời sống sinh hoạt của nhân dân thủ đô được bảo đảm an ninh, các tệ nạn xã hội đều bị lên án, loại khỏi đời sống xã hội.

Toàn bộ hoạt động của Công xã đã phản ánh lợi ích của đa số nhân dân lao động Pháp, mang đậm nét tính chất một nhà nước mới, tiêu biểu trong lịch sử từ trước tới nay - nhà nước vô sản đầu tiên trong lịch sử.

HOÀN CẢNH LỊCH SỬ CỦA CÔNG XÃ PARI DIỄN RA NHƯ THẾ NÀO?

 

Đến năm 70 của thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp ở nước Pháp đã cơ bản hoàn thành, làm cho sản xuất và vận tải đường sắt tăng, ngân hàng phát triển mạnh, kèm theo đó là sự phát triển mạnh mẽ của thương nghiệp, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Tất cả những điều kiện đó đã mang lại cho giai cấp tư sản Pháp những nguồn lợi to lớn. Bên cạnh nguồn lợi to lớn thu được của giai cấp tư sản thì ngược lại, giai cấp vô sản Pháp lại càng bị bóc lột tàn tệ, nặng nề. Tình hình trên làm cho mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất ngày càng tăng, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản càng thêm gay gắt.

Giai cấp công nhân Pháp đã tăng lên cả về số lượng và chất lượng. Quá trình đấu tranh chống giai cấp tư sản, họ đã dần ý thức được sự cần thiết phải thay đổi về căn bản chế độ chính trị đang tồn tại - nền Đế chế II và cũng đã có những khuynh hướng muốn thành lập các tổ chức bí mật. Phong trào công nhân còn mang nặng những tàn dư của chế độ lao động thủ công, ảnh hưởng tư tưởng của Pruđông và Bơlăngki. Việc Quốc tế I ra đời đã tác động tích cực, mạnh mẽ đối với phong trào công nhân.

Các tầng lớp tiểu thương, tiểu chủ, đứng đứng trước nguy cơ bị phá sản buộc phải vay nặng lãi, bị chèn ép, kìm hãm và ngày càng bị lệ thuộc vào bọn chủ ngân hàng. Sự bất bình của họ đối với chế độ ngày càng tăng. Tầng lớp tư sản bị phá sản cũng tỏ rõ thái độ chống chính phủ đế chế và gia nhập Đảng Cộng hòa.

Các tầng lớp xã hội trước sức ép của chủ nghĩa tư bản đã vô cùng căm phẫn đối với chế độ của nền Đế chế II. Những cuộc mít tinh, biểu tình, bãi công mang tính chất quần chúng rộng rãi liên tiếp nổ ra. Trong đó tầng lớp nông dân phản ánh nỗi bất bình ngày càng tăng lên vì những gánh nặng thuế khóa của nhà nước tư sản và sự bóc lột tàn tệ của bọn địa chủ và bọn cho vay lãi.

Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến Công xã Pari năm 1871. Do bản chất phản động của Đế chế II, mâu thuẫn trong nước Pháp đã lên cao, cần đẩy mâu thuẫn ra ngoài, thông qua chiến tranh. Pháp đã gây chiến với Phổ, vì Phổ đang tranh giành thuộc địa và phản bội Pháp trong chiến tranh với Áo, có âm mưu thống nhất nước Đức bằng “sắt và máu”. Phổ cũng muốn diệt Đế chế II để chiếm thuộc địa và đánh tan trở lực thống nhất của Phổ mà Pháp muốn ngăn chặn.

Bixmác liên minh với Áo đánh Đan Mạch, sau đó tấn công luôn bạn đồng minh của mình. Để gạt bỏ nước Pháp, Bixmác âm mưu bày ra cái cớ để có thể đánh Pháp. Với việc đánh tráo bức thư của Vinhem I gửi cho Napôlêông III, có lời lẽ ngạo mạn, sỉ nhục, Bixmác đã khiến cho Napôlêông III tức giận tuyên chiến với Phổ. Lúc này, uy tín của vương triều Napôlêông III ở nước Pháp vốn đã sa sút lại càng làm tăng thêm tình trạng khủng hoảng toàn diện dẫn đến quần chúng đã nổi dậy khởi nghĩa lật đổ Đế chế II để thiết lập nền Cộng hòa.

Thứ Ba, 14 tháng 9, 2021

VẬN DỤNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CÔNG XÃ PARI TRONG XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Kinh nghiệm thành công và thất bại của các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trên thế giới đều rất có giá trị, ý nghĩa đối với tiến trình cách mạng và quá trình xây dựng, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nhiều khi, từ những sai lầm, thất bại của cách mạng trong ngày hôm qua, những người cách mạng học được nhiều kinh nghiệm để tránh sai lầm cho hôm nay và mai sau.

Ngay trong tác phẩm Đường Kách mệnh (1927), khi nói về vận dụng kinh nghiệm cách mạng thế giới, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cho rằng, cách mệnh Pháp (bao hàm cả Công xã Pari) làm gương cho chúng ta về nhiều phương diện. Ví dụ: “Dân chúng công nông là gốc cách mệnh, tư bản là hoạt đầu, khi nó không lợi dụng được dân chúng nữa, thì nó phản cách mệnh”; “Cách mệnh thì phải có tổ chức rất vững bền mới thành công”; và “Cách mệnh Pháp hy sinh rất nhiều người mà không sợ; ta muốn làm cách mệnh thì cũng không nên sợ phải hy sinh”.

Hơn 90 năm qua, trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tham khảo, vận dụng kinh nghiệm cách mạng thế giới, trong đó có kinh nghiệm Công xã Pari 1871, Đảng ta đã lãnh đạo đưa cách mạng cách mạng Việt Nam giành được nhiều thắng lợi vĩ đại. Với những thắng lợi đã giành được, nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được xây dựng và không ngừng hoàn thiện; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới(9)… Nhìn lại 35 năm đổi mới, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt cả về vật chất và tinh thần. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(10).

Trong những năm tới, với sự đan xen cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức, sự nghiệp đổi mới, xây dựng, phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn so với trước. Để nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, vận dụng kinh nghiệm Công xã Pari nhằm tiếp tục đổi mới, xây dựng, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (giai đoạn 2021-2030), cần nhấn mạnh một số định hướng, giải pháp cơ bản đã nêu trong nghị quyết Đại hội XIII của Đảng:

Một là, kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Ra sức thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò tự quản của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội; tiếp tục đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.

Hai là, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước. Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tội phạm và tệ nạn xã hội.

Ba là, tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các quan hệ lớn, trong đó có quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương. Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.

Bốn là, tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện; tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng; đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; làm tốt công tác tư tưởng, lý luận; chú trọng công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng và công tác dân vận của Đảng. Đảng nêu gương thực hành dân chủ và bảo đảm kỷ luật, kỷ cương./.